TRƯỜNG ĐẠI HỌC
THƯƠNG MẠI
V
iện Đào tạo Quốc
Tế
--------
BÀI
HỌC PHẦN PHÁP
LUẬT
ĐẠI CƯƠNG
NHÓM
2
Giảng viên hướng dẫn: T
rần Hạnh Linh
Lớp HP: 23107
MỤC LỤC
MỤC LỤC.................................................................................................
2
PHẦN MỞ ĐẦU.......................................................................................
3
PHẦN NỘI DUNG....................................................................................
1.
Phân tích bản chất Nhà nước............................................................
4
2.
Chứng minh tính giai cấp và tính xã hội là hai thuộc tính không
tách rời trong hai bản chất Nhà nước................................................
6
PHẦN BÀI
TẬP
........................................................................................
8
LỜI CẢM ƠN...........................................................................................
9
2
PHẦN MỞ ĐẦU
Pháp luật đại cương
là một loại môn học có nội dung vô cùng đa dạng và phong phú,
tập trung nghiên cứu các khái niệm, các phạm trù cơ bản nhất về chính phủ và pháp luật
trên phương diện khoa học pháp lý
.
Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội có
mối quan hệ mật thiết với nhau tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của con người nhưng
Nhà nước và pháp luật được tổ chức, thiết lập theo ý chí của con người để phục vụ chính
ý muốn của con người. Vì vậy trong đời sống xã hội, Nhà nước và pháp luật có vai trò rất
quan trọng. Pháp luật được áp dụng giải quyết hầu hết các quan hệ trong xã hội. Biết và
hiểu được Nhà nước và pháp luật giúp mọi người ứng xử, chấp hành tốt các chính sách
của Nhà nước cũng như các quy định pháp luật, đảm bảo kỷ cương xã hội.
T
rên cơ sở đó
môn học cung cấp cho người học những nội dung cơ bản về Nhà nước và
pháp luật. Từ
đó giúp người học nâng cao sự hiểu biết về vai trò và sự quan trọng của Nhà nước và
pháp luật trong đời sống. T
rong bài thảo luận này
, chúng em đã phân tích bản chất của
Nhà nước và chứng minh tính giai cấp và tính xã hội là hai thuộc tính không tách rời
trong bản chất Nhà nước. Ngoài ra chúng em còn làm một số bài tập thực tế để giúp hiểu
rõ hơn về môn học này
.
- Nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ:
Lãnh thủ xin cư là những yêu tố cấu thành nên một quốc gia.
Nhà nước thực hiện sự quản lý dân cư theo lãnh thổ, theo các đơn vị hành chính.
Chế định quốc tích xác lập mối quan hệ giữa công dân và nhà nước.
5
- Nhà nước quy định thuế và thực hiện việc thu các loại thuế:
Thuế được sử dụng nhằm duy trì sự tồn tại của bộ máy nhà nước.
Thuế là nguồn thu giúp nhà nước thực hiện các hoạt động chung phục vụ toàn xã hội,
là công cụ nhằm điều tiết thu nhập trong xã hội.
- Nhà nước ban hành pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật:
Nhà nước giữ quyền ban hành pháp luật, quản lý dân cư và các hoạt động xã hội bằng
pháp luật.
Pháp luật là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, được nhà nước bảo đảm
thực hiện.
II. CHỨNG MINH TÍNH GIAI CẤP VÀ TÍNH XÃ HỘI LÀ THUỘC TÍNH
KHÔNG TÁCH RỜI TRONG HAI BẢN CHẤT NHÀ NƯỚC.
2.1. Mối quan hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội.
- Nhà nước ra đời trước hết phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị. Tính xã hội
của nhà nước thể hiện chỗ nhà nước đại diện chính thức của toàn hội,
mức độ này hay mức độ khác nhà nước thực hiện bảo vệ lợi ích cơ bản, lâu dài của
quốc gia, dân tộc công dân mình. Tính giai cấp của nhà nước sự tác động của
yếu tố giai cấp đến đặc điểm và xu hướng phát triển cơ bản của nhà nước.
- Tính xã hội và tính giai cấp là hai mặt cơ bản thống nhất, chúng luôn có mối
quan hệ tương tác, gắn chặt chẽ với nhau nhằm thể hiện bản chất của bất kỳ nhà
nước nào. Dù ở trong xã hội nào, bản thân của nhà nước cũng đều thể hiện ở 2 mặt:
Một mặt bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền. Đồng thời, mặt còn lại vẫn sẽ chú ý
đến lợi ích chung của toàn xã hội. Tuy nhiên, mức độ và sự thể hiện của 2 thuộc tính
này sẽ sự khác nhau từng nhà nước từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Bởi
phụ thuộc vào các yếu tố như: nhận thức của giai cấp cầm quyền, điều kiện kinh tế-
xã hội,...
- Tính giai cấp nh hội những phần tách biệt nhưng lại gắn liền với
nhau trong một cách nào đó. Tính giai cấp một trong những yếu tố góp phần tạo
nên tính hội, đóng vai trò quan trọng trong sự phân hóa xã hội quyết định thứ
hạng và địa vị trong xã hội của mỗi cá nhân.
Ví dụ: Trong một xã hội phân lớp, những nhân viên văn phòng cao cấp sẽ có tính giai
cấp cao hơn và được coi là quan trọng hơn so với những người làm công nhân tại nhà máy.
Tuy nhiên, nh hội của mỗi nhóm lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chỗ ở, thói
quen, tầng lớp và sự nhận biết quan trọng của các khoản thu nhập và danh vọng xa hoa.
2.2. Chứng minh tính giai cấp và tính xã hội là hai thuộc tính không tách rời.
- Tính xã hội và tính giai cấp là hai thuộc tính là hai thuộc tính chung của nhà
nước. Sự thống nhất được thể hiện ở chỗ tính xã hội và tính giai cấp luôn song hành
tồn tại với sự tồn tại của nhà nước, thuộc tính này là cơ sở của thuộc tính kia.
6
- Ngày nay, xu hướng chung của các nhà nước trên thế giới là mở rộng tính xã
hội, thu hẹp tính giai cấp. Tuy nhiên, tính thống nhất nh giai cấp là hai thuộc tính
không
thể thiếu của mọi nhà nước. Nếu triệt tiêu tính giai cấp thì nhà nước không thể tồn tại trong
hoàn cảnh hội tồn tại những giai cấp với lợi ích khác nhau. Các giai cấp trong xã hội
không có động lực để giành lấy QLNN, nhà nước không được thành lập thìc vấn đề của
xã hội không được giải quyết, tính xã hội cũng vì thế mà không tồn tại. Ngược lại nếu xoá
bỏ tính xã hội sẽ đẩy đấu tranh giai cấp đến mức gay gắt, giai cấp thống trị càng ra sức đàn
áp thì đấu tranh càng gay gắt, giai cấp thống trị sớm muộn sẽ bị lật đổ, nhà nước sẽ bị diệt
vong, tính giai cấp cũng theo đó mà bị loại bỏ. Như vậy, hậu quả của việc thiếu đi một trong
hai thuộc tính giai cấp và hội là dẫn đến nhà nước bị tiêu diệt, xoá bỏ. Trong lúc nhân loại
chưa đủ khả năng để vươn đến hội cộng sản chủ nghĩa, việc nhà nước bị xoá bỏ một
hiện tượng vô cùng nguy hiểm của xã hội. Tuy nhiên, tình trạng vô chính phủ sẽ không kéo
dài lâu bởi vì nhà nước là một nhu cầu khách quan của xã hội, cho nên, nhà nước mới ra đời
có đủ cả hai thuộc tính giai cấp và xã hội, sẽ thay thế cho nhà nước cũ.
=> Tóm lại, tính xã hội và tính giai cấp là hai mặt cơ bản thống nhất thể hiện bản chất bất
kì nhà nước nào, chúng luôn gắn bó chặt chẽ, đan xen.
Ví dụ: Giả sử trong xã hội ngày nay, có 2 gia đình. Một là gia đình giàu hai gia đình
nghèo. Gia đình giàu sở hữu một số lượng lớn tài sản và thể dễ dàng truy cập đến
nguồn lực tài chính, trong khi đó gia đình nghèo chỉ số lượng nhỏ tài sản ít khả
năng truy cập đến nguồn lực tài chính.
- Từ đó, có thể thấy được sự khác biệt về tài sản và thu nhập giữa hai gia đình
này chính là yếu tố quyết định sự phân hóa giai cấp của họ. Tuy nhiên, không chỉ có
sự phân hóa trong giai cấp mà có sự phân hóa trong hội. Gia đình giàu thể
truy cập đến các dịch vụ tốt hơn, như chăm sóc sức khỏe và giáo dục trong khi đó thì
gia đình nghèo không có khả năng truy cập đến các dịch vụ này.
7
PHẦN BÀI TẬP
1)
- Di chúc ông X ghi để lại toàn bộ tài sản cho 3 con A,B,C nên mỗi người hưởng 1/3
di sản. Số tiền nay bao gồm tài sản riêng 20trd kế từ cha mẹ ông X.
-Tài sản chung của 2 vợ chồng ông X và bà Y sau khi trừ đi chi phí mai táng của ông X
6trd là 820tr. Vì vậy, di sản của ông X là ( 820-6 ) :2-6 = 401trd
Phần tài sản bà Y nhận được từ tài sản chung là( 820-6):2+6= 413trd
(Theo điều 683 Bộ luật dân sự 2005 quy định)
- Trường hợp 1 di chúc ông X để lại hợp pháp:
+ Do ông X đã truất quyền thừa kế của Y nên bà Y sẽ không nhận được quyền thừa kế từ
di sản của ông X
(Theo BLDS 2015 theo điều 624)
Vậy việc phân chia tài sản sẽ chia đều cho 3 người con A,B,C mỗi người hưởng sấp xỉ
133,6trd trd từ di chúc
Tóm lại 3 người con A,B,C mỗi người nhận được số tiền từ di chúc
133,6tr+6,7tr=140,3trd
Y nhận được 413trd (theo quy định của luật hôn nhân)
- Trường hợp 2 di chúc không hợp pháp:
+Nếu di chúc ông X để lại không hợp pháp thì bà Y vẫn nhận được phần di sản của ông
X và cùng chia đều cho 3 người con là A,B,C là 100,2 trd/ng
(Theo điều 675 BLDS 2005 quy định và kết hợp với điều 676 BLDS 2005)
2)
Theo pháp luật dân sự, di sản được chia đều cho 4 người là Bà Y và 3 con A,B,C
(Điêu 675 luât Dân su 2005 quy dinh, thurc hiên chia thừa theo pháp luât khi không
di chúc hoãc di chúc không hop phap. Cu the theo Diêu 676 luât n su 2005,
hang thia ke thúr nhât gôm: vo, cha de, me de, cha nuôi, me nuôi, con de, con nuôi)
Như vậy, phần di sản của ông X sẽ chia đều cho 4 người là ( 401+20):4= 105,2trd/ng
8
LỜI CẢM ƠN
Cuối cùng, cho chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành sự tri ân sâu sắc đối với các
thầy của Viện Đào tạo Quốc Tế-Trường Đại học Thương Mại đã tạo điều kiện thuận lợi
cho chúng em học tập rèn luyện. Đặc biệt, chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
giảng viên bộ môn-cô Trần Hạnh Linh đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý
báu và giúp chúng em tự tin để hoàn thành tốt bài thảo luận này.
Tuy nhiên do kĩ năng và kiến thức của chúng em về môn Pháp luật đại cương còn hạn chế
nên bài thảo luận của nhóm em sẽ không tránh khỏi những sai sót. Chúng em rất mong nhận
được sự góp ý của cô để chủ đề này có điều kiện hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, chúng em kính chúc Cô luôn hạnh phúc và thành công hơn trong sự nghiệp
“trồng người”. Chúc luôn dồi dào sức khỏe để tiếp tục dìu dắt nhiều thế hệ học trò đến
bến bờ tri thức.
Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn cô!
9

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
V iện Đào tạo Quốc Tế -------- BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG NHÓM 2
Giảng viên hướng dẫn: T rần Hạnh Linh Lớp HP: 23107 MỤC LỤC
MỤC LỤC................................................................................................. 2
PHẦN MỞ ĐẦU....................................................................................... 3
PHẦN NỘI DUNG....................................................................................
1. Phân tích bản chất Nhà nước............................................................ 4
2. Chứng minh tính giai cấp và tính xã hội là hai thuộc tính không
tách rời trong hai bản chất Nhà nước................................................ 6
PHẦN BÀI TẬP ........................................................................................ 8
LỜI CẢM ƠN........................................................................................... 9 2 PHẦN MỞ ĐẦU
Pháp luật đại cương là một loại môn học có nội dung vô cùng đa dạng và phong phú,
tập trung nghiên cứu các khái niệm, các phạm trù cơ bản nhất về chính phủ và pháp luật
trên phương diện khoa học pháp lý . Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội có
mối quan hệ mật thiết với nhau tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của con người nhưng
Nhà nước và pháp luật được tổ chức, thiết lập theo ý chí của con người để phục vụ chính
ý muốn của con người. Vì vậy trong đời sống xã hội, Nhà nước và pháp luật có vai trò rất
quan trọng. Pháp luật được áp dụng giải quyết hầu hết các quan hệ trong xã hội. Biết và
hiểu được Nhà nước và pháp luật giúp mọi người ứng xử, chấp hành tốt các chính sách
của Nhà nước cũng như các quy định pháp luật, đảm bảo kỷ cương xã hội. T rên cơ sở đó
môn học cung cấp cho người học những nội dung cơ bản về Nhà nước và pháp luật. Từ
đó giúp người học nâng cao sự hiểu biết về vai trò và sự quan trọng của Nhà nước và
pháp luật trong đời sống. T rong bài thảo luận này , chúng em đã phân tích bản chất của
Nhà nước và chứng minh tính giai cấp và tính xã hội là hai thuộc tính không tách rời
trong bản chất Nhà nước. Ngoài ra chúng em còn làm một số bài tập thực tế để giúp hiểu
rõ hơn về môn học này .
- Nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ:
Lãnh thủ xin cư là những yêu tố cấu thành nên một quốc gia.
Nhà nước thực hiện sự quản lý dân cư theo lãnh thổ, theo các đơn vị hành chính.
Chế định quốc tích xác lập mối quan hệ giữa công dân và nhà nước. 5
- Nhà nước quy định thuế và thực hiện việc thu các loại thuế:
Thuế được sử dụng nhằm duy trì sự tồn tại của bộ máy nhà nước.
Thuế là nguồn thu giúp nhà nước thực hiện các hoạt động chung phục vụ toàn xã hội,
là công cụ nhằm điều tiết thu nhập trong xã hội.
- Nhà nước ban hành pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật:
Nhà nước giữ quyền ban hành pháp luật, quản lý dân cư và các hoạt động xã hội bằng pháp luật.
Pháp luật là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện.
II. CHỨNG MINH TÍNH GIAI CẤP VÀ TÍNH XÃ HỘI LÀ THUỘC TÍNH
KHÔNG TÁCH RỜI TRONG HAI BẢN CHẤT NHÀ NƯỚC.
2.1. Mối quan hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội.
- Nhà nước ra đời trước hết phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị. Tính xã hội
của nhà nước thể hiện ở chỗ nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội, và ở
mức độ này hay mức độ khác nhà nước thực hiện bảo vệ lợi ích cơ bản, lâu dài của
quốc gia, dân tộc và công dân mình. Tính giai cấp của nhà nước là sự tác động của
yếu tố giai cấp đến đặc điểm và xu hướng phát triển cơ bản của nhà nước.
- Tính xã hội và tính giai cấp là hai mặt cơ bản thống nhất, chúng luôn có mối
quan hệ tương tác, gắn bó chặt chẽ với nhau nhằm thể hiện bản chất của bất kỳ nhà
nước nào. Dù ở trong xã hội nào, bản thân của nhà nước cũng đều thể hiện ở 2 mặt:
Một mặt bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền. Đồng thời, mặt còn lại vẫn sẽ chú ý
đến lợi ích chung của toàn xã hội. Tuy nhiên, mức độ và sự thể hiện của 2 thuộc tính
này sẽ có sự khác nhau ở từng nhà nước và ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Bởi nó
phụ thuộc vào các yếu tố như: nhận thức của giai cấp cầm quyền, điều kiện kinh tế- xã hội,...
- Tính giai cấp và tính xã hội là những phần tách biệt nhưng lại gắn liền với
nhau trong một cách nào đó. Tính giai cấp là một trong những yếu tố góp phần tạo
nên tính xã hội, đóng vai trò quan trọng trong sự phân hóa xã hội và quyết định thứ
hạng và địa vị trong xã hội của mỗi cá nhân.
Ví dụ: Trong một xã hội phân lớp, những nhân viên văn phòng cao cấp sẽ có tính giai
cấp cao hơn và được coi là quan trọng hơn so với những người làm công nhân tại nhà máy.
Tuy nhiên, tính xã hội của mỗi nhóm lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chỗ ở, thói
quen, tầng lớp và sự nhận biết quan trọng của các khoản thu nhập và danh vọng xa hoa.
2.2. Chứng minh tính giai cấp và tính xã hội là hai thuộc tính không tách rời.
- Tính xã hội và tính giai cấp là hai thuộc tính là hai thuộc tính chung của nhà
nước. Sự thống nhất được thể hiện ở chỗ tính xã hội và tính giai cấp luôn song hành
tồn tại với sự tồn tại của nhà nước, thuộc tính này là cơ sở của thuộc tính kia. 6
- Ngày nay, xu hướng chung của các nhà nước trên thế giới là mở rộng tính xã
hội, thu hẹp tính giai cấp. Tuy nhiên, tính thống nhất và tính giai cấp là hai thuộc tính không
thể thiếu của mọi nhà nước. Nếu triệt tiêu tính giai cấp thì nhà nước không thể tồn tại trong
hoàn cảnh xã hội tồn tại những giai cấp với lợi ích khác nhau. Các giai cấp trong xã hội
không có động lực để giành lấy QLNN, nhà nước không được thành lập thì các vấn đề của
xã hội không được giải quyết, tính xã hội cũng vì thế mà không tồn tại. Ngược lại nếu xoá
bỏ tính xã hội sẽ đẩy đấu tranh giai cấp đến mức gay gắt, giai cấp thống trị càng ra sức đàn
áp thì đấu tranh càng gay gắt, giai cấp thống trị sớm muộn sẽ bị lật đổ, nhà nước sẽ bị diệt
vong, tính giai cấp cũng theo đó mà bị loại bỏ. Như vậy, hậu quả của việc thiếu đi một trong
hai thuộc tính giai cấp và xã hội là dẫn đến nhà nước bị tiêu diệt, xoá bỏ. Trong lúc nhân loại
chưa đủ khả năng để vươn đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, việc nhà nước bị xoá bỏ là một
hiện tượng vô cùng nguy hiểm của xã hội. Tuy nhiên, tình trạng vô chính phủ sẽ không kéo
dài lâu bởi vì nhà nước là một nhu cầu khách quan của xã hội, cho nên, nhà nước mới ra đời
có đủ cả hai thuộc tính giai cấp và xã hội, sẽ thay thế cho nhà nước cũ.
=> Tóm lại, tính xã hội và tính giai cấp là hai mặt cơ bản thống nhất thể hiện bản chất bất
kì nhà nước nào, chúng luôn gắn bó chặt chẽ, đan xen.
Ví dụ: Giả sử trong xã hội ngày nay, có 2 gia đình. Một là gia đình giàu có hai là gia đình
nghèo. Gia đình giàu có sở hữu một số lượng lớn tài sản và có thể dễ dàng truy cập đến
nguồn lực tài chính, trong khi đó gia đình nghèo chỉ có số lượng nhỏ tài sản và ít có khả
năng truy cập đến nguồn lực tài chính.
- Từ đó, có thể thấy được sự khác biệt về tài sản và thu nhập giữa hai gia đình
này chính là yếu tố quyết định sự phân hóa giai cấp của họ. Tuy nhiên, không chỉ có
sự phân hóa trong giai cấp mà có sự phân hóa trong xã hội. Gia đình giàu có có thể
truy cập đến các dịch vụ tốt hơn, như chăm sóc sức khỏe và giáo dục trong khi đó thì
gia đình nghèo không có khả năng truy cập đến các dịch vụ này. 7 PHẦN BÀI TẬP 1)
- Di chúc ông X ghi để lại toàn bộ tài sản cho 3 con A,B,C nên mỗi người hưởng 1/3
di sản. Số tiền nay bao gồm tài sản riêng 20trd kế từ cha mẹ ông X.
-Tài sản chung của 2 vợ chồng ông X và bà Y sau khi trừ đi chi phí mai táng của ông X
6trd là 820tr. Vì vậy, di sản của ông X là ( 820-6 ) :2-6 = 401trd
Phần tài sản bà Y nhận được từ tài sản chung là( 820-6):2+6= 413trd
(Theo điều 683 Bộ luật dân sự 2005 quy định)
- Trường hợp 1 di chúc ông X để lại hợp pháp:
+ Do ông X đã truất quyền thừa kế của bà Y nên bà Y sẽ không nhận được quyền thừa kế từ di sản của ông X
(Theo BLDS 2015 theo điều 624)
Vậy việc phân chia tài sản sẽ chia đều cho 3 người con A,B,C mỗi người hưởng sấp xỉ 133,6trd trd từ di chúc
Tóm lại 3 người con A,B,C mỗi người nhận được số tiền từ di chúc 133,6tr+6,7tr=140,3trd
Bà Y nhận được 413trd (theo quy định của luật hôn nhân)
- Trường hợp 2 di chúc không hợp pháp:
+Nếu di chúc ông X để lại không hợp pháp thì bà Y vẫn nhận được phần di sản của ông
X và cùng chia đều cho 3 người con là A,B,C là 100,2 trd/ng
(Theo điều 675 BLDS 2005 quy định và kết hợp với điều 676 BLDS 2005) 2)
Theo pháp luật dân sự, di sản được chia đều cho 4 người là Bà Y và 3 con A,B,C
(Điêu 675 Bô luât Dân su 2005 quy dinh, thurc hiên chia thừa kê theo pháp luât khi không
có di chúc hoãc di chúc không hop phap. Cu the theo Diêu 676 Bô luât Dân su 2005,
hang thia ke thúr nhât gôm: vo, cha de, me de, cha nuôi, me nuôi, con de, con nuôi)
Như vậy, phần di sản của ông X sẽ chia đều cho 4 người là ( 401+20):4= 105,2trd/ng 8 LỜI CẢM ƠN
Cuối cùng, cho chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các
thầy cô của Viện Đào tạo Quốc Tế-Trường Đại học Thương Mại đã tạo điều kiện thuận lợi
cho chúng em học tập và rèn luyện. Đặc biệt, chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
giảng viên bộ môn-cô Trần Hạnh Linh đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý
báu và giúp chúng em tự tin để hoàn thành tốt bài thảo luận này.
Tuy nhiên do kĩ năng và kiến thức của chúng em về môn Pháp luật đại cương còn hạn chế
nên bài thảo luận của nhóm em sẽ không tránh khỏi những sai sót. Chúng em rất mong nhận
được sự góp ý của cô để chủ đề này có điều kiện hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, chúng em kính chúc Cô luôn hạnh phúc và thành công hơn trong sự nghiệp
“trồng người”. Chúc Cô luôn dồi dào sức khỏe để tiếp tục dìu dắt nhiều thế hệ học trò đến bến bờ tri thức.
Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn cô! 9