Chủ đề 2: Theo các anh/ chị, những yếu tố nào ảnh hưởng đến lựa chọn phương
thức thâm nhập thị trường thế giới các phương thức thâm nhập thị trường thế
giới phù hợp. Anh/ Chị cho dụ về một doanh nghiệp cụ thể phân tích dựa
trên doanh nghiệp này.
CHƯƠNG I: THUYẾT
1. Những yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường thế
giới:
1.1 Môi trường kinh doanh khác nhau:
luật (thông qua thể chế, thông qua chủ trương chính sách của Chính phủ), về phong
tục tập quán, thói quen tiêu dùng... Do đó, để sản phẩm của doanh nghiệp thể thâm
nhập thành công những nước khác nhau, doanh nghiệp phải điều tra, xác định
phương thức thâm nhập sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể của môi trường kinh
doanh mỗi quốc gia phù hợp bối cảnh thị trường mục tiêu.
1.2 Đặc điểm các trung gian:
dùng nước ngoài. vậy, các doanh nghiệp cần nghiên cứu đặc điểm điều kiện làm
nhà bán buôn, nhà bán lẻ...
1.3 Đặc điểm của sản phẩm:
Tuỳ thuộc vào đặc điểm của sản phẩm doanh nghiệp nên chọn kênh phân phối cho
thích hợp. Việc lựa chọn để thường dựa vào đặc tính hoá của sản phẩm.
Đối với sản phẩm dễ bị hỏng, các doanh nghiệp nên chọn phương thức thâm nhập
gắn liền điều kiện bảo quản tốt sản phẩm.
thuật.
Đối với hàng cồng kềnh cần hạn chế số lần bốc dỡ trong quá trình vận chuyển sn
phẩm.
1.4 Khả năng của doanh nghiệp xuất khẩu
Đây yếu tố bên trong của doanh nghiệp ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương
thức thâm nhập. Nếu các yếu tố về môi trường, đặc điểm trung gian thuận lợi, nhưng
khả năng tài chính, tổ chức, nguồn nhân lực, trình độ marketing, khả năng về cạnh
khó khăn. vậy, cùng kinh doanh một sản phẩm, những phương thức thâm nhập thị
trường thế giới của mỗi doanh nghiệp thể khác nhau.
2. Các phương thức thâm nhập thị trường thế giới:
2.1 Chiến lược thâm nhập thị trường thế giới từ sản xuất trong nước:
thông qua xuất khẩu. Đối với quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân, phương
thức này ý nghĩa quan trọng sau đây:
+ Sẽ tạo nguồn vốn quan trọng để thoả mãn nhu cầu nhập khẩu tích lũy phát triển
sản xuất trong nước.
+ Thông qua xuất khẩu sẽ tạo nguồn vốn quan trọng để thoả mãn nhu cầu nhập khẩu
những liệu sản xuất thiết yêu phục vụ công nghiệp hóa đất nước. Trong thực tiễn
của nhau, đẩy mạnh xuất khẩu để mở rộng tăng khả năng sản xuất.
+ Đẩy mạnh xuất khẩu được xem một yếu tố quan trọng để kích thích sự tăng
trưởng nền kinh tế quốc gia.
+ Việc đẩy mạnh xuất khẩu cho phép mở rộng quy sản xuất, nhiều ngành nghề
mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu. Chẳng hạn phát triển xuất khẩu gạo không những
xuất khẩu, còn thúc đẩy phát triển các ngành khác như dệt bao pp đựng gạo, phát
triển ngành xay xát, ngành chăn nuôi...
+ Sẽ kích thích các doanh nghiệp trong nước đổi mới trang thiết bị công nghệ sản
xuất
+ Để đáp ứng yêu cầu cao của thị trường thế giới về quy cách chủng loại sản phẩm đòi
hỏi một mặt sản xuất phải đối mới trang thiết bị công nghệ, mặt khác người lao động
phải ng cao tay nghề, học hỏi kinh nghiệm sản xuất tiên tiến, vậy, sản phẩm mới
thể xuất khẩu định
+ Đẩy mạnh xuất khẩu sẽ góp phần tích cực để nâng cao mức sống của nhân dân. Đẩy
mạnh xuất khẩu vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các nước nâng
cao vai trò vị trí của nước xuất khẩu trên thị trường khu vực quốc tế.
+ Theo chiến lược này khi muốn xuất khẩu sản phẩm đã được sản xuất, trong nước,
các doanh nghiệp thể chọn một trong hai hình thức xuất khẩu, đó xuất khẩu trực
tiếp xuất khẩu gián tiếp.
Hình thức xuất khẩu trực tiếp: (Direct Exporting)
Hình thức này đòi hỏi chính doanh nghiệp phải tự lo bản trực tiếp các sản phẩm của
mình ra nước ngoài. Xuất khẩu trực tiếp nên áp dụng đối với những doanh nghiệp
trình độ quy sản xuất lớn, được phép xuất khẩu trực tiếp, kinh nghiệm trên
thương trường nhân hiệu hàng hóa truyền thống của doanh nghiệp đã tìm mặt
trên thị trường thế giới. Hình thức này thường đem lại lợi nhuận cao nêu các doanh
nghiệp nắm chắc được nhu cầu thị khách hàng. Nhưng ngược lại, nếu các doanh
nghiệp trường, thị hiện của it am hiểu hoặc Đông nắm bắt kịp thời thông tin về thị
trường thế giới đời thủ cạnh tranh thì rủi ro trong hình thức này không phải ít.
Hình thức xuất khẩu gián tiếp: (Indirect Exporting)
Hình thức xuất khẩu gián tiếp không đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa người mua
nước ngoài người sản xuất trong nước. Để bán được sản phẩm của mình ra nước
khẩu trực tiếp. Với thực chất đó, xuất khẩu gián tiếp thường sử dụng đối với các sở
sản xuất quy nhỏ, chưa đủ điều kiện xuất khán trực tiếp, chara quen biết thi
trường, vụ kinh doanh xuất nhập khẩu hàng chưa thông thạo tác nghiệp
Các doanh nghiệp thể thực hiện xuất khẩu gián tiếp thông qua các hình thức
Các công ty quản xuất khẩu (EMC) (Export Management Company)
Công ty quản xuất khẩu Công ty quản trị xuất khẩu cho Công ty khác. Các nhà
xuất khẩu nhỏ thường thiệu kinh nghiệm bán hàng ra nước ngoài hoặc không đủ khả
năng về vốn để tự tổ chức bộ máy xuất khẩu riêng. Do đó, họ thường phải thông qua
EMC đề xuất khẩu sản phẩm của mình. Các EMC không mua bán trên danh nghĩa của
mình. Tất cả các đơn chào hàng. hợp đồng chuyên chở hàng hóa, lập hóa đơn và thu
tiên hàng đều thực hiện với danh nghĩa chủ hàng.
Thông thường, chính sách giá cả, các điều kiện bán hàng, quảng cáo... do chủ hàng
quyết định. Các EMC chỉ giữ vai trò cvấn, thực hiện các dịch vụ liên quan đến xuất
nhập khẩu khi thực hiện các dịch vụ trên EMC sẽ được thanh toán bằng hoa hồng
Một khuynh hướng mới của EMC hiện nay, đặc biệt những Công ty quy lớn
thường mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất mang t bán ra để kiếm lời nước ngoài
Nói chung, khi sử dụng EMC, các nhà sản xuất hàng xuất khẩu ít quan hệ trực
tiếp với thị trường, cho nên sự thành công hay thất bại của công tác xuất khẩu phụ
thuộc rất nhiều vào chất lượng dịch vụ của EMC họ lựa chọn
Thông qua khách hàng nước ngoài (Foreign Buyer)
ngoài. Họ những người hiểu biết về điều kiện cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Khi thực hiện hình thức này, các doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần phải tìm hiểu kỹ
khách hàng để thiết lập quan hệ làm ăn bền vững với thị trường nước ngoài
Qua ủy thác xuất khẩu : (Export Commission House)
Những người hoặc tổ chức ủy thác thường đại diện cho những người mua nước
ngoài trú trong nước của nhà xuất khẩu. Nhà ủy thác xuất khẩu hành động ích của
người mua người mua trả tiền ủy thác. Khi hàng hóa chuẩn bị được đặt mua, nhà
ủy thác lập phiếu đặt hàng với nhà sản xuất được chọn họ sẽ quan tâm đến mọi chi
tiết liên quan đến quá trình xuất khẩu. Bán hàng cho các nhà ủy thác một phương
thức thuận lợi cho xuất khẩu. Việc thanh toán thường được bảo đảm nhanh chóng cho
ủy thác xuất khẩu chịu trách nhiệm.
Qua môi giới xuất khẩu (Export Broker)
Môi giới xuất khẩu thực hiện chứng năng lượn kết giữa nhà xuất khẩu nhà nhập
khẩu. Người mới giới được nhà xuất à ủy nhiệm trà hoa hồng cho hoạt động của
họ. Người môi giới thường chuyên sâu vào một số mặt hàng hay một nhóm hàng nhất
định
Qua hàng buôn xuất khẩu (Export Merchant)
biến hoặc nhà sản xuất sau đó họ tiếp tục thực hiện các nghiệp vụ đề xuất khẩu
chịu mọi rủi ro liên quan đến xuất khẩu. Như vậy, các nhà sản xuất thông qua các
hãng buôn xuất khẩu để thâm nhập thị trường nước ngoài. Phương thức thực hiện
chiến lược thâm nhập thị trường thế giới từ sản xuất trong nước một chiến lược
được nhiều doanh nghiệp nước ta sử dụng.
Xuất khẩu hợp tác ( Cooperative Exporting )
Những công ty xuất khẩu không muốn dùng nguồn lực để tạo ra kênh phân phối của
thức xuất khẩu này, một trong những hình thức phổ biến của xuất khẩu hợp c
piggyback exporting. Thông thường hình thức này, công ty xuất khẩu sử dụng mạng
lưới phân phối của công ty khác để bán sản phẩm của họ trên thị trường nước ngoài.
2.2 Các hình thức thực hiện chiến lược thâm nhập thị trường thế giới từ sản xuất
nước ngoài (Production in Foreign Countries):
Trong chiến lược này, một số hình thức thâm nhập như sau:
a. Nhượng bản quyền (licensing)
Theo nghĩa rộng nhượng bản quyền một phương thức điều hành của một doanh
nghiệp bản quyền (License) cho một doanh nghiệp khác, thông qua việc họ
quyết công nghệ (know-how), nhãn hiệu (trademark), tác quyền, chuyển giao công
nghệ (transfer engineering), trợ giúp kỹ thuật hoặc một vài kỹ năng khác của mình
được nhận tiền vbản quyền từ họ (Royalty). Doanh nghiệp bản quyền ít kiểm soát
được bên được nhượng bản quyền so với việc tự thiết lập ra các xưởng sản xuất do
chính mình điều hành. Khi hợp đồng nhượng bản quyền chấm dứt, doanh nghiệp
bản quyền thể đã tạo ra một người cạnh tranh mới với chính mình
b. Sản xuất theo hợp đồng (Contract Manufacturing)
xuất thực hiện thị trường nước ngoài (gia công). Doanh nghiệp ít kiểm soát quy
trình sản xuất nước ngoài. Khi hợp đồng chấm dứt, doanh nghiệp thể tạo ra một
nhà cạnh tranh mới với chính mình.
c. Hoạt động lắp ráp (Assembly operations)
Hoạt động lắp ráp thể hiện sự kết hợp giữa xuất khẩu sản xuất nước ngoài. Muốn
những thuận lợi trong sản xuất nước ngoài, một số doanh nghiệp thể lập sở
hoạt động lắp ráp nước ngoài. Trong trường hợp này, các doanh nghiệp chỉ xuất
khẩu các linh kiện rời ra nước ngoài, những linh kiện đó sẽ được lắp ráp đề thành một
sản phẩm hoàn ảnh. Bằng cách xuất các linh kiện rời thể tiết kiệm các khoản chi
phí về chuyên chở bảo hiểm. hiểm. Hoạt động lắp ráp cũng thể tận dụng với tiên
lương thấp, từ đó cho phép giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm
d. Hợp đồng quản trị (Management Contracting):
đây công ty nội địa cung cấp quyết quản trị cho một công ty nước ngoài dưới
dạng xuất khẩu dịch vụ quản trị, chứ không phải xuất khẩu sản phẩm. Hợp đồng quản
trị một hình thức tham gia vào thị trường thế giới với mức rủi ro thấp giúp
công ty xuất khẩu dịch vụ quản trị hợp đồng được giành lại sự ưu đãi để mua một
số cổ phần của công ty được quản trị trong một thời hạn ấn định nào đó.
e. Liên doanh (Joint Venture)
một tổ chức kinh doanh trong đó hai hoặc nhiều bên chung quyền sở hữu, quyền
quản lý, điều hành hoạt động được hưởng các quyền lợi về tài sn. Bên cạnh những
điều hành hình thực liên doanh còn những hạn chế nhất định như khi điều hành
công ty thể tạo ra các quan điểm khác nhau về sản xuất kinh doanh, chiến lược phát
triển
f. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Khi một doanh nghiệp đủ kinh nghiệm về xuất khẩu nếu thị trường nước ngoài
nhất định như tiết kiệm chi phí vận chuyển, tạo ra sản phẩm thích hợp với thị trường
sự rủi ro sẽ lớn hơn so với các hình thức thâm nhập trên.
2.3 Phương thức thực hiện chiến lược thâm nhập thị trường thế giới tại khu
thương mại tự do:
doanh nghiệp xuất khẩu còn thể thâm nhập thị trường thông qua các hình thức như:
Đặc khu kinh tế (Special Economic Zone)
Khu chế xuất (Export Processing Zone)
Khu thương mại tự do (Free Trade Zone) Phương thức này ý nghĩa quan trọng là:
thấp. Trong khi chờ đợi một thị trường thuận lợi, nhà xuất khẩu thể gửi hàng hóa
định không phải làm thủ tục hải quan hoặc đồng thuê nhập khẩu.
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CỤ THỂ TRÊN TẬP ĐOÀN UNILEVER TẠI
THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM:
I. Các yếu tố ảnh hưởng đến đến lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường
Việt Nam của Unilever:
1. Môi trường kinh doanh:
1.1. Môi trường kinh tế:
Môi trường quốc tế: Việt Nam được xếp vào nhóm các nước đang phát triển, thu
hàng tiêu dùng
Môi trường quốc gia:
- Trình độ phát triển kinh tế: Quy GDP năm 2023 theo giá hiện nh ước đạt
10.221,8 nghìn tỷ đồng, tương đương 430 tỷ USD, GDP bình quân đầu người năm
2023 theo giá hiện hành ước đạt 101,9 triệu đồng/người, tương đương 4.284 USD,
tăng 160 USD so với năm 2022. Đối với Việt Nam, còn nhiều khó khăn song kinh
tế năm 2023 đạt được nhiều kết quả tích cực, đáng ghi nhận được các tổ chức quốc
tế đánh giá cao.
Trong năm 2023, tiêu dùng cuối cùng tuy chưa thsôi đô
ng trở lại như trước khi đại
dịch nhưng bản vẫn ổn định, cả năm đạt 3,52%, đóng góp 2,07 điểm phần trăm vào
tăng trưởng chung. Mức tăng ổn định này do trong thời gian vừa qua càng gần
cuối năm, nhu cầu chi tiêu cũng cao hơn đđáp ứng cho kỳ nghỉ hè, lễ
i, Tết dương
lịch Tết Nguyên đán sắp tới. Nhìn chung, cầu tiêu dùng vẫn nhân tố chủ yếu của
tăng trưởng kinh tế
- cấu ngành kinh tế: Nền kinh tế ngày càng phát triển, cấu ngành sự thay
đổi theo xu hướng phát triển các ngành thương mại, dịch vụ thu hẹp ngành nông
nghiệp.
=> Nhận thức được điều này giúp cho công ty đưa ra được các sản phẩm phù hợp với
nhu cầu tiêu dùng của thị trường, phù hợp với định hướng phát triển của doanh nghiệp
- sở hạ tầng của nền kinh tế: Trước tiên hệ thống giao thông, thông tin liên lạc
các thành phố lớn, nhất Nội TP HCM đã đang được đầu thích đáng,
huyện, được cải tạo, nâng cấp, tạo điều kiện cho công ty mở rộng mạng lưới phân
phối sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng không chỉ các đô thị lớn ma cả các
vùng nông thôn, các khu vực xa xôi hẻo lánh. Internet đang được phổ cập nhanh
chóng, cước viễn thông, bưu chính được điều chỉnh giảm đáng kể so với trước đây,
cho phép công ty thể áp dụng những công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất kinh
doanh cũng như quá trình quản nhằm tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động
1.2. Môi trường dân số:
Môi trường dân số:
- Quy dân số: Dân số trung bình của Việt Nam m 2023 đạt 100,3 triệu người,
trong đó tỷ lệ dân số nam nữ khá cân bằng (nam giới chiếm 49,9%, nữ giới 50,1%).
Nhu cầu của người tiêu dùng được dự báo tăng mạnh do dân số trẻ số lượng người
thuộc tầng lớp trung lưu các đô thị tăng.
=> Thị trường đang phát triển với tiềm năng rất lớn. Với dân số lớn, Unilever
thể tăng cường đầu phát triển các sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu đặc biệt
của thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, dân số đông thể tạo ra cạnh tranh sòng
phẳng hơn giữa các công ty trong cùng ngành. Unilever cần đánh giá các đối thủ
cạnh tranh cũng như các rủi ro hội trong môi trường kinh doanh Việt
Nam.
- Sự thay đổi quy hộ gia đình: Đây yếu tố ảnh hưởng mạnh đến nhu cầu thị
trường nhiều hàng hóa. Các gia đình quy lớn bao gồm nhiều thế hệ trước đây dần
dần được thay bằng các hộ gia đình với quy nhỏ, do lớp trẻ ngày nay xu hướng
mong muốn cuộc sống tự lập. ngoài ra, những gia đình mở rộng lớp trung lưu
( cơ cấu gia đình phổ biến nhất Việt Nam), việc chọn mua 1 sản phẩm, nhất sản
phẩm cao cấp, thường được cân nhắc rất kỹ lưỡng. vậy nhóm này tiêu thụ những
nước bản
- Chính sách dân số: Chính sách dân số - kế hoạch hóa Việt Nam sẽ khiến trong
vài thập niên nữa, lớp trẻ sẽ già đi cấu n số già sẽ không lợi thế cho
Unilever
1.3. Môi trường chính trị - pháp luật:
Đây yếu tố tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh trên 1 lãnh thổ, các
yếu tố thể chế, luật pháp thể uy hiếp đến khả năng tồn tại phát triển của bất cứ
ngành nào. Khi kinh doanh trên 1 đơn vị hành chính, các doanh nghiệp sẽ phải bắt
buộc tuân theo các thể chế pháp luật tại khu vực đó
- Tình hình an ninh chính trị, chế điều hành của chính phủ :
khó khăn, thách thức ngày càng gia tăng trên phạm vi toàn cầu, tiềm ẩn rủi ro chuyển
từ các vấn đề về kinh tế sang hội, an ninh chính trị của một số quốc gia khu vực.
Về tình hình trong nước, một thời gian khá dài đã duy trì tăng trưởng cao, giữ vững ổn
định kinh tế mô, kiểm soát lạm phát, các cân đối lớn về năng lượng, lương thực
được bảo đảm, nợ công, n chính phủ giảm mạnh... Ngay cả giai đoạn khó khăn nhất
của dịch COVID-19 trong năm 2020-2021 thì thành quả này cũng được duy trì.
Unilever nhận thấy Việt Nam gười dân một quốc gia độ ổn chính trị cao, n
nhận thức, quan điểm tích cực về đầu trực tiếp nước ngoài coi trọng những công
ty này, cho nên việc xây dựng hình thành chiến lược kinh doanh lâu dài tại Việt
Nam hoàn toàn sở.
Hệ thống pháp luật các văn bản pháp luật đặc biệt các chính sách kinh tế để điều
chỉnh hành vi kinh doanh, tiêu dùng, quan hệ trao đổi- thương mại.
Mặc luật pháp của Việt Nam còn nhiều rắc rối, bất cập, gây nhiều sự khó khăn cho
công ty, nhưng công ty thấy rằng việc công ty đầu vào Việt Nam nhận được sự
chào đón của các quan chức địa phương, phù hợp với luật đầu nước ngoài tại
đây, cộng thêm công ty sẽ hiểu biết nhiều hơn về luật Đầu cũng như môi trường
kinh doanh tại Việt Nam nói chung khi người kinh doanh thuê người bản xứ làm việc
cho mình.
=> Do đó khi hình thành chiến lược kinh doanh về vấn đề chính trị pháp luật đối
với công ty cũng không vấn đề, trở ngại quá lớn. Cái duy nhất công ty phải
đối phó cẩn thận trong pháp luật khi xây dựng chiến lược c vấn đề về lao
động các chế độ đối với người lao động, bởi Chính phủ Việt Nam rất quan tâm
đến vấn đề này công ty cũng bài học của các công ty nước ngoài khác về các
vấn đề này tại Việt Nam.
1.4. Yếu tố văn hóa - hội:
hội khác nhau. Tuy nhiên các yếu tố này cũng rất cần được xem xét, bao gồm:
- Quan điểm của người dân đối với các sản phẩm dịch vụ mới:
Công ty nhận thấy người Việt Nam dễ chấp nhận những mới mquan điểm
cách tân, thái độ chào đón những cái mới, miễn những cái mới này phù hợp với
cách sống, cách duy của họ. Họ thích tiêu dùng những sản phẩm mới, luôn mới thì
càng tốt, với chất lượng ngày càng được nâng cao, thậm chí khi họ chưa biết đến 1 sản
phẩm nào đó, vấn đề quảng sản phẩm của công ty cũng không gặp nhiều khó khăn,
bởi người Việt Nam rất mò, công ty khi tiến hành khuếch trương, quảng chỉ cần
kích thích sự của họ sản phầm ấy cũng sẽ thành công. Ngoài ra, công ty còn
nhận thấy sở thích của người Việt Nam rất đa dạng, rất phù hợp với chủng loại sản
phẩm phong phú của công ty, người Việt Nam không thích hẳn 1 màu sắc riêng biệt,
như Trung Quốc ưa thích màu đỏ, màu của sự hạnh phúc.
=> Người Việt Nam nói chung đa dạng, không sự bài trừ cái liên quan
đến sự thẩm mỹ, trừ những trường hợp liên quan đến thuần phong mỹ tục của
họ. Mặt khác, công ty cũng dự định công ty sẽ tìm hiểu hiểu biết về vấn đề này
nhiều hơn khi công ty thuê những người Việt Nam làm việc liên doanh với các
đối tác người Việt Nam.
Người Việt Nam nói chung tâm sính hàng ngoại, không chỉ bởi chất lượng, mẫu
còn bới uy tín thương hiệu của các doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời hàng
Việt Nam chưa tạo được niềm tin đối với người tiêu dùng, do nhiều nguyên nhân: chất
lượng sản phẩm chưa cao, chủng loại sản phẩm vẫn còn nghèo nàn. Mẫu kém hấp
dẫn .
=> Điều này đã tạo cơ hội cho hàng ngoại xâm nhập sâu vào thị trường, từng
bước phát triển vững chắc. Unilever cũng không phải ngoại lệ
Còn đối với một bộ phận người tiêu dùng thu nhập trung bình thấp Việt Nam
thì hầu hết lại tưởng ham đồ rẻ, không cần biết chất lượng hàng hoá ra sao,
xuất xứ thế nào. Đây vấn đề khá phổ biến trong thực tế hiện nay, minh chứng
nhất nhóm người này trong mấy năm trở lại đây các sản phẩm hàng tiêu dùng trên
thị trường quá đa dạng về chất lượng, mẫu mã, chủng loại sản phẩm. Điều này cũng
đồng nghĩa với việc hàng giả, hàng nhái tràn lan trên thị trường Việt. Hàng Thái Lan
nhóm hàng được người tiêu dùng ưa chuộng nhất hiện nay nhưng cũng nhóm mặt
hàng dễ làm giả làm nhái nhất trên thị trường. mặc không biết rằng các sản phẩm
này đảm bảo chất lượng hay không nhưng crẻ người tiêu dùng mua sử dụng
bởi tâm ham đồ rẻ còn tồn tại trong ý thức nhiều người
Gia đình ảnh hưởng mạnh đến hành vi mua của nhân, đặc biệt trong điều
kiện Việt Nam khi nhiều thế hệ sống cùng nhau trong một gia đình. Các nhà sản xuất
phải cân đo, đong, đếm được mức độ ảnh hưởng của vợ chồng đối với sản phẩm
của mình để đưa ra quyết định. Mua xe hơi, đồ điện thường do chồng quyết định
nhưng việc mua các đồ dùng bếp núc lại thường do vợ quyết định. những mặt hàng
do cả hai vợ chồng tham gia quyết định. Các nhà quảng cáo mỗi loại sản phẩm cần
phải biết nhằm vào ai để thuyết phục.
- Ngôn ngữ ảnh hưởng tới mức độ phổ biến của sản phẩm trên thị trường.
phẩm ngoại nhập đều sử dụng ngôn ngữ tiếng anh. Ban đầu điều này ảnh hưởng
đến tiêu thụ sản phẩm của Unilever, chẳng hạn như người dân không biết hết được
công dụng của sản phẩm, cũng như cách sử dụng sản phẩm 1 cách hiệu quả, dẫn tới
tâm e ngại trong việc lựa chọn sản phẩm của công ty.
=> Nhận biết được điều này, Unilever đã nhanh chóng khắc phục bằng việc thiết kế
bao cho sản phẩm sử dụng Tiếng Việt, tạo điều kiện cho người tiêu dùng Việt Nam
đặc thù quốc gia gần gũi, dễ hiểu đối với người tiêu dùng.
Tôn giáo:
Việt Nam 1 nước tự do về tôn giáo n việc phân phối, quảng sản phẩm không
chịu nhiều khắt khe như 1 số nước Châu Á khác.
2. Đặc điểm trung gian tại Việt Nam:
Trong nhiều năm trở lại đây, thị trường Việt Nam liên tục xuất hiện các kênh phân
phối cùng cách thức bán hàng hiện đại. Song song đó sự đa dạng trong phân khúc
hành vi mua sắm của khách hàng cũng ngày càng phức tạp hơn. vậy, việc cập
nhật tổng quan về thị trường phân phối những thay đổi trong hành vi tiêu dùng
2023 cùng cần thiết. Nhằm dự đoán các xu hướng sẽ tiếp tục dẫn đầu trong thời
gian tới.
Trong giai đoạn từ năm 2020 cho đến nay, do những ảnh hưởng của đại dịch đã tác
động đến thói quen mua sắm của khách hàng. Các vấn đề sức khỏe cũng được chú
trọng hơn bao giờ hết. Cụ thể:
- Việt Nam thị trường dược phẩm lớn thứ hai tại Đông Nam Á một trong 17
nước mức tăng trưởng ngành dược cao nhất (theo thống của BMI Research vào
chọn như khẩu trang, nước rửa tay, thực phẩm chức năng,…
- Đứng thứ hai về sức mua nhóm ngành thực phẩm, chủ yếu thuộc nhóm chế biến
sẵn như gói, dầu ăn, lương khô, thực phẩm đóng hộp
Đến hiện tại, Việt Nam thị trường thương mại điện tử lớn thứ 2 (chỉ sau Indonesia)
trong khu vực Đông Nam Á. Theo các chuyên gia dự đoán: thương mại điện tử sẽ tiếp
tục tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.
=> Chính sự phát triển này của thương mại điện tử đã kéo theo sự ra đời của
nhiều kênh phân phối mới cách thức bán hàng cùng ngày càng phong phú
hơn. Các cuộc đua giành thị phần của các sàn thương mại điện tử cũng xuất hiện
tạo ra nhiều sự thay đổi lớn.
Bên cạnh các yêu cầu về chất lượng hàng hóa, khách hàng cũng rất quan tâm
đến thời gian nhận hàng. Theo báo cáo của Công ty Ken Research: đa số người tiêu
dùng Việt sẵn sàng trả thêm tiền cho dịch vụ chuyển phát nhanh, để họ thể nhận
được hàng trong vòng 2 giờ kể từ khi đặt hàng thành công.
Hiểu được nhu cầu đó, các doanh nghiệp thương mại điện tử đã nhanh chóng đầu
vào Quick Commerce (là hình thương mại điện tử nhanh với toàn bộ quá trình
điện tử đã triển khai như TikiNow, Now Ship, GrabExpress,…
Nhìn chung, thị trường phân phối hàng hóa tại Việt Nam một bức tranh đa dạng
màu sắc, nhiều s biến chuyển theo thời gian. Hành vi thói quen mua sắm của
khách hàng ngày càng phức tạp, các kênh bán hàng mới liên tục xuất hiện như nấm
mọc sau mưa.
=> Unilever cần phải thường xuyên cập nhật nghiên cứu thị trường thật kỹ,
nghiên cứu khách hàng cũng như nghiên cứu các công cụ hỗ trợ để những
định hướng hoạt động, chiến lược kinh doanh đúng đắn. Đáp ứng đúng nhu cầu
của khách hàng mục tiêu, mang về doanh thu ổn định lợi nhuận khủng.
- Hệ thống phân phối của Unilever tại thị trường Việt Nam:
Unilever Việt Nam hệ thống phân phối rộng khắp toàn quốc gồm 150 nhà phân
phối 200.000 cửa hàng bán lẻ. Công ty trực tiếp tuyển dụng hơn 1.500 nhân viên
gián tiếp tạo thêm gần 10.000 việc làm cho các đối tác như các đơn vị gia công, nhà
thầu, nhà phân phối, các công ty nhỏ vừa trên khắp Việt Nam. Với những nỗ lực
vượt bậc ngay từ những ngày đầu gia nhập thị trường Việt Nam, cho tới nay, hầu hết
các nhãn ng của Unilever như OMO, P/S, Clear, Pond’s, Knorr, Lifebuoy, Sunsilk,
VIM, Lipton, Sunlight, VISO, Rexona…đã trở thành những sản phẩm quen thuộc của
mọi gia đình Việt Nam. Mỗi ngày hơn 30 triệu sản phẩm của Unilever đến tay người
tiêu dùng trên khắp mọi miền đất nước, góp phần ng cao điều kiện sống, vệ sinh
sức khỏe cho mọi gia đình Việt Nam.
3. Đặc điểm sản phẩm:
Unilever một tập đoàn đa quốc gia hoạt động trong lĩnh vực FMCG (Fast
Moving Consumer Goods), tức các sản phẩm tiêu dùng nhanh. Các sản phẩm
của Unilever có đặc điểm chung chất lượng cao, đa dạng phù hợp với nhu
cầu của người tiêu dùng trên toàn cầu.
Tập đoàn Unilever được biết doanh nghiệp luôn gắn hoạt động kinh doanh với phát
triển bền vững. Từ 2010, Unilever cho ra mắt mục tiêu phát triển bền vững nhằm thúc
đẩy tham vọng cải thiện về môi trường, hội kinh tế. Trong đó Unilever
luôn chú trọng thiết kế cấu tạo kỹ thuật, bao sản phẩm thân thiện với môi trường,
không ấy độc hại cho người dùng đồng thời không ngừng phát triển công nghệ để
thương hiệu để thỏa mãn khách hàng nhất
của Tập đoàn Unilever. Dòng sản phẩm tự nhiên” này gồm dầu gội, dầu xả sữa
tắm, mặt thị trường Việt Nam vào tháng 01/2019. Chỉ thị dành cho đội ngũ R&D
của Love Beauty and Planet tạo ra một sản phẩm nguồn gốc và thành phần
nguồn gốc phù hợp với sự phát triển bền vững hết mức thể. Với sứ mệnh “Điểm
thêm vẻ đẹp của bạn góp phần giảm tác động tiêu cực đến môi trường”
=> Unilever cần đảm bảo rằng các sản phẩm được đưa vào thị trường Việt Nam
đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng an toàn cao nhất. Việc này bao gồm kiểm
tra sản phẩm trước khi ra mắt duy trì các tiêu chuẩn sản xuất chất lượng
trong suốt quá trình sản xuất.Sau khi sản phẩm được giới thiệu vào thị trường,
Unilever cần thường xuyên theo dõi đánh giá hiệu quả của từng sản phẩm.
Điều này giúp công ty điều chỉnh chiến lược kinh doanh sản phẩm để đáp ứng
nhu cầu thị trường một cách tốt nhất. Tóm lại, Unilever cần tập trung vào tùy
chỉnh sản phẩm, đảm bảo chất lượng an toàn, phát triển chiến lược tiếp thị
phù hợp để thành công khi thâm nhập thị trường Việt Nam. Việc hiểu tương
tác với người tiêu dùng địa phương yếu tố then chốt trong việc đảm bảo đặc
điểm sản phẩm phù hợp với thị trường này.
4. Khả năng xuất khẩu của Unilever:
- Unilever Việt Nam công ty lớn với tổng số vốn 100 triệu USD, vốn điều lệ 55
bình quân 2 con số mỗi năm đạt tổng doanh thu gần bằng 1% GDP của Việt Nam
năm 2009, với hơn 100 doanh nghiệp vệ tinh, cung cấp nguyên vật liệu phân phối
sản phẩm,...sở hữu các nhãn hiệu nổi tiếng chiếm phần lớn trên thị trường Việt
Nam như: Omo, Sunsilk, PS, Lipton, Sunlight,...mỗi ngày gần 5 triệu sản phẩm của
công ty được tiêu thụ. Kể từ khi bước chân vào thị trường Việt Nam năm 1995 đến
thời điểm năm 2009,Unilever đã tăng vốn đầu Việt Nam lên trên 86,47 triệu USD
- Năng lực tài chính của Unilever còn thể hiện số tiền doanh nghiệp này chi cho
quảng cáo thương hiệu. Nhiều nhãn hàng của Unilever xuất hiện trong Top 15 những
doanh nghiệp chi mạnh nhất cho quảng cáo tại Việt Nam năm 2009 như: Omo (9,8
triệu USD), Comfort (8,5 triệu USD), Sunsilk (6,8 triệu USD)... Xét về toàn diện
trong lĩnh vực quảng cáo Unilever vẫn tiếp tục duy trì ngôi vị số 1 doanh nghiệp
đầu nhiều nhất cho quảng cáo với con số 86,7 triệu USD, tăng 89%so với 2008.
Năm 2009, Unilever Việt Nam đã chính thức được cấp giấy chứng nhận chuyển đổi
thành công 100% vốn nước ngoài sau khi mua lại cổ phần của đối tác trong liên doanh
Tổng công ty Hóa Chất Việt Nam (Vinachem). Thỏa thuận này cho phép Unilever
mua lại 33,33% cổ phần của Vinachem trong lien doanh được thành lập từ năm 1995,
trong đó, Unilever góp 75,3 triệu, tương đương 66,66% tổng số vốn. Sau khi hoàn tất
việc mua lại cổ phần từ Vinachem, Unilever VN chính thức được Bộ Tài Chính VN
cấp giấy chứng nhận chuyển đổi thành công 100% vốn nước ngoài hoạt động tại VN.
Vietnam International Company Limited , gọi tắt Unilever VN).
- Unilever Việt Nam hiện 1.700 nhân viên trên toàn quốc gián tiếp tạo công ăn
việc làm cho 15.000 người lao động thông qua các bên thứ ba, các nhà cung cấp
đại phân phối. Khu liên hợp nhà máy của Unilever Việt Nam tại Củ Chi, thành phố
Hồ Chí Minh được đánh giá một trong những cụm nhà máy vận hành hiệu quả nhất
đột phá về chất cho sự phát triển lâu i. Unilever đã xây dựng một đội ngũ nhân viên
bản địa chuyên nghiệp thường xuyên chú trọng đến các chương trình huấn luyện
nhân viên. Công ty luôn quan tâm đến quyền lợi của nhân viên sẵn sàng hỗ trợ họ
trong các trong các lĩnh vực công tác.
- Hiện nay, đội ngũ cán bộ quản VN đã thay thế các vị trí chủ chốt trước kia do các
chuyên gia nước ngoài đảm nhiệm . Ngoài ra, công ty cũng chế độ lương bổng,
phúc lợi thỏa đáng các khóa học tập trung trong và ngoài nước cho nhân viên nhằm
nâng cao nghiệp vụ của họ… các chính sách đúng đắn chú ý đến yếu tố nhân lực của
công ty đã xây dựng được một môi trường văn hóa doanh nghiệp mạnh một đội
ngũ nhân viên ng lực, trình độ cao và tinh thần trách nhiệm mục tiêu chung
của công.
=> Unilever tiềm năng thâm nhập thị trường Việt Nam thành công nếu thực
hiện các bước chuẩn bị điều chỉnh chiến lược phù hợp. Việc tùy chỉnh sản
phẩm, nghiên cứu thị trường kỹ lưỡng, xây dựng mạng lưới phân phối đối phó
với cạnh tranh những yếu tố quan trọng để Unilever thể tận dụng tiềm năng
của thị trường Việt Nam đạt được thành công trong hoạt động kinh doanh tại
đây. Tuy nhiên, Unilever cũng cần đối mặt giải quyết các thách thức rủi ro
địa phương để đảm bảo hiệu quả bền vững trong chiến lược thâm nhập thị
trường này.
CHƯƠNG III: LƯỢC VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC THÂM NHẬP CỦA
UNILEVER TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM :
Liên doanh - Công ty 100% vốn nước ngoài:
doanh đầu tiên giữa Unilever với một công ty con thuộc tổng công ty hóa chất Việt
doanh thứ hai Lever Viso (liên doanh này v sau sáp nhập với liên doanh đầu, nay
Unilever Việt Nam).
Unilever Việt Nam được thành lập năm 1995, một bước đi thận trọng của Unilever.
Ban đầu, Unilever góp 65% vốn với một công ty khác với tổng số vốn đầu 56 triệu
đô để thành lập “Công ty Lever Việt Nam” trụ sở tại Nội.
nhu cầu ca người Việt Nam. Họ đã mua lại từ các đối c của mình những nhãn hiệu
uy tín từ nhiều năm Việt Nam như bột giặt Viso kem đánh răng P/S. Sau đó,
cải tiến công thức chế tạo bao gói tiếp thị để gia tăng tiêu thụ những nhãn hiệu này.
Đến nay, liên doanh P/S Elisa cũng đã trở thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
trong khi Công ty Hóa phẩm P/S đã đánh mất hoàn toàn vị thế cạnh tranh ban đầu của
mình.
Ngay sau khi đi vào hoạt động năm 1995, các sản phẩm nổi tiếng của Unilever Như
Omo, Sunsilk, Clear, Dove, Pond’s, Close-up, Cornetto, Paddle Pop, Lipton,Knorr...
cùng các nhãn hàng truyền thống của Việt Nam Viso P/S đã nhanh chóng trở
thành những hàng hóa được tiêu dùng nhiều nhất tại thị trường Việt Nam Và cùng với
công ty Unilever đã nhanh chóng lãi thu được lợi nhuận không nhỏ trên thị
trường Việt Nam. Trong đó liên doanh Lever Việt Nam, Nội Bắt đầu làm ăn lãi
từ năm 1997, tức chỉ sau 2 năm công ty này được thành lập. Công ty Elida P/S cũng
làm ăn lãi kể từ khi được thành lập từ năm 1997.Best Food cũng đã rất thành
công trong việc đưa ra được nhãn hiệu kem nổi tiếng được người tiêu dùng hoan
nghênh năm 1997 Paddle Pop (Sau này nhãn hiệu này được chuyển nhượng cho
Kinh Đô của Việt Nam) công ty đã mở rộng sang kinh doanh mặt hàng trà Lipton,
bột nêm Knorr, nước mắm Knorr-Phú Quốc...Và công ty này hiện tại cũng đang
hoạt động rất lãi. Ngoài các hoạt động kinh doanh Unilever Việt Nam cũng tích
công ty đóng góp khoảng 2 triệu đô la hoạt động phát triển cộng đồng tại Việt Nam
công ty đã vinh dự được nhận bằng khen của thủ tướng chính phủ nước ta đã
thành tích trong sản xuất kinh doanh các hoạt động hội, nhân đạo, giáo dục, giáo
dục sức khỏe cộng đồng
đến từ Anh Lan. Đây một thương hiệu thực sự “toàn cầu” ngay cả trước khi
thuật ngữ “thương hiệu toàn cầu” được phát minh. Với sứ mệnh đem lại sức khoẻ
sự vệ sinh đến một tỷ người, m 1995 Lifebuoy một trong những sản phẩm tiêu
được sự đón nhận của người tiêu dùng Việt chẳng mấy chốc dành được vị trí hàng
đầu trên thị trường.
Thâm nhập vào Việt Nam từ rất sớm, Lifebuoy đã sử dụng phương thức thâm nhập
Liên doanh để tấn công vào thị trường Việt Nam dưới sự điều hành của công ty mẹ
Công ty liên doanh Unilever Việt Nam
Công ty liên doanh Unilever Việt Nam đã chuyển đổi thành công ty 100% vốn nước
ngoài sau khi mua lại cổ phần của đối tác trong liên doanh
Kể từ đó, công ty này đã 5 nhà máy tại khắp Việt Nam bao gồm tại: Nội, Củ
Chi, Thủ Đức khu công nghiệp Biên Hòa. cũng từ đây Lifebuoy được sản xuất
phân phối cho các nhà bán sỉ lẻ trên khắp cả nước .
thể nói từ khi chuyển đổi thành công ty vốn 100% nước ngoài, thương hiệu
Lifebuoy của Unilever ngày càng ăn nên làm ra khó hãng phòng nào thể
đuổi kịp.
=> Đến nay, Việt Nam vẫn thị trường tưởng để Unilever tiếp cận. Không chỉ
đầu vào sản phẩm, liên doanh với các đối tác, Unilever còn quan tâm đến đầu
vào các vấn đề hội, nâng cao đời sống người dân Việt Nam.
KẾT LUẬN
Khi đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường
Việt Nam, Unilever cũng phải xem xét các điều kiện cụ thể của thị trường này để chọn
phương pháp thích hợp nhằm tối đa hóa lợi ích giảm thiểu rủi ro. Các yếu tố quan
trọng bao gồm độ phức tạp của thị trường, mức độ cạnh tranh, văn hóa chính trị địa
phương, sở hạ tầng, quy định pháp lý, tầm nhìn dài hạn của doanh nghiệp.
Việc lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường này một chiến lược phù hợp với
Unilever để phát triển tăng cường hiện diện của mình tại Việt Nam. Điều này cho
phép Unilever thích nghi với đặc thù địa phương, đáp ứng nhu cầu của người tiêu
dùng Việt Nam một cách hiệu quả bền vững.
Tóm lại, việc lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường Việt Nam phù hợp với
Unilever cần căn cứ vào nghiên cứu kỹ lưỡng về thị trường địa phương các yếu tố
môi trường kinh doanh. Việc áp dụng chiến lược thích hợp sẽ giúp Unilever tăng
cường hoạt động kinh doanh đạt được sự thành công trên thị trường Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Ths. Phạm Ngọc Ánh, Slide Marketing Quốc Tế
2. Dân số Việt Nam 100 triệu người: hội thách thức Bài 3: Mật độ dân số
di dân tự do
3. [Văn hóa tiêu dùng người Việt - góc nhìn đa chiều] Bài 4: Góc nhìn văn hóa -
hội
4. Kênh phân phối của Unilever bao gồm những kênh nào?
5. Điều khiến hàng ngàn ứng viên muốn làm việc tại Unilever?
6. duy “sính hàng ngoại” định hướng tiêu dùng trong tưởng người Việt.
7. CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA UNILEVER - TẬP ĐOÀN ĐA QUỐC GIA
HÀNG TIÊU DÙNG
Việt Nam
9. Gương mặt mới của Unilever Việt Nam
10. Unilever gì? Các mặt hàng sản phẩm của Unilever phân phối tại Việt Nam

Preview text:

Chủ đề 2: Theo các anh/ chị, những yếu tố nào ảnh hưởng đến lựa chọn phương
thức thâm nhập thị trường thế giới và các phương thức thâm nhập thị trường thế
giới phù hợp. Anh/ Chị cho ví dụ về một doanh nghiệp cụ thể và phân tích dựa trên doanh nghiệp này. CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT
1. Những yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường thế giới:
1.1 Môi trường kinh doanh khác nhau:
Giữa các quốc gia có những khác nhau về văn hóa, xã hội, điều kiện chính trị, pháp
luật (thông qua thể chế, thông qua chủ trương chính sách của Chính phủ), về phong
tục tập quán, thói quen tiêu dùng... Do đó, để sản phẩm của doanh nghiệp có thể thâm
nhập thành công ở những nước khác nhau, doanh nghiệp phải điều tra, xác định
phương thức thâm nhập sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể của môi trường kinh
doanh ở mỗi quốc gia phù hợp bối cảnh thị trường mục tiêu.
1.2 Đặc điểm các trung gian:
Trung gian ở mỗi thị trường sẽ tiếp nối cho doanh nghiệp đưa hàng đến người tiêu
dùng nước ngoài. Vì vậy, các doanh nghiệp cần nghiên cứu đặc điểm và điều kiện làm
việc của các trung gian ở mỗi thị trường. Các trung gian đó có thể là nhà nhập khẩu,
nhà bán buôn, nhà bán lẻ...
1.3 Đặc điểm của sản phẩm:
Tuỳ thuộc vào đặc điểm của sản phẩm mà doanh nghiệp nên chọn kênh phân phối cho
thích hợp. Việc lựa chọn để thường dựa vào đặc tính lý hoá của sản phẩm.
Đối với sản phẩm dễ bị hư hỏng, các doanh nghiệp nên chọn phương thức thâm nhập
gắn liền điều kiện bảo quản tốt sản phẩm.
Đối với các sản phẩm kỹ thuật cao phải có kênh bán hàng chuyên biệt và có dịch vụ
sau bán hàng. Bởi các sản phẩm này cần có sự hỗ trợ đắc lực của các chuyên viên kỹ thuật.
Đối với hàng cồng kềnh cần hạn chế số lần bốc dỡ trong quá trình vận chuyển sản phẩm.
1.4 Khả năng của doanh nghiệp xuất khẩu
Đây là yếu tố bên trong của doanh nghiệp ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương
thức thâm nhập. Nếu các yếu tố về môi trường, đặc điểm trung gian thuận lợi, nhưng
khả năng tài chính, tổ chức, nguồn nhân lực, trình độ marketing, khả năng về cạnh
tranh của doanh nghiệp yếu kém thì việc chọn phương thức thâm nhập sẽ gặp nhiều
khó khăn. Vì vậy, cùng kinh doanh một sản phẩm, những phương thức thâm nhập thị
trường thế giới của mỗi doanh nghiệp có thể khác nhau.
2. Các phương thức thâm nhập thị trường thế giới:
2.1 Chiến lược thâm nhập thị trường thế giới từ sản xuất trong nước:
Đây là phương thức thâm nhập thị trường được các quốc gia đang phát triển trên thế
giới thường vận dụng, để đưa sản phẩm của mình thâm nhập vào thị trường thế giới
thông qua xuất khẩu. Đối với quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân, phương
thức này có ý nghĩa quan trọng sau đây:
+ Sẽ tạo nguồn vốn quan trọng để thoả mãn nhu cầu nhập khẩu và tích lũy phát triển sản xuất trong nước.
+ Thông qua xuất khẩu sẽ tạo nguồn vốn quan trọng để thoả mãn nhu cầu nhập khẩu
những tư liệu sản xuất thiết yêu phục vụ công nghiệp hóa đất nước. Trong thực tiễn
xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ mật thiết với nhau, vừa là kết quả vừa là tiền đề
của nhau, đẩy mạnh xuất khẩu để mở rộng và tăng khả năng sản xuất.
+ Đẩy mạnh xuất khẩu được xem là một yếu tố quan trọng để kích thích sự tăng
trưởng nền kinh tế quốc gia.
+ Việc đẩy mạnh xuất khẩu cho phép mở rộng quy mô sản xuất, nhiều ngành nghề
mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu. Chẳng hạn phát triển xuất khẩu gạo không những
tạo điều kiện cho ngành trồng lúa mở rộng được diện tích, tăng vụ để tăng sản lượng
xuất khẩu, mà còn thúc đẩy phát triển các ngành khác như dệt bao pp đựng gạo, phát
triển ngành xay xát, ngành chăn nuôi...
+ Sẽ kích thích các doanh nghiệp trong nước đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất
+ Để đáp ứng yêu cầu cao của thị trường thế giới về quy cách chủng loại sản phẩm đòi
hỏi một mặt sản xuất phải đối mới trang thiết bị công nghệ, mặt khác người lao động
phải nâng cao tay nghề, học hỏi kinh nghiệm sản xuất tiên tiến, có vậy, sản phẩm mới
có thể xuất khẩu và định
+ Đẩy mạnh xuất khẩu sẽ góp phần tích cực để nâng cao mức sống của nhân dân. Đẩy
mạnh xuất khẩu có có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các nước và nâng
cao vai trò vị trí của nước xuất khẩu trên thị trường khu vực và quốc tế.
+ Theo chiến lược này khi muốn xuất khẩu sản phẩm đã được sản xuất, trong nước,
các doanh nghiệp có thể chọn một trong hai hình thức xuất khẩu, đó là xuất khẩu trực
tiếp và xuất khẩu gián tiếp.
Hình thức xuất khẩu trực tiếp: (Direct Exporting)
Hình thức này đòi hỏi chính doanh nghiệp phải tự lo bản trực tiếp các sản phẩm của
mình ra nước ngoài. Xuất khẩu trực tiếp nên áp dụng đối với những doanh nghiệp có
trình độ và quy mô sản xuất lớn, được phép xuất khẩu trực tiếp, có kinh nghiệm trên
thương trường và nhân hiệu hàng hóa truyền thống của doanh nghiệp đã tìm có mặt
trên thị trường thế giới. Hình thức này thường đem lại lợi nhuận cao nêu các doanh
nghiệp nắm chắc được nhu cầu thị khách hàng. Nhưng ngược lại, nếu các doanh
nghiệp trường, thị hiện của it am hiểu hoặc Đông nắm bắt kịp thời thông tin về thị
trường thế giới và đời thủ cạnh tranh thì rủi ro trong hình thức này không phải là ít.
Hình thức xuất khẩu gián tiếp: (Indirect Exporting)
Hình thức xuất khẩu gián tiếp không đòi hỏi có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người mua
nước ngoài và người sản xuất trong nước. Để bán được sản phẩm của mình ra nước
ngoài, người sản xuất phải nhờ vào người hoặc tổ chức trung gian có chức năng xuất
khẩu trực tiếp. Với thực chất đó, xuất khẩu gián tiếp thường sử dụng đối với các cơ sở
sản xuất có quy mô nhỏ, chưa đủ điều kiện xuất khán trực tiếp, chara quen biết thi
trường, vụ kinh doanh xuất nhập khẩu hàng và chưa thông thạo tác nghiệp
Các doanh nghiệp có thể thực hiện xuất khẩu gián tiếp thông qua các hình thức
Các công ty quản lý xuất khẩu (EMC) (Export Management Company)
Công ty quản lý xuất khẩu là Công ty quản trị xuất khẩu cho Công ty khác. Các nhà
xuất khẩu nhỏ thường thiệu kinh nghiệm bán hàng ra nước ngoài hoặc không đủ khả
năng về vốn để tự tổ chức bộ máy xuất khẩu riêng. Do đó, họ thường phải thông qua
EMC đề xuất khẩu sản phẩm của mình. Các EMC không mua bán trên danh nghĩa của
mình. Tất cả các đơn chào hàng. hợp đồng chuyên chở hàng hóa, lập hóa đơn và thu
tiên hàng đều thực hiện với danh nghĩa chủ hàng.
Thông thường, chính sách giá cả, các điều kiện bán hàng, quảng cáo... là do chủ hàng
quyết định. Các EMC chỉ giữ vai trò cố vấn, thực hiện các dịch vụ liên quan đến xuất
nhập khẩu và khi thực hiện các dịch vụ trên EMC sẽ được thanh toán bằng hoa hồng
Một khuynh hướng mới của EMC hiện nay, đặc biệt là những Công ty có quy mô lớn
là thường mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất và mang t bán ra để kiếm lời nước ngoài
Nói chung, khi sử dụng EMC, vì các nhà sản xuất hàng xuất khẩu ít có quan hệ trực
tiếp với thị trường, cho nên sự thành công hay thất bại của công tác xuất khẩu phụ
thuộc rất nhiều vào chất lượng dịch vụ của EMC mà họ lựa chọn
Thông qua khách hàng nước ngoài (Foreign Buyer)
Đây là hình thức xuất khẩu thông qua các nhân viên của các Công ty nhập khẩu nước
ngoài. Họ là những người có hiểu biết về điều kiện cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Khi thực hiện hình thức này, các doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần phải tìm hiểu kỹ
khách hàng để thiết lập quan hệ làm ăn bền vững với thị trường nước ngoài
Qua ủy thác xuất khẩu : (Export Commission House)
Những người hoặc tổ chức ủy thác thường là đại diện cho những người mua nước
ngoài cư trú trong nước của nhà xuất khẩu. Nhà ủy thác xuất khẩu hành động ích của
người mua và người mua trả tiền ủy thác. Khi hàng hóa chuẩn bị được đặt mua, nhà
ủy thác lập phiếu đặt hàng với nhà sản xuất được chọn và họ sẽ quan tâm đến mọi chi
tiết có liên quan đến quá trình xuất khẩu. Bán hàng cho các nhà ủy thác là một phương
thức thuận lợi cho xuất khẩu. Việc thanh toán thường được bảo đảm nhanh chóng cho
người sản xuất và những vấn đề về vận chuyển hàng hóa hoàn toàn do các nhà được
ủy thác xuất khẩu chịu trách nhiệm.
Qua môi giới xuất khẩu (Export Broker)
Môi giới xuất khẩu thực hiện chứng năng lượn kết giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập
khẩu. Người mới giới được nhà xuất à ủy nhiệm và trà hoa hồng cho hoạt động của
họ. Người môi giới thường chuyên sâu vào một số mặt hàng hay một nhóm hàng nhất định
Qua hàng buôn xuất khẩu (Export Merchant)
Hãng buôn xuất khẩu thường đông tại nước xuất khẩu và mua hàng của người chế
biến hoặc nhà sản xuất và sau đó họ tiếp tục thực hiện các nghiệp vụ đề xuất khẩu và
chịu mọi rủi ro liên quan đến xuất khẩu. Như vậy, các nhà sản xuất thông qua các
hãng buôn xuất khẩu để thâm nhập thị trường nước ngoài. Phương thức thực hiện
chiến lược thâm nhập thị trường thế giới từ sản xuất trong nước là một chiến lược
được nhiều doanh nghiệp nước ta sử dụng.
Xuất khẩu hợp tác ( Cooperative Exporting )
Những công ty xuất khẩu không muốn dùng nguồn lực để tạo ra kênh phân phối của
mình nhưng vẫn muốn ít nhiều kiểm soát hoạt động nước ngoài thì nên xem xét hình
thức xuất khẩu này, một trong những hình thức phổ biến của xuất khẩu hợp tác là
piggyback exporting. Thông thường hình thức này, công ty xuất khẩu sử dụng mạng
lưới phân phối của công ty khác để bán sản phẩm của họ trên thị trường nước ngoài.
2.2 Các hình thức thực hiện chiến lược thâm nhập thị trường thế giới từ sản xuất
ở nước ngoài (Production in Foreign Countries):
Trong chiến lược này, có một số hình thức thâm nhập như sau:
a. Nhượng bản quyền (licensing)
Theo nghĩa rộng nhượng bản quyền là một phương thức điều hành của một doanh
nghiệp có bản quyền (License) cho một doanh nghiệp khác, thông qua việc họ
(licensee) được sử dụng các phương thức sản xuất, các bằng sáng chế (patent), bí
quyết công nghệ (know-how), nhãn hiệu (trademark), tác quyền, chuyển giao công
nghệ (transfer engineering), trợ giúp kỹ thuật hoặc một vài kỹ năng khác của mình và
được nhận tiền về bản quyền từ họ (Royalty). Doanh nghiệp có bản quyền ít kiểm soát
được bên được nhượng bản quyền so với việc tự thiết lập ra các cơ xưởng sản xuất do
chính mình điều hành. Khi hợp đồng nhượng bản quyền chấm dứt, doanh nghiệp có
bản quyền có thể đã tạo ra một người cạnh tranh mới với chính mình
b. Sản xuất theo hợp đồng (Contract Manufacturing)
Sản xuất theo hợp đồng là sự hợp tác hoặc chế tạo hoặc lắp ráp sản phẩm do nhà sản
xuất thực hiện ở thị trường nước ngoài (gia công). Doanh nghiệp ít kiểm soát quy
trình sản xuất ở nước ngoài. Khi hợp đồng chấm dứt, doanh nghiệp có thể tạo ra một
nhà cạnh tranh mới với chính mình.
c. Hoạt động lắp ráp (Assembly operations)
Hoạt động lắp ráp thể hiện sự kết hợp giữa xuất khẩu và sản xuất ở nước ngoài. Muốn
có những thuận lợi trong sản xuất ở nước ngoài, một số doanh nghiệp có thể lập cơ sở
hoạt động lắp ráp ở nước ngoài. Trong trường hợp này, các doanh nghiệp chỉ xuất
khẩu các linh kiện rời ra nước ngoài, những linh kiện đó sẽ được lắp ráp đề thành một
sản phẩm hoàn ảnh. Bằng cách xuất các linh kiện rời có thể tiết kiệm các khoản chi
phí về chuyên chở và bảo hiểm. hiểm. Hoạt động lắp ráp cũng có thể tận dụng với tiên
lương thấp, từ đó cho phép giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm
d. Hợp đồng quản trị (Management Contracting):
Ở đây công ty nội địa cung cấp bí quyết quản trị cho một công ty nước ngoài dưới
dạng xuất khẩu dịch vụ quản trị, chứ không phải xuất khẩu sản phẩm. Hợp đồng quản
trị là một hình thức tham gia vào thị trường thế giới với mức rủi ro thấp và nó giúp
cho công ty tạo ra lợi tức ngay từ buổi đầu. Đặc biệt hình thức này càng hấp dẫn nếu
công ty xuất khẩu dịch vụ quản trị ký hợp đồng được giành lại sự ưu đãi để mua một
số cổ phần của công ty được quản trị trong một thời hạn ấn định nào đó. e. Liên doanh (Joint Venture)
Là một tổ chức kinh doanh trong đó hai hoặc nhiều bên có chung quyền sở hữu, quyền
quản lý, điều hành hoạt động và được hưởng các quyền lợi về tài sản. Bên cạnh những
ưu điểm về kinh tế như: kết hợp thể mạnh các bên về kỹ thuật, vốn và phương thức
điều hành hình thực liên doanh còn có những hạn chế nhất định như khi điều hành
công ty có thể tạo ra các quan điểm khác nhau về sản xuất kinh doanh, chiến lược phát triển
f. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Khi một doanh nghiệp có đủ kinh nghiệm về xuất khẩu và nếu thị trường nước ngoài
đủ lớn, thì họ lập cơ sở sản xuất ở nước ngoài. Điều này sẽ mang đến những ưu điểm
nhất định như tiết kiệm chi phí vận chuyển, tạo ra sản phẩm thích hợp với thị trường
nước ngoài, kiểm soát hoàn toàn sản xuất kinh doanh ... Những điểm hạn chế của nó
là sự rủi ro sẽ lớn hơn so với các hình thức thâm nhập trên.
2.3 Phương thức thực hiện chiến lược thâm nhập thị trường thế giới tại khu thương mại tự do:
Ngoài 2 phương thức thực hiện chiến lược thâm nhập thị trường thế giới trên, các
doanh nghiệp xuất khẩu còn có thể thâm nhập thị trường thông qua các hình thức như:
Đặc khu kinh tế (Special Economic Zone)
Khu chế xuất (Export Processing Zone)
Khu thương mại tự do (Free Trade Zone) Phương thức này có ý nghĩa quan trọng là:
Khi sản xuất tại đặc khu kinh tê, khu chế xuất, các doanh nghiệp sẽ tận dụng được
những lợi thẻ như miễn giảm các loại thuế, chi phí thuê mướn nhà cửa, nhân công
thấp. Trong khi chờ đợi một thị trường thuận lợi, nhà xuất khẩu có thể gửi hàng hóa
vào khu thương mại tự do để giữ lại sơ chè hoặc đóng gói lại trong một thời gian nhất
định mà không phải làm thủ tục hải quan hoặc đồng thuê nhập khẩu.
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CỤ THỂ TRÊN TẬP ĐOÀN UNILEVER TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM:
I. Các yếu tố ảnh hưởng đến đến lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường Việt Nam của Unilever: 1. Môi trường kinh doanh: 1.1. Môi trường kinh tế:
Môi trường quốc tế: Việt Nam được xếp vào nhóm các nước đang phát triển, có thu
nhập trung bình thấp, và là thị trường mới nổi, có cơ hội kinh doanh rất cao cho mặt hàng tiêu dùng Môi trường quốc gia:
- Trình độ phát triển kinh tế: Quy mô GDP năm 2023 theo giá hiện hành ước đạt
10.221,8 nghìn tỷ đồng, tương đương 430 tỷ USD, GDP bình quân đầu người năm
2023 theo giá hiện hành ước đạt 101,9 triệu đồng/người, tương đương 4.284 USD,
tăng 160 USD so với năm 2022. Đối với Việt Nam, dù còn nhiều khó khăn song kinh
tế năm 2023 đạt được nhiều kết quả tích cực, đáng ghi nhận và được các tổ chức quốc tế đánh giá cao.
Trong năm 2023, tiêu dùng cuối cùng tuy chưa thể sôi đô •ng trở lại như trước khi đại
dịch nhưng cơ bản vẫn ổn định, cả năm đạt 3,52%, đóng góp 2,07 điểm phần trăm vào
tăng trưởng chung. Mức tăng ổn định này là do trong thời gian hè vừa qua và càng gần
cuối năm, nhu cầu chi tiêu cũng cao hơn để đáp ứng cho kỳ nghỉ hè, lễ hô •i, Tết dương
lịch và Tết Nguyên đán sắp tới. Nhìn chung, cầu tiêu dùng vẫn là nhân tố chủ yếu của tăng trưởng kinh tế
- Cơ cấu ngành kinh tế: Nền kinh tế ngày càng phát triển, cơ cấu ngành có sự thay
đổi theo xu hướng phát triển các ngành thương mại, dịch vụ và thu hẹp ngành nông nghiệp.
=> Nhận thức được điều này giúp cho công ty đưa ra được các sản phẩm phù hợp với
nhu cầu tiêu dùng của thị trường, phù hợp với định hướng phát triển của doanh nghiệp
- Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế: Trước tiên là hệ thống giao thông, thông tin liên lạc
ở các thành phố lớn, nhất là Hà Nội và TP HCM đã và đang được đầu tư thích đáng,
trước mắt là ngang bằng với 1 số nước trong khu vực. Mạng lưới giao thông liên tỉnh,
huyện, xã được cải tạo, nâng cấp, tạo điều kiện cho công ty mở rộng mạng lưới phân
phối sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng không chỉ ở các đô thị lớn ma ở cả các
vùng nông thôn, các khu vực xa xôi hẻo lánh. Internet đang được phổ cập nhanh
chóng, cước viễn thông, bưu chính được điều chỉnh giảm đáng kể so với trước đây,
cho phép công ty có thể áp dụng những công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất kinh
doanh cũng như quá trình quản lý nhằm tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động 1.2. Môi trường dân số: Môi trường dân số:
- Quy mô dân số: Dân số trung bình của Việt Nam năm 2023 đạt 100,3 triệu người,
trong đó tỷ lệ dân số nam và nữ khá cân bằng (nam giới chiếm 49,9%, nữ giới 50,1%).
Nhu cầu của người tiêu dùng được dự báo tăng mạnh do dân số trẻ và số lượng người
thuộc tầng lớp trung lưu ở các đô thị tăng.
=> Thị trường đang phát triển với tiềm năng rất lớn. Với dân số lớn, Unilever có
thể tăng cường đầu tư và phát triển các sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu đặc biệt
của thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, dân số đông có thể tạo ra cạnh tranh sòng
phẳng hơn giữa các công ty trong cùng ngành. Unilever cần đánh giá các đối thủ
cạnh tranh cũng như các rủi ro và cơ hội trong môi trường kinh doanh Việt Nam.
- Sự thay đổi quy mô hộ gia đình: Đây là yếu tố ảnh hưởng mạnh đến nhu cầu thị
trường nhiều hàng hóa. Các gia đình quy mô lớn bao gồm nhiều thế hệ trước đây dần
dần được thay bằng các hộ gia đình với quy mô nhỏ, do lớp trẻ ngày nay có xu hướng
mong muốn có cuộc sống tự lập. ngoài ra, những gia đình mở rộng ở lớp trung lưu
( cơ cấu gia đình phổ biến nhất ở Việt Nam), việc chọn mua 1 sản phẩm, nhất là sản
phẩm cao cấp, thường được cân nhắc rất kỹ lưỡng. vì vậy nhóm này tiêu thụ những
mặt hàng chăm sóc cá nhân ( personal care) cao cấp không nhiều như nhóm SSWD
( single – độc thân, separate – sống riêng, windowed – góa phụ, divorced – li dị) ở các nước cơ bản
- Chính sách dân số: Chính sách dân số - kế hoạch hóa ở Việt Nam sẽ khiến trong
vài thập niên nữa, lớp trẻ sẽ già đi và cơ cấu dân số già sẽ không là lợi thế cho Unilever
1.3. Môi trường chính trị - pháp luật:
Đây là yếu tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh trên 1 lãnh thổ, các
yếu tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ
ngành nào. Khi kinh doanh trên 1 đơn vị hành chính, các doanh nghiệp sẽ phải bắt
buộc tuân theo các thể chế pháp luật tại khu vực đó
- Tình hình an ninh chính trị, cơ chế điều hành của chính phủ :
Tình hình thế giới nhìn chung diễn biến theo chiều hướng phức tạp, kém lạc quan hơn;
khó khăn, thách thức ngày càng gia tăng trên phạm vi toàn cầu, tiềm ẩn rủi ro chuyển
từ các vấn đề về kinh tế sang xã hội, an ninh chính trị của một số quốc gia và khu vực.
Về tình hình trong nước, một thời gian khá dài đã duy trì tăng trưởng cao, giữ vững ổn
định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, các cân đối lớn về năng lượng, lương thực
được bảo đảm, nợ công, nợ chính phủ giảm mạnh... Ngay cả giai đoạn khó khăn nhất
của dịch COVID-19 trong năm 2020-2021 thì thành quả này cũng được duy trì.
Unilever nhận thấy Việt Nam là một quốc gia có độ ổn chính trị cao, người dân có
nhận thức, quan điểm tích cực về đầu tư trực tiếp nước ngoài và coi trọng những công
ty này, cho nên việc xây dựng và hình thành chiến lược kinh doanh lâu dài tại Việt
Nam là hoàn toàn có cơ sở.
Hệ thống pháp luật và các văn bản pháp luật đặc biệt là các chính sách kinh tế để điều
chỉnh hành vi kinh doanh, tiêu dùng, quan hệ trao đổi- thương mại.
Mặc dù luật pháp của Việt Nam còn nhiều rắc rối, bất cập, gây nhiều sự khó khăn cho
công ty, nhưng công ty thấy rằng việc công ty đầu tư vào Việt Nam nhận được sự
chào đón của các quan chức địa phương, và phù hợp với luật đầu tư nước ngoài tại
đây, cộng thêm là công ty sẽ hiểu biết nhiều hơn về luật Đầu tư cũng như môi trường
kinh doanh tại Việt Nam nói chung khi người kinh doanh thuê người bản xứ làm việc cho mình.
=> Do đó khi hình thành chiến lược kinh doanh về vấn đề chính trị pháp luật đối
với công ty cũng không có vấn đề, trở ngại quá lớn. Cái duy nhất mà công ty phải
đối phó và cẩn thận trong pháp luật khi xây dựng chiến lược là các vấn đề về lao
động và các chế độ đối với người lao động, bởi Chính phủ Việt Nam rất quan tâm
đến vấn đề này và công ty cũng có bài học của các công ty nước ngoài khác về các
vấn đề này tại Việt Nam.
1.4. Yếu tố văn hóa - xã hội:
Tại mỗi nước, mức độ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các yếu tố văn hóa và
xã hội là khác nhau. Tuy nhiên các yếu tố này cũng rất cần được xem xét, bao gồm:
- Quan điểm của người dân đối với các sản phẩm và dịch vụ mới:
Công ty nhận thấy người Việt Nam dễ chấp nhận những gì là mới mẻ và có quan điểm
cách tân, có thái độ chào đón những cái mới, miễn là những cái mới này phù hợp với
cách sống, cách tư duy của họ. Họ thích tiêu dùng những sản phẩm mới, luôn mới thì
càng tốt, với chất lượng ngày càng được nâng cao, thậm chí khi họ chưa biết đến 1 sản
phẩm nào đó, vấn đề quảng bá sản phẩm của công ty cũng không gặp nhiều khó khăn,
bởi người Việt Nam rất tò mò, công ty khi tiến hành khuếch trương, quảng bá chỉ cần
kích thích sự tò mò của họ là sản phầm ấy cũng sẽ thành công. Ngoài ra, công ty còn
nhận thấy sở thích của người Việt Nam rất đa dạng, rất phù hợp với chủng loại sản
phẩm phong phú của công ty, người Việt Nam không thích hẳn 1 màu sắc riêng biệt,
như Trung Quốc ưa thích màu đỏ, là màu của sự hạnh phúc.
=> Người Việt Nam nói chung là đa dạng, không có sự bài trừ cái gì liên quan
đến sự thẩm mỹ, trừ những trường hợp liên quan đến thuần phong mỹ tục của
họ. Mặt khác, công ty cũng dự định công ty sẽ tìm hiểu và hiểu biết về vấn đề này
nhiều hơn khi công ty thuê những người Việt Nam làm việc và liên doanh với các
đối tác là người Việt Nam.
Người Việt Nam nói chung có tâm lý sính hàng ngoại, không chỉ bởi chất lượng, mẫu
mã mà còn bới uy tín thương hiệu của các doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời hàng
Việt Nam chưa tạo được niềm tin đối với người tiêu dùng, do nhiều nguyên nhân: chất
lượng sản phẩm chưa cao, chủng loại sản phẩm vẫn còn nghèo nàn. Mẫu mã kém hấp dẫn .
=> Điều này đã tạo cơ hội cho hàng ngoại xâm nhập sâu vào thị trường, và từng
bước phát triển vững chắc. Unilever cũng không phải là ngoại lệ
Còn đối với một bộ phận người tiêu dùng có thu nhập trung bình và thấp ở Việt Nam
thì hầu hết lại có tư tưởng ham đồ rẻ, mà không cần biết chất lượng hàng hoá ra sao,
xuất xứ thế nào. Đây là vấn đề khá phổ biến trong thực tế hiện nay, minh chứng rõ
nhất ở nhóm người này là trong mấy năm trở lại đây các sản phẩm hàng tiêu dùng trên
thị trường quá đa dạng về chất lượng, mẫu mã, chủng loại sản phẩm. Điều này cũng
đồng nghĩa với việc hàng giả, hàng nhái tràn lan trên thị trường Việt. Hàng Thái Lan
nhóm hàng được người tiêu dùng ưa chuộng nhất hiện nay nhưng cũng là nhóm mặt
hàng dễ làm giả làm nhái nhất trên thị trường. mặc dù không biết rằng các sản phẩm
này có đảm bảo chất lượng hay không nhưng cứ rẻ là người tiêu dùng mua và sử dụng
bởi tâm lý ham đồ rẻ còn tồn tại trong ý thức nhiều người
Gia đình có ảnh hưởng mạnh đến hành vi mua của cá nhân, đặc biệt trong điều
kiện Việt Nam khi nhiều thế hệ sống cùng nhau trong một gia đình. Các nhà sản xuất
phải cân đo, đong, đếm được mức độ ảnh hưởng của vợ và chồng đối với sản phẩm
của mình để đưa ra quyết định. Mua xe hơi, đồ điện thường do chồng quyết định
nhưng việc mua các đồ dùng bếp núc lại thường do vợ quyết định. Có những mặt hàng
do cả hai vợ chồng tham gia quyết định. Các nhà quảng cáo mỗi loại sản phẩm cần
phải biết nhằm vào ai để thuyết phục.
- Ngôn ngữ có ảnh hưởng tới mức độ phổ biến của sản phẩm trên thị trường.
Người Việt Nam nói chung có trình độ ngoại ngữ không cao trong khi hầu hết các sản
phẩm ngoại nhập đều sử dụng ngôn ngữ tiếng anh. Ban đầu điều này có ảnh hưởng
đến tiêu thụ sản phẩm của Unilever, chẳng hạn như người dân không biết hết được
công dụng của sản phẩm, cũng như cách sử dụng sản phẩm 1 cách có hiệu quả, dẫn tới
tâm lý e ngại trong việc lựa chọn sản phẩm của công ty.
=> Nhận biết được điều này, Unilever đã nhanh chóng khắc phục bằng việc thiết kế
bao bì cho sản phẩm sử dụng Tiếng Việt, tạo điều kiện cho người tiêu dùng Việt Nam
có thể hiểu thêm về sản phẩm và lựa chọn sản phẩm vào giỏ hàng của họ. Trong chiến
dịch quảng cáo sản phẩm công ty thường sử dụng ngôn ngữ và biểu tượng mang tính
đặc thù quốc gia gần gũi, dễ hiểu đối với người tiêu dùng. Tôn giáo:
Việt Nam là 1 nước tự do về tôn giáo nên việc phân phối, quảng bá sản phẩm không
chịu nhiều khắt khe như 1 số nước ở Châu Á khác.
2. Đặc điểm trung gian tại Việt Nam:
Trong nhiều năm trở lại đây, thị trường Việt Nam liên tục xuất hiện các kênh phân
phối cùng cách thức bán hàng hiện đại. Song song đó là sự đa dạng trong phân khúc
và hành vi mua sắm của khách hàng cũng ngày càng phức tạp hơn. Vì vậy, việc cập
nhật tổng quan về thị trường phân phối và những thay đổi trong hành vi tiêu dùng
2023 là vô cùng cần thiết. Nhằm dự đoán các xu hướng sẽ tiếp tục dẫn đầu trong thời gian tới.
Trong giai đoạn từ năm 2020 cho đến nay, do những ảnh hưởng của đại dịch đã tác
động đến thói quen mua sắm của khách hàng. Các vấn đề sức khỏe cũng được chú
trọng hơn bao giờ hết. Cụ thể:
- Việt Nam là thị trường dược phẩm lớn thứ hai tại Đông Nam Á và là một trong 17
nước có mức tăng trưởng ngành dược cao nhất (theo thống kê của BMI Research vào
năm 2020). Các mặt hàng chăm sóc sức khỏe được đại đa số khách hàng quan tâm lựa
chọn như khẩu trang, nước rửa tay, thực phẩm chức năng,…
- Đứng thứ hai về sức mua là nhóm ngành thực phẩm, chủ yếu là thuộc nhóm chế biến
sẵn như mì gói, dầu ăn, lương khô, thực phẩm đóng hộp
Đến hiện tại, Việt Nam là thị trường thương mại điện tử lớn thứ 2 (chỉ sau Indonesia)
trong khu vực Đông Nam Á. Theo các chuyên gia dự đoán: thương mại điện tử sẽ tiếp
tục tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.
=> Chính sự phát triển này của thương mại điện tử đã kéo theo sự ra đời của
nhiều kênh phân phối mới và cách thức bán hàng cùng ngày càng phong phú
hơn. Các cuộc đua giành thị phần của các sàn thương mại điện tử cũng xuất hiện
và tạo ra nhiều sự thay đổi lớn.
Bên cạnh các yêu cầu về chất lượng hàng hóa, khách hàng cũng rất quan tâm
đến thời gian nhận hàng. Theo báo cáo của Công ty Ken Research: đa số người tiêu
dùng Việt sẵn sàng trả thêm tiền cho dịch vụ chuyển phát nhanh, để họ có thể nhận
được hàng trong vòng 2 giờ kể từ khi đặt hàng thành công.
Hiểu được nhu cầu đó, các doanh nghiệp thương mại điện tử đã nhanh chóng đầu tư
vào Quick Commerce (là mô hình thương mại điện tử nhanh với toàn bộ quá trình
mua và giao hàng chỉ xảy ra trong khoảng thời gian ngắn). Một số sàn thương mại
điện tử đã triển khai như TikiNow, Now Ship, GrabExpress,…
Nhìn chung, thị trường phân phối hàng hóa tại Việt Nam là một bức tranh có đa dạng
màu sắc, nhiều sự biến chuyển theo thời gian. Hành vi và thói quen mua sắm của
khách hàng ngày càng phức tạp, các kênh bán hàng mới liên tục xuất hiện như nấm mọc sau mưa.
=> Unilever cần phải thường xuyên cập nhật và nghiên cứu thị trường thật kỹ,
nghiên cứu khách hàng cũng như nghiên cứu các công cụ hỗ trợ để có những
định hướng hoạt động, chiến lược kinh doanh đúng đắn. Đáp ứng đúng nhu cầu
của khách hàng mục tiêu, mang về doanh thu ổn định – lợi nhuận khủng.
- Hệ thống phân phối của Unilever tại thị trường Việt Nam:
Unilever Việt Nam có hệ thống phân phối rộng khắp toàn quốc gồm 150 nhà phân
phối và 200.000 cửa hàng bán lẻ. Công ty trực tiếp tuyển dụng hơn 1.500 nhân viên và
gián tiếp tạo thêm gần 10.000 việc làm cho các đối tác như các đơn vị gia công, nhà
thầu, nhà phân phối, các công ty nhỏ và vừa trên khắp Việt Nam. Với những nỗ lực
vượt bậc ngay từ những ngày đầu gia nhập thị trường Việt Nam, cho tới nay, hầu hết
các nhãn hàng của Unilever như OMO, P/S, Clear, Pond’s, Knorr, Lifebuoy, Sunsilk,
VIM, Lipton, Sunlight, VISO, Rexona…đã trở thành những sản phẩm quen thuộc của
mọi gia đình Việt Nam. Mỗi ngày hơn 30 triệu sản phẩm của Unilever đến tay người
tiêu dùng trên khắp mọi miền đất nước, góp phần nâng cao điều kiện sống, vệ sinh và
sức khỏe cho mọi gia đình Việt Nam.
3. Đặc điểm sản phẩm:
Unilever là một tập đoàn đa quốc gia hoạt động trong lĩnh vực FMCG (Fast
Moving Consumer Goods), tức là các sản phẩm tiêu dùng nhanh. Các sản phẩm
của Unilever có đặc điểm chung là chất lượng cao, đa dạng và phù hợp với nhu
cầu của người tiêu dùng trên toàn cầu.
Tập đoàn Unilever được biết là doanh nghiệp luôn gắn hoạt động kinh doanh với phát
triển bền vững. Từ 2010, Unilever cho ra mắt mục tiêu phát triển bền vững nhằm thúc
đẩy tham vọng cải thiện về môi trường, xã hội và kinh tế. Trong đó Unilever
luôn chú trọng thiết kế cấu tạo kỹ thuật, bao bì sản phẩm thân thiện với môi trường,
không ấy độc hại cho người dùng và đồng thời không ngừng phát triển công nghệ để
có thể làm ra những sản phẩm đạt chất lượng cao, không ngừng gia tăng tài sản
thương hiệu để thỏa mãn khách hàng nhất
Ví dụ: Yêu cái đẹp và hành tinh – Love Beauty and Planet là tên một dòng sản phẩm
của Tập đoàn Unilever. Dòng sản phẩm “tự nhiên” này gồm có dầu gội, dầu xả và sữa
tắm, có mặt ở thị trường Việt Nam vào tháng 01/2019. Chỉ thị dành cho đội ngũ R&D
của Love Beauty and Planet là tạo ra một sản phẩm có nguồn gốc và thành phần
nguồn gốc phù hợp với sự phát triển bền vững hết mức có thể. Với sứ mệnh “Điểm tô
thêm vẻ đẹp của bạn và góp phần giảm tác động tiêu cực đến môi trường”
=> Unilever cần đảm bảo rằng các sản phẩm được đưa vào thị trường Việt Nam
đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng và an toàn cao nhất. Việc này bao gồm kiểm
tra sản phẩm trước khi ra mắt và duy trì các tiêu chuẩn sản xuất chất lượng
trong suốt quá trình sản xuất.Sau khi sản phẩm được giới thiệu vào thị trường,
Unilever cần thường xuyên theo dõi và đánh giá hiệu quả của từng sản phẩm.
Điều này giúp công ty điều chỉnh chiến lược kinh doanh và sản phẩm để đáp ứng
nhu cầu thị trường một cách tốt nhất. Tóm lại, Unilever cần tập trung vào tùy
chỉnh sản phẩm, đảm bảo chất lượng và an toàn, và phát triển chiến lược tiếp thị
phù hợp để thành công khi thâm nhập thị trường Việt Nam. Việc hiểu và tương
tác với người tiêu dùng địa phương là yếu tố then chốt trong việc đảm bảo đặc
điểm sản phẩm phù hợp với thị trường này.
4. Khả năng xuất khẩu của Unilever:
- Unilever Việt Nam là công ty lớn với tổng số vốn là 100 triệu USD, vốn điều lệ 55
triệu USD. Theo báo cáo, những năm qua doanh nghiệp luôn đạt tốc độ tăng trưởng
bình quân 2 con số mỗi năm và đạt tổng doanh thu gần bằng 1% GDP của Việt Nam
năm 2009, với hơn 100 doanh nghiệp vệ tinh, cung cấp nguyên vật liệu và phân phối
sản phẩm,...sở hữu các nhãn hiệu nổi tiếng và chiếm phần lớn trên thị trường Việt
Nam như: Omo, Sunsilk, PS, Lipton, Sunlight,...mỗi ngày có gần 5 triệu sản phẩm của
công ty được tiêu thụ. Kể từ khi bước chân vào thị trường Việt Nam năm 1995 đến
thời điểm năm 2009,Unilever đã tăng vốn đầu tư ở Việt Nam lên trên 86,47 triệu USD
- Năng lực tài chính của Unilever còn thể hiện ở số tiền doanh nghiệp này chi cho
quảng cáo thương hiệu. Nhiều nhãn hàng của Unilever xuất hiện trong Top 15 những
doanh nghiệp chi mạnh nhất cho quảng cáo tại Việt Nam năm 2009 như: Omo (9,8
triệu USD), Comfort (8,5 triệu USD), Sunsilk (6,8 triệu USD)... Xét về toàn diện
trong lĩnh vực quảng cáo Unilever vẫn tiếp tục duy trì ngôi vị số 1 là doanh nghiệp
đầu tư nhiều nhất cho quảng cáo với con số 86,7 triệu USD, tăng 89%so với 2008.
Năm 2009, Unilever Việt Nam đã chính thức được cấp giấy chứng nhận chuyển đổi
thành công 100% vốn nước ngoài sau khi mua lại cổ phần của đối tác trong liên doanh
là Tổng công ty Hóa Chất Việt Nam (Vinachem). Thỏa thuận này cho phép Unilever
mua lại 33,33% cổ phần của Vinachem trong lien doanh được thành lập từ năm 1995,
trong đó, Unilever góp 75,3 triệu, tương đương 66,66% tổng số vốn. Sau khi hoàn tất
việc mua lại cổ phần từ Vinachem, Unilever VN chính thức được Bộ Tài Chính VN
cấp giấy chứng nhận chuyển đổi thành công 100% vốn nước ngoài hoạt động tại VN.
Công ty mới có tên mới gọi là Công ty TNHH Quốc Tế Unilever VN (Unilever
Vietnam International Company Limited , gọi tắt là Unilever VN).
- Unilever Việt Nam hiện có 1.700 nhân viên trên toàn quốc và gián tiếp tạo công ăn
việc làm cho 15.000 người lao động thông qua các bên thứ ba, các nhà cung cấp và
đại lý phân phối. Khu liên hợp nhà máy của Unilever Việt Nam tại Củ Chi, thành phố
Hồ Chí Minh được đánh giá là một trong những cụm nhà máy vận hành hiệu quả nhất
của Unilever toàn cầu.Công ty luôn coi trọng việc phát triển nguồn nhân lực là bước
đột phá về chất cho sự phát triển lâu dài. Unilever đã xây dựng một đội ngũ nhân viên
bản địa chuyên nghiệp và thường xuyên chú trọng đến các chương trình huấn luyện
nhân viên. Công ty luôn quan tâm đến quyền lợi của nhân viên và sẵn sàng hỗ trợ họ
trong các trong các lĩnh vực công tác.
- Hiện nay, đội ngũ cán bộ quản lý VN đã thay thế các vị trí chủ chốt trước kia do các
chuyên gia nước ngoài đảm nhiệm . Ngoài ra, công ty cũng có chế độ lương bổng,
phúc lợi thỏa đáng và các khóa học tập trung trong và ngoài nước cho nhân viên nhằm
nâng cao nghiệp vụ của họ… các chính sách đúng đắn chú ý đến yếu tố nhân lực của
công ty đã xây dựng được một môi trường văn hóa doanh nghiệp mạnh và một đội
ngũ nhân viên có năng lực, trình độ cao và có tinh thần trách nhiệm vì mục tiêu chung của công.
=> Unilever có tiềm năng thâm nhập thị trường Việt Nam thành công nếu thực
hiện các bước chuẩn bị và điều chỉnh chiến lược phù hợp. Việc tùy chỉnh sản
phẩm, nghiên cứu thị trường kỹ lưỡng, xây dựng mạng lưới phân phối và đối phó
với cạnh tranh là những yếu tố quan trọng để Unilever có thể tận dụng tiềm năng
của thị trường Việt Nam và đạt được thành công trong hoạt động kinh doanh tại
đây. Tuy nhiên, Unilever cũng cần đối mặt và giải quyết các thách thức và rủi ro
địa phương để đảm bảo hiệu quả và bền vững trong chiến lược thâm nhập thị trường này.
CHƯƠNG III: SƠ LƯỢC VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC THÂM NHẬP CỦA
UNILEVER TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM :
Liên doanh - Công ty 100% vốn nước ngoài:
Unilever thâm nhập thị trường Việt Nam tháng 9.1994 thông qua Lever Haso, liên
doanh đầu tiên giữa Unilever với một công ty con thuộc tổng công ty hóa chất Việt
Nam (Vinachem), trước vài tháng so với P&G. Tháng 2.1995, Unilever tham gia liên
doanh thứ hai Lever Viso (liên doanh này về sau sáp nhập với liên doanh đầu, nay là Unilever Việt Nam).
Unilever Việt Nam được thành lập năm 1995, là một bước đi thận trọng của Unilever.
Ban đầu, Unilever góp 65% vốn với một công ty khác với tổng số vốn đầu tư 56 triệu
đô để thành lập “Công ty Lever Việt Nam” có trụ sở tại Hà Nội.
Công ty đã vận dụng những tiêu chuẩn quốc tế cho sản phẩm nhưng thích nghi với
nhu cầu của người Việt Nam. Họ đã mua lại từ các đối tác của mình những nhãn hiệu
có uy tín từ nhiều năm ở Việt Nam như bột giặt Viso và kem đánh răng P/S. Sau đó,
cải tiến công thức chế tạo bao gói và tiếp thị để gia tăng tiêu thụ những nhãn hiệu này.
Đến nay, liên doanh P/S Elisa cũng đã trở thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
trong khi Công ty Hóa phẩm P/S đã đánh mất hoàn toàn vị thế cạnh tranh ban đầu của mình.
Ngay sau khi đi vào hoạt động năm 1995, các sản phẩm nổi tiếng của Unilever Như
Omo, Sunsilk, Clear, Dove, Pond’s, Close-up, Cornetto, Paddle Pop, Lipton,Knorr...
cùng các nhãn hàng truyền thống của Việt Nam là Viso và P/S đã nhanh chóng trở
thành những hàng hóa được tiêu dùng nhiều nhất tại thị trường Việt Nam Và cùng với
nó công ty Unilever đã nhanh chóng có lãi và thu được lợi nhuận không nhỏ trên thị
trường Việt Nam. Trong đó liên doanh Lever Việt Nam, Hà Nội Bắt đầu làm ăn có lãi
từ năm 1997, tức là chỉ sau 2 năm công ty này được thành lập. Công ty Elida P/S cũng
làm ăn có lãi kể từ khi nó được thành lập từ năm 1997.Best Food cũng đã rất thành
công trong việc đưa ra được nhãn hiệu kem nổi tiếng và được người tiêu dùng hoan
nghênh năm 1997 là Paddle Pop (Sau này nhãn hiệu này được chuyển nhượng cho
Kinh Đô của Việt Nam) và công ty đã mở rộng sang kinh doanh mặt hàng trà Lipton,
bột nêm Knorr, và nước mắm Knorr-Phú Quốc...Và công ty này hiện tại cũng đang
hoạt động rất có lãi. Ngoài các hoạt động kinh doanh Unilever Việt Nam cũng tích
cực đóng góp vào các hoạt động xã hội, nhân đạo và phát triển cộng đồng. Hàng năm
công ty đóng góp khoảng 2 triệu đô la và hoạt động phát triển cộng đồng tại Việt Nam
và công ty đã vinh dự được nhận bằng khen của thủ tướng chính phủ nước ta vì “đã có
thành tích trong sản xuất kinh doanh và các hoạt động xã hội, nhân đạo, giáo dục, giáo
dục sức khỏe cộng đồng
Lifebuoy là thương hiệu lâu đời nhất của Unilever – một đế chế trị giá 170 tỷ USD
đến từ Anh và Hà Lan. Đây là một thương hiệu thực sự “toàn cầu” ngay cả trước khi
thuật ngữ “thương hiệu toàn cầu” được phát minh. Với sứ mệnh đem lại sức khoẻ và
sự vệ sinh đến một tỷ người, năm 1995 Lifebuoy là một trong những sản phẩm tiêu
biểu của Unilever thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Lifebuoy nhanh chóng nhận
được sự đón nhận của người tiêu dùng Việt và chẳng mấy chốc dành được vị trí hàng đầu trên thị trường.
Thâm nhập vào Việt Nam từ rất sớm, Lifebuoy đã sử dụng phương thức thâm nhập
Liên doanh để tấn công vào thị trường Việt Nam dưới sự điều hành của công ty mẹ là
Công ty liên doanh Unilever Việt Nam
Không lâu sau khi xây dựng được chỗ đứng nhất định trên thị trường, vào năm 2009
Công ty liên doanh Unilever Việt Nam đã chuyển đổi thành công ty 100% vốn nước
ngoài sau khi mua lại cổ phần của đối tác trong liên doanh
Kể từ đó, công ty này đã có 5 nhà máy tại khắp Việt Nam bao gồm tại: Hà Nội, Củ
Chi, Thủ Đức và khu công nghiệp Biên Hòa. Và cũng từ đây Lifebuoy được sản xuất
và phân phối cho các nhà bán sỉ lẻ trên khắp cả nước .
Có thể nói từ khi chuyển đổi thành công ty vốn 100% nước ngoài, thương hiệu
Lifebuoy của Unilever ngày càng ăn nên làm ra mà khó có hãng xà phòng nào có thể đuổi kịp.
=> Đến nay, Việt Nam vẫn là thị trường lý tưởng để Unilever tiếp cận. Không chỉ
đầu tư vào sản phẩm, liên doanh với các đối tác, Unilever còn quan tâm đến đầu
tư vào các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống người dân Việt Nam. KẾT LUẬN
Khi đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường
Việt Nam, Unilever cũng phải xem xét các điều kiện cụ thể của thị trường này để chọn
phương pháp thích hợp nhằm tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu rủi ro. Các yếu tố quan
trọng bao gồm độ phức tạp của thị trường, mức độ cạnh tranh, văn hóa và chính trị địa
phương, cơ sở hạ tầng, quy định pháp lý, và tầm nhìn dài hạn của doanh nghiệp.
Việc lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường này là một chiến lược phù hợp với
Unilever để phát triển và tăng cường hiện diện của mình tại Việt Nam. Điều này cho
phép Unilever thích nghi với đặc thù địa phương, đáp ứng nhu cầu của người tiêu
dùng Việt Nam một cách hiệu quả và bền vững.
Tóm lại, việc lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường Việt Nam phù hợp với
Unilever cần căn cứ vào nghiên cứu kỹ lưỡng về thị trường địa phương và các yếu tố
môi trường kinh doanh. Việc áp dụng chiến lược thích hợp sẽ giúp Unilever tăng
cường hoạt động kinh doanh và đạt được sự thành công trên thị trường Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Ths. Phạm Ngọc Ánh, Slide Marketing Quốc Tế
2. Dân số Việt Nam 100 triệu người: Cơ hội và thách thức – Bài 3: Mật độ dân số và di dân tự do
3. [Văn hóa tiêu dùng người Việt - góc nhìn đa chiều] Bài 4: Góc nhìn văn hóa - xã hội
4. Kênh phân phối của Unilever bao gồm những kênh nào?
5. Điều gì khiến hàng ngàn ứng viên muốn làm việc tại Unilever?
6. Tư duy “sính hàng ngoại” và định hướng tiêu dùng trong tư tưởng người Việt.
7. CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA UNILEVER - TẬP ĐOÀN ĐA QUỐC GIA HÀNG TIÊU DÙNG
8. Tổng quan về thị trường phân phối và những thay đổi trong hành vi tiêu dùng tại Việt Nam
9. Gương mặt mới của Unilever Việt Nam
10. Unilever là gì? Các mặt hàng và sản phẩm của Unilever phân phối tại Việt Nam