














Preview text:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -------- TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
HỌC PHẦN: LÝ LUẬN BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG
Giảng viên: ThS. Vũ Trà My
Sinh viên: Diệp Ánh Tuyết Mã sinh viên: 22030779
Mã lớp học phần: JOU 1150 2
Hà Nội, ngày 03 tháng 01 năm 2024. LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Viện Đào tạo Báo chí Truyền thông-
Trường ĐH KHXH & NV- ĐH Quốc Gia Hà Nội đã tổ chức, sắp xếp học phần “Lý
luận báo chí truyền thông” vào trong chương trình giảng dạy và em xin gửi lời cảm ơn
sâu sắc nhất đến Ths Vũ Trà My- Giảng viên trực tiếp giảng dạy học phần này. Em
thật sự rất biết ơn vì được cô ân cần, nhiệt tình truyền tải kiến thức học phần trong suốt
15 tuần học vừa qua. Cá nhân em cảm thấy, đây là một môn học thú vị, cung cấp cho
chúng em những kiến thức bổ ích về các vấn đề cơ sở lý luận báo chí truyền thông như
vị trí, vai trò, chức năng, đạo đức nghề nghiệp… của báo chí. Đây chắc chắn là một
phần hành trang thiết yếu để mai này chúng em vào đời. Trong quá trình làm bài tiểu
luận này em đã cố gắng, nỗ lực vận dụng những hiểu biết, những kiến thức mà mình
được tiếp thu trên giảng đường cũng như các tài liệu tham khảo khác. Tuy nhiên, do
năng lực cá nhân còn non nớt và hạn chế nên chắc chắn không thể tránh được những
thiếu sót, em mong cô sẽ xem xét và đưa ra những góp ý giúp em hoàn thiện bài tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn cô! Mục lục
1. Tổng quan về báo in........................................................................................................................... 4
1.1. Khái niệm báo in.........................................................................................................................4
1.2. Đặc trưng của báo in....................................................................................................................4
1.3. Ưu và nhược điểm của báo in......................................................................................................5
1.4. Lao động sáng tạo báo in.............................................................................................................7
2. Đặc trưng lao động sáng tạo nghề nghiệp của người làm báo in.........................................................8
2.1. Khả năng phát hiện vấn đề...........................................................................................................8
2.2. Năng lực phân tích, bình luận sâu rộng.......................................................................................9
2.3. Tính định kỳ chi phối hoạt động của nhà báo............................................................................10
2.4. Yêu cầu về độ chính xác và chất lượng.....................................................................................11
3. Những cơ hội và thách thức cho những người làm báo in................................................................12
3.1. Cơ hội........................................................................................................................................12
3.2. Thách thức................................................................................................................................. 13
Chủ đề: Phân tích đặc trưng lao động sáng tạo nghề nghiệp của người làm báo
trong lĩnh vực báo in. 1. Tổng quan về báo in 1.1. Khái niệm báo in
Báo in hay còn được gọi là báo viết hoặc báo giấy. Báo in bao gồm báo và tạp chí. Tuy
nhiên thuật ngữ “Báo in” vẫn được sử dụng phổ biến trong các văn bản quy phạm luật
báo chí cũng như các công trình nghiên cứu khoa học về báo chí.
Báo in là ấn phẩm định kỳ chuyền tải nội dung thông tin mang tính thời sự và được
phát hành rộng rãi trong xã hội thông qua các công cụ như mực in, máy in và giấy in.
1.2. Đặc trưng của báo in
Tính định kỳ: báo in xuất bản cách buổi (báo buổi sáng), cách ngày (nhật báo, báo
hằng ngày), cách vài ngày (báo thưa kỳ), cách tuần (báo tuần hay tuần báo), cách nửa
tháng (bán nguyệt san), cách tháng (báo tháng, nguyệt san). Trên thực tế, ấn phẩm báo
in xuất bản cách tuần ngày nay thường được tố chức dưới dạng tạp chí, hoặc là tạp chí
tổng hợp (magazine), tạp chí hàn lâm - khoa học, hoặc là tạp chí thông tin - giải trí.
Thông điệp: Thông điệp của báo in được thể hiện bằng văn bản in bao gồm chữ viết và
hình ảnh, sơ đồ tác động vào thị giác con người. Thông tin trên báo in có tính đa chiều
và sâu rộng và có tính chính xác cao. Báo in phản ánh nhiều chủ đề khác nhau như
chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục,… dưới nhiều góc độ. Báo in thường phân
tích thông tin chi tiết về sự kiện, đào sâu gốc rễ và lý giải bản chất của vấn đề.
Công chúng tiếp cận báo in thông qua thị giác. Khi tiếp cận báo in, độc giả sẽ có sự tập
trung nhất định và được thoải mái chủ động lựa chọn thời gian đọc, không gian đọc,
nội dung đọc nhờ vào sự thuận tiện của báo in như nhẹ nhàng dễ di chuyển, dễ lưu giữ.
Nhắc đến báo in không thể không kể đến công nghệ in ấn- điều kiện để báo in ra đời
và tồn tại. Các tờ báo được ra đời qua quá trình nhân bản in án, sau đó các ấn phẩm in
ấn sẽ được chuyển phát khắp nơi: trường học, thư viện, sạp báo, cửa hàng sách,…
1.3. Ưu và nhược điểm của báo in Về Ưu điểm:
Thứ nhất, về khả năng lưu trữ văn bản in: Đây là điểm nổi bật, cơ bản của báo in. Điều
này được so sánh với việc lưu giữu các sản phẩm truyền thông khác, trong đó có phát
thanh, truyền hình và báo mạng điện tử. Việc lưu trữ mang tính bền vững của báo in
được thể hiện qua hai góc độ, đó là lưu giữ các sản phẩm báo in dưới dạng vật chất và
lưu giữ thông tin được đăng tải trên tờ báo thông qua trí não con người. Về khả năng
lưu giữ thông tin báo in dưới dạng vật chất là một ưu thế lớn của báo in bởi lẽ dù cho
công nghệ hiện đại nào cũng khó có thể lưu giữ thông tin với chất liệu truyền thống là
mực và giấy qua hình thức nhân bản in. Điều này được chứng minh là những từ báo
trên thế giới từ đầu thế kỷ XV cho đến nay vẫn còn được cất trữ nguyên bản tại một số
thư viện, bảo tàng lớn trên nhiều nước.
Bên cạnh đó, đặc tính của báo in là được độc giả tiếp cận bằng thị giác một cách chủ
động, do đó đòi hỏi độc giả cần tập trung cao độ, huy động sự làm việc tích cực của trí
não để xử lý thông tin. Độc giả có thể chủ động đọc báo in từ việc tự do lựa chọn thời
điểm đọc, không gian, địa điểm đọc cho đến chủng loại đọc, các dạng thức và kiểu
thông tin đồng thời họ cũng được làm chủ về tốc độ đọc, lựa chọn đọc phần nào trước.
Nếu nguồn thông tin đăng tải trên báo in ấn tượng, có độ chính xác cao sẽ càng làm
cho độc giả tăng khả năng ghi nhớ và cảm nhận về các sự kiện, vấn đề xảy ra trong hiện thực.
Về mặt nội dung, báo in cung cấp thông tin sâu, rộng, được đảm bảo độ chính xác cao.
Nội dung được đăng tải trên báo in không chỉ đơn thuần là sự phản ánh, khái quát vấn
đề mà thường là các bài viết bình luận có chiều sâu, phân tích chi tiết, tỉ mỉ, kỹ càng về
bản chất của một vấn đề nào đó trong xã hội. Nhờ đặc tính này giúp độc giả dễ dàng
tiếp cận và hiểu rõ được vấn đề. Chính đặc điểm này đã tạo nên thế mạnh của báo in so
với các loại hình truyền thông khác và giúp báo in vẫn có khả năng giữ được vị trí của
mình trong thời đại phát triển của công nghệ số và bùng nổ mạnh mẽ của các loại hình
truyền thông hiện đại như báo mạng điện tử, truyền hình, truyền thông mạng xã hội, truyền thông di động,…
Về chủng loại: So với phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử thì báo in là loại
hình báo chí có sự đa dạng về chủng loại. Độc giả có thể nhận thấy sự đa dạng chủng
loại báo in như: các loại nhật báo; các loại tuần báo; các loại báo thưa kỳ; các loại tạp
chí (các loại tạp chí thông tin lý luận khoa học, các loại tạp chí thông tin giải trí và chỉ
dẫn); các loại ấn phẩm báo chí (chứa đựng các tính chất của báo và tạp chí bao gồm:
đặc san, phụ san, chuyên san, tập san,…). Sự đa dạng chúng loại là thức ăn tinh thần
phong phú hấp dẫn độc giả. Về Nhược điểm:
Khả năng phát tán thông tin bị hạn chế: Một tờ báo in muốn chuyển tải thông tin về
một sự kiện nào đó tới công chúng phải trải qua rất nhiều khâu trong quá trình xuất
bản báo và tính chất sử dụng văn tự, giấy in, kỹ thuật ấn loát. Để làm ra được một sản
phẩm báo in đòi hỏi phải tuân thủ logic trình tự thực hiện quy trình xuất bản, bao gồm
các bước như: Lập kế hoạch xuất bản (xuất bản ý tưởng nội dung, hình thức thể hiện
của số báo, trang báo, tin, bài, ảnh...); Sáng tạo tác phẩm (thu thập, xử lý thông tin, thể
hiện tác phẩm); Tổ chức sản xuất sản phẩm (tố chức, lựa chọn, biên tập tác phấm, thiết
kế, trình bày); In sản phẩm (chế bản, bình bản, phơi bản, in, gia công thành phẩm);
Phát hành (chuyển gửi, trao tay). Do phải trải qua nhiều khâu trong quy trình xuất bản,
nhất là khâu phát hành qua hình thức trao tay, do đó sản phẩm báo in đến tay độc giả
thường bị chậm, dẫn tới tính chất mới mẻ của tin tức bị ảnh hưởng, cho dù đó là sản
phẩm nhật báo. Ví dụ, sự kiện 1 trận chung kết cúp bóng đá thế giới (World Cup) đang
diễn ra, các đài truyền hình, phát thanh hoặc mạng Internet có thể phát trực tiếp, thông
tin trực tuyến, điều này báo in không làm được.
Đơn điệu về mã và khả năng giải mã thông tin: Mã truyền tải thông tin chính là các
yếu tố hình thức chứa đựng, biểu đạt các giá trị nội dung thông tin. Mã truyền tải
thông tin trên báo chí nói chung bao gồm: văn bản (text); hình ảnh tĩnh (chụp); hình
ảnh động (video); âm thanh (audio); hình ảnh đồ họa (graphic). Báo in chủ yếu sử
dụng mã văn tự và hình ảnh chụp, hình ảnh đồ họa để truyền tải thông tin. Văn tự là
mã truyền tải thông tin chính của báo in. Hình ảnh chụp và đồ họa chỉ là yếu tố hỗ trợ,
minh họa cho văn bản. Việc sử dụng mã văn tự là đặc trưng nổi trội làm nên thế mạnh
đặc thù của loại hình báo in. Tuy nhiên, việc sử dụng văn tự để truyền tải thông tin trên
báo in có một rào cản rất lớn, đó là khả năng giải mã thông tin của độc giả. Chỉ có
những độc giả biết chữ (biết đọc và viết) hoặc có khả năng về ngoại ngữ mới có thể
tiếp nhận được thông tin từ các sản phẩm báo in một cách dễ dàng.
Giới hạn đối tượng: Báo in sử dụng giấy in là kênh truyền tải và chữ viết, hình ảnh để
truyền tải nên điều này cũng là điểm bất lợi so với độc giả là những người khiếm thị.
Khả năng tiếp cận báo in của họ bị hạn chế và họ sẽ phải nhờ người khác đọc giúp.
Bên cạnh đó, những người không biết chữ hoặc không biết ngoại ngữ cũng bị hạn chế
khả năng tiếp cận báo in.
1.4. Lao động sáng tạo báo in
Trước hết chúng ta cần hiểu lao động sáng tạo báo chí là gì? Chúng ta có thể gọi
những người lao động sáng tạo báo chí đang làm nghề báo - đây chính là một hoạt
động chính thức được xã hội thừa nhận với hệ thống kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm
đặc thù làm cơ sở cho hoạt động lao động ấy tồn tại và phát triển. Lao động sáng tạo
báo chí là hoạt động chuyên thu thập, xử lý, sản xuất và truyền tải thông tin cho công
chúng trên các loại hình phương tiện truyền thông đại chúng. Với tư cách là một hoạt
động sáng tạo chuyên nghiệp, nghề báo có những yêu cầu và đặc trưng riêng được quy
định bởi mục đích, chức năng, phương tiện, phương thức thông tin của nó: Sáng tạo
bằng quan sát trực tiếp; hoạt động có tính tập thể; hoạt động có tính chu kỳ (định kỳ);
hoạt động có tính liên tục. Ở góc độ thực tiễn, sáng tạo tác phẩm báo chí là quá trình
chuyển hóa những quan sát, ghi chép, nhận thức, tình cảm, lý tưởng, huyết mạch của
nhà báo thành những “văn bản” vừa mang nội dung thông tin thời sự vừa có tính thẩm
mỹ. Ở góc độ lý luận truyền thông, sáng tạo tác phẩm báo chí thực chất là quá trình
sắp xếp, tổ chức các sự kiện, tư liệu thu thập được thành một dạng vật chất cụ thể theo
một cấu trúc và hệ thống phương tiện, chất liệu nhất định, chứa đựng thông tin tiềm
năng và có giá trị giả định. Đó là quá trình chuyển hóa từ sự kiện bản thể thành sự kiện
nhận thức. Ở góc độ tâm lý học, sáng tạo tác phẩm báo chí là một trạng thái tinh thần
đặc biệt, phong phú và phức tạp. Ở đó đòi hỏi có sự thống nhất, hài hòa giữa hiện thực
khách quan và khát vọng chủ quan; giữa bổn phận nghề nghiệp và sở thích cá nhân;
giữa trách nhiệm công dân và nhu cầu biểu hiện bản ngã; giữa những áp lực bên ngoài
và những thôi thúc bên trong của nhà báo
Lao động sáng tạo báo in là một trong các loại hình lao động sáng tạo của báo chí
được phân loại dựa trên loại hình phương tiện thông tin đại chúng. Hoạt động lao động
sáng tạo báo in cũng mang những đặc tính giống như các loại hình truyền thông đại
chúng khác: Tính thường xuyên liên tục yêu cầu dòng chảy thông tin và hoạt động thu
thập, xử lý lượng thông tin lớn, đòi hỏi những thông tin liên tục đổi mới, đa dạng trong
nội dung sáng tạo. Tính khách quan sáng tạo đòi hỏi nhà báo sáng tạo nhưng không
được đặt các yếu tố thiên vị, chủ quan, phản ánh sự vật hiện tượng một cách phiến
diện, thiếu kiểm nghiệm tính đúng đắn. Biểu hiện của tính khách quan trong sáng tạo
tác phẩm báo chí thường thể hiện ở sự cân đối của các tin tức, dặc biệt là đối với các
sự kiện đang gây tranh cãi. Tính thực tiễn trong sáng tạo, nhà báo lấy chất liệu sáng
tạo là thực tiễn khách quan, phản ánh sự vật hiện tượng xảy ra trong cuộc sống xảy ra
thật và có tác động đến cuộc sống hàng ngày của con người. Nhờ có tính thực tiễn mà
khả năng tác động của báo chí đến cuộc sống rất mạnh, có thể tạo nên định hướng dư
luận xã hội, giáo dục nhân dân, nâng cao nhận thức của họ để họ có khả năng lựa chọn
đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội. Tính cá nhân và tính cá thể, về
tính cá thể sẽ thể hiện đậm chất phong cách sáng tác của nhà báo và những tâm tư, tình
cảm, tư tưởng của tác giả cũng được thể hiện qua tác phẩm báo chí, đó là dấu ấn cá
nhân của các tác giả, tuy nhiên để sản xuất ra những ấn phẩm chất lượng thì cần sự
góp sức của cả một tập thể như những biên tập viên, phóng viên, đội ngũ thiết kế,…
Từ lâu V.I. Lê nin cũng đã nhấn mạnh: “Tờ báo không những chỉ là người tuyên
truyền tập thể, người cổ đông tập thể, mà còn là người tổ chức tập thể”. Như vậy quan
hệ giữa cá nhân và tập thể trong lao động báo chí là quan hệ biện chứng. Và lao động
báo chí còn đặc tính là tính khẩn trương và hạn chế về thời gian trong lao động sáng
tạo. Những tính chất này thì được quy định bởi tính định kỳ của báo chí, tính định kỳ
càng ngắn thì tính khẩn trương càng cao. Mang đầy đủ các đặc tính của lao động báo
chí nói chung nhưng hoạt động lao động sáng tạo báo in cũng có những đặc trưng
riêng biệt giúp phân biệt với các hoạt động lao động sáng tạo báo chí trong các lĩnh vực khác.
2. Đặc trưng lao động sáng tạo nghề nghiệp của người làm báo in
2.1. Khả năng phát hiện vấn đề
Người làm báo in cần có khả năng nhạy bén với các sự kiện và vấn đề nóng hổi trong
xã hội bởi lẽ hàng ngày, hàng giờ có rất nhiều sự kiện khác nhau diễn ra và việc lựa
chọn một vấn đề nào đó để truyền tải tới độc giả không phải là dễ dàng. Báo in thường
đặt ra các vấn đề mà độc giả chưa biết đến bằng cách tạo ra sự nhận thức về các vấn đề
quan trọng, nhà báo giúp độc giả dễ dàng hình dung về những sự kiện đang diễn ra
xung quanh họ. Hơn nữa, các vấn đề trên báo in sẽ thúc đẩy công chúng thảo luận sôi
nổi làm xuất hiện nhiều quan điểm và phần nào giúp định hướng tư tưởng cho độc giả.
Đặc biệt, báo chí với vai trò giám sát và quản lý xã hội, việc phát hiện những vấn đề
giúp làm sáng tỏ và ngăn chặn các hành vi lệch chuẩn của xã hội, giúp công chúng
nhận diện các vấn đề đó. Người làm báo in cần theo dõi cảm nhận của công chúng,
nắm bắt được nhu cầu thông tin của công chúng và cập nhật thông tin liên tục để phát
hiện những vấn đề quan trọng nhằm truyền tải thông tin phù hợp, có ý nghĩa, đáp ứng
được nhu cầu của công chúng. Để phát hiện cũng như xác định rõ vấn đề cũng đòi hỏi
người làm báo in có sự am tường về đa lĩnh vực trong cuộc sống.
2.2. Năng lực phân tích, bình luận sâu rộng
Những người làm báo in được rèn rũa kỹ năng chuyên biệt không chỉ bởi được đào tạo
trong các trường lớp mà còn qua quá trình tác nghiệp liên tục học hỏi và đúc rút kinh
nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả lao động. Người làm báo thường đưa ra các quan
điểm khách quan, tiếp cận từ nhiều góc độ để suy xét đánh giá sự việc một cách công
tâm, minh bạch và mang đến những bài viết chất lượng cho độc giả. Để có được điều
đó, họ cần sử dụng ngôn từ phù hợp với lĩnh vực và có sự hiểu biết tường tận về chủ
đề mình đang viết. Nếu như một tác giả không am hiểu về kinh tế mà lại đi phân tích,
bình luận về vấn đề tăng trưởng kinh tế thì chắc chắn bài viết đó sẽ hời hợt hoặc nhiều
thông tin mang tính chủ quan, thiếu tính đúng đắn. Đồng thời, tác giả bài viết cần lựa
chọn góc độ tiếp cận vấn đề phù hợp với năng lực của mình, chẳng hạn cùng là một
vấn đề nhưng sẽ có nhiều bài viết và nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Việc lựa chọn
góc độ tiếp cận mới mẻ nhưng thông tin phải chính xác sẽ thu hút độc giả, đây là một
việc vô cùng quan trọng và cần thiết.
Những tác phẩm báo in có tính chuyên sâu, lý giải các vấn đề, sự kiện đang diễn ra thể
hiện cái tôi của người viết rõ ràng qua những bình luận, phân tích của tác giả cùng với
đó là những chính kiến của tác giả đưa ra thông qua những nhận định, đánh giá bản
chất của vấn đề, sự việc. Đó là yếu tố mang đậm dấu ấn cá nhân về phong cách sáng
tác của tác giả. Bàn về lập trường của tác giả, Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm: “Nói
đến báo chí trước hết là nói đến những người làm báo. Vai trò “chiến sĩ” của người
làm báo, đòi hỏi nhà báo kiên định lập trường, giữ vững quan điểm báo chí. Hơn ai
hết, nhà báo phải là người chí công vô tư, có hiểu biết rộng và nhất là cái tâm trong
sáng”. Nhờ lập trường quan điểm rõ ràng, người đọc có thể dễ dàng nhận biết phong
cách sáng tác của tác giả và nhà báo cũng tránh được những dao động khi viết bài cũng
như tránh những sai sót có thể xảy ra.
Bên cạnh cái “tôi” của nhà báo, họ cũng luôn phải chủ động bám sát vào thực tiễn. Vì
thực tiễn là phương tiện đánh giá tính đúng đắn, khách quan của vấn đề. Mặt khác, báo
chí là phản ánh hiện thực, những câu chuyện đều từ trong hiện thực mà ra. Đó là cuộc
sống hằng ngày, mà báo chí chỉ là người ghi chép lại để phản ánh một góc độ nào đó
được chuyên sâu hơn mà thôi. Giáo sư Hà Minh Đức nhấn mạnh: “Về phía người cầm
bút cũng cần phải xác định là muốn có được những tác phẩm báo chí có giá trị phải có
một cách sống chủ động, nhập vào thời cuộc và có mặt ở những nơi có thử thách của
đời sống. Dòng đời trôi chảy vốn bình dị nhưng cũng nhiều lúc cồn lên những đợt sóng
lớn hoặc cuộn những lớp sóng ngầm. Nhà báo không thể đứng ngoài cuộc hoặc đúng
bên lề của sự kiện. Phải chứng kiến, hòa nhập với tất cả ý thức và tâm huyết của mình.
Phải theo đuổi những mục đích lớn, thực hiện những trách nhiệm xã hội quan trọng
trong suốt cuộc đời hoạt động của mình”.
Đôi khi tác giả còn đóng vai trò là người nhập cuộc trong sự kiện để phản ánh rõ ràng
hơn về những khía cạnh mà tác giả đề cập đến. Việc nhà báo thâm nhập sâu vào đời
sống, len lỏi vào mọi ngóc ngách của xã hội sẽ giúp họ lột tả đầy đủ những bản chất và
phơi bày hiện trang của sự việc. Còn nhập cuộc với ý nghĩ nông cạn thì đó mới chỉ là
đưa ra vấn đề chứ chưa giải quyết được vấn đề và chắc chắn không thể thu hút sự quan tâm của công chúng.
2.3. Tính định kỳ chi phối hoạt động của nhà báo
Tác động chi phối của tính chất định kỳ của báo đối với hoạt động nghề nghiệp của
nhà báo và quy trình sản xuất các ấn phẩm báo chí được thể hiện như sau:
Trước hết, nó chi phối tư duy và phong cách làm báo của nhà báo. Trước hết là sự
khẩn trương trong lao động. Một nhà văn có thể làm việc trên tác phẩm của mình
hằng năm nhưng nhà báo chỉ có thể tính thời gian hoàn thành tác phẩm theo giờ, thậm
chí là ngắn hơn. Song, cách tư duy, tiếp cận của người làm nhật báo khác với người
làm báo tuần hay báo thưa kỳ. Các tờ nhật báo phải đảm bảo việc thông tin nhanh
nhạy, kịp thời những sự kiện, vấn đề xảy ra hàng ngày trong đời sống xã hội để đáp
ứng nhu câu của độc giả. Điều này đòi hỏi đội ngũ những người làm nhật báo luôn
phải nhạy bén chính trị, thao tác sáng tạo tác phẩm và tổ chức sản xuất sản phẩm
nhanh, chính xác, chân thực, khách quan. Hoạt động xuất bản tuần báo không đòi hỏi
gấp gáp như xuất bản nhật báo. Các tờ tuần báo thường chú trọng tổ chức thông tin
phân tích, tổng họp, bình luận và đưa ra xu hướng, dự báo về các sự kiện, vấn đề thời
sự. Cơ cấu hoạt động tòa soạn của các tờ tuần báo thường gọn nhẹ hơn tòa soạn nhật
báo. Việc xây dựng bộ máy hoạt động tòa soạn gọn nhẹ, đủ đáp ứng việc xuất bản mỗi
tuần một kỳ. Việc tổ chức thông tin trên các tờ báo thưa kỳ vừa mang tính chất của
nhật báo lại vừa mang tính chất của tuần báo. Các tòa soạn xuất bản báo càng mau kỳ
thì tính chất xử lý thông tin và quy trình xuất bản ấn phẩm không khác gì việc xuất bản nhật báo.
Ngôn ngữ và cách trình bày thông điệp cũng khác nhau giữa nhật báo, tuần báo và báo
thưa kỳ. Nhật báo thường sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu để truyền tải thông tin nhanh
chóng tức thì, báo tuần thì sử dụng ngôn ngữ phức tạp hơn, thông tin cũng chi tiết hơn
so với nhật báo. Báo thưa kỳ cung cấp thông tin chi tiết, chất lượng cao hơn cả và rất
coi trọng việc sử dụng ngôn ngữ miêu tả.
Tính định kỳ giúp công chúng và công dân cách ứng xử với thông tin báo chí mỗi khi
có nhu cầu tham gia, hoặc có xung đột cần giải quyết. Ý nghĩa của tính định kỳ đối với
hoạt động sáng tạo của nhà báo và giao tiếp ứng xử với báo chí: Tạo ra phản xạ có
điều kiện tiếp nhận thông tin cho công chúng; Phản ánh sinh động và kịp thời nhịp
điệu cuộc sống hiện đại; Hình thành phong cách lao động tác nghiệp của đội ngũ nhà
báo; Xây dựng kỷ luật lao động và nhịp điệu làm việc, giao tiếp với công chúng xã hội.
2.4. Yêu cầu về độ chính xác và chất lượng
Mỗi sản phẩm báo in đòi hỏi tính chính xác cao. Bởi lẽ, trước hết, việc truyền tải thông
tin chính xác cũng là thể hiện sự tôn trọng của nhà báo đối với công chúng, đáp ứng
nhu cầu thông tin sự thật của công chúng. Điều này giúp tạo dựng mối quan hệ tích
cực, xây dựng độ uy tín của tờ báo đối với độc giả. Bên cạnh đó, truyền tải thông tin
chính xác là một nguyên tắc hoạt động của bất kỳ nhà báo nào, thực hiện nguyên tắc
đó để đảm bảo trách nhiệm của nhà báo đối với cộng đồng mà đặc biệt là báo in có khả
năng phủ sóng rộng khắp mọi nơi. Nếu truyền tải thông tin sai lệch, thiếu tính đắn có
thể tạo ra những hiểu lầm, ảnh hưởng tiêu cực đến độc giả và cả uy tín của tờ báo.
Mặt khác, báo in được nhân bản số lượng lớn. Trước khi phát hành tờ báo, việc kiểm
tra lại tính đúng đắn của thông tin là vô cùng quan trọng. So với các loại hình như báo
điện tử, phát thanh truyền tải thông tin nhanh chóng có thể sẽ không đòi hỏi về độ
chính xác cao. Tuy nhiên báo in thì lại đòi hỏi về tính chính xác cao của nội dung vì
một khi đã hành không thể sửa chữa thông tin. Việc truyền tải thông tin chính xác sẽ
tạo ấn tượng tốt với công chúng, gia tăng sự tin tưởng của độc giả tiếp tục đồng hành cùng tờ báo đó.
Bên cạnh đó, chất lượng in về chữ, màu sắc và hình ảnh cũng rất quan trọng, cần có sự
đồng nhất trong các bản in để có thể truyền thông một cách hiệu quả. Cần đảm bảo
rằng màu sắc, chữ, hình ảnh được in rõ nét, dễ nhìn và phản ánh đúng đắn nội dung
truyền tải cũng như ý đồ của thiết kế. Đồng thời, đối với các tờ báo có quảng cáo, chất
lượng in ấn càng cao sẽ làm gia tăng giá trị quảng cáo.
3. Những cơ hội và thách thức cho những người làm báo in 3.1. Cơ hội
Hàng ngày, công chúng có thể xem truyền hình hoặc lướt web và biết khá nhiều sự
kiện, vấn đề xảy ra trên thế giới, trong nước một cách nhanh chóng, sinh động, nhưng
không thể không đọc các bài viết phân tích, lý giải chi tiết những sự kiện được đăng tải
trên các tờ báo in bởi chỉ có báo in mới có thể đáp ứng nhưu cầu thông tin chi tiết, sâu
rộng và chính xác. Với những bài viết phân tích, bình luận sâu rộng trên báo in giúp đỗ
giả hiểu rõ được sự vận động, biến đổi của cuộc sống đang diễn ra theo chiều hướng
nào. Chẳng hạn, một vấn đề có tầm ảnh hưởng lớn đối với xã hội hoặc là những kỳ
họp quan trọng của Quốc hội được phát thanh, truyền hình, báo điện tử đăng tải một
cách liên tục từng giờ tùng phút thì báo in phải ít nhất là nửa ngày hoặc một ngày mới
đưa tin được lên trang giấy nhưng thông tin lại chính xác và đầy đủ hơn theo chiều sâu
của vấn đề- đáp ứng nhu cầu, sự quan tâm của độc giả. Điều đó khẳng định thế mạnh
của báo in trong sự cạnh tranh khốc liệt với các loại hình báo chí mới. Đây cũng là cơ
hội cho những người làm báo in tiếp tục cho ra những bài báo in chi tiết, chất lượng
cạnh tranh so với các loại hình khác.
Bên cạnh đó, nhờ vào sự phát triển của công nghệ, các tòa soạn báo in ngày nay đã
tăng cường sử dụng hình ảnh chụp và hình ảnh đồ họa để hỗ trợ thông tin cho văn tự.
Những bức ảnh báo chí và hình ảnh đồ họa tin tức sống sẽ là những chất liệu "lôi kéo”
công chúng đang ngồi trước màn hình ti vi, vi tính quay về đọc hết các bài viết đăng
tải trên báo in. Việc thể hiện các bài báo ngắn gọn, dễ hiểu với các chọn lựa những sự
kiện độc đáo, chi tiết "đắt" và cách thiết kế, trình bày mặt báo ấn tượng, dễ xem, đẹp
cũng sẽ có tác dụng thu hút độc giả đọc báo in nhiều hơn. 3.2. Thách thức
Người làm báo in thường đối mặt với áp lực lớn từ việc đưa tin tức nhanh chóng và
hiệu quả. Tin tức đôi khi xuất hiện và thay đổi nhanh chóng, và đòi hỏi người làm báo
in phải làm việc dưới áp lực thời gian để cập nhật thông tin một cách nhanh nhất và
chính xác nhất. Điều này có thể tạo ra thách thức lớn về linh hoạt, kỹ năng quản lý thời
gian, và đảm bảo chất lượng thông tin.
Người làm báo in đối mặt với thách thức lớn từ cạnh tranh cao trong ngành truyền
thông cũng như với sự bùng nổ của tin tức giả mạo. Sự xuất hiện của các nguồn tin
trực tuyến và môi trường truyền thông xã hội đã tạo ra một bối cảnh mà tin tức giả
mạo có thể dễ dàng lan truyền và gây nhầm lẫn trong công chúng. Tin tức giả mạo đôi
khi có thể bị nhầm lẫn với thông tin chính thức, làm cho công việc truyền thông chính
thức trở nên khó khăn hơn.
Trong dòng chảy thông tin, cùng với sự hòa nhập của “Toàn cầu hóa”. Chất lượng
cuộc sống của con người ngày càng cao, đòi hỏi những thông tin không chỉ nhanh về
mặt thời gian mà còn là những thông tin chuyên sâu, nêu kặn kẽ, lý giải các vấn đề
một cách thông suốt theo chiều sâu. Nhà báo cần không ngừng chiến đấu, nâng cao
năng lực, kỹ năng nghề nghiệp để tiếp tục duy trì hoạt động hiểu qua, phục vụ công chúng tốt hơn.
Danh mục tài liệu tham khảo:
1. Dương Xuân Sơn. Các loại hình báo chí truyền thông
2. Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang. 2007. Cơ sở lý luận cho báo chí truyền thông
3. https://www.noron.vn/post/dac-thu-cua-lao-dong-bao-chi-la-gi-1i82b75hd4i
4. https://blogjimmyblog.wordpress.com/2012/12/21/bao-in-co-kha-nang-phan-tich-
binh-luan-ly-giai-sau-rong-va-day-du-cac-van-de-su-kien-dinh-thi-dong-phat-thanh- k30/