



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA: MARKETING
TIỂU LUẬN MÔN: THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CĂN BẢN
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CHUYỂN ĐỔI SỐ QUỐC
GIA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ ĐẾN NGÀNH DU LỊCH TẠI VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: Vũ Thị Thúy Hằng Nhóm thực hiện: Nhóm 12
Lớp học phần: 2293PCOM0111 Hà Nội 11/2022 1 MỤC LỤC
MỤC LỤC.....................................................................2
BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ.....................................................3
LỜI MỞ ĐẦU.................................................................4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHUYỂN ĐỔI SỐ...........5
1.1. Khái niệm..........................................................5
1.2. Bối cảnh chuyển đổi số quốc tế..............................5
1.3. Hiện trạng chuyển đổi số Việt Nam........................7
1.4. Sự cần thiết của chuyển đổi số Việt Nam................9
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CHUYỂN ĐỔI SỐ
QUỐC GIA..................................................................11
2.1. Tầm nhìn đến năm 2030......................................11
2.2. Các giai đoạn chuyển đổi số ở Việt Nam................14
2.3. Nhiệm vụ và giải pháp.........................................14
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ ĐẾN CƠ SỞ
LƯU TRÚ VÀ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH..................................19
3.1. Thực trạng hiện nay.............................................19
3.1.1. Tích cực.......................................................................19
3.1.2. Hạn chế.......................................................................25
3.2. Giải pháp............................................................26
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN.................................................27
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................29 2 4 LỜI MỞ ĐẦU
Ngành du lịch có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế
quốc gia, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của rất nhiều đất
nước. Chính vì thế, mỗi quốc gia, doanh nghiệp luôn có những
phương án để phát triển ngành du lịch, trong đó không thể
không nhắc đến chuyển đổi số. chuyển đổi số là điều bắt buộc
mà các doanh nghiệp ngành du lịch phải làm để bắt nhịp xu
hướng toàn cầu. Chuyển đổi số giúp doanh nghiệp tiếp cận
khách hàng, phân tích hành vi, xu hướng của du khách để đáp
ứng và phục vụ tốt hơn; tiết kiệm chi phí vận hành,... Chính vì
thế, đối với doanh nghiệp, chuyển đổi số ngành du lịch ngày
nay không chỉ là một chiến lược tùy chọn mà dần trở thành
một thông lệ tất yếu phải được thực hiện để có đủ năng lực
cạnh tranh và đáp ứng sự phát triển không ngừng trong nhu cầu của khách hàng.
Từ đó, nhóm 12 chúng em với những kiến thức đã được học từ
môn Thương Mại Điện Tử Căn Bản, đã quyết định nghiên cứu và
thực hiện đề tài thảo luận “ PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CHUYỂN
ĐỔI SỐ QUỐC GIA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ ĐẾN
NGÀNH DU LỊCH TẠI VIỆT NAM” qua hai minh chứng tiêu biểu
trong ngành dịch vụ là Khách sạn SOJO và Văn Miếu Quốc Tử
Giám. Trong quá trình thảo luận và tìm tòi nguồn tri thức không
thể tránh khỏi những thiếu sót, nhóm chúng em rất mong nhận
được sự góp ý của cô và các bạn, giúp nhóm có thêm những bài
học và rút ra những kinh nghiệm cho những lần thực hiện đề tài tiếp theo.
Chúng em xin chân thành cảm ơn ! 5
CHƯƠNG 1: Lý luận cơ bản về chuyển đổi số 1.1. Khái niệm
Chuyển đổi số” (Digital transformation) là khái niệm ra đời trong thời đại
internet bùng nổ và đang trở nên phổ biến trong thời gian gần đây, mô tả việc
ứng dụng công nghệ vào các khía cạnh của doanh nghiệp. Nếu đạt hiệu quả,
hoạt động này sẽ thay đổi toàn diện cách thức mà một doanh nghiệp hoạt động,
tăng hiệu quả hợp tác, tối ưu hóa hiệu suất làm việc và mang lại giá trị cho
khách hàng. Do đó chuyển đổi số là xu hướng tất yếu và cấp thiết dành cho doanh nghiệp.
Theo Gartner - công ty nghiên cứu và tư vấn công nghệ thông tin hàng
đầu thế giới đưa ra định nghĩa về chuyển đổi số như sau: “Chuyển đổi số là việc
sử dụng các công nghệ số để thay đổi mô hình kinh doanh, tạo ra những cơ hội,
doanh thu và giá trị mới”. Còn tập đoàn công nghệ thông tin (CNTT) hàng đầu
thế giới Microsoft cho rằng “Chuyển đổi số là việc tư duy lại cách thức các tổ
chức tập hợp mọi người, dữ liệu và quy trình để tạo những giá trị mới”.
Hiểu một cách đơn giản: Chuyển đổi số là sự tích hợp công nghệ kỹ thuật
số vào tất cả các lĩnh vực của DN, tổ chức dẫn đến những thay đổi cơ bản đối
với các DN, đơn vị hoạt động và cách họ cung cấp giá trị cho khách hàng. Lưu
ý rằng đây không đơn thuần chỉ là một cuộc cách mạng về kỹ thuật mà còn là
một sự thay đổi văn hóa, nó đòi hỏi các tổ chức phải liên tục thách thức hiện
trạng, thử nghiệm và thoải mái với thất bại trong quá trình chuyển đổi.
1.2. Bối cảnh chuyển đổi số quốc tế
Theo báo cáo của Cisco & IDC năm 2020 về mức độ trưởng thành số của
các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) tại 14 quốc gia thuộc khu vực Châu Á
Thái Bình Dương, chỉ có khoảng 3% các doanh nghiệp cho rằng chuyển đổi số
chưa thực sự quan trọng đối với hoạt động của mình, thấp hơn nhiều so với mức
22% năm 2019. Có tới 62% doanh nghiệp kỳ vọng chuyển đổi số giúp doanh
nghiệp tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới. 56% doanh nghiệp nhận thấy sự cạnh
tranh đang thay đổi và chuyển đổi số giúp doanh nghiệp giữ được nhịp độ (hình
dưới). Thống kê này cho thấy các doanh nghiệp đã có nhận thức rõ ràng về tầm
quan trọng của chuyển đổi số. 6
Trong cùng báo cáo, Cisco & IDC nhấn mạnh trong năm, 31% doanh
nghiệp đang ở giai đoạn đầu của chuyển đổi số, giảm 8% so với năm 2019; 53%
các doanh nghiệp đang trong giai đoạn tiếp theo (“Observer” – “Quan sát”),
tăng 3% so với năm 2019; 13% doanh nghiệp trong giai đoạn “Thách thức”
(Challenger) và 3% các doanh nghiệp đã “Trưởng thành” (“Native”), tăng lần
lượt 4% và 1% so với năm trước đó.
Trạng thái của các doanh nghiệp trong tiến trình tới “trưởng thành số’’ (nguồn Cisco & IDC 2020)
Khảo sát từ 900 nhà lãnh đạo doanh nghiệp trong báo cáo của Fujitsu về
“Chuyển đổi số toàn cầu năm 2019” cho thấy có tới 40% doanh nghiệp tham gia
khảo sát đã thực hiện và gặt hái được thành quả từ các dự án chuyển đổi,
khoảng 40% các dự án vẫn đang trong giai đoạn triển khai và chỉ một số ít, dưới
30% các doanh nghiệp chưa thực hiện dự án chuyển đổi số nào. Cụ thể hơn, các
lĩnh vực như tài chính, vận tải, sản xuất, y tế và bán buôn/bán lẻ là những lĩnh
vực có tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện các dự án chuyển đổi số cao nhất. Đặc biệt,
có tới hơn 40% doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng và vận tải đã triển khai
các dự án thành công với kết quả rõ rệt. 7
Tiến trình chuyển đổi số theo ngành (Fujitsu 2019)
1.3. Hiện trạng chuyển đổi số Việt Nam 1.3.1 Chung:
Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi số đã bắt đầu diễn ra, nhất
là trong những ngành như tài chính, giao thông, du lịch... Chính
phủ và chính quyền các cấp đang nỗ lực xây dựng Chính phủ
điện tử hướng tới Chính phủ số. Hơn 30 thành phố cũng định
xây dựng Smart City với các nền tảng công nghệ mới...
Xu hướng chuyển đổi số đang được phát triển mạnh mẽ ở việt Nam
1.3.2 Thực trạng chuyển đổi số của Việt Nam so với các nước Đông Nam Á
Ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, có đến 74% các nhà lãnh
đạo khẳng định rằng chuyển đổi số hiện nay là việc bắt buộc
phải có để cải thiện hiệu suất và phục hồi hậu Covid-19 (5).Với
chỉ số phương thức thanh toán (là một chỉ số quan trọng để
thúc đẩy sự thay đổi nền kinh tế số mới) đang ở mức yếu. Tỷ lệ
giao dịch kỹ thuật số chỉ đạt mức 22% thua xa Thái Lan (62%),
Malaysia là (76%)…. và chỉ hơn được Lào (12%), Campuchia (1%). Ngày 03/06/2020
chính phủ đã xây dựng “Chương trình chuyển đổi số quốc gia
đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Từ đó đến nay,
chuyển đổi số ở nhà nước tại Việt Nam đã có 1 số kết quả nhất
định. Theo báo chính phủ thì tính đến ngày 27/04/2022 thì: 8
Thực trạng về chính phủ số: Các cơ sở dữ liệu về quốc gia đã
được tích hợp, mở rộng và kết nối với nhau gồm:
-Dữ liệu bảo hiểm xã hội
-Dữ liệu công dân: Gần 78 triệu thông tin
Thực trạng kinh tế số: Theo ước tính của Bộ Thông tin và Truyền
thông, trong Quý I/2022 đạt khoảng 53 tỷ USD. Số doanh
nghiệp công nghệ số thành lập mới tăng 500 doanh nghiệp so với năm 2021.
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 tiếp tục được triển khai tích cực, có hiệu quả:
-Cổng dịch vụ công quốc gia đã tích hợp 3.552 dịch vụ
công trực tuyến mức độ 3, 4 của các Bộ, ngành, địa
phương, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp
Đào tạo nhân lực cho chuyển đổi số tiếp tục được quan tâm:
-Quý I/2022 đã bồi dưỡng, tập huấn được gần 1.000 cán bộ, công chức
-Mục tiêu đến tháng 10/2022 sẽ bồi dưỡng, tập huấn được
cho 10.000 cán bộ, công chức về chuyển đổi số.
Xã hội số, với trọng tâm là công dân số, được chú trọng phát triển:
-Một số ứng dụng Việt Nam đã đáp ứng được nhu cầu của
người dùng Việt Nam, được đông đảo người dân sử dụng.
Bên cạnh những kết quả đạt được còn những tồn tại, hạn chế
-Chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến chưa cao,
hiệu quả sử dụng còn hạn chế. Tỷ lệ người dân sử dụng
dịch vụ công trực tuyến mới gần 54% và hồ sơ xử lý trực
tuyến còn thấp, khoảng 9,4%.
-An toàn, an ninh mạng còn sơ hở. Công tác bảo vệ bí mật
nhà nước, bảo vệ dữ liệu người dân còn chưa được chú trọng đúng mức
1.3.3. Thực trạng chuyển đổi số doanh nghiệp Việt Nam
Năm 2020: Theo Vinasa thì tại Việt Nam, hơn 92% doanh
nghiệp đã có sự quan tâm hay thậm chí đã ứng dụng chuyển
đổi số trong hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, chỉ có 9
chưa đến 10% trong số họ nhận định rằng việc chuyển đổi số
đã thành công và có thể mang lại giá trị trọng yếu cho doanh nghiệp.
Năm 2021: Đa phần doanh nghiệp đều ứng dụng các phần
mềm, giải pháp hoạt động quản lý đa kênh, bán hàng online,
quản trị kênh phân phối. Cụ thể:
-Khoảng 100.000 cửa hàng tại Việt Nam đang sử dụng
phần mềm KiotViet cho hoạt động bán hàng và quản lý
các kênh bán hàng, con số cũng tương tự với Sapo cũng
như các phần mềm hỗ trợ khác như Harvan, Nhanh .v.v.v
-Hàng trăm nghìn doanh nghiệp đang trực tiếp kinh doanh
trên các sàn thương mại điện tử như Lazada, Shopee .v.v.v
-Hầu hết doanh nghiệp trang bị chữ ký số
1.4. Sự cần thiết của chuyển đổi số Việt Nam
1.4.1 Tại sao chuyển đổi số là xu thế bắt buộc .
a. Cách mạng 4.0 càng phát triển và ngày càng lan tỏa mạnh mẽ
Cách mạng 4.0 với tiền đề là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, kết hợp với
các lĩnh vực vật lý, công nghệ số và sinh học nhằm tạo ra những khả năng sản
xuất hoàn toàn mới. Sự thay đổi mang lại tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế,
chính trị, xã hội của toàn thế giới.
b. Đại dịch Covid thúc đẩy doanh nghiệp phải biến đổi
Cách mạng 4.0 đã xuất hiện thời kỳ trước đó, đã có các gian hàng thương mại
điện tử, có các công nghệ chữ ký số, số hóa dữ liệu .v.v.v nhưng do đại dịch
Covid quá trình này đã được đẩy mạnh gấp nhiều lần. Người tiêu dùng sử dụng
các nền tảng công nghệ số nhiều hơn, đặt hàng online nhiều hơn,...
1.4.2 Vì sao nhà nước phải chuyển đổi số ?
Sau mỗi cuộc cách mạng công nghiệp, thứ hạng tổng GDP của các nước biến
đổi rõ rệt. Lịch sử cho thấy rằng, nhiều nước tận dụng tốt các cuộc cách mạng
để bứt phá tổng GDP, nhưng cũng nhiều nước đã không theo kịp xu thế và bị tụt
lại: Sau cuộc cách mạng lần thứ 3 (Cách mạng kỹ thuật số diễn ra năm 1970 –
Sự ra đời và phổ biến của máy tính, thiết bị điện tử và internet) đã giúp cho Hàn
Quốc, Singapore…. trỗi dậy mãnh liệt.
Kết quả nghiên cứu của McKensey cho thấy vào năm 2025, mức độ tác động
của chuyển đổi số tới GDP của nước Mỹ là khoảng 25%, với đất nước Brazil là
35%, còn ở các nước Châu Âu là khoảng 36%. Vậy nên, chuyển đổi số mang lại 10
cơ hội lớn cho Việt Nam vươn lên, gia tăng GDP vượt bậc. Đây là cơ hội cũng
như thách thức chưa từng có đối với nước ta.
Trên đây là những lý do giải thích tại sao mà nhà nước Việt Nam hiện tại đang
nỗ lực hết mình để truyền thông và triển khai chuyển đổi số. Tuy nhiên, để nhà
nước chuyển đổi số thành công thì doanh nghiệp phải được đặt ở vị trí trung tâm.
1.4.3 Tại sao doanh nghiệp phải chuyển đổi số?
Báo cáo của Gartner, IDC… đều chỉ ra rằng chuyển đổi số mang lại rất nhiều lợi
ích cho mọi mặt của doanh nghiệp: từ điều hành quản lý đến nghiên cứu, kinh
doanh… Sau đây có thể kể đến 10 lý do vì sao phải chuyển đổi số ở doanh nghiệp:
- Tiết kiệm chi phí hoạt động cho doanh nghiệp
- Quản lý thông tin và khai thác tài nguyên tốt hơn
- Nâng cao trải nghiệm khách hàng
- Tăng cơ hội, nâng cao khả năng cạnh tranh
- Tăng lợi nhuận (Chuyển đổi số dẫn tới lợi nhuận tốt hơn)
- Chuyển đổi số là con đường để doanh nghiệp thoát khỏi khó khăn
Như đã phân tích ở trên, sau thời đại hậu Covid thì hành vi người dùng đã thay
đổi, mua sắm dựa trên “môi trường số” nhiều hơn. Và chuyển đổi số ở đây
không chỉ dừng lại như một xu hướng cần phải chạy theo mà còn là một trong
những bước đi bắt buộc không thể bỏ qua. Các doanh nghiệp thờ ơ đứng ngoài
cuộc đua chuyển đổi số sẽ phải đối mặt với các khó khăn và thách thức trong
tương lai, thậm chí có thể dẫn tới sự thất bại.
Ví dụ: Nokia hay Kodak là các bài học thất bại to lớn, cho thấy người khổng lồ
cũng phải gục ngã khi không chịu thay đổi và chuyển mình.
Vốn là ông lớn trong lĩnh vực kinh doanh của mình, Kodak với sự cứng ngắc
trong chiến lược, lo sợ phát minh mới về máy ảnh kỹ thuật số sẽ khiến cho
doanh số của phim và thuốc rửa phim giảm sút nên phớt lờ sự thay đổi, và nhận
lấy kết quả phá sản vào năm 2012.
Cũng tương tự, thất bại của Nokia dẫn đến việc dần chìm vào lãng quên và bán
mình cho Microsoft là do việc không quan tâm tới nhóm khách hàng tương lai.
Trong khi Apple cùng với hệ điều hành iOS hứa hẹn mang lại các trải nghiệm
hoàn toàn mới thay đổi hoàn toàn hành vi sử dụng của người dùng với thiết bị di 11
động, Nokia vẫn cố bám trụ với hệ điều hành Symbian già cỗi lạc hậu và không
kịp thích ứng với sự thay đổi của thị trường.
- Chuyển đổi số sẽ giúp doanh nghiệp tạo được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ của mình. Ví dụ:
Uber là một ví dụ về mô hình kinh doanh taxi kiểu mới. So với mô hình truyền
thống, thay vì quản lý trực tiếp các xe taxi, Uber đã ra đời với việc đáp ứng nhu
cầu kết nối người đi nhờ xe với các xe còn trống. Sự ra đời của Uber còn đến
các trải nghiệm hoàn toàn mới cho người dùng, nắm bắt và quản lý được thông
tin người lái xe, lộ trình, và chia sẻ các thông tin nhằm tăng tính an toàn trong
quá trình sử dụng dịch vụ của mình.
Nghiên cứu từ Forbes cho thấy 70% doanh nghiệp gặp thất bại hoặc khó khăn
khi thực thi chương trình chuyển đổi số. Đặc biệt với các doanh nghiệp quy mô
lớn, lâu đời, việc thực thi các chiến lược chuyển đổi này một cách toàn diện và
hiệu quả lại càng có nhiều trở ngại. Vậy nên để vượt qua những thách thức này,
doanh nghiệp cần chú ý đến 12 nguyên nhân chuyển đổi số thất bại, từ đó xây
dựng chương trình chuyển đổi số thành công, tạo giá trị mới, lợi thế cạnh tranh
và phát triển bền vững trong chặng đường sắp tới.
1.4.4 Cá nhân tại sao cũng phải sẵn sàng chuyển đổi số
- Cơ hội tăng mức thu nhập tốt hơn
- Cơ hội có được các phúc lợi xã hội tốt hơn
- Có cơ hội trải nghiệm dịch vụ của doanh nghiệp tốt hơn
=>Từ những phân tích trên cho thấy: Chuyển đổi số là một sự thay đổi mang
tính tổng thể và toàn diện, từ chính phủ, đến từng doanh nghiệp, từng tổ chức,
từng cá nhân và trong mọi lĩnh vực.
Kết lại, để nói về lý do vì sao phải chuyển đổi số thì có thể nói đây là một xu thế
không thể đảo ngược, có khả năng ảnh hưởng sâu rộng và làm biến đổi nhiều
mặt kinh tế xã hội. Chính vì vậy các chủ thể chính trong các hoạt động kinh tế
xã hội bao gồm chính phủ, doanh nghiệp và người dân cần có nhận thức đầy đủ,
được đào tạo để sẵn sàng tiếp nhận những thay đổi mà xu hướng chuyển đổi số mang lại.
Trong khi đó đối với con người bình thường, chuyển đổi số làm thay đổi cách
chúng ta sống, làm việc và giao dịch với nhau. Còn đối với nhà nước, chuyển
đổi số dùng dữ liệu và công nghệ số để thay đổi trải nghiệm người dùng với các 12
dịch vụ do nhà nước cung cấp, thay đổi quy trình nghiệp vụ, thay đổi mô hình
và phương thức hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước.
Chuyển đổi số còn góp phần gia tăng năng suất lao động. Nghiên cứu của
Microsoft cho thấy, năm 2017, tác động của chuyển đổi số tới tăng trưởng năng
suất lao động ở vào khoảng 15%, đến năm 2020, con số này là 21%.
Nhìn chung, theo các chuyên gia phân tích và nghiên cứu thị trường thì 5 mục
đích cuối cùng mà các doanh nghiệp chuyển đổi số hướng đến bao gồm: Tăng
tốc độ ra thị trường; Tăng cường vị trí cạnh tranh trên thị trường; Thúc đẩy tăng
trưởng doanh thu; Tăng năng suất của nhân viên; Mở rộng khả năng thu hút và giữ chân khách hàng
CHƯƠNG 2: Phân tích chiến lược chuyển đổi số quốc gia
2.1. Tầm nhìn đến năm 2030
Việt Nam trở thành quốc gia kỹ thuật số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử
nghiệm công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản
lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
nếp sống và làm việc của nhân dân, vì môi trường an toàn và phát triển, nhân văn, rộng khắp.
- Mục tiêu cơ bản đến năm 2025
Chương trình đề ra mục tiêu đến năm 2025 phát triển Chính phủ số, nâng cao
hiệu quả, hiệu lực hoạt động với 80% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được
cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di
động. 90% hồ sơ công việc tại cấp bộ, tỉnh; 80% hồ sơ công việc tại cấp huyện
và 60% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ
công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước). 100% chế độ báo cáo, chỉ tiêu tổng
hợp báo cáo định kỳ và báo cáo thống kê về kinh tế - xã hội phục vụ sự chỉ đạo,
điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được kết nối, tích hợp, chia sẻ
dữ liệu số trên Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ. 100% cơ sở dữ liệu quốc
gia tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử bao gồm các cơ sở dữ liệu quốc
gia về dân cư, đất đai, đăng ký doanh nghiệp, tài chính, bảo hiểm được hoàn
thành và kết nối, chia sẻ trên toàn quốc; từng bước mở dữ liệu của các cơ quan
nhà nước để cung cấp dịch vụ công kịp thời, một lần khai báo, trọn vòng đời
phục vụ người dân và phát triển kinh tế - xã hội; 50% hoạt động kiểm tra của cơ
quan quản lý nhà nước được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống
thông tin của cơ quan quản lý. Phấn đấu Việt Nam sẽ gia nhập nhóm 70 nước
dẫn đầu về Chính phủ điện tử (EGDI).
Về phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, mục tiêu
đến năm 2025 là kinh tế số chiếm 20% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng
ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 10%; năng suất lao động hàng năm tăng tối thiểu
7%; Việt Nam sẽ thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về công nghệ thông tin (IDI), 13
thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về chỉ số cạnh tranh (GCI), thuộc nhóm 35 nước
dẫn đầu về đổi mới sáng tạo (GII).
Về phát triển xã hội số, thu hẹp khoảng cách số, mục tiêu đến năm 2025 là hạ
tầng mạng băng rộng cáp quang phủ trên 80% hộ gia đình, 100% xã; phổ cập
dịch vụ mạng di động 4G/5G và điện thoại di động thông minh; tỷ lệ dân số có
tài khoản thanh toán điện tử trên 50%; phấn đấu Việt Nam thuộc nhóm 40 nước
dẫn đầu về an toàn, an ninh mạng (GCI).
- Mục tiêu cơ bản đến năm 2030
Theo Chương trình, đến năm 2030, dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được
cung cấp 100% trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị
di động. 100% hồ sơ công việc tại cấp bộ, tỉnh; 90% hồ sơ công việc tại cấp
huyện và 70% hồ sơ công việc tại cấp xã sẽ được xử lý trên môi trường mạng
(trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước); hình thành nền tảng dữ
liệu cho các ngành kinh tế trọng điểm dựa trên dữ liệu của các cơ quan nhà
nước và hạ tầng kết nối mạng Internet vạn vật (IoT), kết nối, chia sẻ rộng khắp
giữa các cơ quan nhà nước, giảm 30% thủ tục hành chính; mở dữ liệu cho các tổ
chức, doanh nghiệp, tăng 30% dịch vụ sáng tạo dựa trên dữ liệu phục vụ người
dân, doanh nghiệp; 70% haọt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được
thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý.
Ngoài ra, Việt Nam đặt mục tiêu gia nhập nhóm 50 nước dẫn đầu về Chính phủ
điện tử (EGDI). Về phát triển xã hội số, thu hẹp khoảng cách số, mục tiêu đến
năm 2030, Việt Nam sẽ phổ cập dịch vụ mạng Internet băng rộng cáp quang;
phổ cập dịch vụ mạng di động 5G; tỷ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện tử
là trên 80%. Việt Nam sẽ thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về an toàn, an ninh mạng (GCI).
Bên cạnh đó, Quyết định nêu rõ nhiệm vụ, giải pháp tạo nền móng chuyển đổi
số là chuyển đổi nhận thức; kiến tạo thể chế; phát triển hạ tầng số; phát triển nền
tảng số; tạo lập niềm tin, bảo đảm an toàn, an ninh mạng; hợp tác quốc tế,
nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo trong môi trường số.
Nhiệm vụ, giải pháp phát triển Chính phủ số là phát triển hạ tầng Chính phủ số
phục vụ cơ quan nhà nước trên cơ sở kết hợp thế mạnh của Mạng Truyền số liệu
chuyên dùng, mạng Internet, trung tâm dữ liệu của cơ quan nhà nước để phục
vụ kết nối liên thông, xuyên suốt 4 cấp hành chính, sử dụng cơ chế mã hóa và
công nghệ bảo đảm an toàn, an ninh mạng do Việt Nam làm chủ một cách an toàn, bảo mật.
Tái cấu trúc hạ tầng công nghệ thông tin của các Bộ, ngành, địa phương, chuyển
đổi hạ tầng công nghệ thông tin thành hạ tầng số ứng dụng công nghệ điện toán
đám may phục vụ kết nối, quản lý các nguồn lực, dữ liệu của cơ quan nhà nước
một cách an toàn, linh hoạt, ổn định và hiệu quả.
Đẩy mạnh triển khai các nghị quyết, chương trình, kế hoạch, đề án, dự án phát
triển Chính phủ điện tử; xây dựng Cổng dữ liệu quốc gia (data.gov.vn), tích hợp
với thàh phần dữ liệu mở của hệ tri thức Việt số hóa, cung cấp dữ liệu mở, cung
cấp hiện trạng và lộ trình xây dựng dữ liệu trong các cơ quan nhà nước, mức độ 14
chia sẻ và sử dụng dữ liệu và các thông tin cần thiết để kết nối; phát triển, hoàn
thiện Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ kết nối với hệ thống thông tin báo
cáo của các Bộ, cơ quan, địa phương; áp dụng công nghệ mới nhất về truyền
thông xã hội (Social), cung cấp thông tin, dịch vụ hành chính công một các đơn
giản, thuận tiện trên di động (Mobile), phân tích dữ liệu (Big Data Analytics), trí
tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo/thực tế tăng cường (VR/AR) để thực hiện chuyển
đổi số toàn diện các mặt công tác chỉ đạo, điều hành của cơ quan nhà nước và
cung cấp trải nghiệm tốt nhất, thân thiện nhất cho người dùng; phát triển, hoàn
thiện hệ thống Cổng Dịch vụ công quốc gia kết nối với Cổng dịch vụ công, hệ
thống thông tin một cửa điện tử của các Bộ, ngành, địa phương để cung cấp các
dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; đưa toàn bộ các dịch vụ công trực tuyến lên mức độ 3, 4;
Đồng thời, chuẩn hóa, điện tử hóa quy trình nghiệp vụ xử lý hồ sơ trên môi
trường mạng, biểu mẫu, chế độ báo cáo; tăng cường gửi, nhận văn bản, báo cáo
điện tử tích hợp chữ ký số giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính
trị - xã hội và các doanh nghiệp; thực hiện số hóa hồ sơ, lưu trữ hồ sơ công việc
điện tử của các cơ quan nhà nước theo quy định; thử nghiệm triển khai hiệu quả
một số dịch vụ trên nền tảng đô thị thông minh, thửu nghiệm Trung tâm giám
sát, điều hành đô thị thông minh; lựa chọn đô thị điển hình của tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương để triển khai thử nghiệm, gắn liền phát triển dịch vụ đô
thị thông minh với hệ thống chính quyền điện tử, phát triển bền vững theo mô
hình kinh tế tuần hoàn. Xác định mô hình triển khai thành công để phổ biến,
nhân rộng; xây dựng chương trình nâng cao nhận thức, đào tạo kỹ năng về
chuyển đổi số, phát triển Chính phủ số cho cán bộ, công chức, viên chức và
người lao động trong cơ quan nhà nước…
2.2. Các giai đoạn chuyển đổi số ở Việt Nam
- Giai đoạn 1 (2019 – 2020): Số hóa các lĩnh vực kinh tế - xã hội
Triển khai việc số hóa các lĩnh vực, các ngành công nghiệp; chuyển đổi số nền
kinh tế, chuyển đổi số xã hội, chuyển đổi số cơ quan nhà nước nhằm tăng hiệu
quả hoạt động, năng suất lao động, tạo ra các nguồn tăng trưởng mới (Tập trung
xây dựng hạ tầng nền tảng; tạo điều kiện môi trường pháp lý; hướng dẫn, hỗ trợ
doanh nghiệp chuyển đổi số, đặc biệt là SMEs; phát triển start-up số; phát triển nguồn nhân lực số).
- Giai đoạn 2 (2021 – 2025): Số hóa thành lợi thế cạnh tranh trong nước và toàn cầu
Nâng cao năng lực cạnh tranh nền kinh tế bằng cách triển khai các hệ sinh thái
số tích hợp mới, hội tụ quanh các nhu cầu khách hàng (Tập trung thúc đẩy
chuyển đổi mô hình doanh nghiệp, dịch chuyển các doanh nghiệp lên các nền
tảng số/các hệ sinh thái, hình thành các chuỗi giá trị hội tụ,...; chuyển đối số
rộng rãi trong các ngành/lĩnh vực KTXH). 15
- Giai đoạn 3 (2026 – 2030): Kinh tế - xã hội số toàn diện
Tiến tới nền kinh tế, xã hội số toàn diện, mọi lĩnh vực được số hóa, hình thành
các ngành công nghiệp số thế hệ mới, các ngành công nghiệp mới này sẽ là
động lực tăng trưởng cho nền kinh tế (Tập trung hỗ trợ phát triển các ngành
công nghệ số mới như AI, Immersive Media, IoT, Cybersecurity; chuyển số
toàn diện, sâu sắc trong các lĩnh vực KTXH).
2.3. Nhiệm vụ và giải pháp
2.3.1. Nhiệm vụ và giải pháp tạo nền móng chuyển đổi số
1. Chuyển đổi nhận thức
Người đứng đầu chịu trách nhiệm trực tiếp về chuyển đổi số trong cơ
quan, tổ chức: phổ biến, quán triệt, nâng cao nhận thức của người dân và
doanh nghiệp về sự cần thiết và tính cấp thiết của chuyển đổi số cũng như
cam kết đổi mới, cho phép thực hiện, ứng dụng công nghệ mới.
Duy trì hoạt động hiệu quả Liên minh Chuyển đổi số, phát huy vai trò
liên kết chuyển đổi số giữa các đơn vị, tổ chức khác để tạo hiệu ứng lan tỏa xã hội.
Xây dựng bộ nhận diện sử dụng chung , xây dựng chuyên mục tuyên
truyền, phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng. Chia sẻ, phổ
biến câu chuyện thành công, tôn vinh gương thành công về chuyển đổi số.
Mỗi địa phương chủ động lựa chọn một xã/phường để tiến hành triển khai
thử nghiệm công tác truyền thông phổ biến các kỹ năng số cơ bản cho người dân. 2. Kiến tạo thể chế
Chấp nhận thử nghiệm sản phẩm, giải pháp, dịch vụ, mô hình kinh doanh
số, song song với việc hoàn thiện hành lang pháp lý. Xây dựng khung
pháp lý thử nghiệm có kiểm soát, quy định rõ phạm vi không gian và thời gian thử nghiệm;
Rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
trong các lĩnh vực chuyên ngành, khuyến khích đổi mới, sáng tạo;
Rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về
doanh nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo, sở hữu trí tuệ, thương mại, đầu tư, kinh doanh;
Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật về
công nghệ thông tin và truyền thông (Luật Giao dịch điện tử, Luật Viễn
thông,...). Khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân đầu tư, tài trợ cho chuyển đổi số;
đ) Nghiên cứu chính sách, quy định cụ thể về thuế, phí để khuyến khích
người dân, doanh nghiệp sử dụng, cung cấp các dịch vụ số; 16
Rà soát, đề xuất sửa đổi các văn bản pháp luật dân sự, hình sự và các luật chuyên ngành;
3. Phát triển hạ tầng số
Xây dựng, phát triển hạ tầng băng rộng chất lượng cao trên toàn quốc;
Quy hoạch lại băng tần, phát triển hạ tầng và thương mại hóa mạng di
động 5G; nâng cấp mạng di động 4G; phổ cập điện thoại di động thông
minh tại Việt Nam; xây dựng quy định và lộ trình yêu cầu tích hợp công
nghệ 4G, 5G đối với các sản phẩm điện thoại di động và các thiết bị Internet vạn vật (IoT);
Mở rộng kết nối Internet trong nước, chuyển đổi toàn bộ mạng Internet
Việt Nam sang ứng dụng địa chỉ giao thức Internet thế hệ mới (Ipv6).
Dịch vụ trực tuyến của các cơ quan nhà nước, báo điện tử, trang thông tin
điện tử tổng hợp, giáo dục, y tế, thương mại điện tử của Việt Nam sử
dụng tên miền quốc gia (.vn);
Phát triển hạ tầng kết nối mạng Internet vạn vật (IoT); xây dựng lộ trình
và triển khai tích hợp cảm biến và ứng dụng công nghệ số vào các hạ tầng thiết yếu.
4. Phát triển nền tảng số
Xây dựng hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia. Hỗ trợ, thúc
đẩy hợp tác giữa một số tổ chức, doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực viễn
thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm xã hội để cung cấp dịch vụ định
danh và xác thực điện tử;
Xây dựng hệ thống thanh toán điện tử cho phép doanh nghiệp viễn thông
cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử không thông qua tài khoản ngân hàng
(Mobile Money) cho người dân;
Xây dựng và làm chủ công nghệ điện toán đám mây (Cloud);
Xác định danh sách các nền tảng số có khả năng triển khai dùng chung
rộng khắp trong một số lĩnh vực như thương mại điện tử, nông nghiệp, du
lịch, y tế... có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ số
Việt Nam đầu tư phát triển các hệ thống này.
5. Tạo lập niềm tin, bảo đảm an toàn, an ninh mạng
Nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng các bộ
quy tắc ứng xử, tạo lập niềm, hình thành văn hóa số gắn liền với bảo vệ
các giá trị đạo đức căn bản của nhân loại và văn hóa truyền thống của Việt Nam;
Xây dựng cơ chế hợp tác, đối thoại để giải quyết các vấn đề phát sinh;
Xây dựng và triển khai hệ thống xác định, phát hiện thông tin vi phạm
pháp luật trên không gian mạng. 17
Xây dựng và triển khai hệ thống đánh giá tín nhiệm số đối với hệ thống
thông tin của các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trực tuyến;
đ) Thúc đẩy hoạt động bảo hiểm rủi ro cho chuyển đổi số, an toàn, an
ninh mạng và giao dịch trên không gian mạng;
Xây dựng và triển khai hệ thống giám sát, cảnh báo, điều phối ứng cứu sự
cố mất an toàn, an ninh mạng cho các cơ quan, tổ chức tại Việt Nam;
6. Hợp tác quốc tế, nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo trong môi trường số
Xây dựng chương trình hành động cụ thể để nghiên cứu, chuyển giao,
triển khai các công nghệ mới ở Việt Nam, kết nối chuỗi tri thức từ nghiên
cứu, phát triển đến thương mại;
Nghiên cứu, xây dựng các khu thử nghiệm dành cho doanh nghiệp công
nghệ theo mô hình tiên tiến của thế giới;
Lựa chọn ưu tiên nghiên cứu một số công nghệ cốt lõi mà Việt Nam có
thể đi tắt, có khả năng tạo bứt phá mạnh mẽ như trí tuệ nhân tạo (AI),
thực tế ảo/thực tế tăng cường (VR/AR).
Chủ động hợp tác quốc tế trong việc tham gia quản lý các tài nguyên
chung trong môi trường số và trên không gian mạng;
2.3.2 Nhiệm vụ, giải pháp phát triển chính phủ số
1. Phát triển Hạ tầng chính phủ số phục vụ cơ quan nhà nước, sử dụng cơ
chế mã hóa và công nghệ bảo đảm an toàn, an ninh mạng do Việt Nam
làm chủ một cách an toàn, bảo mật.
2. Đẩy mạnh triển khai các nghị quyết, kế hoạch, đề án, dự án phát triển
Chính phủ điện tử. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc
gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Ưu tiên triển khai trước các cơ sở dữ
liệu về dân cư, đất đai, y tế.
3. Xây dựng Cổng dữ liệu quốc gia (data.gov.vn), tích hợp với thành phần
dữ liệu mở của Hệ tri thức Việt số hóa.
4. Phát triển, hoàn thiện Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ kết nối với
hệ thống thông tin báo cáo của các bộ, cơ quan, địa phương.
5. Áp dụng công nghệ mới nhất về truyền thông xã hội (Social), cung cấp
thông tin và dịch vụ hành chính công trên di động (Mobile), phân tích dữ
liệu lớn (Big Data Analytics), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo/thực tế tăng cường (VR/AR)
6. Phát triển, hoàn thiện hệ thống Cổng Dịch vụ công quốc gia kết nối với
Cổng dịch vụ công, hệ thống thông tin một cửa điện tử của các bộ, ngành, địa phương
7. Chuẩn hóa, điện tử hóa quy trình nghiệp vụ xử lý hồ sơ trên môi trường mạng. 18
8. Thử nghiệm triển khai hiệu quả một số dịch vụ trên nền tảng đô thị thông minh.
9. Xây dựng chương trình nâng cao nhận thức, đào tạo kỹ năng về chuyển
đổi số, phát triển Chính phủ số cho cán bộ, công chức, viên chức và
người lao động trong cơ quan nhà nước.
2.3.3. Nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế số
1. Phát triển 04 loại hình doanh nghiệp công nghệ số, bao gồm:
Các tập đoàn, doanh nghiệp thương mại, dịch vụ lớn trong các lĩnh vực
kinh tế - xã hội chuyển hướng hoạt động sang lĩnh vực công nghệ số, đầu
tư nghiên cứu công nghệ lõi;
Các doanh nghiệp công nghệ thông tin đã khẳng định được thương hiệu
đảm nhận các sứ mệnh tiên phong nghiên cứu, phát triển, làm chủ công
nghệ số và chủ động sản xuất;
Các doanh nghiệp khởi nghiệp ứng dụng công nghệ số để tạo ra các sản
phẩm, dịch vụ mới trong các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội;
Các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới, sáng tạo về công nghệ số.
2. Chuyển dịch từ lắp ráp, gia công sang làm sản phẩm theo hướng “Make in
Viet Nam” - sáng tạo tại Việt Nam, thiết kế tại Việt Nam và sản xuất tại Việt Nam.
3. Phát triển sản phẩm nội dung số, truyền thông số, quảng cáo số.
4. Xây dựng và triển khai Đề án Hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh
nghiệp ngành nghề truyền thống, doanh nghiệp sản xuất chuyển đổi sang cung
cấp sản phẩm, dịch vụ trên các nền tảng số.
5. Phát triển thương mại điện tử
Xây dựng thị trường thương mại điện tử lành mạnh có tính cạnh tranh và phát triển bền vững.
Phát triển nền tảng thương mại điện tử thông qua chuỗi giá trị, không chỉ
dừng lại ở người tiêu dùng.
Tăng cường xây dựng các hệ thống hạ tầng và dịch vụ nhằm hỗ trợ phát
triển thương mại điện tử.
2.3.4. Nhiệm vụ, giải pháp phát triển xã hội số
1. Lựa chọn, đào tạo, tập huấn đội ngũ tối thiểu 1000 chuyên gia về chuyển
đổi số cho ngành, lĩnh vực, địa phương
2. Triển khai các chương trình đào tạo, đào tạo lại kỹ năng lãnh đạo, quản lý
chuyển đổi số cho người đứng đầu các cơ quan, tổ chức. 19
3. Hàng năm tuyển sinh đào tạo, bổ sung cử nhân, kỹ sư chuyên ngành công
nghệ thông tin. Điều chỉnh, bổ sung chương trình đào tạo ở bậc sau đại
học, đại học và dạy nghề gắn với công nghệ số.
4. Triển khai áp dụng mô hình giáo dục tích hợp khoa học - công nghệ - kỹ
thuật - toán học và nghệ thuật, kinh doanh, doanh nghiệp
5. Tổ chức đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng số cho người lao
động tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất.
6. Cung cấp các khóa học đại trà trực tuyến mở (MOOCS) cho tất cả người
dân nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục.
7. Đánh giá các tác động của công nghệ số đến xã hội; ban hành các quy tắc
ứng xử trên môi trường số cho doanh nghiệp và người dân; phát triển các
Trung tâm giải đáp thắc mắc và hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng, tác động
tiêu cực bởi công nghệ số.
CHƯƠNG 3: Tác động của chuyển đổi số đến cơ sở lưu trú và điểm đến du lịch 3.1. Thực trạng hiện nay 3.1.1. Tích cực a. SOJO HOTELS - SMART HOTEL
Đại dịch Covid-19 đã gây ra những tác động nghiêm
trọng đến ngành du lịch, đòi
hỏi thị trường cần có những giải pháp mới. Và SOJO
Hotels đã mở ra một hướng đi mới cho ngành công
nghiệp “không khói” của Việt Nam.
SOJO Hotels ( khách sạn tự vận hành) là mô hình khách sạn
không lễ tân, tự động qua smartphone đầu tiên tại VN. Người
dùng khi đến SOJO Hotels sẽ được trải nghiệm từ đặt, nhận và
trả phòng khách sạn, mở cửa, gửi đồ,… hoàn toàn tự động.
Áp dụng thành công cách mạng chuyển đổi số, mô hình khách
sạn này vận hành bởi phần mềm T.SHS của do TNTech phát
triển dành cho chuỗi khách sạn thuận ích đầu tiên tại Việt Nam
T.SHS sử dụng các công nghệ nổi bật như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT)… 20
Là sản phẩm “tinh chọn”của TNH Hotels & Resorts (thành viên
Tập đoàn TNG Holdings Vietnam), tại SOJO các hoạt động tiếp
xúc vật lý được hạn chế tối đa.
Nhờ ứng dụng công nghệ 4.0 cung cấp những ứng dụng thông minh, khách lưu
trú có thể trải nghiệm đặt phòng, mở cửa bằng chìa khóa số, kéo rèm, gửi đồ…
chỉ bằng vài nút chạm trên màn hình smartphone mà không cần gặp lễ tân.
Trong phòng nghỉ, khách lưu trú có thể tự do điều chỉnh hệ thống âm thanh, ánh
sáng, nhiệt độ phòng hay trải nghiệm cabin tắm đổi màu độc đáo.
Trong vòng một năm ra mắt, SOJO Hotels đã nhận được sự ghi nhận của cộng
đồng, giới chuyên môn trong và ngoài nước với các giải thưởng “Thương hiệu
khách sạn phong cách nhất châu Á 2021” từ World Travel Awards, giải “Khách
sạn được đánh giá tốt nhất 2021” - Customers Review Awards từ Agoda, giải
Sao Khuê 2021 dành cho bộ giải pháp lõi của SOJO - TNTech Smart Hotel
Solutions. Gần đây nhất là giải vàng từ Hội đồng giải thưởng Kiến trúc quốc gia
dành cho thiết kế của SOJO Hotels - “Sự tiên phong mang tâm hồn Việt”.
Chính vì thế sự xuất hiện của mô hình khách sạn thuận ích SOJO Hotels gây
chú ý lớn. Chuỗi khách sạn này khác biệt với hành trình trải nghiệm số xuyên
suốt, phủ từ cú chạm đầu tiên tới bước check-out cuối cùng. SOJO Hotels cho
phép việc đặt phòng từ xa, sử dụng dịch vụ tại khách sạn thông qua ứng dụng
công nghệ, các hoạt động tiếp xúc vật lý thường gặp tinh giản tối đa (đặc biệt có
lợi trong thời kỳ dịch bệnh phức tạp) và tích hợp các tính năng hiện đại vào
phòng ở. Được biết đây là mô hình khách sạn thuận ích, "không điểm chạm"
đầu tiên tại Việt Nam. Ở đây, chúng tôi đi nghiên cứu sâu về mô hình khách sạn này tại cơ sở Hà Nội.
Bắt đầu từ việc đặt phòng, chúng ta thực hiện bằng ứng dụng SOJO Hotels có
mặt trên kho ứng dụng của Android và iOS. Để bắt đầu ta sẽ tạo một tài khoản
mới bằng email, số điện thoại hoặc đơn giản hơn là với Facebook hoặc Google.
Ứng dụng cũng khá đơn giản và dễ sử dụng.
Việc đặt phòng từ xa chỉ là bước đầu tiên trong hành trình trải nghiệm của hệ
thống SOJO Hotels, vì những sự "thông minh" còn nằm ở chính chuỗi khách
sạn. Ngay từ bước chân đầu tiên vào khách sạn, ta đã thấy một cảm giác khác
biệt hoàn toàn so với khách sạn truyền thống, khi SOJO Hotel Ga Ha Noi được
lấy cảm hứng thiết kế từ những toa tàu với nhiều chi tiết trang trí gợi nhắc về một Hà Nội xưa cũ.
Trong không gian phảng phất nét truyền thống là những trải nghiệm rất mới lạ,
hiện đại. Ở tầng 1 là không gian thoáng rộng với quầy bar JO247 ở trung tâm,
nhiều bàn ghế làm việc và ăn uống cùng những trò chơi như Tic Tac Toe (X-O), 21