lOMoARcPSD| 61548596
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HN CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Độc lập Tự do – Hạnh phúc NHÓM CNXHKH
__________________
Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 2022
NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học
2. Vai trò của C.Mác và Ph. Ăngghen đối với sự ra đời của chủ nghĩa xã
hội khoa học.
3. Khái niệm giai cấp công nhân nội dung sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân
4. Nhưng điều kiện khách quan chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân
5. Những đặc trưng bản của CNXH theo quan điểm của chủ nghĩa
Mác- Lênin
6. Khái niệm dân tộc và cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin
7. Bản chất, nguồn gốc và tính chất của tôn giáo
Câu 1. Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học
a. Điều kiện kinh tế xã hội
Vào những năm 40 thế kỉ XIX, Cách mạng công nghiệp đã hoàn thành ở Anh,
chuyển sang Pháp và Đức làm xuất hiện 1 llsx mới là nền đại công nghiệp. Nó
đã làm cho phương thức sx TBCN phát triển vượt bậc.
“Giai cấp sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy 1 thế kỷ, đã tạo ra
llsx của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”
-C.Mác và Ăng-ghen, Tuyên ngôn của ĐCS
lOMoARcPSD| 61548596
Đây chính nguyên nhân làm xuất hiện mâu thuẫn ngày càng quyết liệt giữa
llsx mang tính hội với qhsx dựa trên chế độ chiếm hữu nhân bản chủ nghĩa về
tlsx
Cùng vs quá trình phát triển của đại công nghiệp, sự ra đời 2 giai cấp có lợi ích
cơ bản đối lập nhau: tư sản và vô sản (công nhân)
Cũng từ đây, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại sự thống trị áp bức của giai
cấp tư sản ngày càng mạnh mẽ:
+Phong trào Hiến chương của người lao động ở Anh (1836 – 1848)
+Phong trào công nhân dệt thành phố Xiđêli, Đức 1844
+Đặc biệt phong trào công nhân dệt thành phố Lion, Pháp 1831 và 1834 tính
chính trị rõ nét. 1831 khẩu hiệu thuần tuý tính chất kinh tế “Sống có việc làm hay
chết trong đấu tranh” thì 1834 đổi thành khẩu hiệu mục đích chính trị “Cộng hoà hay
là chết”
Sự phát triển nhanh chóng có tính chính trị công khai của phong trào công nhân
đã minh chứng, lần đầu tiên, giai cấp công nhân đã xuất hiện như 1 lực lượng chính
trị độc lập với những yêu sách kinh tế, chính trị của riêng mình hướng mũi nhọn
vào kẻ thù chính của mình giai cấp sản. Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh
đòi hỏi bức thiết cần 1 hệ thống luận soi đường 1 cương lĩnh chính trị làm kim
chỉ nam cho hành động.
Điều kiện kt -xh ấy không chỉ đặt ra yêu cầu đối với các nhà tư tưởng của giai
cấp công nhân còn là mảnh đất hiện thực cho sự ra đời của một lý luận mới, tiến
bộ - CNXHKH.
b. Tiền đề KHTN và tư tưởng lý luận
-Tiền đề KHTN
Cuối XVIII đầu XIX, nhân loại đã đạt được những thành tựu to lớn trên lĩnh
vực KHTN và xã hội, tạo nền tảng cho phát triển tư duy lý luận.
Những phát minh vạch thời đại: Thuyết tiến hoá (Darwin), ĐLBTNL
(R.Mayer) , Thuyết tế bào (M.J.Schleiden -T.Schwam)
Những phát minh này tiền đề khoa học cho sra đời của chủ nghĩa duy vật
biện chứng chủ nghĩa duy vật lịch sử, sở pp luận cho các nhà sáng lập CNXHKH
nghiên cứu những vấn đề chính trị - xã hội đương thời.
-Tiền đề tư tưởng lý luận
Cùng với sự phát triển của KHTN, KHXH cũng những thành tựu đáng ghi
nhận:
+Triết học cổ điển Đức: Ph.Hêghen, L.PhoiơBách
+KTCT cổ điển Anh: A.Smith, D.Ricardo
+CNXH Ko tưởng phê phán: Xanh Ximông, S.Phuriê, R.Oen Những
tư tưởng XHCN Pháp đã có giá trị nhất định:
+Thể hiện tinh thần phê phán, lên án chế độ quân chủ chuyên chế chế độ
TBCN đầy bất công xung đột, của cải khánh kiệt, đạo đức đảo lộn, tội ác gia tăng.
+Đưa ra nhiều luận điểm giá trị về hội tương lai: về tổ chức sản xuất và
phân phối sản phẩm xã hội; vai tcủa công nghiệp và KH KT; yêu cầu xoá bỏ sự
lOMoARcPSD| 61548596
đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc; về sự nghiệp giải phóng phụ nữ, vai
trò lịch sử của nhà nước…;
+Chính những tư tưởng có tính phê phán và sự dấn thân trong thực tiễn của các
nhà XHCN ko tưởng, trong chừng mực, đã thức tỉnh công nhân và người lao động đấu
tranh chống quân chủ chuyên chế và TBCN đầy bất công xung đột.
Tuy nhiên, tưởng CNXHKTPP còn nhiều hạn chế hoặc do đk lịch sử, hoặc
do chính sự hạn chế về tầm nhìn và thế giới quan của những nhà tư tưởng, chẳng hạn:
k tìm ra được quy luật vận động và phát triển của xh loài người nói chung; bản chất,
quy luật vận động, phát triển của CNTB nói riêng; không phát hiện ra llxh tiên phong
thể thực hiện cuộc chuyển biến cách mạng từ CNTB lên CNCS giai cấp công
nhân; không chỉ ra được những biện pháp hiện thực cải tạo xh áp bức, bất công đương
thời, xây dựng xh mới tốt đẹp …
V.I.Lênin: CNXHKT k thể vạch ra lối thoát thực sự. (Tác phẩm Ba nguồn gốc
và 3 bộ phận cấu thành của CN Mác)
không giải thích được bản chất của chế độ làm thuê trong chế độ bản,
không phát hiện ra được những quy luật phát triển của chế độ bản và cũng k tìm
được llxh có khả năng trở thành người sáng tạo ra xã hội mới.
Vì vậy, CNXHKTPP chỉ dừng lại ở mức độ 1 học thuyết XHKT-PP
Song, những gtrị khoa học cống hiến của các nhà tư tưởng đã tạo ra tiền đề tư
tưởng – luận, đC.Mác và Ph.A kế thừa nh hạt nhân hợp lý, lọc bỏ những bất hợp
lý, xây dựng và phát triển CNXHKH.
Câu 2. Vai trò của C.Mác và Ph. Ăngghen đối với sự ra đời của
chủ nghĩa xã hội khoa học.
Nh đk kt-xh và tiền đề khtn, tư tưởng lý luận đk cần cho 1 học thuyết ra đời.
Song đk đủ để học thuyết khoa học, cách mạng sáng tạo ra đời chính vai
trò của C.Mác và Ă
C.Mác( (1818-1883) Ph.Ă (1820 – 1895) trưởng thành ở Đức, đất nước phát
triển triết học rực rỡ thành tựu nổi bật CNDV của L.PhoiơBắc và phép biện
chứng của Ph.Hêghen.
Bằng trí tuệ uyên bác và sự dấn thân trong phong trào đấu tranh của giai cấp
công nhân nhân dân lao động, C.Mác Ph.Ă đã tiếp thu giá trị nền triết học cổ
điển, kinh tế chính trị cổ điển Anh kho tàng trí thức nhân loại để trở thành những
nhà khoa học thiên tài, những nhà cách mạng vĩ đại nhất thời đại.
a. Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị
Khi còn trẻ, cả 2 thành viên CLB “Hêghen trẻ” , chịu ảnh hưởng quan điểm
triết học của Ph.Hêghen và L.PhoiơBắc.
Song nhãn quan sớm thấy được hạn chế và tích cực trong triết học của H và P:
+Triết học của Ph.Hêghen tuy mang quan điểm duy tâm nhưng chứa đựng cái
hạt nhân hợp lý của phép biện chứng
+Triết học L.PhoiơBắc tuy mang nặng quan điểm siêu hình nhưng thấm nhuần
quan niệm duy vật.
lOMoARcPSD| 61548596
C.M Ă đã kế thừa cái hạt nhân hợp lý, cải tạo loại bỏ cái vỏ thần duy
tâm, siêu hình để xây dựng lý thuyết mới CNDVBC.
Với C.Mác, từ cuối 1843 đến tháng giêng 1944, thông qua Góp phần phê phán
triết học pháp quyền của Hêghen Lời nói đầu (1844), ô đã chuyển từ thế giới quan
duy tâm sang thế giới quan duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường
CSCN.
Với Ă, từ 1843 với Tình cảnh nước Anh; Lược khảo khoa kinh tế - chính trị, ô
đã chuyển từ thế giới quan duy tâm sang duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng
sang lập trường CSCN.
Vậy, t1843 1848, vừa hoạt động thực tiễn, vừa nghiên cứu khoa học, cả 2
đã thể hiện quá trình chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị và từng
bước củng cố, dứt khoát, kiên định, nhất quán và vững chắc lập trường đó, mà nếu k
có sự chuyển biến này thì chắc chắn sẽ k có CNXHKH.
b. Ba phát kiến vĩ đại của C.M và Ph.Ă
-Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Trên cơ sở kế thừa “cái hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng phê phán quan
điểm duy tâm, thần bí của triết học Ph.Hêghen; kế thừa giá trị duy vật và loại bỏ quan
điểm siêu hình của triết học L.PhoiơBách, nghiên cứu các thành tựu KHTN, CM
Ph.Ă đã sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng, thành tựu đại nhất của tưởng
khoa học. Bằng phép biện chứng duy vật, CM và Ph.Ă đã sáng lập chủ nghĩa duy vật
lịch sử skhẳng định về mặt triết học sự sụp đổ của CNTB sthắng lợi của
CNXH đều tất yếu như nhau.
-Học thuyết về giá trị thặng dư
Phát hiện ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, CM và Ă đi sâu nghiên cứu nền sản xuất
công nghiệp và nền kinh tế TBCN đã viết bộ Tư bản, mà giá trị cốt lõi là “Học thuyết
về GTTD” – phát kiến vĩ đại thứ 2 của C.M và Ă là sự khẳng định về phương diện kt
sự diệt vong k tránh khỏi của CNTB và sự ra đời tất yếu của CNXH.
-Học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân.
Trên cơ sở 2 phát kiến vĩ đại trên, CM và Ă đã có phát kiến thứ 3 – phát hiện ra
sứ mệnh ls toàn thế giới của giai cấp công nhân, giai cấp có sứ mệnh thủ tiêu CNTB,
xây dựng thành công CNXH và CNCS. Với phát kiến này, nh hạn chế có tính lịch sử
của CNXHKT - PP đã đc khắc phục 1 cách triệt để; đồng thời đã luận chứng khẳng
định về phương diện chính trị - xh sự diệt vong k tránh khỏi của CNTB và sự thắng
lợi tất yếu của CNXH.
c. Tuyên ngôn ĐCS đánh dấu sự ra đời của CNXHKH
Được sự unhiệm của những người cộng sản công nhân quốc tế, tháng
2/1848, Tuyên ngôn của ĐCS do C.M và Ă soạn thảo được công bố trước toàn
thế giới.
TNĐCS là tác phẩm kinh điển chủ yếu của CNXHKH.
Sự ra đời của tác phẩm vĩ đại này đánh dấu sự hình thành về cơ bản lý luận của
chủ nghĩa Mác bao gồm 3 bộ phận hợp thành: triết học, ktct học và
lOMoARcPSD| 61548596
CNXHKH.
TNĐCS được coi cương lĩnh chính trị, kim chỉ nam hành động của phong
trào Cộng sản công nhân quốc tế; ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân nhân
dân lao động toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống CNTB, giải phóng loài
người vĩnh viễn thoát khỏi mọi áp bức, bóc lột giai cấp, bảo đảm cho loài người
thực sự sống trong hoà bình, tự do và hạnh phúc.
TNDCS đã nêu phân tích một cách có hệ thống lịch sử và lôgic hoàn chỉnh
về những vấn đề bản nhất, đầy đủ, súc tích chặt chẽ nhất thâu tóm hầu như
toàn bộ những luận điểm của CNXHKH; tiêu biêu là các luận điểm:
+Cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch sử loài người đã phát triển đến giai đoạn
giai cấp công nhân k thể tự giải phóng mình nếu k đồng thời giải phóng vĩnh viễn
hội ra khỏi tình trạnh phân chia giai cấp, áp bức, bóc lột đấu tranh giai cấp.
Song giai cấp vô sản k thể hoàn thành sứ mệnh ls nếu k tổ chức ra chính đảng của
giai cấp, Đảng hình thành và phát triển từ chính sứ mệnh ls của giai cấp công nhân
+Lôgic phát triển tất yếu của xh tư sản và cũng là của thời đại tư bản chủ nghĩa
đó là sự sụp đổ của CNTB và sự thăng lợi của CNXH là tất yếu như nhau.
+Giai cấp công nhân, do địa vị kt xh đại diện cho llsx tiên tiến, sứ mệnh
ls thủ tiêu CNTB, đồng thời là ll tiên phong trong quá trình xây dựng
CNXH, CNCS.
+Nh ng cộng sản trong cuộc đấu tranh chống CNTB, cần thiết phải thiết lập sự
liên minh với các ll dân chủ để đánh đổ chế độ phong kiến chuyên chế, đồng thời
k quên đấu trnah cho mục tiêu cuối cùng CNCS. Phải tiến hành cách mạng k
ngừng nhưng phải có sách lược, chiến lược khôn khéo và kiên quyết.
lOMoARcPSD| 61548596
Câu 3. Khái niệm giai cấp công nhân và nội dung sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân
a. Khái niệm giai cấp công nhân
CM Ă đã sử dụng nhiều thuật ngữ chỉ giai cấp công nhân: giai cấp sản
hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp,… Đó
những cụm từ chỉ giai cấp công nhân – con đẻ của nền đại công nghiệp TBCN, giai
cấp đại biểu cho llsx tiên tiến, cho phương thức sx hiện đại
Giai cấp công nhân kinh điển đc xác định trên 2 phương diện cơ bản:
-Ktxh:
sản phẩm và chủ thể của nền sx đại công nghiệp, giai cấp công nhân nh
người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sx tính chất công
nghiệp ngày càng hiện đại hội hoá cao. Họ lao động bằng những phương thức
công nghiệp ngày càng hiện đại với những đặc điểm nổi bật: sản xuất bằng máy móc,
lao động có tính chất xã hội hoá, năng suất lao động cao và tạo ra những tiền dề của
cải vật chất cho xã hội mới.
“Trong công trường thủ công và nghề thủ công, người công nhân sử dụng công
cụ của mình, còn trong công xưởng thì người công nhân phải sử dụng máy móc”- công
nhân công nghiệp công xưởng bộ phận tiêu biểu của giai cấp ng nhân hiện đại,
theo CM và Ă.
-Ctxh:
Từ lịch sử phát triển của CNTB, giai cấp công nhân sản phẩm hội của
quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa, một xã hội có “điều kiện tồn tại dựa trên cơ sở
chế đlàm thuê”. Trong qhsx TBCN, “giai cấp sản giai cấp của những công nhân
làm thuê hiện đại, mất các tlsx của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của
mình để sống”
CM và Ă chỉ rõ, đó là giai cấp của người lao động k có sở hữu tlsx chủ yếu của
xã hội. Họ phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị chủ tư bản bóc lột GTTD. Đối
diện với nbản, công nhân những người lao động tự do bán sức lao động của
mình để kiếm sống. Chính điều này khiến cho giai cấp công nhân trở thành giai cấp
đối kháng với giai cấp tư sản.
Mâu thuẫn cơ bản của phương thức sx TBCN là mâu thuẫn giữa llsx xã hội h
ngày càng rộng lớn với qhsx TBCN dựa trên chế độ tư hữu TBCN về tlsx. Mâu thuẫn
cơ bản này thể hiện về mặt xh là mâu thuẫn về lợi ích giữa giai cấp công nhân và giai
cấp sản. Lao động sống của công nhân nguồn gốc của GTTD sự giàu của
giai cấp tư sản cũng chủ yếu vào việc bóc lột được ngày càng nhiều hơn
GTTD.
Mâu thuẫn đó cho thấy tính chất đối kháng k thể điều hoà giữa giai cấp công nhân
( sản) với giai cấp sản trong phương thức sx TBCN chế độ TBCN Giai cấp
công nhân là 1 tập đoàn xã hội, hình thành và phát triển của nền công nghiệp hiện đại;
họ lao động bằng phương thức công nghiệp ngày càng hiện đại gắn liền với quá
trình sx vật chất hiện đại, đại biểu cho phương thức sx mang tính hội hoá ngày
lOMoARcPSD| 61548596
càng cao. Họ là ng làm thuê do k có tlsx, buộc phải bán sức lao động để sống và bị giai
cấp sản bóc lột GTTD; vậy lợi ích bản của họ đối lập với lợi ích bản của
giai cấp sản. Đó giai cấp sứ mệnh phủ định chế độ TBCN, y dựng thành công
CNXH và CNCS trên toàn thế giới.
b. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Theo chủ nghĩa Mác Lê, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thông qua
chính đảng tiền phong, giai cấp công nhân tổ chức, lãnh đạo nhân dân lao động đấu
tranh xoá bỏ các chế độ người bóc lột người, xoá bỏ CNTB, giải phóng giai cấp công
nhân, nhân dân lao động khỏi mọi sự áp bức bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu. xây dựng
hội CSCN văn minh.
Sứ mệnh ls của giai cấp công nhân được thể hiện trên 3 nội dung cơ bản:
-Nội dung kt :
Là nhân tố hàng đầu của llsx xã hội hoá cao, là đại biểu cho qhsx mới, sản xuất
ra của cải vật chất ngày càng nhiều đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người
hội. Bằng cách đó, giai cấp công nhân tạo tiền đề vật chất kỹ thuật cho sự ra đời
của xã hội mới.
Mặt khác, tính chất xã hội hoá cao của llsx đòi hỏi 1 qhsx mới, phù hợp chế đ
công hữu các tlsx chủ yếu của hội là nền tảng, tiêu biểu cho lợi ích của toàn hội.
Giai cấp công nhân đại biểu cho lợi ích chung của toàn hội. Chỉ giai cấp công
nhân là giai cấp duy nhất k lợi ích riêng với nghĩa hữu. Nó phấn đấu cho lợi
ích chung của hội. chỉ tìm thấy lợi ích chân chính của mình khi thực hiện lợi
ích chung của xã hội.
các nước XHCN, giai cấp công nhân thông qua quá trình công nghiệp hoá và
thực hiện 1 kiểu tổ chức mới về lao động” để tăng năng suất lao độnghội và thực
hiện các nguyên tắc sở hữu, quản lý và phân phối phù hợp với nhu cầu phát triển sản
xuất, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Trên thực tế, các nước XHCN laj ra đời từ phương thức phát triển rút ngắn, bỏ
qua chế độ TBCN. Do đó, để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình về nội dung kinh tế,
giai cấp công nhân phải đóng vai trò nòng cốt trong quá trình giải phóng llsx (vốn bị
kìm hãm, lạc hậu, chậm phát triển trong quá khứ) thúc đẩy llsx phát triển để tạo cơ sở
cho qhsx mới, XHCN ra đời.
-Nội dung ctxh:
Giai cấp công nhân cùng nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của ĐCS, tiến
hành cách mạng chính trị để lật đổ quyền thống trị của giai cấp thống trị đxoá bỏ chế
độ bóc lột, áp bức, giành quyền lực về tay giai cấp công nhân nhân dân lao động.
Thiết lập nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, xây dựng nền dân
chủ XHCN, thực hiện quyền lực của nhân dân, quyền dân chủ và làm chủ xã hội của
tuyệt đại đa số nhân dân lao động
Giai cấp công nhân và nhân dân lao động sử dụng nhà nước của mình, do mình
làm chủ như 1 công cụ hiệu lực để cải tạo hội tổ chức xây dựng xã hội
mới, phát triển nền kinh tế và văn hoá, xây dựng nền chính trị dân chủ - pháp quyền,
quản lý kt xh tổ chức đời sống hội phục vquyền lợi ích của nhân dân lao
lOMoARcPSD| 61548596
động, thực hiện dân chủ, công bằng, bình đẳng tiến bộ hội, theo tưởng mục
tiêu của CNXH.
-Nội dung văn hoá, tư tưởng:
Thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân trong tiến trình cách
mạng cải tạo hội và xây dựng hội mới trên lĩnh vực văn hoá, tưởng cần
phải tập trung xây dựng hệ giá trị mới: lao động, công bằng; dân chủ; bình đẳng và tự
do.
Giai cấp công nhân thực hiện cuộc cách mạng về văn hoá, tưởng bao gồm
cải tạo cái lỗi thời lạc hậu, xây dựng cái mới, tiến bộ trong lĩnh vực ý thức tưởng,
trong tâm lý, lối sống và trong đời sống tinh thần xã hội. Xây dựng và củng cố ý thức
hệ tiên tiến của giai cấp công nhân, đó chủ nghĩa Mác Lê, đấu tranh để khắc phục
ý thức hệ tư sản và các tàn dư còn lại của các hệ tư tưởng cũ. Phát triển văn hoá, xây
dựng con người mới XHCN, đạo đức và lối sống mới XHCN là một trong những nội
dung căn bản mà CMXHCN trên lĩnh vực văn hoá và tư tưởng đặt ra đối với sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân hiện đại.
lOMoARcPSD| 61548596
Câu 4. Những điều kiện khách quan chủ quan quy định sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
a. Điều kiện khách quan
Khẳng định tính tất yếu khách quan sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân,CM
và Ă đã nêu rõ:
“Cùng với sự phát triển của đai công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai
cấp tư sản đã sx chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư
sản. Trước hết, giai cấp tư sản sinh ra những con người đào huyệt chôn chính nó. Sự
sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản là tất yếu như nhau.” Điều
kiện khách quan bao gồm:
Thứ nhất, do địa vị kinh tế của giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân con đẻ, sản phẩm của nền đại công nghiệp, tính hội
hoá ngày càng cao, là chủ thể của quá trình sx vật chất hiện đại. Vì thế, giai cấp công
nhân đại diện cho phương thức sx tiên tiến và llsx hiện đại. Do lao động bằng phương
thức côn nghiệp ngày càng hiện đại, giai cấp công nhân là người sx ra của cải vật chất
chủ yếu cho xh, làm giàu cho xh, có vai trò quyết định sự phát triển của xh hiện đại.
Đk khách quan này là nhân tố kinh tế quy định giai cấp công nhân là ll phá vỡ
qhsx TBCN, giành chính quyền về tay mình, chuyển từ giai cấp “tự nó” thành giai cấp
“vì nó”. Giai cấp công nhân trở thành đại biểu cho sự tiến hoá tất yếu của lịch sử, là ll
duy nhất có đủ điều kiện để tổ chức và lãnh đạo xã hội, xây dựng và phát triển llsx
qhsx XHCN, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng CNXH với tư cách 1 chế độ xh
kiểu mới, k còn chế độ áp bức, bóc lột người.
Thứ hai, do địa vị chính trị xh của giai cấp công nhân quy định
giai cấp sx của cải vật chất chủ yếu cho xh, nhưng trong CNTB giai cấp công
nhân không sở hữu tlsx chủ yếu, phải bán sức lao động để kiếm sống, bị bóc lột nặng
nề, vì lợi ích bản của họ đối lập trực tiếp với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản
thống nhất với lợi ích cơ bản của đa số nhân dân lao động.
Là con đẻ của nền sx đại công nghiệp, giai cấp công nhân có những phẩm chất
của 1 giai cấp tiên tiến, giai cấp cách mạng như: tính tổ chức và kỷ luật, tự giác
đoàn kết trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình và giải phóng xã hội. Những phẩm
chất này của giai cấp công nhân được hình thành tchính những điều kiện khách quan,
đc quy định tđịa vị kinh tế địa vị chính trị - xã hội của nó trong nền sản xuất hiện
đại và trong xã hội hiện đại mà giai cấp tư sản và CNTB đã tạo ra 1 cách khách quan,
ngoài ý muốn của nó. Giai cấp công nhân được trang bị lý luận tiên tiến là chủ nghĩa
Mác Lênin, có đội tiền phong là ĐCS dẫn dắt.
Tóm lại, sứ mệnh ls của giai cấp công nhân sở dĩ được thực hiện bởi nó là giai
cấp cách mạng, đại biểu cho llsx hiện đại, cho phương thức sx tiên tiến thay thế
phương thức sx TBCN, hình thái kinh tế - hội CSCN. Giai cấp công nhân là giai
cấp đại biểu cho tương lai, cho xu thế đi lên của tiến trình phát triển lịch sử - đây
đặc tính quan trọng, quyết định bản chất cách mạng của giai cấp công nhân. Hoàn toàn
lOMoARcPSD| 61548596
không phải vì nghèo khổ mà vì giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng. Tình trạng
nghèo khổ của giai cấp công nhân dưới CNTB hậu quả của sự áp bức bóc lột
giai cấp sản CNTB tạo ra với công nhân, đó trạng thái mà cách mạng sẽ xoá
bỏ để giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng xã hội. b. Điều kiện chủ quan
-Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng chất lượng.
Thông qua sự phát triển này có thể thấy sự lớn mạnh của giai cấp công nhân cùng với
quy mô phát triển của nền sx vật chất hiện đại trên nền tảng của công nghiệp, của kỹ
thuật và công nghệ.
Sự phát triển về số lượng phải gắn liền với sự phát triển về chất lượng của giai
cấp công nhân hiện đại, đảm bảo cho giai cấp công nhân thực hiện được sứ mệnh ls
của mình. Chất lượng giai cấp công nhân phải thể hiện trình độ trưởng thành về ý
thức chính trị của 1 giai cấp cách mạng, tức tự giác nhận thức đc vai trò trọng
trách của giai cấp mình đối với lịch sử, do đó giai cấp công nhân phải được giác ngộ
về lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác Lênin.
Là giai cấp đại biểu cho phương thức sx tiên tiến, chất lượng của giai cấp công
nhân còn phải thể hiện năng lực trình đlàm chủ khoa học kỹ thuật hiện đại, nhất
trong điều kiện hiện nay. Để phát triển giai cấp công nhân về số lượng và chất lượng,
theo chủ nghĩa Mác Lênin phải dặc biệt chú ý đến 2 biện pháp bản: 1) Phát triển
công nghiệp “tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết”; 2) Sự trưởng thành của ĐCS
hạt nhân chính trị quan trọng của giai cấp công nhân.
Chỉ với sự phát triển về số lượng và chất lượng, đặc biệt về chất lượng, giai cấp
công nhân mới có thể thực hiện đc sứ mệnh ls của mình.
-ĐCS nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện
thắng lợi sứ mệnh ls của mình.
ĐCS đội tiên phong của giai cấp công nhân ra đời đảm nhận vai trò lãnh
đạo cuộc cách mạng dấu hiệu về sự trưởng thành vượt bậc của giai cấp công nhân
với tư cách là giai cấp cách mạng.
Quy luật chung, phổ biến cho sự ra đời của ĐCS là sự kết hợp giữa CNXHKH,
tức là chủ nghĩa Mác Lênin với phong trào công nhân.
Giai cấp công nhân sở xh nguồn gốc bổ sung ll quan trọng nhất của
Đảng, làm cho Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, trở thành đội tiên phong, bộ
tham mưu chiến đấu giai cấp. ĐCS đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công
nhân, của dân tộc xã hội. Sức mạnh của Đảng k chỉ thể hiện bản chất giai cấp
công nhân còn mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, với đông đảo quần
chúng trong hội, thực hiện cuộc cách mạng do Đảng lãnh đạo để giải phóng giai
cấp và giải phóng xã hội.
Ngoài 2 đk thuộc về nhân tố chủ quan trên, chủ nghĩa Mác còn chỉ rõ: để
cuộc cách mạng thực hiện sứ mệnh ls của giai cấp công nhân đi tới thắng lợi, phải có
sự liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp
lao động khác do giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của ĐCS lãnh
đạo. Đây cũng 1 đk quan trọng k thể thiếu để thực hiện sứ mệnh ls của giai cấp công
nhân.
lOMoARcPSD| 61548596
Câu 5. Những đặc trưng bản của CNXH theo quan điểm của
chủ nghĩa Mác- Lênin
-CNXH giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng
con người, tạo đk để con người phát triển toàn diện.
Trong Tuyên ngôn ĐCS, khi dự báo về tương lai, về hội CSCN, CM Ă
khẳng định: “Thay thế cho xã hội sản cũ với các giai cấp những sự đối lập giai
cấp của s1 khối liên hiệp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người đều
diều kiện của sự phát triển tự do của tất cả mọi người”; khi đó “con người, cuối cùng
làm chủ tồn tại hội của chính mình thì cũng do đó làm chủ tự nhiên , làm chủ cả
bản thân mình, trở thành người tự do”. Đây là sự khác biệt về chất giữa hình thái ktxh
CSCN so với các hình thái ktxh ra đời trước, thể hiện bản chất nhân văn, nhân
đạo, sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Để đạt
đc mục tiêu đó, CM Ă cho rằng, CMXHCN phải tiến hành triệt để, trước hết giải
phóng giai cấp, xoá bỏ tình trạng giai cấp này bóc lột, áp bức giai cấp kia, 1 khi
tình trạng người áp bức, c lột người bị xoá bỏ thì “tình trạng dân tộc này c lột dân
tộc khác cũng bị xoá bỏ”.
Lênin, trong đk mới của đời sống chính trị xã hội thế giới đầu thế kỷ XX, đồng
thời từ thực tiễn của công cuộc xây dựng CNXH nước Nga XôViết đã cho rằng, mục
đích cao nhất, cuối cùng của những cải tạo XHCN là thực hiện nguyên tắc: làm theo
nguyên tắc, hưởng theo nhu cầu: “…khi bắt đầu thực hiện những cải tạo XHCN, chúng
ta phải đặt cái mục đích những cải tạo XHCN đó rốt cục nhắm tới, cụ thể
thiết lập 1 xã hội CSCN, 1 xã hội k chỉ hạn chế ở việc tước đoạt các công xưởng nhà
máy, ruộng đất và tlsx, k chỉ hạn chế ở việc kiểm soát và kiểm kê chặt chẽ việc sx và
phân phối sản phẩm, mà còn đi xa hơn nữa, đi tới việc thực hiện theo nguyên tắc: làm
theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Vì thế cái tên gọi “đcs” là duy nhất chính xác về
mặt khoa học”. Lênin cũng khẳng định mục đích cao cả của CNXH cần hướng đến là
xoá bỏ sự phân chia hội thành giai cấp, biến tất cả thành viên trong hội loài
người thành người lao động, tiêu diệt mọi sở của tình trạng người bóc lột người.
Lênin còn chỉ trong qtrình phấn đấu để đạt mục đích cao cả đó, giai cấp công
nhân dưới sự lãnh đạo của ĐCS phải hoàn thành nhiều nhiệm vụ của các giai đoạn
khác nhau, trong đó mục đích, nhiệm vụ cụ thể của thời kỳ xây dựng CNXH – tạo ra
các đk về cơ sở vật chất kỹ thuật và đời sống tinh thần để thiết lập XHCS.
-CNXH nền kt phát triển cao dựa trên llsx hiện đại chế độ công hữu về
tlsx chủ yếu
Đây là đặc trưng của phương diện kt của CNXH. Mục đích cao nhất của CNXH
là giải phóng con người trên sở đk ktxh phát triển, xét đến cùng là trình độ phát
triển cao của llsx. CNXH là chế độ xh có nền kt phát triển cao, với llsx hiện đại, qhsx
dựa trên chế độ công hữu về tlsx, được tổ chức, quản hiệu quả, năng suất lao
động cao và được phân phối chủ yếu theo lao động. Lênin cho rằng: “Từ CNTB, nhân
loại chỉ có thể tiến thẳng lên CNXH, nghĩa là lên chế độ công hữu về các tlsx và chế
độ phân phối sản phẩm theo lao động của mỗi người”
lOMoARcPSD| 61548596
Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của xã hội CSCN, CNXH, theo Ă k thể lập tức
thủ tiêu chế độ hữu. Ă dứt khoát cho rằng: “Không, k thể được, cũng y như k thể
làm cho llsx hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng 1 nền kinh
tế công hữu. Cho nên cuộc cách mạng của giai cấp vô sản đang có tất cả những triệu
chứng là sắp nổ ra, sẽ chỉ có thể cải tạo xã hội hiện nay 1 cách dần dần, và chỉ khi nào
tạo nên 1 khối lượng tlsx cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu đc chế
độ tư hữu”.
Cùng với việc từng bước xác lập chế đcông hữu về tlsx, để nâng cao năng suất
lao động cần phải tổ chức lao động theo 1 trình độ cao hơn, tổ chức chặt chẽ
luật lao động nghiêm, nghĩa là phải tạo ra qhsx tiến bộ, thích hợp vs trình độ phát triển
của llsx.
Đối với nh nước chưa trải qua CNTB đi lên CNXH, để phát triển llsx, nâng cao
năng suất lao động, Lênin chỉ rõ tất yếu phải “bắc nh chiếc cầu nhỏ vững chắc” xuyên
qua CNTB nhà nước, đi lên CNXH. Đồng thời, Lênin chỉ rõ, nh nước này phải học
hỏi kinh nghiệm từ nh nước phát triển theo cách thức: “Dùng cả 2 tay lấy nh cái
tốt của nước ngoài: Chính quyền Xôviết + trật tự ở đường sắt Phổ + kỹ thuật và cách
tổ chức các tơ-rớt ở Mỹ + ngành giáo dục quốc dân Mỹ etc. ++=Σ(tổng số) = CNXH”
-CNXH là chế độ xã hội do nhân dân lao động làm chủ
Đây đặc trưng thể hiện thuộc tính bản chất của CNXH, xã hội con người
do con người; nhân dân nòng cốt nhân dân lao động chủ thể của hội
thực hiện quyền làm chủ ngày càng rộng rãi đầy đủ trong quá trình cải tạo hội
cũ, xây dựng xã hội mới. CNXH 1 chế độ chính trị dân chủ, nhà nước XHCN với
hệ thống pháp luật hệ thống tổ chức ngày càng hoàn thiện sẽ quản hội ngày
càng hiệu quả. CM Ă chỉ rõ: “Bước thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân
giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị, giành lấy dân chủ”. Lênin, từ thực tiễn
xây dựng CNXH ở nước Nga Xôviết, đã coi chính quyền Xôviết là 1 kiểu Nhà nước
chuyên chính vô sản, 1 chế độ dân chủ ưu việt gấp triệu lấn so với chế độ dân chủ tư
sản: “chế độ dân chủ sản so với bất kỳ chế độ dân chủ sản nào, cũng dân chủ
hơn gấp triệu lần: chính quyền Xôviết so với nước cộng hoà sản dân chủ tcũng
dân chủ hơn gấp triệu lần”
-CNXH có nhà nước kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho
lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động
Các nhà sáng lập CNXHKH đã khẳng định: trong CNXH phải thiết lập nhà
nước chuyên chính vô sản, nhà nước kiểu mới mang bản chất của giai cấp công nhân,
đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động.
Theo Lênin, chuyên chính cách mạng của giai cấp sản là 1 chính quyền do
giai cấp sản giành được duy trì bằng bạo lực đối với giai cấp sản. Chính quyền
đó chính là nhà nước kiểu mới thực hiện dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân và trấn
áp bằng vũ lực bọn áp bức bóc lột nhân dân, thực chất của sự biến đổi chế độ dân chủ
trong thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNCS. Nhà nước sản, theo Lênin, phải 1 công
cụ, 1 phương tiện; đồng thời, 1 biểu hiện tập trung trình đdân chủ của nhân dân
lao động, phản ánh trình độ nhân dân tham gia vào mọi công việc của nhà nước, quần
chúng nhân dân thực sự tham gia vào từng bước của cuộc sống và đóng vai trò tích
lOMoARcPSD| 61548596
cực trong việc quản lý. Cũng theo Lênin, Nhà nước Xôviết sẽ tập hợp, lôi cuốn đông
đảo nhân dân tham gia quản nhà nước, quản hội, tổ chức đời sống xh con
người cho con người. Nhà nước chuyên chính sản đồng thời với việc mở rộng
nhiều chế độ dân chủ - lần đầu tiên biến thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế
độ dân chủ cho nhân dân chứ k phải cho bọn nhà giàu – chuyên chính vô sản còn thực
hành 1 loạt biện pháp hạn chế quyền tự do đối với bọn áp bức bóc lột, bọn tư bản.
-CNXH nền văn hoá phát triển cao, kế thừa phát huy những giá trị của
văn hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại
Trong CNXH, văn hoá nền tảng tinh thần của xh, mục tiêu, động lực của phát
triển xh, trọng tâm phát triển kinh tế; văn hoá đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách,
bản lĩnh con người, biến con người thành con người chân, thiện, mỹ.
Lênin luận giải sâu sắc về “văn hsản” nền vh XHCN, rằng chỉ xây
dựng đc nền vh sản mới giải quyết đc mọi vấn đtừ kt, ct đến xh, con người. Lênin
cũng cho rằng, trong XHCN, nh người cộng sản sẽ làm giàu tri thức của mình bằng
tổng hợp tri thức, văn hoá con người đã tạo ra. Do vậy, qtrình xd nền văn hoá
XHCN phải biết kế thừa nh giá trị vh dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại, đồng thời
cần chống tưởng, văn hoá phi sản, trái với nh giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc và của loài người, trái với phương hướng đi lên của CNXH.
-CNXH bảo đảm bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và quan hệ hữu nghị,
hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Vấn đề giai cấp dân tộc, xd 1 cộng đồng dân tộc, giai cấp bình đẳng, đoàn
kết, hợp tác, hữu nghị với nhân dân các nước trên thế giới luôn có vị trí đặc biệt quan
trọng trong hoạch định và thực thi chiến lược phát triển của mỗi dân tộc và mỗi quốc
gia. Theo quan điểm của các nhà sáng lập CNXHKH, vấn đề giai cấp dân tộc
quan hệ biện chứng, bởi vậy, giải quyết vấn đề dân tộc, giai cấp trong CNXH vị thế
đặc biệt quan trọng phải tuân thủ nguyên tắc: “xoá bỏ tình trạng người bóc lột người
thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ”.
Lênin trong Cương lĩnh về vấn đề dân tộc: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng;
các dân tộc được quyền tự quyết; liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại: đó
cương lĩnh dân tộc mà chủ nghĩa Mác, kinh nghiệm toàn thế giới và kinh nghiệm của
nước Nga dạy cho công nhân”.
Giải quyết vấn đề dân tộc theo Cương lĩnh của Lênin, trong CNXH, cộng đồng
dân tộc, giai cấp bình đẳng, đoàn kết và hợp tác dựa trên cơ sở chính trị - pháp lý, đặc
biệt sktxh, văn hoá sẽ từng bước xây dựng, củng cố phát triển. Đây sự
khác biệt căn bản về việc giải quyết vấn đề dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác
và quan điểm chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi hoặc chủ nghĩa phân biệt chủng
tộc.
CNXH, với bản chất tốt đẹp do con người, vì con người, luôn đảm bảo cho
các dân tộc bình đẳng, đoàn kết hợp tác hữu nghị; đồng thời quan hệ vs nhân
dân tất cả các nước trên thế giới. Tất nhiên, đxây dựng cộng đồng bình đẳng, đoàn
kết quan hệ hợp tác, hữu nghị với nhân dân tất cả các nước trên thế giới, điều
kiện chiến thắng hoàn toàn CNTB, theo Lênin cần phải sự liên minh sự thống
nhất của giai cấp vô sản toàn thể quần chúng cần lao thuộc tất cả các nước và các
lOMoARcPSD| 61548596
dân tộc trên toàn thế giới. Trong Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa
văn kiện vgiải quyết vấn đề dân tộc trong thời đại đế quốc chủ nghĩa CMVS,
Lênin chỉ rõ: “Trọng tâm trong toàn bế chính sách của Quốc tế CS về vấn đề dân tộc
và vấn đề thuộc địa là cần phải đưa giai cấp vô sản và quần chúng lao động tất cả các
dân tộc và các nước lại gần nhau trong cuộc đấu tranh cách mạng chung để lật đổ địa
chủ sản. Bởi chsự gắn như thế mới đảm bảo thắng lợi đối với CNTB, k
thắng lợi đó thì k thể tiêu diệt được ách áp bức dân tộc và sự bất bình đẳng”. Đó
cũng sở để Người đưa ra khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước dân tộc bị áp
bức, đoàn kêt lại!”
Bảo đảm bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và có quan hệ hợp tác, hữu nghị
với nhân dân tất cả các nước trên thế giới, CNXH mở rộng được ảnh hưởng góp
phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới hoà bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xh.
lOMoARcPSD| 61548596
Câu 6. Khái niệm dân tộc và cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa
Mác – Lênin
a. Khái niệm dân tộc
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, dân tộc là quá trình phát triển lâu
dài của xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao, bao gồm:
thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc. Sự biến đổi của phương thức sản xuất chính là nguyên
nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc.
phương tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sx TBCN được xác lập thay
thế phương thức sx phong kiến. phương Đông, dân tộc được hình thành trên cơ sở
1 nền văn hoá, 1 tâm dân tộc đã phát triển tương đối chín muồi 1 cộng đồng kinh
tế tuy đã đạt tới 1 mức đnhất định, song nhìn chung còn kém phát triển và trạng
thái phân tán. Dân tộc được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp:
Theo nghĩa rộng, dân tộc (Nation) khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng
người ổn định làm thành nhân dân một nước, lãnh thổ riêng, nền kinh tế thống nhất,
ngôn ngữ chung và ý thức về sự thống nhất của mình, gắn với nhau bởi quyền
lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá truyền thống đấu tranh chung trong suốt
quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Với nghĩa này, khái niệm dân tộc
dùng chỉ 1 quốc gia, nghĩa là toàn bộ nhân dân 1 nước.
Theo nghĩa rộng, dân tộc có 1 số đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, có chung 1 vùng lãnh thổ ổn định
Thứ hai, có chung 1 phương thức sinh hoạt kinh tế
Thứ ba, có chung 1 ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp
Thứ tư, có chung 1 nền văn hoá và tâm lý
Thứ năm, có chung 1 nhà nước (nhà nước dân tộc)
Theo nghĩa hẹp, dân tộc (Ethnie) khái niệm dùng để chỉ 1 cộng đồng tộc
người được hình thành trong lịch sử, mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung ý
thức tự giác tộc người, ngôn ngữ và văn hoá. Cộng đồng này xuất hiện sau bộ lạc, bộ
tộc, kế thừa và phát triển cao hơn những nhân tố tộc người của các cộng đồng đó. Với
nghĩa này, dân tộc là 1 bộ phận hay thành phần của quốc gia. Chẳng hạn, VN là quốc
gia 54 dân tộc, tức 54 cộng đồng người. Sự khác nhau giữa các cộng đồng tộc người
ấy biểu hiện chủ yếu ở đặc trưng văn hoá, lối sống, tâm lý, ý thức tộc người.
Dân tộc – tộc người có 1 số đặc trưng cơ bản;
-Cộng đồng về ngôn ngữ
-Cộng đồng về văn hoá
-Ý thức tự giác tộc người
Ba tiêu chí này tạo nên sự ổn định trong mỗi tộc người trong quá trình phát
triển.
b. Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác Lênin
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác về mối quan hệ giữa dân tộc với giai
cấp; kết hợp phân tích 2 xu hướng khách quan trong sự phát triển dân tộc; dựa vào
kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới thực tiễn cách mạng Nga trong
lOMoARcPSD| 61548596
việc giải quyết vấn đề dân tộc những năm đầu thế kỷ XX, Cương lĩnh dân tộc của V.I.
Lênin đã khái quát: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự
quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại”.
Một là, c dân tộc hoàn toàn bình đẳng. Đây quyền thiêng liêng của các dân
tộc, không phân biệt dân tộc lớn hay nhỏ, ở trình độ phát triển cao hay thấp. Các dân
tộc đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, không dân tộc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá.
Trong quan hệ hội cũng như trong quan hệ quốc tế, không một dân tộc nào
quyền đi áp bức, bóc lột dân tộc khác. Trong 1 quốc gia nhiều dân tộc, quyền
bình đẳng dân tộc phải được thể hiện trên sở pháp lý, nhưng quan trọng hơn phải
được thực hiện trên thực tế. Để thực hiện được quyền bình đẳng của dân tộc, trước hết
phải thủ tiêu tình trạng áp bức giai cấp, trên cơ sở đó xoá bỏ tình trạng áp bức dân tộc;
phải đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết
và xây dựng mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc.
Hai là, các dân tộc được quyền tự quyết. Đó là quyền của các dân tộc tự quyết
định lấy vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường
phát triển của dân tộc mình.
Quyền tquyết dân tộc bao gồm quyền tách ra thành 1 quốc gia dân tộc độc
lập, đồng thời quyền tự nguyện liên hiệp với dân tộc khác trên sở bình đẳng.
Tuy nhiên, việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết phải xuất phát từ thực tiễn cụ thể
phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, đảm bảo sự thống nhất giữa
lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp công nhân. V.I. Lênin đặc biệt chú trọng quyền tự
quyết của các dân tộc bị áp bức, các dân tộc phụ thuộc.
Quyền tự quyết dân tộc không đồng nhất với “quyền” của các dân tộc thiểu số
trong 1 quốc gia đa tộc người, nhất là việc phân lập thành quốc gia độc lập. Kiên quyết
đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch lợi
dụng chiêu bài “dân tộc tự quyết” để can thiệp vào nội bộ của các nước, hoặc kích
động đòi ly khai dân tộc.
Ba là, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc. Liên hiệp công nhân các dân tộc
phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc giải phóng giai cấp; phản ánh sự
gắn chặt chẽ giữa tinh thần của chủ nghĩa yêu nước chủ nghĩa quốc tế chân
chính.
Đoàn kết, liên hiệp ng nhân các dân tộc sở vững chắc để đoàn kết các
tầng lớp nhân dân lao động thuộc các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa
đế quốc độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. vậy, nội dung này vừa một nội dung
chủ yếu, vừa là giải pháp quan trọng để liên kết các nội dung của Cương lĩnh dân tộc
thành 1 chỉnh thể.
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác Lênin sở lý luận quan trọng để
các ĐCS vận dụng thực hiện chính sách dân tộc trong quá trình đấu tranh giành độc
lập dân tộc và xây dựng CNXH.
lOMoARcPSD| 61548596
Câu 7. Bản chất, nguồn gốc tính chất của tôn giáo a.
Bản chất
Chủ nghĩa Mác Lênin cho rằng, tôn giáo 1 hình thái ý thức hội phản ánh
hư ảo hiện thực khách quan. Thông qua sự phản ánh đó, các lực lượng tự nhiên và xã
hội trở thành siêu nhiên, thần bí. Ph. Ă cho rằng: “tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ
sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc con người – của những lực lượng bên ngoài
chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở
trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”.
1 cách tiếp cận khác, tôn giáo 1 thực thể hội các tôn giáo cụ thể (ví
dụ: Công giáo, Tin Lành, Phật giáo…), với các tiêu chí bản: niềm tin sâu sắc
vào đấng siêu nhiên, đấng tối cao, thần linh để tôn thờ (niềm tin tôn giáo); hệ thống
giáo thuyết (giáo , giáo luật, lễ nghi) phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan, đạo
đức, lễ nghi của tôn giáo; hệ thống sở thờ tự; tổ chức nhân sự, quản điều
hành việc đạo (người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp);
hệ thống tín đồ đông đảo, những người tự nguyện tin theo 1 tôn giáo nào đó
được tôn giáo đó thừ nhận.
Chỉ bản chất của tôn giáo, chủ nghĩa Mác Lênin khẳng định: Tôn giáo 1
hiện tượng xã hội – văn hoá do con người sáng tạo ra. Con người sáng tạo ra tôn giáo
mục đích, lợi ích của họ, phản ánh những ước mơ, nguyện vọng, suy nghĩ của họ.
Nhưng, sáng tạo ra tôn giáo, con người lại bị lệ thuộc vào tôn giáo, tuyệt đối hoá
phục tùng tôn giáo điều kiện. Chủ nghĩa Mác Lênin ng cho rằng, sản xuất vật
chất và các quan hệ kinh tế, xét đến cùng là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển
của các hình thái ý thức hội, trong đo tôn giáo. Do đó, mọi quan niệm về tôn
giáo, tổ chức, thiết chế tôn giáo đều được sinh ra từ những hoạt động sản xuất, những
điều kiện sống nhất định trong xã hội và thay đổi theo những thay đổi của cơ sở kinh
tế. Về phương diện thế giới quan, các tôn giáo mang thế giới quan duy tâm, sự khác
biệt với thế giới quan duy vật biện chứng, khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin. Mặc
sự khác biệt về thế giới quan, nhưng những người cộng sản với lập trường
Mácxít không bao giờ có thái độ xem thường hoặc trấn áp những nhu cầu tín ngưỡng,
tôn giáo của nhân dân; ngược lại, luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc
không theo tôn giáo của nhân dân. Trong những điều kiện cụ thể của hội, những
người cộng sản và những người có tín ngưỡng tôn giáo có thể cùng nhau xây dựng 1
hội tốt đẹp hơn thế giới hiện thực. hội ấy chính hội quần chúng tín
đồ cũng từng mơ ước và phản ánh nó qua 1 số tôn giáo.
Tôn giáo tín ngưỡng không đồng nhất, nhưng giao thoa nhất định. Tín
ngưỡng là hệ thống những niềm tin, sự ngưỡng mộ, cũng như cách thức thể hiện niềm
tin của con người trước các sự vật, hiện tượng, lực lượng tính thần thánh, linh
thiêng để cầu mong sự che chở, giúp đỡ. nhiều loại hình tín ngưỡng khác nhau
như: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc; tín ngưỡng thờ
Mẫu…
lOMoARcPSD| 61548596
tín niềm tin mệ muội, viển vông, không dựa trên 1 sở khoa học nào.
Nói cách khác niềm tin về mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện, sự vật, hiện
tượng trên thực tế không mối liên hệ, cụ thể ràng, khách quan, tất yếu, nhưng
được bao phủ bởi các yếu tố siêu nhiên, thần thánh, ảo. Dị đoan sự suy đoán,
hành động 1 cách tuỳ tiện, sai lệch những điều bình thường, chuẩn mực trong cuộc
sống.
tín dị đoan niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên, thần
thánh đến mức độ mê muội, cuồng tín, dẫn đến những hành vi cực đoan, sai lệch quá
mức, trái với các giá trị văn hoá, đạo đức, pháp luật, gây tổn hại cho nhân, xã hội
và cộng đồng.
b. Nguồn gốc
-Nguồn gốc tự nhiên, kt xh: Trong hội công xã nguyên thuỷ, do llsx chưa
phát triển, trước thiên nhiên hùng tác động chi phối khiến cho con người cảm
thấy yếu đuối bất lực, không giải thích được, nên con người đã gán cho tự nhiên
những sức mạnh, quyền lực thần bí.
Khi xã hội xuất hiện các giai cấp dối kháng, có áp bức bất công, do không giải
thích được nguồn gốc của sự phân hoá giai cấp và áp bức bóc lột bất công, tội ác,
v.v., cộng với sự lo sợ trước sự thống trị của các ll xã hội, con người trông chờ vào sự
giải phóng của 1 ll siêu nhiên ngoài trần thế.
-Nguồn gốc nhận thức: 1 giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức của con
người về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình là có giới hạn. Khi mà khoảng cách
giữa “biết” “chưa biết” vẫn tồn tại, khi những điều khoa học chưa giải thích
được, tđiều đó thường được giải thích qua lăng kính của các tôn giáo. Ngay cả
những vấn đề đã được khoa học chứng minh, nhưng do trình độ dân trí thấp, chưa thể
nhận thức đầy đủ, thì đây vẫn là điều kiện, là mảnh đất cho tôn giáo ra đời, tồn tại và
phát triển. Thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo chính sự tuyệt đối hoá, sự
cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến cái nội dung khách quan thành
cái siêu nhiên, thần thánh.
-Nguồn gốc tâm : Sự shãi trước những hiện tượng tự nhiên, hội, hay trong
những lúc ốm đau, bệnh tật; ngay cả những may rủi, bất ngờ xảy ra, hoặc tâm lý muốn
được bình yên khi làm một việc lớn (ví dụ: ma chay, cưới xin, làm nhà, khởi đầu sự
nghiệp kinh doanh,…), con người cũng dễ tìm đến với tôn giáo. Thậm chí cả những
tình cảm tích cực như tình yêu, lòng biết ơn, lòng kính trọng đối với những người có
công với nước, với dân cũng dễ dẫn con người đến với tôn giáo (ví dụ: thờ các anh
hùng dân tộc, thờ các thành hoàng làng…)
c. Tính chất
-Tính chất lịch sử: Tôn giáo 1 hiện tượng xh tính lịch sử, nghĩa
sự hình thành, tồn tại và phát triển và có khả năng biến đổi trong những giai đoạn lịch
sử nhất định để thích nghi với nhiều chế độ chính trị - hội. Khi các điều kiện kt
xh, lịch sử thay đổi, tôn giáo cũng có sự thay đổi theo. Trong quá trình vận động của
các tôn giáo, chính các điều kiện kinh tế - xh, lịch sử cụ thể đã làm cho các tôn giáo
bị phân liệt, chia tách thành nhiều tôn giáo, hệ phái khác nhau.
lOMoARcPSD| 61548596
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, đến một giai đoạn lịch sử nào đó,
khi khoa học và giáo dục giúp cho đại đa số quần chúng nhân dân nhận thức được bản
chất các hiện tượg tự nhiên và xã hội thì tôn giáo sẽ dần dần mất đi vị trí của nó trong
đời sống xã hội và cả trong nhận thức, niềm tin của mỗi người.
-Tính quần chúng: Tôn giáo 1 hiện tượng xh phổ biến tất cả các dân tộc,
quốc gia, châu lục. Tính quần chúng của tôn giáo không chỉ biểu hiện số lượng tín
đồ rất đông đảo (gần ¾ dân số thế giới); còn thể hiện chỗ, các tôn giáo nơi
sinh hoạt văn hoá, tinh thần của 1 bộ phận quần chúng nhân dân. tôn giáo hướng
con người vào niềm tin hạnh phúc hư ảo của thế giới bên kia, song nó luôn luôn phản
ánh khát vọng của những người lao động về 1 hội tự do, bình đẳng, bác ái. Mặt
khác, nhiều tôn giáo tính nhân văn, nhân đạo hướng thiện, vậy, được nhiều
người ở các tầng lớp khác nhau trong xã hội, đặc biệt là quần chúng lao động tin theo.
-Tính chính trị của tôn giáo: Khi xã hội chưa có giai cấp, tôn giáo chỉ phản ánh
nhận thức hồn nhiên, ngây thơ của con người về bản thân thế giới xung quanh
mình, tôn giáo chưa mang tính chính trị. Tính chất chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện
khi xã hội đã phân chia giai cấp, sự đối kháng, sự khác biệt về lợi ích giai cấp.
Trước hết, do tôn giáo sản phẩm của những điều kiện kt xh, phản ánh lợi ích,
nguyện vọng của các giai cấp khác nhau trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân
tộc, nên tôn giáo mang tính chính trị. Mặt khác, khi các giai cấp bóc lột, thống trị s
dụng tôn giáo để phục vụ cho lợi ích giai cấp mình, chống lại các giai cấp lao động
tiến bộ xh, tôn giáo mang tính chính trị tiêu cực, phản tiến bộ.
vậy, cần nhận ràng, đa số quần chúng tín đồ đến với tôn giáo nhằm thoả
mãn nhu cầu tinh thần; song, trên thực tế, tôn giáo đã và đang bị các thế lực chính trị
- xã hội lợi dụng thực hiện mục đích ngoài tôn giáo của họ.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61548596
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc NHÓM CNXHKH __________________
Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 2022 NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học
2. Vai trò của C.Mác và Ph. Ăngghen đối với sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học.
3. Khái niệm giai cấp công nhân và nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
4. Nhưng điều kiện khách quan và chủ quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
5. Những đặc trưng cơ bản của CNXH theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin
6. Khái niệm dân tộc và cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin
7. Bản chất, nguồn gốc và tính chất của tôn giáo
Câu 1. Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học
a. Điều kiện kinh tế xã hội
Vào những năm 40 thế kỉ XIX, Cách mạng công nghiệp đã hoàn thành ở Anh,
chuyển sang Pháp và Đức làm xuất hiện 1 llsx mới là nền đại công nghiệp. Nó
đã làm cho phương thức sx TBCN phát triển vượt bậc.
“Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy 1 thế kỷ, đã tạo ra
llsx của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”
-C.Mác và Ăng-ghen, Tuyên ngôn của ĐCS lOMoAR cPSD| 61548596
Đây chính là nguyên nhân làm xuất hiện mâu thuẫn ngày càng quyết liệt giữa
llsx mang tính xã hội với qhsx dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tlsx
Cùng vs quá trình phát triển của đại công nghiệp, sự ra đời 2 giai cấp có lợi ích
cơ bản đối lập nhau: tư sản và vô sản (công nhân)
Cũng từ đây, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại sự thống trị áp bức của giai
cấp tư sản ngày càng mạnh mẽ:
+Phong trào Hiến chương của người lao động ở Anh (1836 – 1848)
+Phong trào công nhân dệt thành phố Xiđêli, Đức 1844
+Đặc biệt phong trào công nhân dệt thành phố Lion, Pháp 1831 và 1834 có tính
chính trị rõ nét. 1831 khẩu hiệu thuần tuý có tính chất kinh tế “Sống có việc làm hay
chết trong đấu tranh” thì 1834 đổi thành khẩu hiệu mục đích chính trị “Cộng hoà hay là chết”
Sự phát triển nhanh chóng có tính chính trị công khai của phong trào công nhân
đã minh chứng, lần đầu tiên, giai cấp công nhân đã xuất hiện như 1 lực lượng chính
trị độc lập với những yêu sách kinh tế, chính trị của riêng mình và hướng mũi nhọn
vào kẻ thù chính của mình là giai cấp tư sản. Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh
đòi hỏi bức thiết cần 1 hệ thống lý luận soi đường và 1 cương lĩnh chính trị làm kim chỉ nam cho hành động.
Điều kiện kt -xh ấy không chỉ đặt ra yêu cầu đối với các nhà tư tưởng của giai
cấp công nhâncòn là mảnh đất hiện thực cho sự ra đời của một lý luận mới, tiến bộ - CNXHKH.
b. Tiền đề KHTN và tư tưởng lý luận -Tiền đề KHTN
Cuối XVIII đầu XIX, nhân loại đã đạt được những thành tựu to lớn trên lĩnh
vực KHTN và xã hội, tạo nền tảng cho phát triển tư duy lý luận.
Những phát minh vạch thời đại: Thuyết tiến hoá (Darwin), ĐLBTNL
(R.Mayer) , Thuyết tế bào (M.J.Schleiden -T.Schwam)
Những phát minh này là tiền đề khoa học cho sự ra đời của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cơ sở pp luận cho các nhà sáng lập CNXHKH
nghiên cứu những vấn đề chính trị - xã hội đương thời.
-Tiền đề tư tưởng lý luận
Cùng với sự phát triển của KHTN, KHXH cũng có những thành tựu đáng ghi nhận:
+Triết học cổ điển Đức: Ph.Hêghen, L.PhoiơBách
+KTCT cổ điển Anh: A.Smith, D.Ricardo
+CNXH Ko tưởng phê phán: Xanh Ximông, S.Phuriê, R.Oen Những
tư tưởng XHCN Pháp đã có giá trị nhất định:
+Thể hiện tinh thần phê phán, lên án chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ
TBCN đầy bất công xung đột, của cải khánh kiệt, đạo đức đảo lộn, tội ác gia tăng.
+Đưa ra nhiều luận điểm có giá trị về xã hội tương lai: về tổ chức sản xuất và
phân phối sản phẩm xã hội; vai trò của công nghiệp và KH – KT; yêu cầu xoá bỏ sự lOMoAR cPSD| 61548596
đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc; về sự nghiệp giải phóng phụ nữ, vai
trò lịch sử của nhà nước…;
+Chính những tư tưởng có tính phê phán và sự dấn thân trong thực tiễn của các
nhà XHCN ko tưởng, trong chừng mực, đã thức tỉnh công nhân và người lao động đấu
tranh chống quân chủ chuyên chế và TBCN đầy bất công xung đột.

Tuy nhiên, tư tưởng CNXHKTPP còn nhiều hạn chế hoặc do đk lịch sử, hoặc
do chính sự hạn chế về tầm nhìn và thế giới quan của những nhà tư tưởng, chẳng hạn:
k tìm ra được quy luật vận động và phát triển của xh loài người nói chung; bản chất,
quy luật vận động, phát triển của CNTB nói riêng; không phát hiện ra llxh tiên phong
có thể thực hiện cuộc chuyển biến cách mạng từ CNTB lên CNCS là giai cấp công
nhân; không chỉ ra được những biện pháp hiện thực cải tạo xh áp bức, bất công đương
thời, xây dựng xh mới tốt đẹp …
V.I.Lênin: CNXHKT k thể vạch ra lối thoát thực sự. (Tác phẩm Ba nguồn gốc
và 3 bộ phận cấu thành của CN Mác)
Nó không giải thích được bản chất của chế độ làm thuê trong chế độ tư bản,
không phát hiện ra được những quy luật phát triển của chế độ tư bản và cũng k tìm
được llxh có khả năng trở thành người sáng tạo ra xã hội mới.
Vì vậy, CNXHKTPP chỉ dừng lại ở mức độ 1 học thuyết XHKT-PP
Song, những giá trị khoa học cống hiến của các nhà tư tưởng đã tạo ra tiền đề tư
tưởng – lý luận, để C.Mác và Ph.A kế thừa nh hạt nhân hợp lý, lọc bỏ những bất hợp
lý, xây dựng và phát triển CNXHKH.
Câu 2. Vai trò của C.Mác và Ph. Ăngghen đối với sự ra đời của
chủ nghĩa xã hội khoa học.
Nh đk kt-xh và tiền đề khtn, tư tưởng lý luận là đk cần cho 1 học thuyết ra đời.
Song đk đủ để học thuyết khoa học, cách mạng và sáng tạo ra đời chính là vai trò của C.Mác và Ă
C.Mác( (1818-1883)Ph.Ă (1820 – 1895) trưởng thành ở Đức, đất nước phát
triển triết học rực rỡ và thành tựu nổi bật là CNDV của L.PhoiơBắc và phép biện chứng của Ph.Hêghen.
Bằng trí tuệ uyên bác và sự dấn thân trong phong trào đấu tranh của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động, C.Mác và Ph.Ă đã tiếp thu giá trị nền triết học cổ
điển, kinh tế chính trị cổ điển Anh và kho tàng trí thức nhân loại để trở thành những
nhà khoa học thiên tài, những nhà cách mạng vĩ đại nhất thời đại.
a. Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị
Khi còn trẻ, cả 2 là thành viên CLB “Hêghen trẻ” , chịu ảnh hưởng quan điểm
triết học của Ph.Hêghen và L.PhoiơBắc.
Song nhãn quan sớm thấy được hạn chế và tích cực trong triết học của H và P:
+Triết học của Ph.Hêghen tuy mang quan điểm duy tâm nhưng chứa đựng cái
hạt nhân hợp lý của phép biện chứng
+Triết học L.PhoiơBắc tuy mang nặng quan điểm siêu hình nhưng thấm nhuần quan niệm duy vật. lOMoAR cPSD| 61548596
C.M và Ă đã kế thừa cái hạt nhân hợp lý, cải tạo và loại bỏ cái vỏ thần bí duy
tâm, siêu hình để xây dựng lý thuyết mới CNDVBC.
Với C.Mác, từ cuối 1843 đến tháng giêng 1944, thông qua Góp phần phê phán
triết học pháp quyền của Hêghen – Lời nói đầu (1844), ô đã chuyển từ thế giới quan
duy tâm sang thế giới quan duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường CSCN.
Với Ă, từ 1843 với Tình cảnh nước Anh; Lược khảo khoa kinh tế - chính trị, ô
đã chuyển từ thế giới quan duy tâm sang duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường CSCN.
Vậy, từ 1843 – 1848, vừa hoạt động thực tiễn, vừa nghiên cứu khoa học, cả 2
đã thể hiện quá trình chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị và từng
bước củng cố, dứt khoát, kiên định, nhất quán và vững chắc lập trường đó, mà nếu k
có sự chuyển biến này thì chắc chắn sẽ k có CNXHKH.
b. Ba phát kiến vĩ đại của C.M và Ph.Ă
-Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Trên cơ sở kế thừa “cái hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng và phê phán quan
điểm duy tâm, thần bí của triết học Ph.Hêghen; kế thừa giá trị duy vật và loại bỏ quan
điểm siêu hình của triết học L.PhoiơBách, nghiên cứu các thành tựu KHTN, CM và
Ph.Ă đã sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng, thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng
khoa học. Bằng phép biện chứng duy vật, CM và Ph.Ă đã sáng lập chủ nghĩa duy vật
lịch sử
là sự khẳng định về mặt triết học sự sụp đổ của CNTB và sự thắng lợi của
CNXH đều tất yếu như nhau.
-Học thuyết về giá trị thặng dư
Phát hiện ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, CM và Ă đi sâu nghiên cứu nền sản xuất
công nghiệp và nền kinh tế TBCN đã viết bộ Tư bản, mà giá trị cốt lõi là “Học thuyết
về GTTD” – phát kiến vĩ đại thứ 2 của C.M và Ă là sự khẳng định về phương diện kt
sự diệt vong k tránh khỏi của CNTB và sự ra đời tất yếu của CNXH.
-Học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân.
Trên cơ sở 2 phát kiến vĩ đại trên, CM và Ă đã có phát kiến thứ 3 – phát hiện ra
sứ mệnh ls toàn thế giới của giai cấp công nhân, giai cấp có sứ mệnh thủ tiêu CNTB,
xây dựng thành công CNXH và CNCS. Với phát kiến này, nh hạn chế có tính lịch sử
của CNXHKT - PP đã đc khắc phục 1 cách triệt để; đồng thời đã luận chứng và khẳng
định về phương diện chính trị - xh sự diệt vong k tránh khỏi của CNTB và sự thắng lợi tất yếu của CNXH.
c. Tuyên ngôn ĐCS đánh dấu sự ra đời của CNXHKH
Được sự uỷ nhiệm của những người cộng sản và công nhân quốc tế, tháng
2/1848, Tuyên ngôn của ĐCS do C.M và Ă soạn thảo được công bố trước toàn thế giới.
TNĐCS là tác phẩm kinh điển chủ yếu của CNXHKH.
Sự ra đời của tác phẩm vĩ đại này đánh dấu sự hình thành về cơ bản lý luận của
chủ nghĩa Mác bao gồm 3 bộ phận hợp thành: triết học, ktct học và lOMoAR cPSD| 61548596 CNXHKH.
TNĐCS được coi là cương lĩnh chính trị, kim chỉ nam hành động của phong
trào Cộng sản và công nhân quốc tế; là ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân
dân lao động toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống CNTB, giải phóng loài
người vĩnh viễn thoát khỏi mọi áp bức, bóc lột giai cấp, bảo đảm cho loài người
thực sự sống trong hoà bình, tự do và hạnh phúc.
TNDCS đã nêu và phân tích một cách có hệ thống lịch sử và lôgic hoàn chỉnh
về những vấn đề cơ bản nhất, đầy đủ, súc tích và chặt chẽ nhất thâu tóm hầu như
toàn bộ những luận điểm của CNXHKH; tiêu biêu là các luận điểm:
+Cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch sử loài người đã phát triển đến giai đoạn mà
giai cấp công nhân k thể tự giải phóng mình nếu k đồng thời giải phóng vĩnh viễn
xã hội ra khỏi tình trạnh phân chia giai cấp, áp bức, bóc lột và đấu tranh giai cấp.
Song giai cấp vô sản k thể hoàn thành sứ mệnh ls nếu k tổ chức ra chính đảng của
giai cấp, Đảng hình thành và phát triển từ chính sứ mệnh ls của giai cấp công nhân
+Lôgic phát triển tất yếu của xh tư sản và cũng là của thời đại tư bản chủ nghĩa
đó là sự sụp đổ của CNTB và sự thăng lợi của CNXH là tất yếu như nhau.
+Giai cấp công nhân, do có địa vị kt – xh đại diện cho llsx tiên tiến, có sứ mệnh
ls thủ tiêu CNTB, đồng thời là ll tiên phong trong quá trình xây dựng CNXH, CNCS.
+Nh ng cộng sản trong cuộc đấu tranh chống CNTB, cần thiết phải thiết lập sự
liên minh với các ll dân chủ để đánh đổ chế độ phong kiến chuyên chế, đồng thời
k quên đấu trnah cho mục tiêu cuối cùng là CNCS. Phải tiến hành cách mạng k
ngừng nhưng phải có sách lược, chiến lược khôn khéo và kiên quyết. lOMoAR cPSD| 61548596
Câu 3. Khái niệm giai cấp công nhân và nội dung sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân
a. Khái niệm giai cấp công nhân
CM và Ă đã sử dụng nhiều thuật ngữ chỉ giai cấp công nhân: giai cấp vô sản
hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp,… Đó là
những cụm từ chỉ giai cấp công nhân – con đẻ của nền đại công nghiệp TBCN, giai
cấp đại biểu cho llsx tiên tiến, cho phương thức sx hiện đại
Giai cấp công nhân kinh điển đc xác định trên 2 phương diện cơ bản: -Ktxh:
Là sản phẩm và chủ thể của nền sx đại công nghiệp, giai cấp công nhân là nh
người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sx có tính chất công
nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. Họ lao động bằng những phương thức
công nghiệp ngày càng hiện đại với những đặc điểm nổi bật: sản xuất bằng máy móc,
lao động có tính chất xã hội hoá, năng suất lao động cao và tạo ra những tiền dề của
cải vật chất cho xã hội mới.

“Trong công trường thủ công và nghề thủ công, người công nhân sử dụng công
cụ của mình, còn trong công xưởng thì người công nhân phải sử dụng máy móc”- công
nhân công nghiệp công xưởng là bộ phận tiêu biểu của giai cấp công nhân hiện đại, theo CM và Ă. -Ctxh:
Từ lịch sử phát triển của CNTB, giai cấp công nhân là sản phẩm xã hội của
quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa, một xã hội có “điều kiện tồn tại dựa trên cơ sở
chế độ làm thuê”. Trong qhsx TBCN, “giai cấp vô sản là giai cấp của những công nhân
làm thuê hiện đại, vì mất các tlsx của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống”
CM và Ă chỉ rõ, đó là giai cấp của người lao động k có sở hữu tlsx chủ yếu của
xã hội. Họ phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị chủ tư bản bóc lột GTTD. Đối
diện với nhà tư bản, công nhân là những người lao động tự do bán sức lao động của
mình để kiếm sống. Chính điều này khiến cho giai cấp công nhân trở thành giai cấp
đối kháng với giai cấp tư sản.
Mâu thuẫn cơ bản của phương thức sx TBCN là mâu thuẫn giữa llsx xã hội hoá
ngày càng rộng lớn với qhsx TBCN dựa trên chế độ tư hữu TBCN về tlsx. Mâu thuẫn
cơ bản này thể hiện về mặt xh là mâu thuẫn về lợi ích giữa giai cấp công nhân và giai
cấp tư sản. Lao động sống của công nhân là nguồn gốc của GTTD và sự giàu có của
giai cấp tư sản cũng chủ yếu vào việc bóc lột được ngày càng nhiều hơn GTTD.
Mâu thuẫn đó cho thấy tính chất đối kháng k thể điều hoà giữa giai cấp công nhân
( vô sản) với giai cấp tư sản trong phương thức sx TBCN và chế độ TBCN Giai cấp
công nhân là 1 tập đoàn xã hội, hình thành và phát triển của nền công nghiệp hiện đại;
họ lao động bằng phương thức công nghiệp ngày càng hiện đại và gắn liền với quá
trình sx vật chất hiện đại
, là đại biểu cho phương thức sx mang tính xã hội hoá ngày lOMoAR cPSD| 61548596
càng cao. Họ là ng làm thuê do k có tlsx, buộc phải bán sức lao động để sống và bị giai
cấp tư sản bóc lột GTTD; vì vậy lợi ích cơ bản của họ đối lập với lợi ích cơ bản của
giai cấp tư sản
. Đó là giai cấp có sứ mệnh phủ định chế độ TBCN, xây dựng thành công
CNXH và CNCS trên toàn thế giới
.
b. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Theo chủ nghĩa Mác Lê, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là thông qua
chính đảng tiền phong, giai cấp công nhân tổ chức, lãnh đạo nhân dân lao động đấu
tranh xoá bỏ các chế độ người bóc lột người, xoá bỏ CNTB, giải phóng giai cấp công
nhân, nhân dân lao động khỏi mọi sự áp bức bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu. xây dựng xã hội CSCN văn minh.
Sứ mệnh ls của giai cấp công nhân được thể hiện trên 3 nội dung cơ bản: -Nội dung kt :
Là nhân tố hàng đầu của llsx xã hội hoá cao, là đại biểu cho qhsx mới, sản xuất
ra của cải vật chất ngày càng nhiều đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người và
xã hội. Bằng cách đó, giai cấp công nhân tạo tiền đề vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của xã hội mới.
Mặt khác, tính chất xã hội hoá cao của llsx đòi hỏi 1 qhsx mới, phù hợp chế độ
công hữu các tlsx chủ yếu của xã hội là nền tảng, tiêu biểu cho lợi ích của toàn xã hội.
Giai cấp công nhân đại biểu cho lợi ích chung của toàn xã hội. Chỉ có giai cấp công
nhân là giai cấp duy nhất k có lợi ích riêng với nghĩa là tư hữu. Nó phấn đấu cho lợi
ích chung của xã hội. Nó chỉ tìm thấy lợi ích chân chính của mình khi thực hiện lợi ích chung của xã hội.
Ở các nước XHCN, giai cấp công nhân thông qua quá trình công nghiệp hoá và
thực hiện 1 kiểu tổ chức mới về lao động” để tăng năng suất lao động xã hội và thực
hiện các nguyên tắc sở hữu, quản lý và phân phối phù hợp với nhu cầu phát triển sản
xuất, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Trên thực tế, các nước XHCN laj ra đời từ phương thức phát triển rút ngắn, bỏ
qua chế độ TBCN. Do đó, để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình về nội dung kinh tế,
giai cấp công nhân phải đóng vai trò nòng cốt trong quá trình giải phóng llsx (vốn bị
kìm hãm, lạc hậu, chậm phát triển trong quá khứ) thúc đẩy llsx phát triển để tạo cơ sở
cho qhsx mới, XHCN ra đời. -Nội dung ctxh:
Giai cấp công nhân cùng nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của ĐCS, tiến
hành cách mạng chính trị để lật đổ quyền thống trị của giai cấp thống trị để xoá bỏ chế
độ bóc lột, áp bức, giành quyền lực về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Thiết lập nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, xây dựng nền dân
chủ XHCN, thực hiện quyền lực của nhân dân, quyền dân chủ và làm chủ xã hội của
tuyệt đại đa số nhân dân lao động
Giai cấp công nhân và nhân dân lao động sử dụng nhà nước của mình, do mình
làm chủ như 1 công cụ có hiệu lực để cải tạo xã hội cũ và tổ chức xây dựng xã hội
mới, phát triển nền kinh tế và văn hoá, xây dựng nền chính trị dân chủ - pháp quyền,
quản lý kt xh và tổ chức đời sống xã hội phục vụ quyền và lợi ích của nhân dân lao lOMoAR cPSD| 61548596
động, thực hiện dân chủ, công bằng, bình đẳng và tiến bộ xã hội, theo lý tưởng và mục tiêu của CNXH.
-Nội dung văn hoá, tư tưởng:
Thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân trong tiến trình cách
mạng cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới trên lĩnh vực văn hoá, tư tưởng cần
phải tập trung xây dựng hệ giá trị mới: lao động, công bằng; dân chủ; bình đẳng và tự do.
Giai cấp công nhân thực hiện cuộc cách mạng về văn hoá, tư tưởng bao gồm
cải tạo cái cũ lỗi thời lạc hậu, xây dựng cái mới, tiến bộ trong lĩnh vực ý thức tư tưởng,
trong tâm lý, lối sống và trong đời sống tinh thần xã hội. Xây dựng và củng cố ý thức
hệ tiên tiến của giai cấp công nhân, đó là chủ nghĩa Mác Lê, đấu tranh để khắc phục
ý thức hệ tư sản và các tàn dư còn lại của các hệ tư tưởng cũ. Phát triển văn hoá, xây
dựng con người mới XHCN, đạo đức và lối sống mới XHCN là một trong những nội
dung căn bản mà CMXHCN trên lĩnh vực văn hoá và tư tưởng đặt ra đối với sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân hiện đại. lOMoAR cPSD| 61548596
Câu 4. Những điều kiện khách quan và chủ quan quy định sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân a. Điều kiện khách quan
Khẳng định tính tất yếu khách quan sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân,CM và Ă đã nêu rõ:
“Cùng với sự phát triển của đai công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai
cấp tư sản đã sx và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư
sản. Trước hết, giai cấp tư sản sinh ra những con người đào huyệt chôn chính nó. Sự
sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản là tất yếu như nhau.” Điều kiện khách quan bao gồm:
Thứ nhất, do địa vị kinh tế của giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân là con đẻ, sản phẩm của nền đại công nghiệp, có tính xã hội
hoá ngày càng cao, là chủ thể của quá trình sx vật chất hiện đại. Vì thế, giai cấp công
nhân đại diện cho phương thức sx tiên tiến và llsx hiện đại. Do lao động bằng phương
thức côn nghiệp ngày càng hiện đại, giai cấp công nhân là người sx ra của cải vật chất
chủ yếu cho xh, làm giàu cho xh, có vai trò quyết định sự phát triển của xh hiện đại.
Đk khách quan này là nhân tố kinh tế quy định giai cấp công nhân là ll phá vỡ
qhsx TBCN, giành chính quyền về tay mình, chuyển từ giai cấp “tự nó” thành giai cấp
“vì nó”. Giai cấp công nhân trở thành đại biểu cho sự tiến hoá tất yếu của lịch sử, là ll
duy nhất có đủ điều kiện để tổ chức và lãnh đạo xã hội, xây dựng và phát triển llsx và
qhsx XHCN, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng CNXH với tư cách là 1 chế độ xh
kiểu mới, k còn chế độ áp bức, bóc lột người.
Thứ hai, do địa vị chính trị xh của giai cấp công nhân quy định
Là giai cấp sx của cải vật chất chủ yếu cho xh, nhưng trong CNTB giai cấp công
nhân không sở hữu tlsx chủ yếu, phải bán sức lao động để kiếm sống, bị bóc lột nặng
nề, vì lợi ích cơ bản của họ đối lập trực tiếp với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản và
thống nhất với lợi ích cơ bản của đa số nhân dân lao động.
Là con đẻ của nền sx đại công nghiệp, giai cấp công nhân có những phẩm chất
của 1 giai cấp tiên tiến, giai cấp cách mạng như: tính tổ chức và kỷ luật, tự giác và
đoàn kết trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình và giải phóng xã hội. Những phẩm
chất này của giai cấp công nhân được hình thành từ chính những điều kiện khách quan,
đc quy định từ địa vị kinh tế và địa vị chính trị - xã hội của nó trong nền sản xuất hiện
đại và trong xã hội hiện đại mà giai cấp tư sản và CNTB đã tạo ra 1 cách khách quan,
ngoài ý muốn của nó. Giai cấp công nhân được trang bị lý luận tiên tiến là chủ nghĩa
Mác Lênin, có đội tiền phong là ĐCS dẫn dắt.
Tóm lại, sứ mệnh ls của giai cấp công nhân sở dĩ được thực hiện bởi nó là giai
cấp cách mạng, đại biểu cho llsx hiện đại, cho phương thức sx tiên tiến thay thế
phương thức sx TBCN, hình thái kinh tế - xã hội CSCN. Giai cấp công nhân là giai
cấp đại biểu cho tương lai, cho xu thế đi lên của tiến trình phát triển lịch sử - đây là
đặc tính quan trọng, quyết định bản chất cách mạng của giai cấp công nhân. Hoàn toàn lOMoAR cPSD| 61548596
không phải vì nghèo khổ mà vì giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng. Tình trạng
nghèo khổ của giai cấp công nhân dưới CNTB là hậu quả của sự áp bức bóc lột mà
giai cấp tư sản và CNTB tạo ra với công nhân, đó là trạng thái mà cách mạng sẽ xoá
bỏ để giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng xã hội. b. Điều kiện chủ quan
-Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng.
Thông qua sự phát triển này có thể thấy sự lớn mạnh của giai cấp công nhân cùng với
quy mô phát triển của nền sx vật chất hiện đại trên nền tảng của công nghiệp, của kỹ thuật và công nghệ.
Sự phát triển về số lượng phải gắn liền với sự phát triển về chất lượng của giai
cấp công nhân hiện đại, đảm bảo cho giai cấp công nhân thực hiện được sứ mệnh ls
của mình. Chất lượng giai cấp công nhân phải thể hiện ở trình độ trưởng thành về ý
thức chính trị của 1 giai cấp cách mạng, tức là tự giác nhận thức đc vai trò và trọng
trách của giai cấp mình đối với lịch sử, do đó giai cấp công nhân phải được giác ngộ
về lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác Lênin.
Là giai cấp đại biểu cho phương thức sx tiên tiến, chất lượng của giai cấp công
nhân còn phải thể hiện ở năng lực và trình độ làm chủ khoa học kỹ thuật hiện đại, nhất
là trong điều kiện hiện nay. Để phát triển giai cấp công nhân về số lượng và chất lượng,
theo chủ nghĩa Mác Lênin phải dặc biệt chú ý đến 2 biện pháp cơ bản: 1) Phát triển
công nghiệp – “tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết”; 2) Sự trưởng thành của ĐCS –
hạt nhân chính trị quan trọng của giai cấp công nhân.
Chỉ với sự phát triển về số lượng và chất lượng, đặc biệt về chất lượng, giai cấp
công nhân mới có thể thực hiện đc sứ mệnh ls của mình.
-ĐCS là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện
thắng lợi sứ mệnh ls của mình.
ĐCS – đội tiên phong của giai cấp công nhân ra đời và đảm nhận vai trò lãnh
đạo cuộc cách mạng là dấu hiệu về sự trưởng thành vượt bậc của giai cấp công nhân
với tư cách là giai cấp cách mạng.
Quy luật chung, phổ biến cho sự ra đời của ĐCS là sự kết hợp giữa CNXHKH,
tức là chủ nghĩa Mác Lênin với phong trào công nhân.
Giai cấp công nhân là cơ sở xh và nguồn gốc bổ sung ll quan trọng nhất của
Đảng, làm cho Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, trở thành đội tiên phong, bộ
tham mưu chiến đấu giai cấp. ĐCS đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công
nhân, của dân tộc và xã hội. Sức mạnh của Đảng k chỉ thể hiện ở bản chất giai cấp
công nhân mà còn ở mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, với đông đảo quần
chúng trong xã hội, thực hiện cuộc cách mạng do Đảng lãnh đạo để giải phóng giai
cấp và giải phóng xã hội.
Ngoài 2 đk thuộc về nhân tố chủ quan trên, chủ nghĩa Mác Lê còn chỉ rõ: để
cuộc cách mạng thực hiện sứ mệnh ls của giai cấp công nhân đi tới thắng lợi, phải có
sự liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp
lao động khác
do giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của nó là ĐCS lãnh
đạo. Đây cũng là 1 đk quan trọng k thể thiếu để thực hiện sứ mệnh ls của giai cấp công nhân. lOMoAR cPSD| 61548596
Câu 5. Những đặc trưng cơ bản của CNXH theo quan điểm của
chủ nghĩa Mác- Lênin
-CNXH giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng
con người, tạo đk để con người phát triển toàn diện.
Trong Tuyên ngôn ĐCS, khi dự báo về tương lai, về xã hội CSCN, CM và Ă
khẳng định: “Thay thế cho xã hội tư sản cũ với các giai cấp và những sự đối lập giai
cấp của nó sẽ là 1 khối liên hiệp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người đều là
diều kiện của sự phát triển tự do của tất cả mọi người”; khi đó “con người, cuối cùng
làm chủ tồn tại xã hội của chính mình thì cũng do đó làm chủ tự nhiên , làm chủ cả
bản thân mình, trở thành người tự do”. Đây là sự khác biệt về chất giữa hình thái ktxh
CSCN so với các hình thái ktxh ra đời ở trước, thể hiện ở bản chất nhân văn, nhân
đạo, vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Để đạt
đc mục tiêu đó, CM và Ă cho rằng, CMXHCN phải tiến hành triệt để, trước hết là giải
phóng giai cấp, xoá bỏ tình trạng giai cấp này bóc lột, áp bức giai cấp kia, và 1 khi
tình trạng người áp bức, bóc lột người bị xoá bỏ thì “tình trạng dân tộc này bóc lột dân
tộc khác cũng bị xoá bỏ”.
Lênin, trong đk mới của đời sống chính trị xã hội thế giới đầu thế kỷ XX, đồng
thời từ thực tiễn của công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga XôViết đã cho rằng, mục
đích cao nhất, cuối cùng của những cải tạo XHCN là thực hiện nguyên tắc: làm theo
nguyên tắc, hưởng theo nhu cầu: “…khi bắt đầu thực hiện những cải tạo XHCN, chúng
ta phải đặt rõ cái mục đích mà những cải tạo XHCN đó rốt cục nhắm tới, cụ thể là
thiết lập 1 xã hội CSCN, 1 xã hội k chỉ hạn chế ở việc tước đoạt các công xưởng nhà
máy, ruộng đất và tlsx, k chỉ hạn chế ở việc kiểm soát và kiểm kê chặt chẽ việc sx và
phân phối sản phẩm, mà còn đi xa hơn nữa, đi tới việc thực hiện theo nguyên tắc: làm
theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Vì thế cái tên gọi “đcs” là duy nhất chính xác về
mặt khoa học”. Lênin cũng khẳng định mục đích cao cả của CNXH cần hướng đến là
xoá bỏ sự phân chia xã hội thành giai cấp, biến tất cả thành viên trong xã hội loài
người thành người lao động, tiêu diệt mọi cơ sở của tình trạng người bóc lột người.
Lênin còn chỉ rõ trong quá trình phấn đấu để đạt mục đích cao cả đó, giai cấp công
nhân dưới sự lãnh đạo của ĐCS phải hoàn thành nhiều nhiệm vụ của các giai đoạn
khác nhau, trong đó mục đích, nhiệm vụ cụ thể của thời kỳ xây dựng CNXH – tạo ra
các đk về cơ sở vật chất kỹ thuật và đời sống tinh thần để thiết lập XHCS.
-CNXH có nền kt phát triển cao dựa trên llsx hiện đại và chế độ công hữu về tlsx chủ yếu
Đây là đặc trưng của phương diện kt của CNXH. Mục đích cao nhất của CNXH
là giải phóng con người trên cơ sở đk ktxh phát triển, mà xét đến cùng là trình độ phát
triển cao của llsx. CNXH là chế độ xh có nền kt phát triển cao, với llsx hiện đại, qhsx
dựa trên chế độ công hữu về tlsx, được tổ chức, quản lý có hiệu quả, năng suất lao
động cao và được phân phối chủ yếu theo lao động. Lênin cho rằng: “Từ CNTB, nhân
loại chỉ có thể tiến thẳng lên CNXH, nghĩa là lên chế độ công hữu về các tlsx và chế
độ phân phối sản phẩm theo lao động của mỗi người” lOMoAR cPSD| 61548596
Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của xã hội CSCN, CNXH, theo Ă k thể lập tức
thủ tiêu chế độ tư hữu. Ă dứt khoát cho rằng: “Không, k thể được, cũng y như k thể
làm cho llsx hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng 1 nền kinh
tế công hữu. Cho nên cuộc cách mạng của giai cấp vô sản đang có tất cả những triệu
chứng là sắp nổ ra, sẽ chỉ có thể cải tạo xã hội hiện nay 1 cách dần dần, và chỉ khi nào
tạo nên 1 khối lượng tlsx cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu đc chế độ tư hữu”.
Cùng với việc từng bước xác lập chế độ công hữu về tlsx, để nâng cao năng suất
lao động cần phải tổ chức lao động theo 1 trình độ cao hơn, tổ chức chặt chẽ và ký
luật lao động nghiêm, nghĩa là phải tạo ra qhsx tiến bộ, thích hợp vs trình độ phát triển của llsx.
Đối với nh nước chưa trải qua CNTB đi lên CNXH, để phát triển llsx, nâng cao
năng suất lao động, Lênin chỉ rõ tất yếu phải “bắc nh chiếc cầu nhỏ vững chắc” xuyên
qua CNTB nhà nước, đi lên CNXH. Đồng thời, Lênin chỉ rõ, nh nước này phải học
hỏi kinh nghiệm từ nh nước phát triển theo cách thức: “Dùng cả 2 tay mà lấy nh cái
tốt của nước ngoài: Chính quyền Xôviết + trật tự ở đường sắt Phổ + kỹ thuật và cách
tổ chức các tơ-rớt ở Mỹ + ngành giáo dục quốc dân Mỹ etc. ++=Σ(tổng số) = CNXH”
-CNXH là chế độ xã hội do nhân dân lao động làm chủ
Đây là đặc trưng thể hiện thuộc tính bản chất của CNXH, xã hội vì con người
và do con người; nhân dân mà nòng cốt là nhân dân lao động là chủ thể của xã hội
thực hiện quyền làm chủ ngày càng rộng rãi và đầy đủ trong quá trình cải tạo xã hội
cũ, xây dựng xã hội mới. CNXH là 1 chế độ chính trị dân chủ, nhà nước XHCN với
hệ thống pháp luật và hệ thống tổ chức ngày càng hoàn thiện sẽ quản lý xã hội ngày
càng hiệu quả. CM và Ă chỉ rõ: “Bước thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là
giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị, là giành lấy dân chủ”. Lênin, từ thực tiễn
xây dựng CNXH ở nước Nga Xôviết, đã coi chính quyền Xôviết là 1 kiểu Nhà nước
chuyên chính vô sản, 1 chế độ dân chủ ưu việt gấp triệu lấn so với chế độ dân chủ tư
sản: “chế độ dân chủ vô sản so với bất kỳ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ
hơn gấp triệu lần: chính quyền Xôviết so với nước cộng hoà tư sản dân chủ thì cũng
dân chủ hơn gấp triệu lần”
-CNXH có nhà nước kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho
lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động
Các nhà sáng lập CNXHKH đã khẳng định: trong CNXH phải thiết lập nhà
nước chuyên chính vô sản, nhà nước kiểu mới mang bản chất của giai cấp công nhân,
đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động.
Theo Lênin, chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản là 1 chính quyền do
giai cấp vô sản giành được và duy trì bằng bạo lực đối với giai cấp tư sản. Chính quyền
đó chính là nhà nước kiểu mới thực hiện dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân và trấn
áp bằng vũ lực bọn áp bức bóc lột nhân dân, thực chất của sự biến đổi chế độ dân chủ
trong thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNCS. Nhà nước vô sản, theo Lênin, phải là 1 công
cụ, 1 phương tiện; đồng thời, là 1 biểu hiện tập trung trình độ dân chủ của nhân dân
lao động, phản ánh trình độ nhân dân tham gia vào mọi công việc của nhà nước, quần
chúng nhân dân thực sự tham gia vào từng bước của cuộc sống và đóng vai trò tích lOMoAR cPSD| 61548596
cực trong việc quản lý. Cũng theo Lênin, Nhà nước Xôviết sẽ tập hợp, lôi cuốn đông
đảo nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tổ chức đời sống xh vì con
người và cho con người. Nhà nước chuyên chính vô sản đồng thời với việc mở rộng
nhiều chế độ dân chủ - lần đầu tiên biến thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế
độ dân chủ cho nhân dân chứ k phải cho bọn nhà giàu – chuyên chính vô sản còn thực
hành 1 loạt biện pháp hạn chế quyền tự do đối với bọn áp bức bóc lột, bọn tư bản.
-CNXH có nền văn hoá phát triển cao, kế thừa và phát huy những giá trị của
văn hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại
Trong CNXH, văn hoá là nền tảng tinh thần của xh, mục tiêu, động lực của phát
triển xh, trọng tâm là phát triển kinh tế; văn hoá đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách,
bản lĩnh con người, biến con người thành con người chân, thiện, mỹ.
Lênin luận giải sâu sắc về “văn hoá vô sản” – nền vh XHCN, rằng chỉ có xây
dựng đc nền vh vô sản mới giải quyết đc mọi vấn đề từ kt, ct đến xh, con người. Lênin
cũng cho rằng, trong XHCN, nh người cộng sản sẽ làm giàu tri thức của mình bằng
tổng hợp tri thức, văn hoá mà con người đã tạo ra. Do vậy, quá trình xd nền văn hoá
XHCN phải biết kế thừa nh giá trị vh dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại, đồng thời
cần chống tư tưởng, văn hoá phi vô sản, trái với nh giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc và của loài người, trái với phương hướng đi lên của CNXH.
-CNXH bảo đảm bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và có quan hệ hữu nghị,
hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Vấn đề giai cấp và dân tộc, xd 1 cộng đồng dân tộc, giai cấp bình đẳng, đoàn
kết, hợp tác, hữu nghị với nhân dân các nước trên thế giới luôn có vị trí đặc biệt quan
trọng trong hoạch định và thực thi chiến lược phát triển của mỗi dân tộc và mỗi quốc
gia. Theo quan điểm của các nhà sáng lập CNXHKH, vấn đề giai cấp và dân tộc có
quan hệ biện chứng, bởi vậy, giải quyết vấn đề dân tộc, giai cấp trong CNXH có vị thế
đặc biệt quan trọng và phải tuân thủ nguyên tắc: “xoá bỏ tình trạng người bóc lột người
thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ”.
Lênin trong Cương lĩnh về vấn đề dân tộc: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng;
các dân tộc được quyền tự quyết; liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại: đó là
cương lĩnh dân tộc mà chủ nghĩa Mác, kinh nghiệm toàn thế giới và kinh nghiệm của
nước Nga dạy cho công nhân”.
Giải quyết vấn đề dân tộc theo Cương lĩnh của Lênin, trong CNXH, cộng đồng
dân tộc, giai cấp bình đẳng, đoàn kết và hợp tác dựa trên cơ sở chính trị - pháp lý, đặc
biệt là cơ sở ktxh, văn hoá sẽ từng bước xây dựng, củng cố và phát triển. Đây là sự
khác biệt căn bản về việc giải quyết vấn đề dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác
Lê và quan điểm chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi hoặc chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.
CNXH, với bản chất tốt đẹp do con người, vì con người, luôn là đảm bảo cho
các dân tộc bình đẳng, đoàn kết và hợp tác hữu nghị; đồng thời có quan hệ vs nhân
dân tất cả các nước trên thế giới. Tất nhiên, để xây dựng cộng đồng bình đẳng, đoàn
kết và có quan hệ hợp tác, hữu nghị với nhân dân tất cả các nước trên thế giới, điều
kiện chiến thắng hoàn toàn CNTB, theo Lênin cần phải có sự liên minh và sự thống
nhất của giai cấp vô sản và toàn thể quần chúng cần lao thuộc tất cả các nước và các lOMoAR cPSD| 61548596
dân tộc trên toàn thế giới. Trong Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa
văn kiện về giải quyết vấn đề dân tộc trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và CMVS,
Lênin chỉ rõ: “Trọng tâm trong toàn bế chính sách của Quốc tế CS về vấn đề dân tộc
và vấn đề thuộc địa là cần phải đưa giai cấp vô sản và quần chúng lao động tất cả các
dân tộc và các nước lại gần nhau trong cuộc đấu tranh cách mạng chung để lật đổ địa
chủ và tư sản. Bởi vì chỉ sự gắn bó như thế mới đảm bảo thắng lợi đối với CNTB, k
có thắng lợi đó thì k thể tiêu diệt được ách áp bức dân tộc và sự bất bình đẳng”. Đó
cũng là cơ sở để Người đưa ra khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước và dân tộc bị áp bức, đoàn kêt lại!”
Bảo đảm bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và có quan hệ hợp tác, hữu nghị
với nhân dân tất cả các nước trên thế giới, CNXH mở rộng được ảnh hưởng và góp
phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xh. lOMoAR cPSD| 61548596
Câu 6. Khái niệm dân tộc và cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin a. Khái niệm dân tộc
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, dân tộc là quá trình phát triển lâu
dài của xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao, bao gồm:
thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc. Sự biến đổi của phương thức sản xuất chính là nguyên
nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc.
Ở phương tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sx TBCN được xác lập thay
thế phương thức sx phong kiến. Ở phương Đông, dân tộc được hình thành trên cơ sở
1 nền văn hoá, 1 tâm lý dân tộc đã phát triển tương đối chín muồi và 1 cộng đồng kinh
tế tuy đã đạt tới 1 mức độ nhất định, song nhìn chung còn kém phát triển và ở trạng
thái phân tán. Dân tộc được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp:
Theo nghĩa rộng, dân tộc (Nation) là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng
người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ riêng, nền kinh tế thống nhất,
có ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền
lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung trong suốt
quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Với nghĩa này, khái niệm dân tộc
dùng chỉ 1 quốc gia, nghĩa là toàn bộ nhân dân 1 nước.
Theo nghĩa rộng, dân tộc có 1 số đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, có chung 1 vùng lãnh thổ ổn định
Thứ hai, có chung 1 phương thức sinh hoạt kinh tế
Thứ ba, có chung 1 ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp
Thứ tư, có chung 1 nền văn hoá và tâm lý
Thứ năm, có chung 1 nhà nước (nhà nước dân tộc)
Theo nghĩa hẹp, dân tộc (Ethnie) là khái niệm dùng để chỉ 1 cộng đồng tộc
người được hình thành trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung ý
thức tự giác tộc người, ngôn ngữ và văn hoá. Cộng đồng này xuất hiện sau bộ lạc, bộ
tộc, kế thừa và phát triển cao hơn những nhân tố tộc người của các cộng đồng đó. Với
nghĩa này, dân tộc là 1 bộ phận hay thành phần của quốc gia. Chẳng hạn, VN là quốc
gia có 54 dân tộc, tức 54 cộng đồng người. Sự khác nhau giữa các cộng đồng tộc người
ấy biểu hiện chủ yếu ở đặc trưng văn hoá, lối sống, tâm lý, ý thức tộc người.
Dân tộc – tộc người có 1 số đặc trưng cơ bản;
-Cộng đồng về ngôn ngữ
-Cộng đồng về văn hoá
-Ý thức tự giác tộc người
Ba tiêu chí này tạo nên sự ổn định trong mỗi tộc người trong quá trình phát triển.
b. Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác Lênin
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác về mối quan hệ giữa dân tộc với giai
cấp; kết hợp phân tích 2 xu hướng khách quan trong sự phát triển dân tộc; dựa vào
kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới và thực tiễn cách mạng Nga trong lOMoAR cPSD| 61548596
việc giải quyết vấn đề dân tộc những năm đầu thế kỷ XX, Cương lĩnh dân tộc của V.I.
Lênin đã khái quát: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự
quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại”.
Một là, các dân tộc hoàn toàn bình đẳng. Đây là quyền thiêng liêng của các dân
tộc, không phân biệt dân tộc lớn hay nhỏ, ở trình độ phát triển cao hay thấp. Các dân
tộc đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, không dân tộc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá.
Trong quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ quốc tế, không một dân tộc nào
có quyền đi áp bức, bóc lột dân tộc khác. Trong 1 quốc gia có nhiều dân tộc, quyền
bình đẳng dân tộc phải được thể hiện trên cơ sở pháp lý, nhưng quan trọng hơn là phải
được thực hiện trên thực tế. Để thực hiện được quyền bình đẳng của dân tộc, trước hết
phải thủ tiêu tình trạng áp bức giai cấp, trên cơ sở đó xoá bỏ tình trạng áp bức dân tộc;
phải đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết
và xây dựng mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc.
Hai là, các dân tộc được quyền tự quyết. Đó là quyền của các dân tộc tự quyết
định lấy vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường
phát triển của dân tộc mình.
Quyền tự quyết dân tộc bao gồm quyền tách ra thành 1 quốc gia dân tộc độc
lập, đồng thời có quyền tự nguyện liên hiệp với dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng.
Tuy nhiên, việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết phải xuất phát từ thực tiễn – cụ thể
và phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, đảm bảo sự thống nhất giữa
lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp công nhân. V.I. Lênin đặc biệt chú trọng quyền tự
quyết của các dân tộc bị áp bức, các dân tộc phụ thuộc.
Quyền tự quyết dân tộc không đồng nhất với “quyền” của các dân tộc thiểu số
trong 1 quốc gia đa tộc người, nhất là việc phân lập thành quốc gia độc lập. Kiên quyết
đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch lợi
dụng chiêu bài “dân tộc tự quyết” để can thiệp vào nội bộ của các nước, hoặc kích
động đòi ly khai dân tộc.
Ba là, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc. Liên hiệp công nhân các dân tộc
phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp; phản ánh sự
gắn bó chặt chẽ giữa tinh thần của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính.
Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoàn kết các
tầng lớp nhân dân lao động thuộc các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa
đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Vì vậy, nội dung này vừa là một nội dung
chủ yếu, vừa là giải pháp quan trọng để liên kết các nội dung của Cương lĩnh dân tộc thành 1 chỉnh thể.
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở lý luận quan trọng để
các ĐCS vận dụng thực hiện chính sách dân tộc trong quá trình đấu tranh giành độc
lập dân tộc và xây dựng CNXH. lOMoAR cPSD| 61548596
Câu 7. Bản chất, nguồn gốc và tính chất của tôn giáo a. Bản chất
Chủ nghĩa Mác Lênin cho rằng, tôn giáo là 1 hình thái ý thức xã hội phản ánh
hư ảo hiện thực khách quan. Thông qua sự phản ánh đó, các lực lượng tự nhiên và xã
hội trở thành siêu nhiên, thần bí. Ph. Ă cho rằng: “tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ
là sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc con người – của những lực lượng ở bên ngoài
chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở
trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”.
Ở 1 cách tiếp cận khác, tôn giáo là 1 thực thể xã hội – các tôn giáo cụ thể (ví
dụ: Công giáo, Tin Lành, Phật giáo…), với các tiêu chí cơ bản: có niềm tin sâu sắc
vào đấng siêu nhiên, đấng tối cao, thần linh để tôn thờ (niềm tin tôn giáo); có hệ thống
giáo thuyết (giáo lý, giáo luật, lễ nghi) phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan, đạo
đức, lễ nghi của tôn giáo; có hệ thống cơ sở thờ tự; có tổ chức nhân sự, quản lý điều
hành việc đạo (người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp);
có hệ thống tín đồ đông đảo, những người tự nguyện tin theo 1 tôn giáo nào đó và
được tôn giáo đó thừ nhận.
Chỉ rõ bản chất của tôn giáo, chủ nghĩa Mác Lênin khẳng định: Tôn giáo là 1
hiện tượng xã hội – văn hoá do con người sáng tạo ra. Con người sáng tạo ra tôn giáo
vì mục đích, lợi ích của họ, phản ánh những ước mơ, nguyện vọng, suy nghĩ của họ.
Nhưng, sáng tạo ra tôn giáo, con người lại bị lệ thuộc vào tôn giáo, tuyệt đối hoá và
phục tùng tôn giáo vô điều kiện. Chủ nghĩa Mác Lênin cũng cho rằng, sản xuất vật
chất và các quan hệ kinh tế, xét đến cùng là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển
của các hình thái ý thức xã hội, trong đo có tôn giáo. Do đó, mọi quan niệm về tôn
giáo, tổ chức, thiết chế tôn giáo đều được sinh ra từ những hoạt động sản xuất, những
điều kiện sống nhất định trong xã hội và thay đổi theo những thay đổi của cơ sở kinh
tế. Về phương diện thế giới quan, các tôn giáo mang thế giới quan duy tâm, có sự khác
biệt với thế giới quan duy vật biện chứng, khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin. Mặc
dù có sự khác biệt về thế giới quan, nhưng những người cộng sản với lập trường
Mácxít không bao giờ có thái độ xem thường hoặc trấn áp những nhu cầu tín ngưỡng,
tôn giáo của nhân dân; ngược lại, luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc
không theo tôn giáo của nhân dân. Trong những điều kiện cụ thể của xã hội, những
người cộng sản và những người có tín ngưỡng tôn giáo có thể cùng nhau xây dựng 1
xã hội tốt đẹp hơn ở thế giới hiện thực. Xã hội ấy chính là xã hội mà quần chúng tín
đồ cũng từng mơ ước và phản ánh nó qua 1 số tôn giáo.
Tôn giáo và tín ngưỡng không đồng nhất, nhưng có giao thoa nhất định. Tín
ngưỡng là hệ thống những niềm tin, sự ngưỡng mộ, cũng như cách thức thể hiện niềm
tin của con người trước các sự vật, hiện tượng, lực lượng có tính thần thánh, linh
thiêng để cầu mong sự che chở, giúp đỡ. Có nhiều loại hình tín ngưỡng khác nhau
như: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc; tín ngưỡng thờ Mẫu… lOMoAR cPSD| 61548596
Mê tín là niềm tin mệ muội, viển vông, không dựa trên 1 cơ sở khoa học nào.
Nói cách khác là niềm tin về mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện, sự vật, hiện
tượng trên thực tế không có mối liên hệ, cụ thể rõ ràng, khách quan, tất yếu, nhưng
được bao phủ bởi các yếu tố siêu nhiên, thần thánh, hư ảo. Dị đoan là sự suy đoán,
hành động 1 cách tuỳ tiện, sai lệch những điều bình thường, chuẩn mực trong cuộc sống.
Mê tín dị đoan là niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên, thần
thánh đến mức độ mê muội, cuồng tín, dẫn đến những hành vi cực đoan, sai lệch quá
mức, trái với các giá trị văn hoá, đạo đức, pháp luật, gây tổn hại cho cá nhân, xã hội và cộng đồng. b. Nguồn gốc
-Nguồn gốc tự nhiên, kt – xh: Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, do llsx chưa
phát triển, trước thiên nhiên hùng vĩ tác động và chi phối khiến cho con người cảm
thấy yếu đuối và bất lực, không giải thích được, nên con người đã gán cho tự nhiên
những sức mạnh, quyền lực thần bí.
Khi xã hội xuất hiện các giai cấp dối kháng, có áp bức bất công, do không giải
thích được nguồn gốc của sự phân hoá giai cấp và áp bức bóc lột bất công, tội ác,
v.v., cộng với sự lo sợ trước sự thống trị của các ll xã hội, con người trông chờ vào sự
giải phóng của 1 ll siêu nhiên ngoài trần thế.
-Nguồn gốc nhận thức: Ở 1 giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức của con
người về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình là có giới hạn. Khi mà khoảng cách
giữa “biết” và “chưa biết” vẫn tồn tại, khi những điều mà khoa học chưa giải thích
được, thì điều đó thường được giải thích qua lăng kính của các tôn giáo. Ngay cả
những vấn đề đã được khoa học chứng minh, nhưng do trình độ dân trí thấp, chưa thể
nhận thức đầy đủ, thì đây vẫn là điều kiện, là mảnh đất cho tôn giáo ra đời, tồn tại và
phát triển. Thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo chính là sự tuyệt đối hoá, sự
cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến cái nội dung khách quan thành
cái siêu nhiên, thần thánh.
-Nguồn gốc tâm lý: Sự sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, xã hội, hay trong
những lúc ốm đau, bệnh tật; ngay cả những may rủi, bất ngờ xảy ra, hoặc tâm lý muốn
được bình yên khi làm một việc lớn (ví dụ: ma chay, cưới xin, làm nhà, khởi đầu sự
nghiệp kinh doanh,…), con người cũng dễ tìm đến với tôn giáo. Thậm chí cả những
tình cảm tích cực như tình yêu, lòng biết ơn, lòng kính trọng đối với những người có
công với nước, với dân cũng dễ dẫn con người đến với tôn giáo (ví dụ: thờ các anh
hùng dân tộc, thờ các thành hoàng làng…) c. Tính chất
-Tính chất lịch sử: Tôn giáo là 1 hiện tượng xh có tính lịch sử, nghĩa là nó có
sự hình thành, tồn tại và phát triển và có khả năng biến đổi trong những giai đoạn lịch
sử nhất định để thích nghi với nhiều chế độ chính trị - xã hội. Khi các điều kiện kt –
xh, lịch sử thay đổi, tôn giáo cũng có sự thay đổi theo. Trong quá trình vận động của
các tôn giáo, chính các điều kiện kinh tế - xh, lịch sử cụ thể đã làm cho các tôn giáo
bị phân liệt, chia tách thành nhiều tôn giáo, hệ phái khác nhau. lOMoAR cPSD| 61548596
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, đến một giai đoạn lịch sử nào đó,
khi khoa học và giáo dục giúp cho đại đa số quần chúng nhân dân nhận thức được bản
chất các hiện tượg tự nhiên và xã hội thì tôn giáo sẽ dần dần mất đi vị trí của nó trong
đời sống xã hội và cả trong nhận thức, niềm tin của mỗi người.
-Tính quần chúng: Tôn giáo là 1 hiện tượng xh phổ biến ở tất cả các dân tộc,
quốc gia, châu lục. Tính quần chúng của tôn giáo không chỉ biểu hiện ở số lượng tín
đồ rất đông đảo (gần ¾ dân số thế giới); mà còn thể hiện ở chỗ, các tôn giáo là nơi
sinh hoạt văn hoá, tinh thần của 1 bộ phận quần chúng nhân dân. Dù tôn giáo hướng
con người vào niềm tin hạnh phúc hư ảo của thế giới bên kia, song nó luôn luôn phản
ánh khát vọng của những người lao động về 1 xã hội tự do, bình đẳng, bác ái. Mặt
khác, nhiều tôn giáo có tính nhân văn, nhân đạo và hướng thiện, vì vậy, được nhiều
người ở các tầng lớp khác nhau trong xã hội, đặc biệt là quần chúng lao động tin theo.
-Tính chính trị của tôn giáo: Khi xã hội chưa có giai cấp, tôn giáo chỉ phản ánh
nhận thức hồn nhiên, ngây thơ của con người về bản thân và thế giới xung quanh
mình, tôn giáo chưa mang tính chính trị. Tính chất chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện
khi xã hội đã phân chia giai cấp, có sự đối kháng, sự khác biệt về lợi ích giai cấp.
Trước hết, do tôn giáo là sản phẩm của những điều kiện kt – xh, phản ánh lợi ích,
nguyện vọng của các giai cấp khác nhau trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân
tộc, nên tôn giáo mang tính chính trị. Mặt khác, khi các giai cấp bóc lột, thống trị sử
dụng tôn giáo để phục vụ cho lợi ích giai cấp mình, chống lại các giai cấp lao động và
tiến bộ xh, tôn giáo mang tính chính trị tiêu cực, phản tiến bộ.
Vì vậy, cần nhận rõ ràng, đa số quần chúng tín đồ đến với tôn giáo nhằm thoả
mãn nhu cầu tinh thần; song, trên thực tế, tôn giáo đã và đang bị các thế lực chính trị
- xã hội lợi dụng thực hiện mục đích ngoài tôn giáo của họ.