Phong trào đu tranh chng pháp cui 19 đu 20
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP ĐẦU
THẾ KỈ 19, CUỐI THẾ KỶ 20? KẾT QUẢ?
Tóm tắt nội dung này giúp tôi để tôi làm
powerpoint:
I. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong
kiến
Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam, phong trào yêu nước theo khuynh
hướng phong kiến đã diễn ra mạnh mẽ, với nhiều cuộc khởi nghĩa tổ chức
nổi bật. Dưới đây là một số phong trào tiêu biểu:
Đây phong trào kháng chiến1.Phong trào Cần Vương (1885-1889):
chống thực dân Pháp do vua Hàm Nghi lãnh đạo, kêu gọi nhân dân đứng lên
chống lại sự xâm lược. Mặc bị dập tắt nhanh chóng, phong trào này đã thể
hiện tinh thần yêu nước mãnh liệt.
-Sau ngày hiệp ước Giáp Thân (06/6/1884), mâu thuẫn giữa phe chủ chiến
trong triều đình Huế do Tôn Thất Thuyết đứng đầu với thực dân Pháp ngày
càng trở nên gay gắt. Đêm mồng 04 rạng ngày 05/7/1885 (nhằm đêm 22 rạng
ngày 23/5 năm Ất Dậu), Tôn Thất Thuyết quyết định nổ súng đánh úp đồn
Mang tòa Khâm sứ. Do kế hoạch tấn công chưa được chuẩn bị chu đáo
nên bị thất bại. Kinh thành thất thủ, Tôn Thất Thuyết phải phò vua Hàm Nghi
rời bỏ kinh đô lên Tân Sở. Ngày 13/7/1885, từ sơn phòng Quảng Trị, nhà vua
ban dụ Cần Vương kêu gọi nhân dân đứng lên ứng nghĩa giúp vua cứu nước. Sự
biến kinh thành ngày 05/7/1885 đã có ảnh hưởng và tác động không nhỏ đối với
phong trào giải phóng dân tộc của nước ta vào cuối thế kỷ thứ XIX, đánh dấu
một bước ngoặt mở ra một giai đoạn mới trong cuộc đấu tranh chống Pháp
của nhân dân Huế và nhân dân Việt Nam, đó là phong trào Cần Vương (1885 -
1896).
-Hưởng ứng lời kêu gọi của vua Hàm Nghi, phong trào Cần Vương phát triển
rộng khắp các tỉnh phát triển qua hai giai đoạn. Giai đoạn từ tháng 7 năm
1885 đến khi vua Hàm Nghi bị bắt tháng 11 năm 1888, phong trào Cần Vương
đã phát triển mạnh mẽ bao gồm hàng loạt cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ. Thừa
Thiên Huếgia đình Tôn Thất Thuyết, các nhân vật Hồ Văn Hiển, Đặng Huy
Cát, Đặng Hữu Phổ, Thân Trọng Di…Ở Bình Định khởi nghĩa Mai Xuân
Thưởng. Quảng Ngãi Trung Đình. Tỉnh Quảng Nam Nguyễn Duy
Hiệu. Tỉnh Quảng Trị Trương Đình Hội. Quảng Bình phong trào của
Trực Nguyễn Phạm Tuân. Nghệ Anphong trào của Nguyễn Xuân
Ôn…
-Giai đoạn 1888 - 1896 các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như khởi nghĩa Bãi
Sậy của Nguyễn Thiện Thuật, khởi nghĩa Ba Đình của Đinh Công Tráng, khởi
nghĩa Hồng Lĩnh của Tống Duy Tân và đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Hương Khê
của Phan Đình Phùng Cao Thắng trên địa bàn bốn tỉnh Thanh Hóa - Nghệ
An - Hà Tình - Quảng Bình từ năm 1885 - 1896. Đây là cuộc khởi nghĩa có quy
lớn nhất kéo dài nhất, đồng thời cũng đánh dấu sự thất bại chung của
phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp dưới danh nghĩa Cần Vương.
-Phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX phong trào dân tộc tuy thất bại
nhưng đã tô thắm thêm truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc Việt Nam.
2.Khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913): Dưới sự lãnh đạo của Đề Thám, phong
trào này kéo dài hơn 30 năm, diễn ra chủ yếu ở vùng Yên Thế, Bắc Giang. Đây
là một trong những cuộc khởi nghĩa lớn và bền bỉ nhất trong thời kỳ này.
- Để mở rộng phạm vi chiếm đóng, Pháp cướp đất của người nông dân Yên
Thế làm đồn điền, khai mỏ, làm đường giao thông.Kinh tế nông nghiệp sa sút,
đời sống nhân dân Bắc khó khăn, một bộ phận phải phiêu tán lên Yên Thế,
họ sẵn sàng nổi dậy đấu tranh.
=> Với tinh thần yêu nước và để bảo vệ cuộc sống, nông dân Yên Thế đứng lên
đấu tranh.
-Khởi nghĩa do Đề Nắm chỉ huy, lúc này nghĩa quân hoạt động riêng rẽ, chưa
có sự chỉ huy thống nhất. Tháng 4 - 1892 cuộc khởi nghĩa do Đề Thám chỉ huy
-Nghĩa quân đã chiến đấu quyết liệt, buộc kẻ thù hai lần phải giảng hòa
nhượng bộ một số điều kiện lợi cho ta.Lần giảng hòa thứ nhất: sau khi bắt
được tên điền chủ người Pháp - Sét-nay. Đề Thám đã thỏa thuận với Pháp,
nghĩa quân đã thả tên điền chủ, trong khi đó Đề Thám phải được cai quản 4
tổng: Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ và Hữu Thượng.Đặc biệt trong thời kì giảng
hòa lần thứ hai (12- 1897) Đề Thám cho sản xuất ở Phồn Xương, tích lũy lương
thực, xây dựng quân đội, sẵn sàng chiến đấu. Nhiều nhà yêu nước đã tìm đến
như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh
- Sau vụ đầu độc binh lính Pháp Nội, Pháp đã dần hiện thấy Đề Thám
dính líu đến vụ đầu độc lính. vậy, Pháp tập trung lực lượng, mở cuộc tấn
công quy lên Yên Thế.Sau nhiều trận càn quét của địch, lực lượng nghĩa
quân hao mòn dần. Ngày 10- 2- 1913 Đề Thám bị sát hại phong trào tan rã.
- Khởi nghĩa này không chỉ cuộc kháng chiến chống Pháp, còn biểu
tượng của khát vọng tự do và độc lập.
3.Phong trào Đông Du (1905-1909): không phải một cuộc khởi nghĩa,
phong trào này do Phan Bội Châu lãnh đạo, nhằm kêu gọi thanh niên Việt Nam
sang Nhật Bản học tập và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
4.Phong trào Duy Tân (1906-1908): Phong trào này do Phan Chu Trinh và các
nhà yêu nước khác khởi xướng, nhằm cải cách hội nâng cao nhận thức
của nhân dân về độc lập dân tộc.
5.Khởi nghĩa Trần Hưng Đạo (1945): Tuy được diễn ra sau các phong trào
trên, nhưng đây một trong những nỗ lực cuối cùng của các lãnh đạo phong
kiến nhằm giành độc lập trước khi cách mạng tháng Tám bùng nổ.
->Các phong trào này tuy không thành công trong việc giành độc lập ngay lập
tức, nhưng đã tạo ra nền tảng cho những thế hệ tiếp theo góp phần hình
thành tinh thần yêu nước trong dân tộc Việt Nam.Các phong trào yêu nước theo
khuynh hướng phong kiến trước 1930-1945 thể hiện tinh thần kháng chiến
mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp. Mặc thiếu sự đoàn
kết tổ chức chặt chẽ, các phong trào như Cần Vương, Yên Thế …đã khẳng
định lòng yêu nước khát vọng độc lập. Tuy nhiên, những phong trào này
thường gặp khó khăn do sự đàn áp mạnh mẽ từ thực dân nội bộ chưa thống
nhất về mục tiêu. Điều này đã tạo điều kiện cho các tưởng cách mạng hiện
đại, đặc biệt là Đảng Cộng sản, ra đời và dẫn dắt phong trào giải phóng dân tộc
sau này.
Tóm tắt
-Ngay từ khi Pháp nổ súng xâm lược, các phong trào yêu nước chống thực dân
Pháp bảo vệ nền độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam đã diễn ra liên tục,
rộng khắp.
-Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến: Đến năm 1884, triều
đình nhà Nguyễn đã đầu hàng, nhưng một bộ phận phong kiến yêu nước đã
cùng với nhân dân vẫn tiếp tục đấu tranh vũ trang chống Pháp.
+Phong trào Cần Vương (1885-1986) do vua Hàm Nghi Tôn Thất Thuyết
khởi xướng. Tiêu biểu các cuộc khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hoá), Bãi Sậy
(Hưng Yên), Hương Khê (Hà Tĩnh) diễn ra sôi nổi, rộng khắp ba kỳ và thể hiện
tinh thần quật cường chống ngoại xâm của các tầng lớp nhân dân.
+Phong trào nông dân Yên Thế (Bắc Giang) dưới sự lãnh đạo của vị thủ lĩnh
nông dân Hoàng Hoa Thám, nghĩa quân đã xây dựng lực lượng chiến đấu, lập
căn cứ và đấu tranh kiên cường chống thực dân Pháp.
1. Phan Bội Châu cùng khuynh hướng bạo động- Từ thành lập Duy Tân
hội đến phong trào Đông Du.
1-Tiểu sử: Phan Bội Châu vốn tên là Phan Văn San .Vì San trùng với
tên húy vua Duy Tân (Vĩnh San) nên phải đổi thành Phan Bội
Châu.Hai chữ “bội châu” trong tên của ông lấy từ câu:[Thành trung nga
mi nữ châu bội hà san san].
Ông có hiệu là Hải Thụ, về sau đổi là Sào Nam. Tên gọi Sào Nam được
lấy từ câu [Việt điểu sào nam chi nghĩa là Chim Việt làm tổ cành Nam].
Phan Bội Châu còn có nhiều biệt hiệu và bút danh khác như Thị Hán, Phan
Giải San, Sào Nam Tử, Hạo Sinh, Hiếu Hán …
Phan Bội Châu sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867 tại làng Đan Nhiễm,
xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Cha ông là Phan Văn Phổ,
mẹ là Nguyễn Thị Nhàn. Ông nổi tiếng thông minh từ bé, năm 6 tuổi học 3
ngày thuộc hết Tam Tự Kinh, 7 tuổi ông đã đọc hiểu sách Luận Ngữ, 13
tuổi ông thi đỗ đầu huyện.
Thuở thiếu thời ông đã sớm có lòng yêu nước. Năm 17 tuổi, ông viết bài
“Hịch Bình Tây Thu Bắc” đem dán ở cây đa đầu làng để hưởng ứng việc
Bắc Kỳ khởi nghĩa kháng Pháp. Năm 19 tuổi (1885), ông cùng bạn là Trần
Văn Lương lập đội “Sĩ tử Cần Vương” (hơn 60 người) chống Pháp, nhưng
bị đối phương kéo tới khủng bố nên phải giải tán.
Gia cảnh khó khăn, ông đi dạy học kiếm sống và học thi. Khoa thi năm
Đinh Dậu (1897) ông đã lọt vào trường nhì nhưng bạn ông là Trần Văn
Lương đã cho vào tráp mấy cuốn sách nhưng ông không hề biết nên ông bị
khép tội hoài hiệp văn tự (mang văn tự trong áo) nên bị kết án chung thân
bất đắc ứng thí (suốt đời không được dự thi). Sau cái án này, Phan Bội
Châu vào Huế dạy học, do mến tài ông nên các quan đã xin vua Thành Thái
xóa án. Nhờ vậy, ngay khoa thi hương tiếp theo, năm Canh Tý (1900), ông
đã đậu đầu (Giải nguyên) ở trường thi Nghệ An. Cùng năm đó, thân sinh
của cụ qua đời, nhờ đó cụ mới có thời gian rãnh để lo đến việc cứu nước.
Đầu thế kỉ XX, Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài,
chủ yếu là Nhật Bản để đánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lâp một nhà
nước theo mô hình quân chủ lập hiến của Nhật. Phan Bội Châu đã nêu rõ
nhiệm vụ đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc. Con đường cứu
nước của Phan Bội Châu là “cứu nước để cứu dân”. Ở đây ta thấy điểm tích
cực trong khuynh hướng cứu nước của Phan Bội Châu là ông đã xác định
được đúng mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, vì vậy ông
nêu rõ mục tiêu là đánh đuổi Pháp thì mới có thể giành được độc lập tự do
cho nhân dân. Phan Bôi Châu đã chọn Kì Ngoại Hào Cường Để (cháu 6 đời
của Vua Gia Long) làm hội chủ nghĩa là Phan Bội Châu muốn quay lại chế
độ quân chủ. Vì lúc này tư tưởng trung quân ái quốc vẫn còn tồn tại trong
nhận thức của Phan Bội Châu và nhân dân nên để thu hút sự tham gia đông
đảo của quần chúng nhân dân, Phan Bội Châu đã lợi dụng tư tưởng trung
quân ái quốc để tập hợp lực lượng. Rõ ràng ta thấy lúc này ở Việt Nam vẫn
còn vua Thành Thái nhưng Phan Bội Châu đã chọn cho mình một Cường
Để có tinh thần chống Pháp chứ không phải một ông vua chính danh nhưng
bù nhìn như Thành Thái.
Phan Bội Châu đã xác định phương pháp cách mạng là bạo đông vũ
trang cần thiết là đúng vì bản chất của các thế lực thù địch là chúng
chống phá ta bằng quân sự vì vậy phải bạo động quân sự.
Phan Bội Châu đã thành lập các tổ chức cách mạng bao gồm hội Duy Tân,
hội Cống Hiến được thành lập ở Tokyo, cơ quan liên lạc và Công hội
Thương đoàn được thành lập ở Hồng Kông tiếp đó ông tổ chức phong trào
Đông Du (1905- 1908) đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản học tập.
Phan Bội Châu đã gửi học sinh sang trường Học hiệu Chấn Võ tại Tokyo
cùng với trường Thư viện Đồng Văn Tokyo. Tuy nhiên đến tháng 8/1908
chính phủ Nhật cấu kết với Pháp trục xuất lưu học sinh kể cả Phan Bội
Châu về nước. Giữa lúc cách mạng Tân Hợi bùng nổ và thắng lợi (1911),
ông về Trung Quốc lập ra Việt Nam Quang Phục Hội (1912) với mục đích
tập hợp lực lượng đánh đuổi Pháp khôi phục nước Việt Nam, thành lập
nước Cộng Hòa Dân Quốc Việt Nam. Sự ra đời của Việt Nam Quang Phục
Hội đánh dấu sự phát triển trong tư tưởng của Phan Bội Châu từ quân chủ
lập hiến lên dân chủ tư sản.
Khuynh hướng cải cách của Phan Bội Châu đã khoáy động lòng yêu nước,
cổ vũ tinh thần dân tộc, tập hợp lực lượng kháng Pháp hùng mạnh. Tuy
nhiên nó cũng có một số hạn chết nhất định ở chỗ cầu viện Nhật Bản. Lúc
bấy giờ Nhật Bản đã trở thành một nước tư bản do nhu cầu tìm kiếm thuộc
địa nên Việt Nam dã trở thành miếng mồi ngon của Nhật Bản vì thế họ
nhanh chóng trở mặt khi đụng đến quyền lợi của họ
2.Hoạt động của mình
Năm 1901, Phan cùng một số đồng chí vạch ra 3 kế hoạch sau đây:
+Liên kết với dư đảng Cần Vương và các tráng kiện ở chốn sơn lâm, xướng
khởi nghĩa binh, mục đích là đánh giặc phục thù với với thủ đoạn bạo động.
+Tìm người dòng họ nhà vua lập làm minh chủ, rồi ngầm liên kết với
những người có thể lực, tập hợp những người trung nghĩa ở Bắc Kỳ và
Trung Kỳ cùng nhau khởi sự.
+ Khi cần thiết sẽ phái người xuất dương cầu ngoại viện.
Mục đích: “Cốt sao khôi phục được nước Việt Nam, lập ra một chính phủ
độc lập, ngoài ra chưa có chủ nghĩa gì khác cả.”
Ba kế hoạch này có thể coi là sự khởi đầu một cương lĩnh hoạt động của
Duy Tân hội sau này.
-Về Phong trào Đông Du
Tháng 6 năm 1905, Phan Bội Châu cùng Đặng Tử Kính mang theo một số
sách Việt Nam vong quốc sử về nước. Tháng 8 năm 1905 tại Hà Tĩnh, ông
và các đồng chí nồng cốt trong Duy Tân hội bàn bạc rồi đưa ra kế hoạch
hành động đó là:
- Lập các hội nông, hội buôn, hội học để tập hợp quần chúng và để có tài
chánh cho hội.
- Chọn một số thanh niên thông minh hiếu học, chịu được gian khổ, đưa đi
học ở nước ngoài
- Tháng 10 năm 1905, Phan Bội Châu trở lại Nhật Bản cùng với ba thanh
niên, sau đó lại có thêm 45 người nữa. Năm 1906, Cường Để qua Nhật,
được bố trí vào học trường Chấn Võ. Kể từ đó cho đến năm 1908, số học
sinh sang Nhật Bản du học lên tới khoảng 200 người, sinh hoạt chung trong
một tổ chức có quy củ gọi là Cống hiến hội…
Chương trình nhằm đào tạo những người có trình đọ văn hóa và quân sự
cần thiết cho công cuộc đánh Pháp cứu nước về sau. Đến giữa năm 1903,
việc học tâp của các học sinh Việt Nam ở Nhật đã ổn định và phát triển
thuận lợi.
Năm 1908, phong trào “cự sưu khất thuế” (tức phong trào chống sưu thuế
Trung Kỳ) nổi lên rầm rộ ở Quảng Nam rồi nhanh chóng lan ra các tỉnh
khác. Bị thực dân Pháp đưa quân đàn áp, nhiều hội viên bị bắt, trong số đó
có Nguyễn Hàm, một yếu nhân của hội. Tiếp đó, Hoàng Quang Thanh và
Đặng Bỉnh Thành lại bị Pháp đón bắt được khi từ Nhật về Nam Kỳ nhận
tiền quyên góp cho phong trào Đông Du. Cũng trong năm đó, Pháp và Nhật
vừa ký với nhau một hiệp ước, theo đó chính phủ Nhật ra lệnh trục xuất các
du học sinh người Việt ra khỏi đất Nhật. Năm 1909, Cường Để và Phan Bội
Châu cũng bị trục xuất. Đến đây, phong trào Đông Du mà Phan Bội Châu
và các thành viên khác đã dày công xây dựng hoàn toàn tan rã, kết thúc một
hoạt động quan trọng của hội.
Cuối năm 1910, Phan Bội Châu chuyển một đại bộ phận hội viên (trong đó
có khoảng 50 thanh niên) ở Quảng Đông về xây dựng căn cứ địa ở Bạn
Thầm (Xiêm La). Tại đây, họ cùng nhau cày cấy, học tập và luyện tập võ
nghệ để chuẩn bị cho một kế hoạch phục quốc sau này.
Năm 1912, trong cuộc “Đại hội nghị” tại từ đường nhà Lưu Vĩnh Phúc ở
Quảng Đông (Trung Quốc), có đông đủ đại biểu khắp ba kỳ đã quyết định
giải tán Duy Tân hội và thành lập Việt Nam Quang phục Hội, tức thay đổi
tôn chỉ từ chủ nghĩa quân chủ sang chủ nghĩa dân chủ để đánh đuổi quân
Pháp, khôi phục Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa Dân quốc kiến lập
Việt Nam, đáp ứng tình hình chuyển biến mới trên trường quốc tế.
II. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản
Xu hướng bạo động do Phan Bội Châu lãnh đạo
1. Tiểu sử
Phan Bội Châu sinh ngày năm tại làng Đan Nhiễm, 26 tháng 12 1867 Xuân
Hòa, huyện , tỉnh .Nam Đàn Nghệ An
Cha ông Phan Văn Phổ, mẹ Nguyễn Thị Nhàn. Ông nổi tiếng thông minh từ
bé, năm 6 tuổi học 3 ngày thuộc hết , 7 tuổi ông đã đọc hiểuTam Tự Kinh
sách , 13 tuổi ông thi đỗ đầu huyện.Luận Ngữ
Thuở thiếu thời ông đã sớm lòng yêu nước. Năm 17 tuổi, ông viết bài "Hịch
Bình Tây Thu Bắc" đem dán đầu làng để hưởng ứng việc khởicây đa Bắc Kỳ
nghĩa kháng . Năm 19 tuổi ( ), ông cùng bạn Trần Văn Lương lập độiPháp 1885
"Sĩ tử " (hơn 60 người) chống Pháp, nhưng bị đối phương kéo tớiCần Vương
khủng bố nên phải giải tán.
Gia cảnh khó khăn, ông đi dạy học kiếm sống học thi. Khoa thi năm Đinh
Dậu (1897) ông đã lọt vào trường nhì nhưng bạn ông Trần Văn Lương đã cho
vào tráp mấy cuốn sách nhưng ông không hề biết nên ông bị khép tội hoài hiệp
văn tự chung thân bất đắc ứng thí (mang văn tự trong áo) nên bị kết án (suốt đời
không được dự thi).
Sau cái án này, Phan Bội Châu vào dạy học, do mến tài ông nên các quan đãHuế
xin vua xóa án. Nhờ vậy, ngay khoa tiếp theo, năm Thành Thái thi hương Canh
1900 ( ), ông đã đậu đầu ( ) ở trường thi . Giải nguyên Nghệ An
1. Hoạt động cách mạng
Lập Duy Tân hội, sang Nhật cầu viện
Trong vòng 5 năm sau khi đỗ Giải nguyên, Phan Bội Châu bôn ba khắp nước Việt
Nam
kết giao với các nhà yêu nước như Phan Chu Trinh,
[7]
Huỳnh Thúc
Kháng, , , Nguyễn Hàm (tức NguyễnTrần Quý Cáp Nguyễn Thượng Hiền Tiểu La
Thành), , , , , Đặng Nguyên Cẩn Ngô Đức Kế Đặng Thái Thân Hồ Kiện
Huân, , , ,...Nguyễn Quyền Võ Hoành Lê Đại
Phan Bội Châu đả kích việc cấm giảng dạy thực dân Pháp lịch sử Việt Nam
thay vào đó lịch sử Pháp, nhằm dụng ý xóa bỏ những ảnh hưởng của văn hóa
truyền thống Việt Nam, truyền nhằm đồng hóa người Việt; đồngvăn hóa Pháp
thời đào tạo ra một tầng lớp công chức chuyên viên phục vụ cho nền cai trị
công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp. Năm Phan Bội Châu chỉ trích nền1905
giáo dục của thực dân Pháp thuộc địa "chỉ dạy viết văn Pháp,người Việt
nói , tạm thời làm nô lệ cho Pháp"tiếng Pháp .
Năm ông cùng Nguyễn Hàm và khoảng 20 đồng chí khác thành lập 1904 Duy Tân
hội để đánh đuổi Pháp, chọn Kỳ Ngoại hầu - một ngườiQuảng Nam Cường Để
thuộc dòng dõi - làm hội chủ.nhà Nguyễn
Năm ông cùng sang rồi1905 Đặng Tử Kính Tăng Bạt Hổ Trung Quốc
sang , để cầu viện Nhật giúp Duy Tân hội đánh đuổi Pháp. Tại , ôngNhật Bản Nhật
gặp , một nhà cách mạng người , được khuyên Lương Khải Siêu Trung Quốc
nên dùng thơ văn để thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam (nghe lời,
Phan Bội Châu viết ). Lại nghe hai nhân vật quan trọng củaViệt Nam vong quốc sử
Đảng Tiến Bộ đang cầm quyền Nhật Bản, (Bá tước Ōkuma Shigenobu Ôi
Trọng Tín Khuyển Dưỡng Nghị) Thủ tướng (Inukai Tsuyoshi ) khuyên là nên cổ
động thanh niên ra nước ngoài học tập để sau này về giúp nước.
Tháng 6 Đặng Tử Kính năm 1905 Phan Bội Châu cùng mang theo một số
sách về nước. năm 1905, tại , ông cácViệt Nam vong quốc sử Tháng 8 Tĩnh
đồng chí nòng cốt trong Duy Tân hội bàn bạc rồi đưa ra kế hoạch hành động, đó là:
Nhanh chóng đưa Kỳ Ngoại hầu ra nước ngoài.Cường Để
Lập các hội nông, hội buôn, hội học để tập hợp quần chúng để tài
chánh cho hội.
Chọn một số thanh niên thông minh hiếu học, chịu được gian khổ, đưa đi
học ở nước ngoài.
Phát động phong trào Đông Du
Tượng Phan Bội Châu tại công viên số 19 , bên ,đồng Lợi cầu Trường Tiền
TP (trước đây, tượng được đặt trong khuôn viên nhà lưu niệm ông) Huế
Trong ba nhiệm vụ trên, thì nhiệm vụ thứ ba hết sức quan trọng và bí mật, nên Duy
Tân hội đã cử Phan Bội Châu Nguyễn Hàm tự định liệu. Sau đó, phong trào
Đông Du được hai ông phát động, được đông đảo người dân cả ba kỳ tham gia
và ủng hộ, nhất là ở .Nam Kỳ
Tháng 10 năm 1905, Phan Bội Châu trở lại Nhật Bản cùng với ba thanh niên, sau
đó lại thêm 45 người nữa. Năm , qua Nhật, được bố trí vào học1906 Cường Để
trường Chấn Võ. Kể từ đó cho đến năm , số học sinh sang Nhật Bản du học1908
lên tới khoảng 200 người, sinh hoạt chung trong một tổ chức quy củ gọi
...Cống hiến hội
Tháng 3 phong trào chống sưu thuế năm 1908, phong trào "cự sưu khất thuế" (tức
Trung Kỳ Quảng Nam) nổi lên rầm rộ rồi nhanh chóng lan ra các tỉnh khác. Bị
thực dân Pháp đưa quân đàn áp, nhiều hội viên trong Duyphong trào Duy Tân
Tân hội bị bắt, trong số đó có Nguyễn Hàm, một yếu nhân của hội.
Mất mát này chưa kịp khắc phục thì hai phái viên của hội Hoàng Quang Thanh
Đặng Bỉnh Thành lại bị Pháp đón bắt được khi từ Nhật về nhận tiềnNam Kỳ
quyên góp cho phong trào Đông Du. Tiếp theo nữa Pháp Nhật vừa với
nhau một hiệp ước ( năm ), theo đó chính phủ Nhật ra lệnh trục xuấttháng 9 1908
các du học sinh ra khỏi đất Nhật. năm , người Việt Tháng 3 1909 Cường Để
Phan Bội Châu cũng bị trục xuất. Đến đây, Phan Bộiphong trào Đông Du
Châu các thành viên khác đã dày công xây dựng hoàn toàn tan rã, kết thúc một
hoạt động quan trọng của hội.
Trong "cuộc bút đàm đẫm lệ" giữa Phan Bội Châu lời cảnhLương Khải Siêu
báo không nên "cầu viện" Nhật để giành độc lập theo Lương Khải Siêu, "Mưu
ấy sợ không tốt. Quân Nhật đã một lần vào nước, quyết không đuổi ra
được". đến năm 1909, do thỏa thuận giữa Nhật và Pháp, các du học sinh Việt
Nam đồng loạt bị trục xuất khỏi nước Nhật. Điều này giải thích tại sao trong các tự
thuật, hồi ức viết về sau như , Phan BộiNgục trung thư, Phan Bội Châu niên biểu
Châu đã không chỗ nào nhắc đến tác phẩm , bài thơ từng hết lời caÁ tế Á ca
ngợi Nhật Bản.
Lúc này, nhiều nơi trong nước, mọi hoạt động quyên góp tài chính chuẩn bị
trang bạo động của cũng bị thực dân cho quân đến đàn áp dữ dội.Duy Tân hội
Những người sống sót sau các đợt khủng bố đều phải nằm im, hoặc vượt biên
sang , , để mưu tính kế lâu dài.Trung Quốc Xiêm La Lào
Cuối năm , Phan Bội Châu chuyển một đại bộ phận hội viên (trong đó 1910
khoảng 50 thanh niên) ở Quảng Đông về xây dựng căn cứ địa Bạn Thầm (Xiêm
La). Tại đây, họ cùng nhau cày cấy, học tập luyện tập nghệ để chuẩn bị cho
một kế hoạch phục quốc sau này.
Thượng tuần năm ( năm ), trong cuộc "Đại hội nghị"tháng 5 Nhâm Tý tháng 6 1912
tại từ đường nhà ( ), có đông đủ đại biểuLưu Vĩnh Phúc Quảng Đông Trung Quốc
khắp ba kỳ đã quyết định giải tán Duy Tân hội và thành lập Việt Nam Quang phục
Hội, tức thay đổi tôn chỉ từ sang chủ nghĩa dân chủ để chủ nghĩa quân chủ đánh
đuổi quân Pháp, khôi phục , thành lập nước Cộng hòa Dân quốc kiến lậpViệt Nam
Việt Nam, đáp ứng tình hình chuyển biến mới trên trường quốc tế.
Hoạt động ở Trung Quốc
Mặc thay đổi tôn chỉ nhưng Phan Bội Châu vẫn duy trì Kỳ Ngoại hầu Cường
Để trong vai trò Chủ tịch Chính phủ lâm thời , nhằmViệt Nam Quang phục Hội
tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong nước.
Căn nhà tranh là nơi ở của ông già Bến Ngự
Sau đó, cử một số hội viên về nước để trừ khử một vàiViệt Nam Quang phục Hội
viên chức Pháp cộng sự đắc lực của họ, nhằm "đánh thức đồng bào", "kêu gọi
hồn nước". Các cuộc bạo động bằng tạc đạn tuy xảy ra lẻ tẻ nhưng vẫn khuấy động
được dư luận trong và ngoài nước, làm nhà cầm quyền Pháp tăng cường khủng bố,
khiến nhiều người bị bắt bị giết. Bị kết tội chủ mưu, Phan Bội Châu Cường
Để bị cùng với kết án tử hình vắng mặt.thực dân Pháp Nam triều
Năm , thực dân Pháp cử người đến "mặc cả" với Tổng đốc Long1913 Quảng Đông
Tế Quang yêu cầu bắt Phan Bội Châu các yếu nhân của hội. Ngày 24 tháng
12 1913 năm , Phan Bội Châu bị bắt. Nhưng nhờ , lúc bấy giờNguyễn Thượng Hiền
đang ở , vận động nên Long Tế Quang không thể giao nộp ông cho PhápBắc Kinh
chỉ đưa giam vào nhà Quảng Đông, mãi đến năm , ông mớitháng 2 1917
được giải thoát.
Ra tù, Phan Bội Châu lại tiếp tục hoạt động . Năm , phỏngcách mạng 1922
theo của , ông định cải tổ Trung Quốc Quốc dân Đảng Tôn Trung Sơn Việt Nam
Quang phục Hội Việt Nam Quốc dân Đảng Nguyễn Ái Quốc thành . Được (lúc này
đang làm Ủy viên Đông phương bộ, phụ trách Cục phương Nam của Quốc tế cộng
sản) góp ý, Phan Bội Châu định thay đổi đường lối theo hướng , hội chủ nghĩa
nhưng chưa kịp cải tổ thì ông bị bắt cóc ngày 30 năm .tháng 6 1925
Phan Bội Châu và phong trào cộng sản
Đại tướng nói chuyện trong lễ kỷ niệm 130 năm ngày sinh củaNguyên Giáp
Phan Bội Châu tại ngày năm 1997, đã cho biết trong nhà của Nội 26 tháng 12
Phan Bội Châu có treo ở giữa tấm ảnh của . Trước đó từ lâu khi còn ở TrungLê-nin
Quốc, Phan Bội Châu còn viết một cuốn tiểu sử Lê-nin.
Trung tướng , bạn thân (và em cọc chèo) của Đại tướng Phạm Hồng
Nguyên Giáp, trong sách cộng tác với phuĐại tướng Nguyên Giáp thời trẻ
nhân của Đại tướng Nguyên Giáp , đã kể lại thời kỳ thiếuĐặng Bích
niên của Đại tướng Nguyên Giáp khi thăm đang bị Pháp"ông già Bến Ngự"
giam lỏng tại Huế, trong nhà Phan Bội Châu treo ba bức ảnh: Thích-ca Mâu-
ni Lê-nin, , Tôn Trung Sơn . Ba bức ảnh này nói lên phần nào quan điểm triết học và
chính trị của ông.
Trong hồi , nhà báo Tạ Quang ĐạmNgôi nhà Bến Ngự con đò sông Hương
(em giáo sư ), người đã sống chung với Phan Bội Châu một năm (đểTạ Quang Bửu
học làm cho ông), sau khi Phan Bội Châu an trí tại căn nhàchữ Hán thư
tranh đầu dốc Bến Ngự ( ), đã kể lại rằng trên tường căn nhà tranh 3 gian - nơiHuế
cũng nơi ông dạy học - treo nhiều tranh ảnh, trong đó ấn tượng nhất
bức chân dung Lê-nin được treo trang trọng trên bức tường mặt trước gần sát trần
nhà. lẽ một bức họa vẽ theo một bức tượng kiểu huy hiệu. Dưới chân dung
có hai chữ Hán: (Lê-nin). Liệt Ninh
Giáo sư sử học Nguyễn Thế Anh, hiện sống tại Pháp, cho biết, ông không tìm thấy
bằng chứng rằng Phan Bội Châu có xu hướng ủng hộ . Nhất làphong trào cộng sản
khi, theo ý ông, tờ báo của cụ Phan Bội ChâuTiếng Dân Huỳnh Thúc Kháng
cộng tác đã lên án cách thức tiêu diệt trí thức của phong trào Viết Nghệ
Tĩnh.
Giáo thì cho biết Phan Bội Châu đón nhận họcNguyễn Đình Chú
thuyết từ cách nhà hơn nhà . Phan Bội Châu vừa caMarx văn hóa chính trị
ngợi , , vừa ca ngợi , , Marx Lê-nin Khổng Mạnh Tôn Trung
Sơn Gandhi Rousseau Montesquieu, , , . Phan Bội Châu từng viết quyển sách hơn 50
trang trong thời gian 1928-1934 để giới thiệu , hội chủ nghĩa chủ nghĩa Marx
giới thiệu nội dung chủ yếu của học thuyết Marxist như: , giai cấpthặng giá trị
đấu tranh, , kinh tế học, phương pháp hội cách mạng, lao động chuyên chính
bản luận. Phan Bội Châu đã kết luận: "Ở trong các nhà hội học, ông (Marx)
thật đáng một vị tiên sư, sở chúng ta nghiên cứu hội chủ nghĩa, chỉ cần
nghiên cứu Khắc (Marx) chủ nghĩa là xong rồi". Phan Bội Châu còn
viết viết in trên "Lược truyện Liệt Ninh, nhân của nước Nga đỏ" Binh sự tạp
chí, , Trung Quốc năm 1921. Hàng Châu
Phan Bội Châu và Nguyễn Ái Quốc
Tại vùng Nghệ Tĩnh, người ta đã lưu truyền những câu sấm của nhưTrạng Trình
sau: "Đụn Sơn phân giải/ Bò Đái thất thanh/ Thủy đáo Lam thành/ Nam Đàn sinh
thánh" (Khi núi Đụn chẻ đôi, kheĐái mất tiếng, khoét vào chân núisông Lam
Lam Thành, đất sẽ sinh ra bậc thánh nhân). Sau phong trào Nam Đàn Xô viết Nghệ
Tĩnh, câu sấm này được nhắc lại bàn tán. Lúc đó, cũng đã ngừngkhe Đái
chảy, tiếng suối chảy ở khe không còn nghe được nữa, do đó người dân càng tin và
chờ đợi. Trong một cuộc gặp giữa Phan Bội Châu (lúc này đã bị Pháp bắt quản
thúc) với và nhà nho , ông Hữu có hỏi: Đào Duy Anh Trần Lê Hữu "Thưa cụ Phan,
"Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh" chẳng phải là cụ hay sao? Cụ còn thất
bại nữa người khác!" "Kể cái nghề cử tử xưa kia tôi cũng Phan Bội Châu đáp:
có tiếng thật. Dân ta thường có thói trọng người văn học và gán cho người ta tiếng
nọ tiếng kia. Nhưng nếu Nam Đàn thánh thực thì chính ông Nguyễn Ái
Quốc chứ chẳng phải ai khác".
Bị Pháp bắt và an trí
Nơi an trí vào những năm cuối đờiÔng già Bến Ngự
Ngày 30 năm , ông bị thực dân Pháp bắt cóc tại giải về
tháng 6 1925
Thượng Hải
nước xử án chung thân, mặc trước đó ( ) ông đã bị đối phương kết án1912
vắng mặt. Trước phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước đòi thả Phan Bội
Châu, nhờ sự can thiệp của Toàn quyền , ông được về an trí tại BếnVarenne
Ngự ( ). Trong 15 năm cuối đời, ông (lúc bấy giờ được gọi Huế Ông già Bến
Ngự) vẫn giữ trọn phẩm cách cao khiết, không ngừng tuyên truyền tinh thần yêu
nước bằng văn thơ, nên rất được nhân dân yếu mến.
Phan Bội Châu mất ngày năm tại .29 tháng 12 1940 Huế
* Xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh
* Chi tiết
1.Tiểu sử Phan Châu Trinh
Phan Châu Trinh sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872, người làng Tây Lộc,
huyện Tiên Phước , phủ Tam Kỳ (nay thuộc Tam Lộc, huyện Phú Ninh ),
tỉnh Quảng Nam , hiệu là Tây Hồ Hy Mã , tự là Tử Cán .
Mẹ ông mất sớm vào năm ông lên 6 tuổi. Quê nhà bị quân Pháp đốt cháy trong
cuộc trấn áp phong trào Cần vương, nên ông phải theo cha, được cha dạy chữ
dạy võ. Sau khi cha mất, ông trở về quê sống với anh là Phan Văn Cừ và tiếp tục đi
học. Ông học giỏi, năm 27 tuổi, được tuyển vào trường tỉnh và học chung với Trần
Quý Cáp , Huỳnh Thúc Kháng , Nguyễn Đình Hiến , Phan Quang , và Phạm Liệu .
Khoa Canh ( 1900 ), Phan Châu Trinh đỗ cử nhân thứ ba trường Thừa
Thiên . Năm sau ( 1901 ), triều đình mở ân khoa, ông đỗ phó bảng , đồng khoa
với tiến Ngô Đức Kế phó bảng Nguyễn Sinh Sắc . Khoảng thời gian này,
người anh cả mất nên ông về để tang, nhà dạy học đến năm Quý Mão ( 1903 ) thì
được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ .
Năm 1906 , ông mật sang Quảng Đông ( Trung Quốc ) gặp Phan Bội Châu ,
trao đổi ý kiến rồi cùng sang Nhật Bản , tiếp xúc với nhiều nhà chính trị tại đây
(trong số đó có ) và xem xét công cuộc duy tân của xứ sở này.Lương Khải Siêu
Phan Châu Trinh chủ trương tiến hành một phong trào Duy Tân nhằm vận động
cải cách kinh tế, văn hoá, xã hội và gắn liền với việc động viên lòng yêu nước, căm
thù giặc, đấu tranh cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của ngoại xâm.
Phan Châu Trinh chủ trương dùng những cải cách văn hóa, mở mang dân trí,
nâng cao dân khí, phát triển kinh tế theo hướng bản chủ nghĩa trong khuôn khổ
hợp pháp, làm cho dân giàu, nước mạnh, buộc thực dân Pháp phải trao trả độc lập
cho nước Việt Nam. Mặt khác, Phan Châu Trinh còn phản đối việc dùng vũ lực để
giành độc lập dân tộc quốc như cầu viện bên ngoài “Bất bạo động, bạo động tắc tử,
bất vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu”.
Theo Phan Châu Trinh, nhiệm vụ cấp bách của dân tộc ta là:
Chấn dân khí: Thức tỉnh tinh thần tự lực tự cường, làm cho mọi người giác ngộ
được quyền lợi của mình, xoá bỏ nọc độc chuyên chế. vậy, ông chủ trương:
“Không cần hào đánh Pháp, chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã giác ngộ
quyền lợi của mình, bấy giờ mới có thể dần dần mưu tính đến việc khác.
– Khai dân trí: Bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc ngữ, kiến
thiết khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục, xa hoa, tuyên truyền lối sống tiết kiệm,
văn minh.
Hậu dân sinh: Chăm lo đời sống cho nhân dân bằng việc phát triển kinh tế, chỉ
con đường làm ăn cho dân, như khẩn hoang làm vườn, lập hội buôn, sản xuất hàng
nội hoá.
Năm 1906, Phan Châu Trinh cùng một số phu yêu nước tiến bộ khởi xướng
cuộc vận động Duy tân ở Trung Kì.
Kinh tế: cổ động việc chấn hưng thực nghiệp, lập hộ kinh doanh phát triển các
nghề thủ công nghiệp (mở lò rèn, xưởng mộc), làm vườn.
– Giáo dục: mở các trường học theo lối mới, dạy chữ Quốc ngữ, môn học mới.
– Văn hoá: tổ chức những buổi diễn thuyết kêu gọi sự thay đổi để tiến bộ hơn, phù
hợp trong giao lưu buôn bán, ngăn chặn các tệ nạn rượu chè, thuốc phiện… thành
lập các trường duy tân lan rộng ra nhiều tỉnh thành khác như Đông Kinh Nghĩa
Thục với nội dung và phương pháp mới.
Năm 1908, diễn ra phong trào chống sưu thuế ở các tỉnh miền Trung huy động
được hàng vạn người tham gia đấu tranh chống thực dân Pháp chính quyền
phong kiến tay sai.
Khuynh hướng vận động cải cách của Phan Châu Trinh đã cỗ vũ tinh thần học
tập, tự cường, chống các hủ tục phong kiến
2-Hoạt động của Phan Châu Trinh mà tiêu biểu là cuộc vận động Duy Tân
Sau khi cáo quan về quê, Phan Châu Trinh dốc lòng vào công việc cứu nước. Mặc
dù rất đau xót trước cảnh thực dân Pháp ngược đãi người Việt Nam, quan điểm của
Phan Châu Trinh trước mắt chưa nên đặt nhiệm vụ khôi phục chủ quyền quốc gia,
độc lập dân tộc (tức đánh đuổi Pháp), mà nhiệm vụ cấp bách là phải:
Khai dân trí: bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc
ngữcùng kiến thức , bài trừ hủ tục xa hoa.khoa học thực dụng
Chấn dân khí: thức tỉnh tinh thần tự lực, tự cường, mọi người giác ngộ được
quyền lợi nghĩa vụ của mình, giải thoát khỏi tưởng chuyên chế phong
kiến.
Hậu dân sinh: phát triển , cho dân khai hoang làm vườn, lập hội buôn,kinh tế
sản xuất hàng nội địa hóa…
Cho nên sau khi ông vào Nam ra Bắc, sang , để trao đổi và tìm hiểu, cuối cùngNhật
ông nhất quyết làm cuộc cải cách duy tân cho quốc dân trong nước. Ngoài ra, ông
gửi thư cho Beau ngày năm , chỉ trích chính phủ PhápToàn quyền 15 tháng 8 1906
không lo mở mang khai hóa cho dân mà chỉ lo thu , do đó dân đã khổ càng khổthuế
hơn. Ông đề nghị chính phủ Đông Dương nên thay đổi thái độ đối với sĩ dân nước
Nam, cải tổ mọi chính sách cai trị. Bức thư đã gây tiếng vang lớn trong nhân dân,
công khai nói lên tâm trạng bất mãn của dân chúng khẳng định quyết tâm cải
biến hiện trạng của đất nước.
Với phương châm “tự lực khai hóa” tưởng dân quyền, Phan Châu Trinh
cùng , đi khắp tỉnh các tỉnh lânHuỳnh Thúc Kháng Trần Quý Cáp Quảng Nam
cận để vận động cuộc duy tân. Khẩu hiệu của phong trào lúc bấy giờ là: Khai dân
trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Phong trào thực hiện mục tiêu cải tạo con người và
xã hội Việt Nam bằng cách khuyến khích cải cách giáo dục (bỏ lối học từ chương,
xóa chữ bằng cách phát động phong trào học ), mở mang côngQuốc ngữ
thương nghiệp, chấn hưng công nghệ, bỏ mê tín dị đoan, thay đổi tập quán (cắt tóc
ngắn, cắt ngắn móng tay)….
Tháng 3 phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ năm 1908, nổ ra,bị triều Nguyễn
chính phủ bảo hộ Pháp đàn áp dữ dội. Phan Châu Trinh cùng nhiều thành viên
trong bị nhà cầm quyền buộc tội đã khởi xướng phong tràophong trào Duy Tân
chống thuế nên đều bị bắt.
Phan Châu Trinh bị bắt , giải về . Nhờ sự can thiệp của những ngườiHà Nội Huế
Pháp có thiện chínhững đại diện của Hội Nhân quyền tại , họ buộc lòngHà Nội
phải kết ông án ” (nghĩa là trảm giam hậu, lưu tam thiên lý, ngộ xá bất nguyên tội
chém nhưng chỉ giam lại, đày xa ba ngàn dặm, gặp ân cũng không cho về), rồi
đày đi ngày năm .Côn Đảo 4 tháng 4 1908
Ngày năm , bùng nổ. đó, nhà cầm28 tháng 7 1914 Chiến tranh thế giới thứ nhất
quyền Pháp tại đã gọi Phan Châu Trinh (một luật sư,Paris Phan Văn Trường
nhà báo chống thực dân) phải đi lính, nhưng hai ông phản đối với lý dongười Việt
không phải là công dân Pháp. Mấy tháng sau, chính quyền khép tội hai ông là gián
điệp của để bắt giam giam ở lao Cherchemidi và Phan ChâuĐức Phan Văn Trường
Trinh bị giam ở Paris, kể từ năm . Năm , vì không đủ bằng chứngtháng 9 1914 1915
buộc tội, chính quyền Pháp phải trả tự do cho hai ông sau nhiều tháng giam giữ.
Ngày năm , Phan Châu Trinh cùng nhà cách mạng trẻ 29 tháng 5 1925 Nguyễn An
Ninh xuống tàu rời nước Pháp, đến ngày cùng năm thì về tới .26 tháng 6 Sài Gòn
Khi bệnh tình trở nặng (tháng 12/1925), túc trực thường xuyên cạnh Phan Châu
Trinh Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Sinh Sắc, Huỳnh Thúc
Kháng.
Đang lúc Phan Châu Trinh nằm trên giường bệnh, thì hay tin ông Ninh vừa bị mật
thám Pháp đến vây bắt tại nhà vào lúc 11 giờ 30 trưa ngày năm .24 tháng 3 1926
Ngay đêm hôm đó, lúc 21 giờ 30, ông qua đời tại khách sạn Chiêu Nam Lầu
được đem quàn tại Huê lầu, số 54 đường Pellerin, Sài Gòn Hưởng dương 54
tuổi. Lời trăn trối cuối cùng của Phan Châu Trinh, được thuật lại là, “Độc lập của
dân tộc ta sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc.”
* Tóm tắt chung:
a) Chủ trương:
- Đấu tranh ôn hòa, bằng những biện pháp cải cách như nâng cao dân trí dân
quyền, dựa vào Pháp để đánh đổ vua quan phong kiến hủ bại, xem đó điều kiện
tiên quyết để giành độc lập.
b) Hoạt động:
- Năm 1906, ông cùng một nhóm phu đất Quảng như Huỳnh Thúc Kháng, Trần
Quý Cáp, Ngô Đức Kế mở cuộc vận động Duy tân ở Trung kỳ:
+ Về kinh tế: Chú ý cổ động thực nghiệp, lập hội kinh doanh. Phát triển nghề thủ
công, làm vườn, lập “nông hội”,...
+ Về giáo dục: mở trường dạy theo kiểu mới để nâng cao dân trí, dạy chữ Quốc
ngữ, các môn học mới thay thế cho Tứ thư, Ngũ kinh của Nho học…
+ Về văn hóa: vận động cải cách trang phục và lối sống: cắt tóc ngắn, ăn mặc “Âu
hóa”, bài trừ mê tín dị đoan và các hủ tục phong kiến,...
=> tưởng Duy tân khi đi vào quần chúng đã vượt qua khuôn khổ ôn hòa, biến
thành cuộc đấu tranh quyết liệt, điển hình phong trào chống Thuế Trung
(1908).
- Năm 1908, sau phong trào chống thuế ở Trung kì, Pháp đàn áp dữ dội, Phan Châu
Trinh bị án tù 3 năm ở Côn Đảo.
- Năm 1911, chính quyền thực dân đưa Phan Châu Trinh sang Pháp.
=> Phan Châu Trinh là nhà cách mạng tiêu biểu cho khuynh hướng cải cách ở Việt
Nam đầu thế kỷ XX.
=> Cuộc vận động Duy tân là một cuộc vận động yêu nước có nội dung chủ yếu
cải cách về văn hóa - hội, gắn liền với giáo dục lòng yêu nước, đấu tranh cho
dân tộc thoát khỏi ách thống trị ngoại xâm.
* Chú ý thêm
SO SÁNH CHỦ TRƯƠNG HOẠT ĐỘNG CỦA PHAN BỘI CHÂU
PHAN CHÂU TRINH
* Giống nhau:
- Xuất phát từ lòng yêu nước để đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc.
- Đều đại diện cho phong trào dân tộc dân chủ của tầng lớp sĩ phu yêu nước tiến bộ
đầu thế kỉ XX.
- Tạo ra những cuộc vận động cách mạng mới theo con đường dân chủ tư sản.
- Thống nhất về chủ trương chiến lược, thống nhất về mục đích cách mạng là muốn
cứu nước, cứu dân, gắn liền dân với nước, gắn cứu nước với duy tân làm đất nước
phát triển theo hương cách mạng tư sản đứnglên con đường chủ nghĩa tư bản.
- Được sự ủng hộ nhiệt tình của đông đảo quần chúng nhân dân. Tuy nhiên cả hai
xu hướng cách mạng này đều chưa xây dựng được những sở vững chắc cho
hội.
- Do hạn chế về tầm nhìn tưởng nên cả hai xu hướng cách mạng này đều bị
thất bại.
* Khác nhau:
Nội dung Phan Bội Châu Phan Châu Trinh
Nhiệm vụ Đánh đuổi thực dân
Pháp, khôi phục chế độ
phong kiến
Đánh đổ phong kiến,
thực hiện cải cách hội
Khai thông dân trí, mở
mang dân quyền”
Xu hướng Bạo động vũ trang Cải cách
Con đường cứu nước “ cứu nước để cứu dân “ “ cứu dân để cứu nước “
Hoạt động tiêu biểu Thành lập hội Duy Tân,
tổ chức phong trào Đông
Du...
Lập hội buôn, mở trường
học, diễn thuyết, cổ vũ,
mở mang công thương
nghiệp....
Hạn chế Chưa đường lối cách
mạng đúng đắn, chưa
nhận thức bản chất kẻ
thù
Chưa đường lối cách
mạng đúng đắn, chống
Pháp bằng cách hào
Duy Tân cải cách, xu
hướng bắt tay với Pháp
Tác dụng Khuấy động lòng yêu
nước, cổ tinh thần dân
tộc
Cổ tinh thần học tập
tự cường
Giáo dục tưởng chống
các hủ tục phong kiến, bỏ
cũ theo mới
Phong trào của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng(
1927- 1930)
1. Thân thế
Nguyễn Thái Học sinh ngày 1 tháng 12 năm (tức ngày ) tạiNhâm Dần 30/12/1902
làng Thổ Tang, tổng Lương Điền, phủ Vĩnh Tường, tỉnh (nay thịVĩnh Yên
trấn , huyện , tỉnh ). Ông là con cả của cụ NguyễnThổ Tang Vĩnh Tường Vĩnh Phúc
Văn Hách và bà Nguyễn Thị Quỳnh. Gia đình ông là một gia đình trung nông sống
bằng nghề làm ruộng dệt vải, buôn vải. Từ 4 tuổi ông đã được cha mẹ cho đi
học , và năm 11 tuổi ông bắt đầu theo học chương trình tiểu học Pháp-Việtchữ Hán
tại thị xã
Vĩnh Yên.
[1]
Năm 19 tuổi ông thi đậu vào trường , và nhận học bổngCao đẳng sư phạmNội
của . Do tính tình cương trực và không thích khuất phục lốiChính phủ Bảo hộ Pháp
giáo dục của , ông bỏ học vào năm thứ ba, sau đó ghi danh họcngười Pháp
trường Cao đẳng Thương mại thuộc (1925-1927). Trong thờiĐại học Đông Dương
gian này, ông tham gia thành lập tiếp xúc với một số sinhNam Đồng Thư
viên đồng chí hướng, trong số đó , sinh viên trường Cao đẳngPhó Đức Chính
Công chánh , sinh viên trường Cao đẳng phạm, hai nhà cáchHồ Văn Mịch
mạng tương lai sẽ gắn liền với cuộc đời cách mạng của ông sau này.
[2]
Cũng trong thời gian sinh viên của Đại học Đông Dương, Nguyễn Thái Học đã
gửi cho Toàn quyền Đông Dương một số bức thư kêu gọiAlexandre Varenne
chính quyền thực dân Pháp tiến hành một loạt cải cách tiến bộ . Sở Việt Nam
Nguyễn Thái Học gửi những đề xuất cải cách của mình cho Varenneông ta vốn
là một đảng viên của , người vừa mới tới nhậm chức toàn quyềnĐảng Xã hội Pháp
đã quyết định ân và hứa hẹn nhiều cải cách rộng lớn ở xứ thuộcPhan Bội Châu
địa . Tuy nhiên, đó chỉ những lời hứa suông, ông ta không baoĐông Dương
giờ quan tâm trả lời những bức thư đầy tâm huyết của Nguyễn Thái Học.
Hoàn toàn thất vọng về con đường cải cách của chính quyền thuộc địa, Nguyễn
Thái Học và các đồng chí của ông đi đến quyết định là: con đường duy nhất để mở
ra cơ hội phát triển cho dân tộc Việt Nam chỉ có thể là con đường dùng vũ trang lật
đổ chế độ chế độ , thành lập một nước Việt Nam thực dân Pháp phong kiến độc
lập với thể chế và thiết lập một nền trên toàn cõi .cộng hòa dân chủ Đông Dương
2. Phong trào của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng( 1927- 1930)
- Khởi nghĩa Yên Bái một cuộc nổi dậy bằng trang bùng phát tại Yên
Bái, một phần trong cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quốc dân
Đảng (VNQDĐ) tổ chức và lãnh đạo nhằm đánh chiếm một số tỉnh và thành
phố trọng yếu của vào ngày năm . Mụcmiền Bắc Việt Nam 9 tháng 2 1930
đích của cuộc nổi dậy là lật đổ chính quyền thuộc địa của Pháp để xây dựng
một nước Việt Nam theo chính thể . Tỉnh lỵ chỉ mộtcộng hòa Yên Bái
trong những mục tiêu của cuộc Tổng tấn công của VNQDĐ vào quân đội và
chính quyền thuộc địa. Lực lượng khởi nghĩa bị đánh bại, đảng viên của
VNQDĐ bị truy nã, giam cầm hành hình. Các lãnh tụ Nguyễn Thái
Học bị Pháp áp giải từ lên Yên Bái xử trảm cùngPhó Đức Chính Nội
với 11 người khác sáng sớm ngày năm 1930.17 tháng 6
Bối cảnh
- Sau những tổn thất nặng nề do chính quyền thực dân gây ra, một số lãnh tụ
của chủ trương phản công bằng một cuộc khởiViệt Nam Quốc dân Đảng
nghĩa vũ trang, chứ không thể ngồi khoanh tay chờ bị tiêu diệt.
- Từ cách nhìn nhận đó, ngày năm , Chủ tịch Đảng 17 tháng 9 1929 Nguyễn
Thái Học đã triệu tập Hội nghị Đại biểu toàn quốc Việt Nam Quốc dân Đảng
tại , , để bàn bạc thống nhất kế hoạch khởi nghĩa. TạiLạc Đạo Hải Dương
hội nghị, bị chia thành 2 phái: (Việt Nam Quốc dân Đảng chủ hòa Hữu
Cảnh) ( , ). Phái chủ chiến Nguyễn Thái Học Nguyễn Khắc Nhu chủ
chiến chiếm ưu thế trong hội nghị.
- Sau đó, triệu tập Hội nghị , thống nhấtViệt Nam Quốc dân Đảng Bắc Ninh
kế hoạch phương thức tiến hành khởi nghĩa. Tăng cường vận động binh
lính. Các cơ sở chế tạo được triển khai và đẩy mạnh. Công tác chuẩnkhí
bị sau đó gặp một số sự cố như vụ sơ suất khi chế tạo làng Mỹ Điền,bom
làm chết 3 đảng viên tại .Bắc Ninh
- Trong Hội nghị tiếp theo nhóm họp ở làng Võng La, xã Hạ Bì, huyện Thanh
Thủy 1929, tỉnh ngày năm Phú Thọ 25 tháng 12 , Quốc dân Đảng khẳng định
rằng cần phải tiến hành một cuộc khởi nghĩa để phản công lại sự đàn áp của
Pháp. phản bội tổ chức tại Hội nghị.Phạm Thành Dương
- Ngày năm 1930, hội nghị tiếp theo được tổ chức tại làng Mỹ26 tháng 1
Xá, , tỉnh . Trong phiên họp ấy, đa số các đại biểuphủ Nam Sách Hải Dương
đều tán thành kế hoạch "Tổng khởi nghĩa". Cũng trong cuộc họp này, Việt
Nam Quốc dân Đảng đô thị đã vạch ra kế hoạch tấn công một số những
yếu điểm quân sự của Pháp, bao gồm: , , Sơn Tây Hải Dương Hải
Phòng Lâm, , , , , , , Kiến An Bắc Ninh Đáp Cầu Phả Lại Yên Bái Hưng Hóa
Thao . Chỉ huy các mặt trận cũng được chỉ định trong phiên họp Nội
lịch sử đó.
- Trong một cuộc họp mật khác, trên thuộc tỉnh ,núi Yên Tử Quảng Ninh
giữa các lãnh t , ,Nguyễn Thái Học Phó Đức Chính Nguyễn Khắc Nhu
ngày giờ phát động cuộc Tổng Khởi nghĩa được ấn định ngày 9 tháng
2 1930 năm .

Preview text:

Phong trào đấu tranh chống pháp cuối 19 đầu 20
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP ĐẦU
THẾ KỈ 19, CUỐI THẾ KỶ 20? KẾT QUẢ?
Tóm tắt nội dung này giúp tôi để tôi làm powerpoint:
I.
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến
Trước khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, phong trào yêu nước theo khuynh
hướng phong kiến đã diễn ra mạnh mẽ, với nhiều cuộc khởi nghĩa và tổ chức
nổi bật. Dưới đây là một số phong trào tiêu biểu:
1.Phong trào Cần Vương (1885-1889): Đây là phong trào kháng chiến
chống thực dân Pháp do vua Hàm Nghi lãnh đạo, kêu gọi nhân dân đứng lên
chống lại sự xâm lược. Mặc dù bị dập tắt nhanh chóng, phong trào này đã thể
hiện tinh thần yêu nước mãnh liệt.
-Sau ngày ký hiệp ước Giáp Thân (06/6/1884), mâu thuẫn giữa phe chủ chiến
trong triều đình Huế do Tôn Thất Thuyết đứng đầu với thực dân Pháp ngày
càng trở nên gay gắt. Đêm
mồng 04 rạng ngày 05/7/1885 (nhằm đêm 22 rạng
ngày 23/5 năm Ất Dậu), Tôn Thất Thuyết quyết định nổ súng đánh úp đồn
Mang Cá và tòa Khâm sứ. Do kế hoạch tấn công chưa được chuẩn bị chu đáo
nên bị thất bại. Kinh thành thất thủ, Tôn Thất Thuyết phải phò vua Hàm Nghi
rời bỏ kinh đô lên Tân Sở. Ngày 13/7/1885, từ sơn phòng Quảng Trị, nhà vua
ban dụ Cần Vương kêu gọi nhân dân đứng lên ứng nghĩa giúp vua cứu nước. Sự
biến kinh thành ngày 05/7/1885 đã có ảnh hưởng và tác động không nhỏ đối với
phong trào giải phóng dân tộc của nước ta vào cuối thế kỷ thứ XIX, đánh dấu
một bước ngoặt và mở ra một giai đoạn mới trong cuộc đấu tranh chống Pháp
của nhân dân Huế và nhân dân Việt Nam, đó là phong trào Cần Vương (1885 - 1896).
-Hưởng ứng lời kêu gọi của vua Hàm Nghi, phong trào Cần Vương phát triển
rộng khắp các tỉnh và phát triển qua hai giai đoạn. Giai đoạn từ tháng 7 năm
1885 đến khi vua Hàm Nghi bị bắt tháng 11 năm 1888, phong trào Cần Vương
đã phát triển mạnh mẽ bao gồm hàng loạt cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ. Ở Thừa
Thiên Huế có gia đình Tôn Thất Thuyết, các nhân vật Hồ Văn Hiển, Đặng Huy
Cát, Đặng Hữu Phổ, Thân Trọng Di…Ở Bình Định có khởi nghĩa Mai Xuân
Thưởng. Ở Quảng Ngãi có Lê Trung Đình. Tỉnh Quảng Nam có Nguyễn Duy
Hiệu. Tỉnh Quảng Trị có Trương Đình Hội. Ở Quảng Bình có phong trào của
Lê Trực và Nguyễn Phạm Tuân. Ở Nghệ An có phong trào của Nguyễn Xuân Ôn…
-Giai đoạn 1888 - 1896 có các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như khởi nghĩa Bãi
Sậy của Nguyễn Thiện Thuật, khởi nghĩa Ba Đình của Đinh Công Tráng, khởi
nghĩa Hồng Lĩnh của Tống Duy Tân và đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Hương Khê
của Phan Đình Phùng và Cao Thắng trên địa bàn bốn tỉnh Thanh Hóa - Nghệ
An - Hà Tình - Quảng Bình từ năm 1885 - 1896. Đây là cuộc khởi nghĩa có quy
mô lớn nhất và kéo dài nhất, đồng thời cũng đánh dấu sự thất bại chung của
phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp dưới danh nghĩa Cần Vương.
-Phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX là phong trào dân tộc tuy thất bại
nhưng đã tô thắm thêm truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc Việt Nam.
2.Khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913): Dưới sự lãnh đạo của Đề Thám, phong
trào này kéo dài hơn 30 năm, diễn ra chủ yếu ở vùng Yên Thế, Bắc Giang. Đây
là một trong những cuộc khởi nghĩa lớn và bền bỉ nhất trong thời kỳ này.
- Để mở rộng phạm vi chiếm đóng, Pháp cướp đất của người nông dân ở Yên
Thế làm đồn điền, khai mỏ, làm đường giao thông.Kinh tế nông nghiệp sa sút,
đời sống nhân dân Bắc Kì khó khăn, một bộ phận phải phiêu tán lên Yên Thế,
họ sẵn sàng nổi dậy đấu tranh.
=> Với tinh thần yêu nước và để bảo vệ cuộc sống, nông dân Yên Thế đứng lên đấu tranh.
-Khởi nghĩa do Đề Nắm chỉ huy, lúc này nghĩa quân hoạt động riêng rẽ, chưa
có sự chỉ huy thống nhất. Tháng 4 - 1892 cuộc khởi nghĩa do Đề Thám chỉ huy
-Nghĩa quân đã chiến đấu quyết liệt, buộc kẻ thù hai lần phải giảng hòa và
nhượng bộ một số điều kiện có lợi cho ta.Lần giảng hòa thứ nhất: sau khi bắt
được tên điền chủ người Pháp - Sét-nay. Đề Thám đã thỏa thuận với Pháp,
nghĩa quân đã thả tên điền chủ, trong khi đó Đề Thám phải được cai quản 4
tổng: Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ và Hữu Thượng.Đặc biệt trong thời kì giảng
hòa lần thứ hai (12- 1897) Đề Thám cho sản xuất ở Phồn Xương, tích lũy lương
thực, xây dựng quân đội, sẵn sàng chiến đấu. Nhiều nhà yêu nước đã tìm đến
như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh
- Sau vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, Pháp đã dần hiện thấy Đề Thám có
dính líu đến vụ đầu độc lính. Vì vậy, Pháp tập trung lực lượng, mở cuộc tấn
công quy mô lên Yên Thế.Sau nhiều trận càn quét của địch, lực lượng nghĩa
quân hao mòn dần. Ngày 10- 2- 1913 Đề Thám bị sát hại phong trào tan rã.
- Khởi nghĩa này không chỉ là cuộc kháng chiến chống Pháp, mà còn là biểu
tượng của khát vọng tự do và độc lập.
3.Phong trào Đông Du (1905-1909): Dù không phải là một cuộc khởi nghĩa,
phong trào này do Phan Bội Châu lãnh đạo, nhằm kêu gọi thanh niên Việt Nam
sang Nhật Bản học tập và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
4.Phong trào Duy Tân (1906-1908): Phong trào này do Phan Chu Trinh và các
nhà yêu nước khác khởi xướng, nhằm cải cách xã hội và nâng cao nhận thức
của nhân dân về độc lập dân tộc.
5.Khởi nghĩa Trần Hưng Đạo (1945): Tuy được diễn ra sau các phong trào
trên, nhưng đây là một trong những nỗ lực cuối cùng của các lãnh đạo phong
kiến nhằm giành độc lập trước khi cách mạng tháng Tám bùng nổ.
->Các phong trào này tuy không thành công trong việc giành độc lập ngay lập
tức, nhưng đã tạo ra nền tảng cho những thế hệ tiếp theo và góp phần hình
thành tinh thần yêu nước trong dân tộc Việt Nam.Các phong trào yêu nước theo
khuynh hướng phong kiến trước 1930-1945 thể hiện tinh thần kháng chiến
mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp. Mặc dù thiếu sự đoàn
kết và tổ chức chặt chẽ, các phong trào như Cần Vương, Yên Thế …đã khẳng
định lòng yêu nước và khát vọng độc lập. Tuy nhiên, những phong trào này
thường gặp khó khăn do sự đàn áp mạnh mẽ từ thực dân và nội bộ chưa thống
nhất về mục tiêu. Điều này đã tạo điều kiện cho các tư tưởng cách mạng hiện
đại, đặc biệt là Đảng Cộng sản, ra đời và dẫn dắt phong trào giải phóng dân tộc sau này. Tóm tắt
-Ngay từ khi Pháp nổ súng xâm lược, các phong trào yêu nước chống thực dân
Pháp bảo vệ nền độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam đã diễn ra liên tục, rộng khắp.
-Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến: Đến năm 1884, dù triều
đình nhà Nguyễn đã đầu hàng, nhưng một bộ phận phong kiến yêu nước đã
cùng với nhân dân vẫn tiếp tục đấu tranh vũ trang chống Pháp.
+Phong trào Cần Vương (1885-1986) do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết
khởi xướng. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hoá), Bãi Sậy
(Hưng Yên), Hương Khê (Hà Tĩnh) diễn ra sôi nổi, rộng khắp ba kỳ và thể hiện
tinh thần quật cường chống ngoại xâm của các tầng lớp nhân dân.
+Phong trào nông dân Yên Thế (Bắc Giang) dưới sự lãnh đạo của vị thủ lĩnh
nông dân Hoàng Hoa Thám, nghĩa quân đã xây dựng lực lượng chiến đấu, lập
căn cứ và đấu tranh kiên cường chống thực dân Pháp.
1. Phan Bội Châu cùng khuynh hướng bạo động- Từ thành lập Duy Tân
hội đến phong trào Đông Du.
1-Tiểu sử:
Phan Bội Châu vốn tên là Phan Văn San .Vì San trùng với
tên húy vua Duy Tân (Vĩnh San) nên phải đổi thành Phan Bội
Châu
.Hai chữ “bội châu” trong tên của ông lấy từ câu:[Thành trung nga
mi nữ châu bội hà san san].
Ông có hiệu là Hải Thụ, về sau đổi là Sào Nam. Tên gọi Sào Nam được
lấy từ câu [Việt điểu sào nam chi nghĩa là Chim Việt làm tổ cành Nam].
Phan Bội Châu còn có nhiều biệt hiệu và bút danh khác như Thị Hán, Phan
Giải San, Sào Nam Tử, Hạo Sinh, Hiếu Hán …
Phan Bội Châu sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867 tại làng Đan Nhiễm,
xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Cha ông là Phan Văn Phổ,
mẹ là Nguyễn Thị Nhàn. Ông nổi tiếng thông minh từ bé, năm 6 tuổi học 3
ngày thuộc hết Tam Tự Kinh, 7 tuổi ông đã đọc hiểu sách Luận Ngữ, 13
tuổi ông thi đỗ đầu huyện.
Thuở thiếu thời ông đã sớm có lòng yêu nước. Năm 17 tuổi, ông viết bài
“Hịch Bình Tây Thu Bắc” đem dán ở cây đa đầu làng để hưởng ứng việc
Bắc Kỳ khởi nghĩa kháng Pháp. Năm 19 tuổi (1885), ông cùng bạn là Trần
Văn Lương lập đội “Sĩ tử Cần Vương” (hơn 60 người) chống Pháp, nhưng
bị đối phương kéo tới khủng bố nên phải giải tán.
Gia cảnh khó khăn, ông đi dạy học kiếm sống và học thi. Khoa thi năm
Đinh Dậu (1897) ông đã lọt vào trường nhì nhưng bạn ông là Trần Văn
Lương đã cho vào tráp mấy cuốn sách nhưng ông không hề biết nên ông bị
khép tội hoài hiệp văn tự (mang văn tự trong áo) nên bị kết án chung thân
bất đắc ứng thí (suốt đời không được dự thi). Sau cái án này, Phan Bội
Châu vào Huế dạy học, do mến tài ông nên các quan đã xin vua Thành Thái
xóa án. Nhờ vậy, ngay khoa thi hương tiếp theo, năm Canh Tý (1900), ông
đã đậu đầu (Giải nguyên) ở trường thi Nghệ An. Cùng năm đó, thân sinh
của cụ qua đời, nhờ đó cụ mới có thời gian rãnh để lo đến việc cứu nước.

Đầu thế kỉ XX, Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài,
chủ yếu là Nhật Bản để đánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lâp một nhà
nước theo mô hình quân chủ lập hiến của Nhật. Phan Bội Châu đã nêu rõ
nhiệm vụ đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc. Con đường cứu
nước của Phan Bội Châu là “cứu nước để cứu dân”. Ở đây ta thấy điểm tích
cực trong khuynh hướng cứu nước của Phan Bội Châu là ông đã xác định
được đúng mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, vì vậy ông
nêu rõ mục tiêu là đánh đuổi Pháp thì mới có thể giành được độc lập tự do
cho nhân dân. Phan Bôi Châu đã chọn Kì Ngoại Hào Cường Để (cháu 6 đời
của Vua Gia Long) làm hội chủ nghĩa là Phan Bội Châu muốn quay lại chế
độ quân chủ. Vì lúc này tư tưởng trung quân ái quốc vẫn còn tồn tại trong
nhận thức của Phan Bội Châu và nhân dân nên để thu hút sự tham gia đông
đảo của quần chúng nhân dân, Phan Bội Châu đã lợi dụng tư tưởng trung
quân ái quốc để tập hợp lực lượng. Rõ ràng ta thấy lúc này ở Việt Nam vẫn
còn vua Thành Thái nhưng Phan Bội Châu đã chọn cho mình một Cường
Để có tinh thần chống Pháp chứ không phải một ông vua chính danh nhưng bù nhìn như Thành Thái.
Phan Bội Châu đã xác định phương pháp cách mạng là bạo đông vũ
trang cần thiết là đúng vì bản chất của các thế lực thù địch là chúng
chống phá ta bằng quân sự vì vậy phải bạo động quân sự.

Phan Bội Châu đã thành lập các tổ chức cách mạng bao gồm hội Duy Tân,
hội Cống Hiến được thành lập ở Tokyo, cơ quan liên lạc và Công hội
Thương đoàn được thành lập ở Hồng Kông tiếp đó ông tổ chức phong trào
Đông Du (1905- 1908) đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản học tập.
Phan Bội Châu đã gửi học sinh sang trường Học hiệu Chấn Võ tại Tokyo
cùng với trường Thư viện Đồng Văn Tokyo. Tuy nhiên đến tháng 8/1908
chính phủ Nhật cấu kết với Pháp trục xuất lưu học sinh kể cả Phan Bội
Châu về nước. Giữa lúc cách mạng Tân Hợi bùng nổ và thắng lợi (1911),
ông về Trung Quốc lập ra Việt Nam Quang Phục Hội (1912) với mục đích
tập hợp lực lượng đánh đuổi Pháp khôi phục nước Việt Nam, thành lập
nước Cộng Hòa Dân Quốc Việt Nam. Sự ra đời của Việt Nam Quang Phục
Hội đánh dấu sự phát triển trong tư tưởng của Phan Bội Châu từ quân chủ
lập hiến lên dân chủ tư sản.
Khuynh hướng cải cách của Phan Bội Châu đã khoáy động lòng yêu nước,
cổ vũ tinh thần dân tộc, tập hợp lực lượng kháng Pháp hùng mạnh. Tuy
nhiên nó cũng có một số hạn chết nhất định ở chỗ cầu viện Nhật Bản. Lúc
bấy giờ Nhật Bản đã trở thành một nước tư bản do nhu cầu tìm kiếm thuộc
địa nên Việt Nam dã trở thành miếng mồi ngon của Nhật Bản vì thế họ
nhanh chóng trở mặt khi đụng đến quyền lợi của họ
2.Hoạt động của mình
Năm 1901, Phan cùng một số đồng chí vạch ra 3 kế hoạch sau đây:
+Liên kết với dư đảng Cần Vương và các tráng kiện ở chốn sơn lâm, xướng
khởi nghĩa binh, mục đích là đánh giặc phục thù với với thủ đoạn bạo động.
+Tìm người dòng họ nhà vua lập làm minh chủ, rồi ngầm liên kết với
những người có thể lực, tập hợp những người trung nghĩa ở Bắc Kỳ và
Trung Kỳ cùng nhau khởi sự.
+ Khi cần thiết sẽ phái người xuất dương cầu ngoại viện.
Mục đích: “Cốt sao khôi phục được nước Việt Nam, lập ra một chính phủ
độc lập, ngoài ra chưa có chủ nghĩa gì khác cả.”
Ba kế hoạch này có thể coi là sự khởi đầu một cương lĩnh hoạt động của Duy Tân hội sau này.
-Về Phong trào Đông Du
Tháng 6 năm 1905, Phan Bội Châu cùng Đặng Tử Kính mang theo một số
sách Việt Nam vong quốc sử về nước. Tháng 8 năm 1905 tại Hà Tĩnh, ông
và các đồng chí nồng cốt trong Duy Tân hội bàn bạc rồi đưa ra kế hoạch hành động đó là:
- Lập các hội nông, hội buôn, hội học để tập hợp quần chúng và để có tài chánh cho hội.
- Chọn một số thanh niên thông minh hiếu học, chịu được gian khổ, đưa đi học ở nước ngoài
- Tháng 10 năm 1905, Phan Bội Châu trở lại Nhật Bản cùng với ba thanh
niên, sau đó lại có thêm 45 người nữa. Năm 1906, Cường Để qua Nhật,
được bố trí vào học trường Chấn Võ. Kể từ đó cho đến năm 1908, số học
sinh sang Nhật Bản du học lên tới khoảng 200 người, sinh hoạt chung trong
một tổ chức có quy củ gọi là Cống hiến hội…
Chương trình nhằm đào tạo những người có trình đọ văn hóa và quân sự
cần thiết cho công cuộc đánh Pháp cứu nước về sau. Đến giữa năm 1903,
việc học tâp của các học sinh Việt Nam ở Nhật đã ổn định và phát triển thuận lợi.
Năm 1908, phong trào “cự sưu khất thuế” (tức phong trào chống sưu thuế
Trung Kỳ) nổi lên rầm rộ ở Quảng Nam rồi nhanh chóng lan ra các tỉnh
khác. Bị thực dân Pháp đưa quân đàn áp, nhiều hội viên bị bắt, trong số đó
có Nguyễn Hàm, một yếu nhân của hội. Tiếp đó, Hoàng Quang Thanh và
Đặng Bỉnh Thành lại bị Pháp đón bắt được khi từ Nhật về Nam Kỳ nhận
tiền quyên góp cho phong trào Đông Du. Cũng trong năm đó, Pháp và Nhật
vừa ký với nhau một hiệp ước, theo đó chính phủ Nhật ra lệnh trục xuất các
du học sinh người Việt ra khỏi đất Nhật. Năm 1909, Cường Để và Phan Bội
Châu cũng bị trục xuất. Đến đây, phong trào Đông Du mà Phan Bội Châu
và các thành viên khác đã dày công xây dựng hoàn toàn tan rã, kết thúc một
hoạt động quan trọng của hội.
Cuối năm 1910, Phan Bội Châu chuyển một đại bộ phận hội viên (trong đó
có khoảng 50 thanh niên) ở Quảng Đông về xây dựng căn cứ địa ở Bạn
Thầm (Xiêm La). Tại đây, họ cùng nhau cày cấy, học tập và luyện tập võ
nghệ để chuẩn bị cho một kế hoạch phục quốc sau này.
Năm 1912, trong cuộc “Đại hội nghị” tại từ đường nhà Lưu Vĩnh Phúc ở
Quảng Đông (Trung Quốc), có đông đủ đại biểu khắp ba kỳ đã quyết định
giải tán Duy Tân hội và thành lập Việt Nam Quang phục Hội, tức thay đổi
tôn chỉ từ chủ nghĩa quân chủ sang chủ nghĩa dân chủ để đánh đuổi quân
Pháp, khôi phục Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa Dân quốc kiến lập
Việt Nam, đáp ứng tình hình chuyển biến mới trên trường quốc tế.
II. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản
 Xu hướng bạo động do Phan Bội Châu lãnh đạo 1. Tiểu sử
Phan Bội Châu sinh ngày 26 tháng 12 năm tại 1867 làng Đan Nhiễm, xã Xuân
Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Cha ông là Phan Văn Phổ, mẹ là Nguyễn Thị Nhàn. Ông nổi tiếng thông minh từ
bé, năm 6 tuổi học 3 ngày thuộc hết Tam Tự Kinh, 7 tuổi ông đã đọc hiểu sách
, 13 tuổi ông thi đỗ đầu huyện. Luận Ngữ
Thuở thiếu thời ông đã sớm có lòng yêu nước. Năm 17 tuổi, ông viết bài "Hịch
Bình Tây Thu Bắc"
đem dán ở cây đa đầu làng để hưởng ứng việc Bắc Kỳ khởi
nghĩa kháng Pháp. Năm 19 tuổi ( ),
1885 ông cùng bạn là Trần Văn Lương lập đội
"Sĩ tử Cần Vương" (hơn 60 người) chống Pháp, nhưng bị đối phương kéo tới
khủng bố nên phải giải tán.
Gia cảnh khó khăn, ông đi dạy học kiếm sống và học thi. Khoa thi năm Đinh
Dậu (1897) ông đã lọt vào trường nhì nhưng bạn ông là Trần Văn Lương đã cho
vào tráp mấy cuốn sách nhưng ông không hề biết nên ông bị khép tội hoài hiệp
văn tự
(mang văn tự trong áo) nên bị kết án chung
thân bất đắc ứng thí (suốt đời không được dự thi).
Sau cái án này, Phan Bội Châu vào Huế dạy học, do mến tài ông nên các quan đã
xin vua Thành Thái xóa án. Nhờ vậy, ngay khoa thi hương tiếp theo, năm Canh
Tý (1900), ông đã đậu đầu (Giải nguyên) ở trường thi Nghệ An.
1. Hoạt động cách mạng
Lập Duy Tân hội, sang Nhật cầu viện
Trong vòng 5 năm sau khi đỗ Giải nguyên, Phan Bội Châu bôn ba khắp nước Việt
Nam kết giao với các nhà yêu nước như Phan Chu Trinh,[7] Huỳnh Thúc
Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Hàm (tức Tiểu Nguyễn La
Thành), Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Đặng Thái Thân, Hồ Sĩ Kiện, Lê
Huân, Nguyễn Quyền, Võ Hoành, Lê Đại,...
Phan Bội Châu đả kích việc thực dân cấm Pháp
giảng dạy lịch sử Việt Nam mà
thay vào đó là lịch sử Pháp, nhằm dụng ý xóa bỏ những ảnh hưởng của văn hóa
truyền thống Việt Nam, truyền bá văn hóa nhằm Pháp
đồng hóa người Việt; đồng
thời đào tạo ra một tầng lớp công chức và chuyên viên phục vụ cho nền cai trị và
công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp. Năm 1905 Phan Bội Châu chỉ trích nền
giáo dục của thực dân Pháp ở thuộc địa là "chỉ dạy người Việt viết văn Pháp, nói
, tạm thời làm nô lệ cho tiếng Pháp Pháp". Năm ông 1904
cùng Nguyễn Hàm và khoảng 20 đồng chí khác thành lập Duy Tân
hội ở Quảng Nam để đánh đuổi Pháp, chọn Kỳ Ngoại hầu Cường Để - một người
thuộc dòng dõi nhà Nguyễn - làm hội chủ. Năm ông 1905
cùng Đặng Tử Kính và Tăng Bạt Hổ sang Trung Quốc rồi
sang Nhật Bản, để cầu viện Nhật giúp Duy Tân hội đánh đuổi Pháp. Tại Nhật, ông
gặp Lương Khải Siêu, một nhà cách mạng người Trung Quốc, và được khuyên là
nên dùng thơ văn để thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam (nghe lời,
Phan Bội Châu viết Việt Nam vong quốc sử). Lại nghe hai nhân vật quan trọng của
Đảng Tiến Bộ đang cầm quyền ở Nhật Bản, là Ōkuma Shigenobu (Bá tước Ôi
Trọng Tín
) và Thủ tướng Inukai Tsuyoshi (Khuyển Dưỡng Nghị) khuyên là nên cổ
động thanh niên ra nước ngoài học tập để sau này về giúp nước.
Tháng 6 năm 1905 Phan Bội Châu cùng Đặng
Tử Kính mang theo một số
sách Việt Nam vong quốc sử về nước. Tháng năm 8
1905, tại Hà Tĩnh, ông và các
đồng chí nòng cốt trong Duy Tân hội bàn bạc rồi đưa ra kế hoạch hành động, đó là: 
Nhanh chóng đưa Kỳ Ngoại hầu Cường Để ra nước ngoài. 
Lập các hội nông, hội buôn, hội học để tập hợp quần chúng và để có tài chánh cho hội. 
Chọn một số thanh niên thông minh hiếu học, chịu được gian khổ, đưa đi học ở nước ngoài.
Phát động phong trào Đông Du Tượng Phan đồng
Bội Châu tại công viên số 19 Lê Lợi, bên cầu Trường Tiền, TP
(trước đây, tượng được đặt trong khuôn viên nhà lưu niệm ông) Huế
Trong ba nhiệm vụ trên, thì nhiệm vụ thứ ba hết sức quan trọng và bí mật, nên Duy
Tân hội đã cử Phan Bội Châu và Nguyễn Hàm tự định liệu. Sau đó, phong trào
Đông Du được hai ông phát động, được đông đảo người dân ở cả ba kỳ tham gia
và ủng hộ, nhất là ở Nam Kỳ.
Tháng 10 năm 1905, Phan Bội Châu trở lại Nhật Bản cùng với ba thanh niên, sau
đó lại có thêm 45 người nữa. Năm ,
1906 Cường Để qua Nhật, được bố trí vào học
trường Chấn Võ. Kể từ đó cho đến năm ,
1908 số học sinh sang Nhật Bản du học
lên tới khoảng 200 người, sinh hoạt chung trong một tổ chức có quy củ gọi
Cống hiến hội...
Tháng 3 năm 1908, phong trào "cự sưu khất thuế" (tức phong trào chống sưu thuế
Trung Kỳ) nổi lên rầm rộ ở Quảng Nam rồi nhanh chóng lan ra các tỉnh khác. Bị
thực dân Pháp đưa quân đàn áp, nhiều hội viên trong phong trào Duy Tân và Duy
Tân hội bị bắt, trong số đó có Nguyễn Hàm, một yếu nhân của hội.
Mất mát này chưa kịp khắc phục thì hai phái viên của hội là Hoàng Quang Thanh
và Đặng Bỉnh Thành lại bị Pháp đón bắt được khi từ Nhật về Nam Kỳ nhận tiền
quyên góp cho phong trào Đông Du. Tiếp theo nữa là Pháp và Nhật vừa ký với
nhau một hiệp ước (tháng năm 9 ),
1908 theo đó chính phủ Nhật ra lệnh trục xuất
các du học sinh người Việt ra khỏi đất Nhật. Tháng năm 3 , 1909 Cường và Để
Phan Bội Châu cũng bị trục xuất. Đến đây, phong trào Đông Du mà Phan Bội
Châu và các thành viên khác đã dày công xây dựng hoàn toàn tan rã, kết thúc một
hoạt động quan trọng của hội.
Trong "cuộc bút đàm đẫm lệ" giữa Phan Bội Châu và Lương Khải Siêu là lời cảnh
báo không nên "cầu viện" Nhật để giành độc lập vì theo Lương Khải Siêu, "Mưu
ấy sợ không tốt. Quân Nhật đã một lần vào nước, quyết không lý gì đuổi nó ra
được"
. Và đến năm 1909, do thỏa thuận giữa Nhật và Pháp, các du học sinh Việt
Nam đồng loạt bị trục xuất khỏi nước Nhật. Điều này giải thích tại sao trong các tự
thuật, hồi ức viết về sau như Ngục trung thư, Phan Bội Châu niên biểu, Phan Bội
Châu đã không có chỗ nào nhắc đến tác phẩm Á tế Á ca, bài thơ từng hết lời ca ngợi Nhật Bản.
Lúc này, ở nhiều nơi trong nước, mọi hoạt động quyên góp tài chính và chuẩn bị
vũ trang bạo động của Duy Tân hội cũng bị thực dân cho quân đến đàn áp dữ dội.
Những người sống sót sau các đợt khủng bố đều phải nằm im, hoặc vượt biên
sang Trung Quốc, Xiêm La, Lào để mưu tính kế lâu dài. Cuối năm ,
1910 Phan Bội Châu chuyển một đại bộ phận hội viên (trong đó có
khoảng 50 thanh niên) ở Quảng Đông về xây dựng căn cứ địa ở Bạn Thầm (Xiêm
La). Tại đây, họ cùng nhau cày cấy, học tập và luyện tập võ nghệ để chuẩn bị cho
một kế hoạch phục quốc sau này.
Thượng tuần tháng 5 năm Nhâm Tý ( năm tháng 6 ),
1912 trong cuộc "Đại hội nghị"
tại từ đường nhà Lưu Vĩnh Phúc ở Quảng Đông (Trung Quốc), có đông đủ đại biểu
khắp ba kỳ đã quyết định giải tán Duy Tân hội và thành lập Việt Nam Quang phục
Hội, tức thay đổi tôn chỉ từ chủ nghĩa quân chủ sang chủ nghĩa dân chủ để đánh
đuổi quân Pháp, khôi phục Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa Dân quốc kiến lập
Việt Nam
, đáp ứng tình hình chuyển biến mới trên trường quốc tế.
Hoạt động ở Trung Quốc
Mặc dù thay đổi tôn chỉ nhưng Phan Bội Châu vẫn duy trì Kỳ Ngoại hầu Cường
Để trong vai trò Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Quang phục Hội, nhằm
tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong nước.
Căn nhà tranh là nơi ở của ông già Bến Ngự
Sau đó, Việt Nam Quang phục Hội cử một số hội viên về nước để trừ khử một vài
viên chức Pháp và cộng sự đắc lực của họ, nhằm "đánh thức đồng bào", "kêu gọi
hồn nước". Các cuộc bạo động bằng tạc đạn tuy xảy ra lẻ tẻ nhưng vẫn khuấy động
được dư luận trong và ngoài nước, làm nhà cầm quyền Pháp tăng cường khủng bố,
khiến nhiều người bị bắt và bị giết. Bị kết tội chủ mưu, Phan Bội Châu và Cường
Để bị thực dân Pháp cùng với Nam triều kết án tử hình vắng mặt. Năm ,
1913 thực dân Pháp cử người đến Quảng Đông "mặc cả" với Tổng đốc Long
Tế Quang yêu cầu bắt Phan Bội Châu và các yếu nhân của hội. Ngày 24 tháng
12 năm 1913, Phan Bội Châu bị bắt. Nhưng nhờ Nguyễn Thượng Hiền, lúc bấy giờ
đang ở Bắc Kinh, vận động nên Long Tế Quang không thể giao nộp ông cho Pháp
mà chỉ đưa giam vào nhà tù Quảng Đông, mãi đến tháng 2 năm , 1917 ông mới được giải thoát.
Ra tù, Phan Bội Châu lại tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1922, phỏng
theo Trung Quốc Quốc dân Đảng của Tôn Trung Sơn, ông định cải tổ Việt Nam
Quang phục Hội thành Việt Nam Quốc dân Đảng. Được Nguyễn Ái Quốc (lúc này
đang làm Ủy viên Đông phương bộ, phụ trách Cục phương Nam của Quốc tế cộng
sản) góp ý, Phan Bội Châu định thay đổi đường lối theo hướng xã hội chủ , nghĩa
nhưng chưa kịp cải tổ thì ông bị bắt cóc ngày 30 năm tháng 6 1925.
Phan Bội Châu và phong trào cộng sản
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói chuyện trong lễ kỷ niệm 130 năm ngày sinh của
Phan Bội Châu tại Hà Nội ngày 26 tháng năm 12
1997, đã cho biết trong nhà của
Phan Bội Châu có treo ở giữa tấm ảnh của Lê-nin. Trước đó từ lâu khi còn ở Trung
Quốc, Phan Bội Châu còn viết một cuốn tiểu sử Lê-nin. Trung tướng Phạm Hồng ,
Cư bạn thân (và là em cọc chèo) của Đại tướng Võ
Nguyên Giáp, trong sách Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời trẻ cộng tác với phu
nhân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là bà Đặng Bích Hà, đã kể lại thời kỳ thiếu
niên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi thăm "ông già Bến Ngự" đang bị Pháp
giam lỏng tại Huế, trong nhà Phan Bội Châu treo ba bức ảnh: Thích-ca Mâu- ni, Tôn Trung Sơn Lê-nin ,
. Ba bức ảnh này nói lên phần nào quan điểm triết học và chính trị của ông.
Trong hồi ký Ngôi nhà Bến Ngự và con đò sông Hương, nhà báo Tạ Quang Đạm (em giáo sư Tạ Quang ),
Bửu người đã sống chung với Phan Bội Châu một năm (để
học chữ Hán và làm thư ký cho ông), sau khi Phan Bội Châu an trí tại căn nhà
tranh đầu dốc Bến Ngự (Huế), đã kể lại rằng trên tường căn nhà tranh 3 gian - nơi
ở và cũng là nơi ông dạy học - có treo nhiều tranh ảnh, trong đó ấn tượng nhất là
bức chân dung Lê-nin được treo trang trọng trên bức tường mặt trước gần sát trần
nhà. Có lẽ là một bức họa vẽ theo một bức tượng kiểu huy hiệu. Dưới chân dung
có hai chữ Hán: Liệt Ninh (Lê-nin).
Giáo sư sử học Nguyễn Thế Anh, hiện sống tại Pháp, cho biết, ông không tìm thấy
bằng chứng rằng Phan Bội Châu có xu hướng ủng hộ phong trào cộng sản. Nhất là
khi, theo ý ông, tờ báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng mà Phan Bội Châu
có cộng tác đã lên án cách thức tiêu diệt trí thức của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Giáo sư Nguyễn Đình Chú thì cho biết Phan Bội Châu đón nhận học
thuyết Marx từ tư cách nhà văn hóa hơn là nhà chính trị. Phan Bội Châu vừa ca ngợi Marx, Lê-nin, vừa ca ngợi Khổng, Mạnh, Tôn Trung
Sơn, Gandhi, Rousseau Montesquieu ,
. Phan Bội Châu từng viết quyển sách hơn 50
trang Xã hội chủ nghĩa trong thời gian 1928-1934 để giới thiệu chủ nghĩa Marx,
giới thiệu nội dung chủ yếu của học thuyết Marxist như: thặng dư giá trị, giai cấp
đấu tranh, lao động chuyên ,
chính kinh tế học, phương pháp xã hội cách mạng, tư
bản luận. Phan Bội Châu đã kết luận: "Ở trong các nhà xã hội học, ông (Marx)
thật đáng là một vị tiên sư, sở dĩ chúng ta nghiên cứu xã hội chủ nghĩa, chỉ cần
nghiên cứu Mã Khắc Tư (Marx) chủ nghĩa là xong rồi"
. Phan Bội Châu còn
viết "Lược truyện Liệt Ninh, vĩ nhân của nước Nga đỏ" viết in trên Binh sự tạp
chí
, Hàng Châu, Trung Quốc năm 1921.
Phan Bội Châu và Nguyễn Ái Quốc
Tại vùng Nghệ Tĩnh, người ta đã lưu truyền những câu sấm của Trạng như Trình
sau: "Đụn Sơn phân giải/ Bò Đái thất thanh/ Thủy đáo Lam thành/ Nam Đàn sinh
thánh"
(Khi núi Đụn chẻ đôi, khe Bò Đái mất tiếng, sông Lam khoét vào chân núi
Lam Thành, đất Nam Đàn sẽ sinh ra bậc thánh nhân). Sau phong trào Xô viết Nghệ
Tĩnh, câu sấm này được nhắc lại và bàn tán. Lúc đó, khe Bò Đái cũng đã ngừng
chảy, tiếng suối chảy ở khe không còn nghe được nữa, do đó người dân càng tin và
chờ đợi. Trong một cuộc gặp giữa Phan Bội Châu (lúc này đã bị Pháp bắt và quản
thúc) với Đào Duy Anh và nhà nho Trần Lê Hữu, ông Hữu có hỏi: "Thưa cụ Phan,
"Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh" chẳng phải là cụ hay sao? Cụ còn thất
bại nữa là người khác!"
Phan Bội Châu đáp: "Kể cái nghề cử tử xưa kia tôi cũng
có tiếng thật. Dân ta thường có thói trọng người văn học và gán cho người ta tiếng
nọ tiếng kia. Nhưng nếu Nam Đàn có thánh thực thì chính là ông Nguyễn Ái
Quốc chứ chẳng phải ai khác"
.
Bị Pháp bắt và an trí
Nơi an trí Ông già Bến Ngự vào những năm cuối đời Ngày 30 tháng 6 năm ,
1925 ông bị thực dân Pháp bắt cóc tại Thượng Hải giải về
nước xử án tù chung thân, mặc dù trước đó ( )
1912 ông đã bị đối phương kết án
vắng mặt. Trước phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước đòi thả Phan Bội
Châu, và nhờ sự can thiệp của Toàn quyền Varenne, ông được về an trí tại Bến
Ngự (Huế). Trong 15 năm cuối đời, ông (lúc bấy giờ được gọi là Ông già Bến
Ngự
) vẫn giữ trọn phẩm cách cao khiết, không ngừng tuyên truyền tinh thần yêu
nước bằng văn thơ, nên rất được nhân dân yếu mến.
Phan Bội Châu mất ngày 29 tháng 12 năm tại 1940 Huế.
* Xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh * Chi tiết
1.Tiểu sử Phan Châu Trinh Phan Châu Trinh sinh ngày 9 tháng 9 năm
1872, người làng Tây Lộc, huyện Tiên
Phước , phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh ), tỉnh Quảng Nam , hiệu là Tây Hồ Hy Mã , tự là Tử Cán .
Mẹ ông mất sớm vào năm ông lên 6 tuổi. Quê nhà bị quân Pháp đốt cháy trong
cuộc trấn áp phong trào Cần vương, nên ông phải theo cha, được cha dạy chữ và
dạy võ. Sau khi cha mất, ông trở về quê sống với anh là Phan Văn Cừ và tiếp tục đi học. Ông học
giỏi, năm 27 tuổi, được tuyển vào trường tỉnh và học chung với Trần Quý Cáp , Huỳnh Thúc Kháng , Nguyễn Đình Hiến , Phan Quang , và Phạm Liệu . Khoa Canh Tý ( 1900 ), Phan Châu Trinh đỗ cử nhân thứ ba ở trường Thừa Thiên . Năm sau ( 1901 ),
triều đình mở ân khoa, ông đỗ phó bảng , đồng khoa với tiến sĩ Ngô Đức Kế và phó bảng Nguyễn
Sinh Sắc . Khoảng thời gian này,
người anh cả mất nên ông về để tang, ở nhà dạy học đến năm Quý Mão ( 1903 ) thì
được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ . Năm 1906 , ông bí mật sang Quảng Đông ( Trung Quốc ) gặp Phan Bội Châu , trao
đổi ý kiến rồi cùng sang Nhật
Bản , tiếp xúc với nhiều nhà chính trị tại đây (trong số đó có
) và xem xét công cuộc duy t Lương Khải Siêu ân của xứ sở này.
Phan Châu Trinh chủ trương tiến hành một phong trào Duy Tân nhằm vận động
cải cách kinh tế, văn hoá, xã hội và gắn liền với việc động viên lòng yêu nước, căm
thù giặc, đấu tranh cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của ngoại xâm.
Phan Châu Trinh chủ trương dùng những cải cách văn hóa, mở mang dân trí,
nâng cao dân khí, phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa trong khuôn khổ
hợp pháp, làm cho dân giàu, nước mạnh, buộc thực dân Pháp phải trao trả độc lập
cho nước Việt Nam. Mặt khác, Phan Châu Trinh còn phản đối việc dùng vũ lực để
giành độc lập dân tộc quốc như cầu viện bên ngoài “Bất bạo động, bạo động tắc tử,
bất vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu”.
Theo Phan Châu Trinh, nhiệm vụ cấp bách của dân tộc ta là:
– Chấn dân khí: Thức tỉnh tinh thần tự lực tự cường, làm cho mọi người giác ngộ
được quyền lợi của mình, xoá bỏ nọc độc chuyên chế. Vì vậy, ông chủ trương:
“Không cần hô hào đánh Pháp, chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã giác ngộ
quyền lợi của mình, bấy giờ mới có thể dần dần mưu tính đến việc khác.
– Khai dân trí: Bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc ngữ, kiến
thiết khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục, xa hoa, tuyên truyền lối sống tiết kiệm, văn minh.
– Hậu dân sinh: Chăm lo đời sống cho nhân dân bằng việc phát triển kinh tế, chỉ
con đường làm ăn cho dân, như khẩn hoang làm vườn, lập hội buôn, sản xuất hàng nội hoá.
Năm 1906, Phan Châu Trinh cùng một số sĩ phu yêu nước tiến bộ khởi xướng
cuộc vận động Duy tân ở Trung Kì.
– Kinh tế: cổ động việc chấn hưng thực nghiệp, lập hộ kinh doanh phát triển các
nghề thủ công nghiệp (mở lò rèn, xưởng mộc), làm vườn.
– Giáo dục: mở các trường học theo lối mới, dạy chữ Quốc ngữ, môn học mới.
– Văn hoá: tổ chức những buổi diễn thuyết kêu gọi sự thay đổi để tiến bộ hơn, phù
hợp trong giao lưu buôn bán, ngăn chặn các tệ nạn rượu chè, thuốc phiện… thành
lập các trường duy tân lan rộng ra nhiều tỉnh thành khác như Đông Kinh Nghĩa
Thục với nội dung và phương pháp mới.
Năm 1908, diễn ra phong trào chống sưu thuế ở các tỉnh miền Trung huy động
được hàng vạn người tham gia đấu tranh chống thực dân Pháp và chính quyền phong kiến tay sai.
Khuynh hướng vận động cải cách của Phan Châu Trinh đã cỗ vũ tinh thần học
tập, tự cường, chống các hủ tục phong kiến
2-Hoạt động của Phan Châu Trinh mà tiêu biểu là cuộc vận động Duy Tân
Sau khi cáo quan về quê, Phan Châu Trinh dốc lòng vào công việc cứu nước. Mặc
dù rất đau xót trước cảnh thực dân Pháp ngược đãi người Việt Nam, quan điểm của
Phan Châu Trinh trước mắt chưa nên đặt nhiệm vụ khôi phục chủ quyền quốc gia,
độc lập dân tộc (tức đánh đuổi Pháp), mà nhiệm vụ cấp bách là phải: 
Khai dân trí: bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc
ngữcùng kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục xa hoa. 
Chấn dân khí: thức tỉnh tinh thần tự lực, tự cường, mọi người giác ngộ được
quyền lợi và nghĩa vụ của mình, giải thoát khỏi tư tưởng chuyên chế phong kiến. 
Hậu dân sinh: phát triển kinh tế, cho dân khai hoang làm vườn, lập hội buôn,
sản xuất hàng nội địa hóa…
Cho nên sau khi ông vào Nam ra Bắc, sang Nhật, để trao đổi và tìm hiểu, cuối cùng
ông nhất quyết làm cuộc cải cách duy tân cho quốc dân trong nước. Ngoài ra, ông
gửi thư cho Toàn quyền Beau ngày 15 tháng 8 năm ,
1906 chỉ trích chính phủ Pháp
không lo mở mang khai hóa cho dân mà chỉ lo thu , do đó dân đã thuế khổ càng khổ
hơn. Ông đề nghị chính phủ Đông Dương nên thay đổi thái độ đối với sĩ dân nước
Nam, cải tổ mọi chính sách cai trị. Bức thư đã gây tiếng vang lớn trong nhân dân,
công khai nói lên tâm trạng bất mãn của dân chúng và khẳng định quyết tâm cải
biến hiện trạng của đất nước.
Với phương châm “tự lực khai hóa” và tư tưởng dân quyền, Phan Châu Trinh
cùng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp đi khắp tỉnh Quảng Nam và các tỉnh lân
cận để vận động cuộc duy tân. Khẩu hiệu của phong trào lúc bấy giờ là: Khai dân
trí, chấn dân khí, hậu dân sinh
. Phong trào thực hiện mục tiêu cải tạo con người và
xã hội Việt Nam bằng cách khuyến khích cải cách giáo dục (bỏ lối học từ chương,
xóa mù chữ bằng cách phát động phong trào học Quốc ), ngữ mở mang công
thương nghiệp, chấn hưng công nghệ, bỏ mê tín dị đoan, thay đổi tập quán (cắt tóc
ngắn, cắt ngắn móng tay)….
Tháng 3 năm 1908, phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ nổ ra, và bị triều Nguyễn
và chính phủ bảo hộ Pháp đàn áp dữ dội. Phan Châu Trinh cùng nhiều thành viên
trong phong trào Duy Tân bị nhà cầm quyền buộc tội đã khởi xướng phong trào
chống thuế nên đều bị bắt.
Phan Châu Trinh bị bắt ở Hà Nội, giải về Huế. Nhờ sự can thiệp của những người
Pháp có thiện chí và những đại diện của Hội Nhân quyền tại Hà Nội, họ buộc lòng
phải kết ông án “trảm giam hậu, lưu tam thiên lý, ngộ xá bất nguyên” (nghĩa là tội
chém nhưng chỉ giam lại, đày xa ba ngàn dặm, gặp ân xá cũng không cho về
), rồi
đày đi Côn Đảo ngày 4 tháng 4 năm . 1908 Ngày 28 tháng năm 7 ,
1914 Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Vì đó, nhà cầm
quyền Pháp tại Paris đã gọi Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường (một luật sư,
nhà báo người Việt chống thực dân) phải đi lính, nhưng hai ông phản đối với lý do
không phải là công dân Pháp. Mấy tháng sau, chính quyền khép tội hai ông là gián
điệp của Đức để bắt giam Phan Văn Trường giam ở lao Cherchemidi và Phan Châu
Trinh bị giam ở Paris, kể từ tháng 9 năm . Năm 1914
, vì không đủ bằng chứ 1915 ng
buộc tội, chính quyền Pháp phải trả tự do cho hai ông sau nhiều tháng giam giữ. Ngày 29 tháng 5 năm ,
1925 Phan Châu Trinh cùng nhà cách mạng trẻ Nguyễn An
Ninh xuống tàu rời nước Pháp, đến ngày 26 tháng cùng 6
năm thì về tới Sài Gòn.
Khi bệnh tình trở nặng (tháng 12/1925), túc trực thường xuyên cạnh Phan Châu
Trinh là Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Sinh Sắc, Huỳnh Thúc Kháng.
Đang lúc Phan Châu Trinh nằm trên giường bệnh, thì hay tin ông Ninh vừa bị mật
thám Pháp đến vây bắt tại nhà vào lúc 11 giờ 30 trưa ngày 24 tháng năm 3 . 1926
Ngay đêm hôm đó, lúc 21 giờ 30, ông qua đời tại khách sạn Chiêu Nam Lầu và
được đem quàn tại Bá Huê lầu, số 54 đường Pellerin, Sài Gòn Hưởng dương 54
tuổi. Lời trăn trối cuối cùng của Phan Châu Trinh, được thuật lại là, “Độc lập của
dân tộc ta sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc.” * Tóm tắt chung: a) Chủ trương:
- Đấu tranh ôn hòa, bằng những biện pháp cải cách như nâng cao dân trí dân
quyền, dựa vào Pháp để đánh đổ vua quan phong kiến hủ bại, xem đó là điều kiện
tiên quyết để giành độc lập. b) Hoạt động:
- Năm 1906, ông cùng một nhóm sĩ phu đất Quảng như Huỳnh Thúc Kháng, Trần
Quý Cáp, Ngô Đức Kế mở cuộc vận động Duy tân ở Trung kỳ:
+ Về kinh tế: Chú ý cổ động thực nghiệp, lập hội kinh doanh. Phát triển nghề thủ
công, làm vườn, lập “nông hội”,...
+ Về giáo dục: mở trường dạy theo kiểu mới để nâng cao dân trí, dạy chữ Quốc
ngữ, các môn học mới thay thế cho Tứ thư, Ngũ kinh của Nho học…
+ Về văn hóa: vận động cải cách trang phục và lối sống: cắt tóc ngắn, ăn mặc “Âu
hóa”, bài trừ mê tín dị đoan và các hủ tục phong kiến,...
=> Tư tưởng Duy tân khi đi vào quần chúng đã vượt qua khuôn khổ ôn hòa, biến
thành cuộc đấu tranh quyết liệt, điển hình là phong trào chống Thuế ở Trung kì (1908).
- Năm 1908, sau phong trào chống thuế ở Trung kì, Pháp đàn áp dữ dội, Phan Châu
Trinh bị án tù 3 năm ở Côn Đảo.
- Năm 1911, chính quyền thực dân đưa Phan Châu Trinh sang Pháp.
=> Phan Châu Trinh là nhà cách mạng tiêu biểu cho khuynh hướng cải cách ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.
=> Cuộc vận động Duy tân là một cuộc vận động yêu nước có nội dung chủ yếu là
cải cách về văn hóa - xã hội, gắn liền với giáo dục lòng yêu nước, đấu tranh cho
dân tộc thoát khỏi ách thống trị ngoại xâm. * Chú ý thêm
SO SÁNH CHỦ TRƯƠNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHAN BỘI CHÂU VÀ PHAN CHÂU TRINH * Giống nhau:
- Xuất phát từ lòng yêu nước để đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc.
- Đều đại diện cho phong trào dân tộc dân chủ của tầng lớp sĩ phu yêu nước tiến bộ đầu thế kỉ XX.
- Tạo ra những cuộc vận động cách mạng mới theo con đường dân chủ tư sản.
- Thống nhất về chủ trương chiến lược, thống nhất về mục đích cách mạng là muốn
cứu nước, cứu dân, gắn liền dân với nước, gắn cứu nước với duy tân làm đất nước
phát triển theo hương cách mạng tư sản đứnglên con đường chủ nghĩa tư bản.
- Được sự ủng hộ nhiệt tình của đông đảo quần chúng nhân dân. Tuy nhiên cả hai
xu hướng cách mạng này đều chưa xây dựng được những cơ sở vững chắc cho xã hội.
- Do hạn chế về tầm nhìn và tư tưởng nên cả hai xu hướng cách mạng này đều bị thất bại. * Khác nhau: Nội dung Phan Bội Châu Phan Châu Trinh Nhiệm vụ
Đánh đuổi thực dân Đánh đổ phong kiến,
Pháp, khôi phục chế độ thực hiện cải cách xã hội phong kiến
“ Khai thông dân trí, mở mang dân quyền” Xu hướng Bạo động vũ trang Cải cách Con đường cứu nước
“ cứu nước để cứu dân “
“ cứu dân để cứu nước “ Hoạt động tiêu biểu
Thành lập hội Duy Tân, Lập hội buôn, mở trường
tổ chức phong trào Đông học, diễn thuyết, cổ vũ, Du... mở mang công thương nghiệp.... Hạn chế
Chưa có đường lối cách Chưa có đường lối cách
mạng đúng đắn, chưa mạng đúng đắn, chống
nhận thức rõ bản chất kẻ Pháp bằng cách hô hào thù Duy Tân cải cách, xu hướng bắt tay với Pháp Tác dụng
Khuấy động lòng yêu Cổ vũ tinh thần học tập
nước, cổ vũ tinh thần dân tự cường tộc
Giáo dục tư tưởng chống
các hủ tục phong kiến, bỏ cũ theo mới
Phong trào của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng( 1927- 1930) 1. Thân thế
Nguyễn Thái Học sinh ngày 1 tháng 12 năm Nhâm Dần (tức ngày 30/12/1902) tại
làng Thổ Tang, tổng Lương Điền, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (nay là thị
trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc). Ông là con cả của cụ Nguyễn
Văn Hách và bà Nguyễn Thị Quỳnh. Gia đình ông là một gia đình trung nông sống
bằng nghề làm ruộng và dệt vải, buôn vải. Từ 4 tuổi ông đã được cha mẹ cho đi
học chữ Hán, và năm 11 tuổi ông bắt đầu theo học chương trình tiểu học Pháp-Việt tại thị xã Vĩnh Yên.[1]
Năm 19 tuổi ông thi đậu vào trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội, và nhận học bổng
của Chính phủ Bảo hộ Pháp. Do tính tình cương trực và không thích khuất phục lối giáo dục của người ,
Pháp ông bỏ học vào năm thứ ba, và sau đó ghi danh học
trường Cao đẳng Thương mại thuộc Đại học Đông (1925-1927). T Dương rong thời
gian này, ông tham gia thành lập Nam Đồng Thư xã và tiếp xúc với một số sinh
viên đồng chí hướng, trong số đó có Phó Đức Chính, sinh viên trường Cao đẳng
Công chánh và Hồ Văn Mịch, sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm, hai nhà cách
mạng tương lai sẽ gắn liền với cuộc đời cách mạng của ông sau này.[2]
Cũng trong thời gian là sinh viên của Đại học Đông Dương, Nguyễn Thái Học đã
gửi cho Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varenne một số bức thư kêu gọi
chính quyền thực dân Pháp tiến hành một loạt cải cách tiến bộ ở Việt Nam. Sở dĩ
Nguyễn Thái Học gửi những đề xuất cải cách của mình cho Varenne vì ông ta vốn
là một đảng viên của Đảng Xã hội Pháp, người vừa mới tới nhậm chức toàn quyền
đã quyết định ân xá Phan Bội Châu và hứa hẹn nhiều cải cách rộng lớn ở xứ thuộc
địa Đông Dương. Tuy nhiên, đó chỉ là những lời hứa suông, và ông ta không bao
giờ quan tâm trả lời những bức thư đầy tâm huyết của Nguyễn Thái Học.
Hoàn toàn thất vọng về con đường cải cách của chính quyền thuộc địa, Nguyễn
Thái Học và các đồng chí của ông đi đến quyết định là: con đường duy nhất để mở
ra cơ hội phát triển cho dân tộc Việt Nam chỉ có thể là con đường dùng vũ trang lật đổ chế độ thực dân và Pháp
chế độ phong kiến, thành lập một nước Việt Nam độc
lập với thể chế cộng hòa và thiết lập một nền trên toàn cõi dân chủ Đông Dương.
2. Phong trào của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng( 1927- 1930)
- Khởi nghĩa Yên Bái
là một cuộc nổi dậy bằng vũ trang bùng phát tại Yên
Bái, một phần trong cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quốc dân
Đảng (VNQDĐ) tổ chức và lãnh đạo nhằm đánh chiếm một số tỉnh và thành
phố trọng yếu của miền Bắc Việt Nam vào ngày 9 tháng năm 2 . 1930 Mục
đích của cuộc nổi dậy là lật đổ chính quyền thuộc địa của Pháp để xây dựng
một nước Việt Nam theo chính thể cộng hòa. Tỉnh lỵ Yên chỉ Bái là một
trong những mục tiêu của cuộc Tổng tấn công của VNQDĐ vào quân đội và
chính quyền thuộc địa. Lực lượng khởi nghĩa bị đánh bại, đảng viên của
VNQDĐ bị truy nã, giam cầm và hành hình. Các lãnh tụ Nguyễn Thái
Học và Phó Đức Chính bị Pháp áp giải từ Hà Nội lên Yên Bái xử trảm cùng
với 11 người khác sáng sớm ngày năm 17 tháng 6 1930.  Bối cảnh
- Sau những tổn thất nặng nề do chính quyền thực dân gây ra, một số lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân chủ Đảng
trương phản công bằng một cuộc khởi
nghĩa vũ trang, chứ không thể ngồi khoanh tay chờ bị tiêu diệt.
- Từ cách nhìn nhận đó, ngày 17 tháng 9 năm 1929, Chủ tịch Đảng Nguyễn
Thái Học đã triệu tập Hội nghị Đại biểu toàn quốc Việt Nam Quốc dân Đảng tại Lạc Đạo, Hải ,
Dương để bàn bạc và thống nhất kế hoạch khởi nghĩa. Tại
hội nghị, Việt Nam Quốc dân Đảng bị chia thành 2 phái: chủ hòa (Lê Hữu
Cảnh) và chủ chiến (Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu). Phái chủ
chiến
chiếm ưu thế trong hội nghị.
- Sau đó, Việt Nam Quốc dân Đảng triệu tập Hội nghị Bắc Ninh, thống nhất
kế hoạch và phương thức tiến hành khởi nghĩa. Tăng cường vận động binh
lính. Các cơ sở chế tạo vũ khí được triển khai và đẩy mạnh. Công tác chuẩn
bị sau đó gặp một số sự cố như vụ sơ suất khi chế tạo bom ở làng Mỹ Điền,
làm chết 3 đảng viên tại Bắc Ninh.
- Trong Hội nghị tiếp theo nhóm họp ở làng Võng La, xã Hạ Bì, huyện Thanh Thủy, tỉnh ngày Phú Thọ 25 tháng năm 12
1929, Quốc dân Đảng khẳng định
rằng cần phải tiến hành một cuộc khởi nghĩa để phản công lại sự đàn áp của
Pháp. Phạm Thành Dương phản bội tổ chức tại Hội nghị.
- Ngày 26 tháng 1 năm 1930, hội nghị tiếp theo được tổ chức tại làng Mỹ
Xá, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Trong phiên họp ấy, đa số các đại biểu
đều tán thành kế hoạch "Tổng khởi nghĩa". Cũng trong cuộc họp này, Việt
Nam Quốc dân Đảng đã vạch ra kế hoạch tấn công một số đô thị và những
yếu điểm quân sự của Pháp, bao gồm: Sơn Tây, Hải , Dương Hải
Phòng, Kiến An, Bắc Ninh, Đáp Cầu, Phả Lại, Yên , Bái Hưng Hóa Lâm ,
Thao và Hà Nội. Chỉ huy các mặt trận cũng được chỉ định trong phiên họp lịch sử đó.
- Trong một cuộc họp bí mật khác, trên núi Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh,
giữa các lãnh tụ Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính và Nguyễn Khắc Nhu,
ngày giờ phát động cuộc Tổng Khởi nghĩa được ấn định là ngày 9 tháng 2 1930 năm .