-
Thông tin
-
Quiz
Thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình ở tỉnh Bắc Giang hiện nay | Tiểu luận Pháp luật đại cương
Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình có chức năng và vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của nhân loại. Gia đình hạnh phúc ấm no văn hóa tiến bộ thì mới góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Pháp luật đại cương (HV) 33 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình ở tỉnh Bắc Giang hiện nay | Tiểu luận Pháp luật đại cương
Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình có chức năng và vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của nhân loại. Gia đình hạnh phúc ấm no văn hóa tiến bộ thì mới góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Pháp luật đại cương (HV) 33 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
KHOA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT TIỂU LUẬN
MÔN: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG ĐỀ TÀI
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Ở TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY Họ và tên: Nguyễn Phương Dung MSSV: 2056050010 Lớp: Truyền hình K40
Giảng viên: Trần Thái Hà Hà Nội, 2021 MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình có chức năng và vai trò đặc biệt quan
trọng trong sự phát triển của nhân loại. Gia đình hạnh phúc, ấm no, văn hóa, tiến
bộ thì mới góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nói: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt,
gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đìn . h Chính vì muốn xây
dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”. Trong giai đoạn phát triển
đất nước hiện nay, vai trò của gia đình càng trở nên quan trọng. Bên cạnh đó, xã
hội luôn biến đổi và nảy sinh nhiều vấn đề mới khiến cho hôn nhân và gia đình
cũng có những biến đổi phức tạp. Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước ta
luôn quan tâm, chăm lo, xây dựng, phát triển gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc.
Hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình ngày càng được hoàn thiện phù
hợp với sự phát triển chung; công tác chăm lo, xây dựng gia đình văn hóa được
triển khai rộng rãi; công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia
đình tăng cường, đặc biệt là ở nông thôn, miền vúi, vùng sâu, vùng xa; thực hiện
pháp luật về hôn nhân và gia đình có nhiều dấu hiệu chuyển biến và đạt được kết
quả tích cực. Các quyền công dân cơ bản về hôn nhân và gia đình đã được Nhà
nước và pháp luật bảo đảm thực hiện.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, thực hiện pháp luật
về hôn nhân và gia đình ở Việt Nam vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định.
Tình trạng bạo lực gia đình, thiếu trách nhiệm với các thành viên trong gia đình,
thiếu hiểu biết về luật hôn nhân và gia đình,… vẫn còn diễn biến gây nhiều hậu
quả cho xã hội. Mặt trái của nền kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội khiến cho nhiều giá trị văn hóa bị đảo lộn, trong đó bao gồm cả văn
hóa về hôn nhân và gia đình. Điều này khiến tình tình hôn nhân – gia đình có
nhiều biến đổi nhanh chóng, đòi hỏi cần có sự nghiên cứu sâu rộng của Đảng, Nhà
nước và các cơ quan, ban ngành để có thể định hình, quản lý lĩnh vực này một
cách có hiệu quả, phù hợp với tình hình đất nước. 1
Tỉnh Bắc Giang cũng nằm trong bối cảnh chung của xã hội. Phần lớn các gia
đình đều giữ được nét đẹp trong văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, trong những
năm gần đây, do sự thay đổi mạnh mẽ của nền kinh tế - xã hội địa phương, vấn đề
hôn nhân và gia đình cũng bị ảnh hưởng ít nhiều. Pháp luật về hôn nhân và gia
đình chưa thực sự đi vào đời sống một cách sâu rộn ,
g tình trạng vi phạm các quan
hệ xã hội, quan hệ pháp luật về hôn nhân và gia đình còn nhiều diễn biến phức
tạp. Trước tình hình trên, em quyết định lựa chọn đề tài "Thực hiện pháp luật về
hôn nhân và gia đình ở tỉnh Bắc Giang hiện nay" để làm tiểu luận hết môn Pháp
luật đại cương, nhằm chỉ ra thực trạng cũng như giải pháp để tăng cường thực
hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình ở địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, vấn đề về hôn nhân và gia
đình luôn có vị trí quan trọng đối với xã hội. Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên
cứu những vấn đề lý luận chung, về pháp luật cũng như vấn đề thực hiện pháp
luật về hôn nhân và gia đình.
- Phạm Thị Ngọc Dung (2019) Thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình
của đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Trà Vinh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh: đề tài đã làm rõ những vấn đề lý luận trong thực hiện pháp luật hôn
nhân và gia đình cũng như thực trạng thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình
của đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Trà Vinh, từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải
pháp để tăng cường hiệu quả thực hiện trong thời gian tới.
- Nguyễn Thị Thúy Hằng (2014) Hiệu quả tuyên truyền luật hôn nhân và gia
đình cho đồng bào Khmer tỉnh Sóc Trăng hiện nay, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền: Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hiệu quả tuyên truyền Luật
hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc và thực trạng hiệu quả tuyên truyền
Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng; luận văn đề 2
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia
đình cho đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay.
- Nguyễn Thị Vân Anh (2017) Ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện
pháp luật hôn nhân và gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên
hiện nay, Trường Đại học Luật Hà Nội: đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận
về ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong
các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên. Phân tích những ảnh hưởng tích cực,
tiêu cực của luật tục tới việc thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong các
dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên trong thực tế và chỉ ra nguyên nhân dẫn
đến những ảnh hưởng đó. Đưa ra quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật về vấn đề này trong thời gian tới.
Ngoài ra, trong danh mục giáo trình, sách tham khảo cũng có nhiều tài liệu
như Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam của TS. Nguyễn Văn Cừ;
Hướng dẫn học tập - tìm hiểu Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam của TS. Ngô Thị Hường;
Những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp cơ sở nền tảng để nghiên cứu
các vấn đề lý luận cụ thể, trực tiếp về pháp luật và thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục tiêu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng t ự h c hiện
pháp luật về hôn nhân và gia đình ở tỉnh Bắc Giang hiện nay. Trên cơ sở phân tích
thực trạng, nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế, đề tài đưa ra một số
phương án, đề xuất nhằm tăng cường thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình
ở địa bàn tỉnh Bắc Giang. 3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình.
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình.
Từ đó nhận xét về ưu điểm, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế
đó. Đây là cơ sở thực tiễn để đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện
pháp luật về hôn nhân và gia đình.
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn trong đánh giá thực trạng thực hiện pháp
luật về hôn nhân và gia đình ở tỉnh Bắc Giang, đề tài đề xuất một số phương
hướng, giải pháp để tăng cường và bảo đảm thực hiện pháp luật về hôn nhân và
gia đình ở tỉnh Bắc Giang.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về mặt lý luận của thực hiện pháp luật về h n ô nhân và gia đình, t ự
h c tiễn thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình ở địa bàn tỉnh Bắc Giang. 4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: phạm vi nghiên cứu của đề tài là ở địa bàn tỉnh Bắc Giang.
- Về thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá tình hình thực hiện pháp
luật về hôn nhân và gia đình ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay, chủ yếu là từ năm 2015-2021. 4
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chính sách của Đảng Cộng sản Việt
Nam và Nhà nước ta về nhà nước và pháp luật nói chung và pháp luật về trẻ em
nói riêng; các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về hôn nhân và gia đình.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa
duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp với nhiều phương pháp nghiên
cứu cụ thể phù hợp với từng nội dung như: phương pháp nghiên cứu tài liệu;
phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê; phương pháp so sánh…
để nhằm đánh giá kết quả, thành tựu, hạn chế và đề xuất một số giải pháp nhằm
tăng cường thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình ở tỉnh Bắc Giang.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Việc nghiên cứu đề tài góp phần làm rõ những vấn đề lý luận để xem xét,
đánh giá những mặt tích cực, hạn chế trong thực hiện pháp luật về hôn nhân và
gia đình hiện nay, trên cơ sở đó xác định phương hướng đổi mới, nâng cao, tăng
cường hoạt động này trong thời gian tới. 7. Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm có 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình.
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình ở tỉnh Bắc Giang hiện nay. 5
Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình
ở tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình
1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình
1.1.1. Khái niệm hôn nhân
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã giải thích từ hôn nhân như sau: Hôn
nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.
Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, hôn nhân là quan hệ giữa vợ và
chồng sau khi đã thực hiện các quy định của pháp luật về kết hôn, nhằm chung
sống với nhau và xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.
Nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm giữa hai
bên và tương trợ lẫn nhau về những nhu cầu vật chất trong đời sống. Hôn nhân là
quan hệ gắn liền với nhân thân của mỗi bên nam nữ với tư cách là vợ chồng. Trong
xã hội mà các quan hệ hôn nhân được coi là quan hệ pháp luật thì sự liên kết giữa
người nam và người nữ mang ý nghĩa như một sự kiện pháp lý làm phát sinh các
quyền và nghĩa vụ nhất định cho mỗi bên trong quan hệ vợ chồng.
Đặc điểm của hôn nhân:
- Hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ - hôn nhân
một vợ một chồng. Theo điểm c khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm
2014 số 52/2014/QH13 cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung 6
sống như vợ chồng với người khác hoặc cấm người chưa có vợ, chưa có chồng
mà kết hôn hoặc chung sốn
g như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.
- Hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ, vì vậy những
người cùng giới tính không thể xác lập quan hệ hôn nhân với nhau.
- Hôn nhân là sự liên kết dựa trên cơ sở tự nguyện của hai bên nam nữ. H ai
bên có quyền tự quyết định việc kết hôn, không bị lừa dối, cưỡng ép, cản trở. Sau
khi kết hôn, việc duy trì hay chấm dứt quan hệ hôn nhân dựa trên sự tự nguyện
của mỗi bên vợ, chồng.
- Khi tham gia quan hệ hôn nhân, nam nữ hoàn toàn bình đẳng trước pháp
luật. Sau khi kết hôn, vợ, chồng có quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.
Ngoài xã hội, với tư cách là công dân, mỗi bên vợ, chồng có đầy đủ các quyền và
nghĩa vụ của công dân đã được Hiến pháp công nhận. Quyền bình đẳng giữa vợ
và chồng còn thể hiện trong việc không phân biệt vợ chồng là người Việt Nam
hay người nước ngoài, người thuộc dân tộc hoặc tôn giáo nào, quan hệ hôn nhân
của họ đều được tôn trọng và bảo vệ (khoản 2 Điều 2 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13).
- Quan hệ hôn nhân được xác lập là nhằm cùng nhau chung sống, xây dựng
gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, tiến bộ. Vì vậy, nếu kết hôn để hai bên nam
nữ thực hiện mục đích khác, không nhằm chung sống và xây dựng gia đình thì gọi
là kết hôn giả tạo. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 cấm kết
hôn giả tạo (điểm a, khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13).
- Các bên tham gia quan hệ hôn nhân phải tuân thủ các quy định của pháp
luật. Khi kết hôn, các bên phải tuân thủ các quy định về điều kiện kết hôn và đăng
ký kết hôn. Khi chấm dứt hôn nhân (do ly hôn, do vợ hoặc chồng chết, do vợ hoặc
chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết) phải dựa trên những căn cứ pháp lý được pháp luật quy định. 7
1.1.2. Khái niệm gia đình
Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành, duy
trì và củng cố chủ yếu trên cơ sở hôn nhân và huyết thống. C. Mác đã nói: “…hàng
ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người
khác, sinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là
gia đình”. Vì vậy, yếu tố tình cảm và huyết thống là bản chất rõ nét nhất của gia
đình. Tuy nhiên xét trên nhiều bình diện khác nhau, gia đình không chỉ là một đơn
vị tình cảm - tâm lý mà còn là tổ chức kinh tế - tiêu dùng, môi trường giáo dục -
văn hóa, một cơ cấu - thiết chế xã hội đặc biệt.
Luật hôn nhân và gia đình giải thích gia đình như sau: Gia đình là tập hợp
những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ
nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.
Gia đình có thể tồn tại mà không có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống
hoặc cả hai quan hệ đó. Điểm chung nhất và là dấu hiệu căn bản nói lên tính độc
lập tương đối của gia đình là ở chỗ giữa các thành viên trong gia đình được gắn
bó bởi các quan hệ về quyền, nghĩa vụ chung sống trong cùng một không gian và
về quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau giữa các thành viên. Những
quan hệ của gia đình luôn được xã hội thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ bằng các
thiết chế văn hóa, đạo đức, pháp luật.
Các mối quan hệ cơ bản của gia đình gồm: quan hệ huyết thống, quan hệ hôn
nhân, quan hệ chung sống, quan hệ chăm sóc và nuôi dưỡn . g Bên cạnh đó, gia
đình cũng có mối quan hệ biện chứng với xã hội. Gia đình là tế bào của xã hội, là
cầu nối giữa cá nhân với xã hội. Mối quan hệ giữa cá nhân – gia đình – xã hội là
mối quan hệ có tính khăng khít, tác động qua lại và hỗ trợ nhau cùng phát triển.
Vị trí, vai trò to lớn của gia đình với tính chất là một tế bào của xã hội được
thể hiện ở 5 chức năng cơ bản: 8
- Chức năng tái sản xuất con người: là chức năng đặc thù của gia đình, vừa
đáp ứng nhu cầu tình cảm tự nhiên của cá nhân, vừa đáp ứng nhu cầu cung cấp
những con người mới để bảo đảm sự trường tồn của xã hội loài người.
- Chức năng kinh tế: chức năng này đóng vai trò cơ sở cho các chức năng
khác của gia đình, nhằm đảm bảo sự sống còn của gia đình, tạo ra của cải, vật chất
để xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc.
- Chức năng tiêu dùng: chức năng này phụ thuộc vào thu nhập và đóng góp
chung trong hoạt động kinh tế của các thành viên trong gia đình. Chức năng này
nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần của con người, tạo điều kiện để các
thành viên trong gia đình có điều kiện sống thuận lợi hơn, được nghỉ ngơi, hưởng
thụ thành quả lao động của mình. Chức năng tiêu dùng vừa đáp ứng nhu cầu gia
đình, vừa thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhờ vào nhu cầu tiêu dùng đó.
- Chức năng giáo dục: có vai trò vô cùng lớn trong hình thành văn hóa gia
đình và phát triển nhân cách con người, đặc biệt là đối với giáo dục trẻ em. Môi
trường gia đình là môi trường gần gũi, quen thuộc, có tác động thường xuyên và
lâu dài đối với con người. Vì vậy, giáo dục gia đình thật sự góp phần to lớn vào
đào tạo, xây dựng con người mới, nâng cao dân trí, duy trì và phát triển đạo đức, văn hóa của dân tộc.
- Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm – sinh lý: nhiều vấn đề tâm – sinh lý
thuộc giới tính, thế hệ,… cần được bộc lộ và giải quyết trong phạm vi gia đình
với người thân. Sự hiểu biết tâm, sinh lý của nhau sẽ tạo bầu không khí tinh thần
tích cực cho gia đình và cho mỗi thành viên.
1.1.3. Khái niệm pháp luật về hôn nhân và gia đình
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước
có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của
giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ trong xã hội. 9
Pháp luật về hôn nhân và gia đình là hệ thống các quy định pháp luật điều
chỉnh các quan hệ phát sinh trong hôn nhân và gia đình.
Các quan hệ phát sinh trong vấn đề hôn nhân và gia đình có thể là vấn đề khi
kết hôn, ly hôn giữa người nam và người nữ; quan hệ giữa vợ chồng, cha mẹ với
con cái, giữa các thành viên trong gia đình;…
1.1.4. Khái niệm thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình
Thực hiện pháp luật là hành vi thể hiện dưới dạng hành động hoặc không
hành động của con người được tiến hành phù hợp với yêu cầu của các quy phạm
pháp luật. Khoa học pháp lý gọi đó là những hành vi hợp pháp hay những hành vi
xử sự theo yêu cầu của pháp luật. Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có
mục đích của các chủ thể pháp luật làm cho những quy định của pháp luật trở
thành hiện thực trong đời sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật.
Vậy, thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình là quá trình hoạt động có
mục đích để những quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình đi vào cuộc
sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các cá nhân, gia đình để góp
phần xây dựng gia đình hạnh phúc, ấm no, tiến bộ, bình đẳng.
1.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình
- Thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật.
- Thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình phải dựa trên các quy định của
pháp luật về hôn nhân và gia đình: c
ác chủ thể trước hết nhận thức được quyền và
nghĩa vụ pháp lý của mình, sau đó thực hiện chúng theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình do nhiều chủ thể khác nhau
thực hiện với trình tự, thủ tục, cách thức khác nhau. Chủ thể thực hiện phụ thuộc
vào hình thức thực hiện pháp luật. 10
- Quá trình thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình được bảo đảm bằng
các biện pháp của Nhà nước. Nhờ đó, pháp luật về hôn nhân và gia đình có điều kiện để t ự
h c thi bình đẳng, công bằng về quyền, nhiệm vụ pháp lý.
1.3. Vai trò của thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình
Pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội, đó là công cụ
- Thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình góp phần đưa chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng gia đình vào đời sống thực tiễn.
Pháp luật là công cụ thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, bảo đảm
cho sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện có hiệu quả trong xã hội. Vì vậy, việc
tuân thủ và thực thi quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng chính là thực
hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác xây dựng gia đình trong cuộc sống.
- Thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình góp phần bảo vệ quyền công
dân của các cá nhân khi tham gia hôn nhân, đảm bảo công bằng, bình đẳng trong
quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên trong gia
đình, giữa quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình với nhau.
Bảo đảm các quyền công dân của các thành viên trong gia đình chính là bảo
đảm sự công bằng, bình đẳng giữa các cá nhân, bài trừ những tư tưởng lạc hậu,
lỗi thời, bảo đảm vị trí của người phụ nữ trong gia đình.
- Thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình góp phần đảm bảo sự phát
triển bền vững của xã hội.
Gia đình như một xã hội thu nhỏ vì vậy xây dựng gia đình văn hóa, tiến bộ
góp phần cho sự phát triển tích cực của xã hội. Thực hiện pháp luật giúp cho đời
sống ổn định, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội để xây dựng, phát triển đất nước. 11
- Thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình n ằ
h m phòng ngừa, ngăn chặn
và xử lý các hành vi bạo lực gia đình, thiếu trách nhiệm với gia đình, kết hôn trái
pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Thông qua quá trình thực hiện pháp luật, các chủ thể càng có điều kiện để
nâng cao nhận thức pháp luật, hiểu rõ hơn về các quyền, nghĩa vụ của mình trong
lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
- Thực hiện pháp luật sẽ là cơ sở thực tiễn để sửa chữa những hạn chế của
pháp luật nói chung và pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng. Qua quá trình
thực hiện, các hạn chế sẽ được bộc lộ, từ đó có thể đưa ra phương án sửa đổi, bổ
sung, hoàn thiện pháp luật.
2. Nội dung, hình thức thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình
2.1. Nội dung thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình
Thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình gồm những nội dung sau đây:
Một là, Nhà nước nói chung và các cơ quan, người có thẩm quyền nói riêng
triển khai các hoạt động tổ chức thực hiện và đưa chính sách pháp luật nói chung
và pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng vào cuộc sốn , g đến với các chủ thể.
Hai là, các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền tổ chức thực hiện các
hoạt động áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình; giải quyết khiếu nại, tố cáo
trong quá trình các chủ thể thực hiện quyền, nghĩa vụ hoặc xử lý các tranh chấp,
vướng mắc, vi phạm pháp luật hoặc các sự kiện pháp lý khác phát sinh trong quá
trình tổ chức thực hiện; khen thưởng, tôn vinh các hành vi tích cực.
Ba là, tổ chức để các chủ thể thực hiện pháp luật về về hôn nhân và gia đình,
tạo thuận lợi và hỗ trợ các chủ thể trong quá trình thực hiện trên thực tế các quyền, nghĩa vụ. 12
2.2. Hình thức thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình
Hình thức thực hiện pháp luật là cách thức mà chủ thể pháp luật tiến hành
các hoạt động có mục đích để quy định của pháp luật đi vào cuộc sống. Thực hiện
pháp luật về hôn nhân và gia đình bao gồm các hình thức: tuân thủ pháp luật, chấp
hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.
- Tuân thủ pháp luật về hôn nhân và gia đình
Tuân thủ pháp luật về hôn nhân và gia đình là hình thức thực hiện pháp luật
mà trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không thực hiện những quy định cấm
của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Tuân thủ pháp luật là thực hiện các hành
vi hợp pháp (chủ yếu đòi hỏi đối với quy phạm bắt buộc và ngăn cấm). Nó gồm
các hoạt động mà chủ thể thực hiện, làm theo có ý thức, tự giác nhưng mang tính
bị động dựa trên yêu cầu, nội dung được mô tả trong quy phạm pháp luật (giữ
đúng, làm đúng, thực hiện đúng yêu cầu, nội dung đề ra).
- Chấp hành pháp luật về hôn nhân và gia đình
Chấp hành pháp luật về hôn nhân và gia đình là một hình thức thực hiện pháp
luật mà theo đó, các chủ thể pháp luật thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ pháp lý của
mình bằng những hành động tích cực. Hình thức chấp hành pháp luật được thực
hiện đối với những điều luật quy định về nguyên tắc và trách nhiệm thực hiện về hôn nhân và gia đình.
- Sử dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình
Sử dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình là hình thức của thực hiện pháp
luật, theo đó, chủ thể pháp luật thực hiện quyền của mình một cách tự giác, tích
cực, nghĩa là thực hiện các hành vi mà pháp luật về hôn nhân và gia đình cho phép.
- Áp dụng pháp luật về về hôn nhân và gia đình
Áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình là hình thức thực hiện pháp luật
đặc biệt mà theo đó, cơ quan có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật 13
thực hiện các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình hoặc tự mình căn
cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay
đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể trong lĩnh vực hôn
nhân và gia đình theo những thủ tục. trình tự nhất định.
3. Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình
3.1. Điều kiện chính trị
Sự đảm bảo về định hướng chính trị của Đảng ta đối với pháp luật và thực
hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình chính là điều kiện chính trị đảm bảo cho
thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình. Bảo đảm về chính trị là điều kiện
quan trọng, có ý nghĩa to lớn để thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình đạt
được hiệu quả tốt. Đảng ta luôn dành sự quan tâm đến công tác xây dựng gia đình
tiến bộ, văn hóa, bình đẳng, ấm no, hạnh phúc. Từ khi tiến hành công cuộc đổi
mới, Đảng ta luôn nhấn mạnh vai trò và vị trí của gia đình trong xây dựng, phát
triển đất nước. Quan điểm đó được quán triệt trong các văn kiện, Chỉ t ị h , Nghị
quyết của Đảng qua các thời kỳ. Đảng lãnh đạo Nhà nước trong công tác thể chế
hóa, xây dựng và hoàn thiện pháp luật, kiện toàn bộ máy tổ chức. Trong điều kiện
hiện nay, sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật về hôn nhân
và gia đình là yếu tố quyết định mức độ hiệu quả về thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình. 3.2. Điều kiện pháp lý
Bảo đảm về pháp lý được coi như điều kiện quan trọng để thực hiện pháp
luật về hôn nhân và gia đình thực sự đạt được kết quả tốt. Thực hiện pháp luật về
hôn nhân và gia đình là quá trình hoạt động có mục đích để n ữ h ng quy định của
pháp luật về hôn nhân và gia đình đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực
tế hợp pháp của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân, gia đình để xây dựng nền
tảng hôn nhân và gia đình vững mạnh, hạnh phúc, ngăn chặn những hành vi trái
pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. 14
Nếu các quy định pháp luật không hoàn thiện, đầy đủ về nội dung sẽ gây ra
hậu quả xấu đến hiệu quả quản lý, không điều chỉnh kịp thời, chính xác các quan
hệ xã hội phát sinh. Do vậy, yếu tố quan trọng và không thể thiếu để thực hiện tốt
pháp luật về hôn nhân và gia đình là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
thống nhất từ trên xuống dưới, từ Hiến pháp đến Luật, trong đó có Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014 và các văn bản có liên quan. Các quy định của pháp luật
cần đồng bộ, không mâu thuẫn, không chồng chéo, phải dễ hiểu, minh bạch và thể
hiện tính đổi mới, tiến bộ, phù hợp với thời đại.
3.3. Điều kiện về tổ chức
Để tiến hành quản lý về các vấn đề về hôn nhân và gia đình, hệ thống các cơ
quan quản lý nhà nước có vai trò rất quan trọng. Ở nước ta, các cơ quan quản lý
về hôn nhân và gia đình ở trung ương là Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch cùng các Bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan phối hợp thực hiện; còn ở địa
phương là Ủy ban nhân dân các cấp. Đây là các cơ quan trực tiếp có nhiệm vụ
quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình, ngoài ra còn có các ban, bộ, ngành,
đoàn thể khác cũng có nhiệm vụ quản lý, phối hợp thực hiện theo quy định của pháp luật.
Thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình cần có hệ thống tổ chức chặt
chẽ, cùng với đó là đội ngũ cán bộ có năng lực, được đào tạo bài bản. Một trong
những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia
đình chính là trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức làm việc tại các cơ
quan. Hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức cần có hiểu biết về pháp luật và nắm
vững thực tiễn để có thể làm tốt nhiệm vụ chỉ đạo, quản lý, điều tra, xử lý các
hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.
3.4. Các điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội
Các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội là tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về
kinh tế - xã hội, hệ thống chính sách xã hội và việc thực hiện, triển khai chúng trong thực tế. 15
Khi nền kinh tế phát triển, xã hội văn minh sẽ kéo theo sự cải thiện của đời
sống nhân dân, nâng cao dân trí, từ đó, nhận thức về pháp luật nói chung và pháp
luật về hôn nhân và gia đình nói riêng của quần chúng nhân dân được cao hơn.
Việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bên cạnh ảnh
hưởng tích cực đến nền kinh tế và đời sống nhân dân, cũng mang lại những mặt trái. ự
S đan xen giữa những yếu tố văn hóa mới và cũ tạo ra những hành vi, quan
niệm sai lệch trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Vì vậy, có một định hướng phát
triển văn hóa đúng đắn, vừa mang những nét truyền thống văn hóa tốt đẹp, vừa
tiến bộ, phù hợp trong thời đại mới sẽ là một nền tảng vững chắc cho thực hiện
pháp luật về hôn nhân và gia đình.
Ngoài ra, các yếu tố cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật và kinh phí cho công tác
tuyên truyền pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng là một bộ phận quan trọng
giúp tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách pháp luật về hôn nhân và gia
đình. Cần tạo điều kiện thuận lợi để đưa pháp luật đến gần với đời sống của nhân
dân như tuyên truyền, giáo dục, tăng cường các hoạt động thảo luận, đóng góp ý
kiến,… nhằm nâng cao ý thức thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH Ở TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY
1. Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang là một tỉnh nằm ở phía Đông Bắc, thuộc vùng trung du và miền
núi Bắc Bộ. Với diện tích rộng lớn (khoảng 3.895 km2), có nhiều đồi núi thấp
cùng với các điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp, Bắc Giang có điều kiện thuận
lợi để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây ăn quả. Tỉnh Bắc Giang đã trở
thành vựa hoa quả lớn nhất miền Bắc với nhiều loại cây ăn quả như bưởi, cam,
nhãn, táo… và đặc biệt là vải thiều. Trong thời gian qua, tỉnh đã không ngừng 16
quảng bá, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm đến khắp đất nước và cả xuất
khẩu nước ngoài, đem lại lợi ích kinh tế lớn cho nông dân.
Bắc Giang nằm ở vị trí địa lý khá thuận lợi cho sự phát triển kinh tế. Phía
Bắc giáp Lạng Sơn, phía Đông giáp Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên
và thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh và Hải Dương, có nhiều tuyến
đường giao thông quan trọng chạy qua như Quốc lộ 1A, cao tốc Hà Nội – Bắc Giang – Lạng Sơn, đ ờn
ư g vành đai 4, Quốc lộ 17, Quốc lệ 37,... Đây là điều kiện
thuận lợi cho việc vận tải, giao lưu kinh tế đi nhiều hướng như biên giới phía Bắc,
biển phía Đông, cho đến về phía thủ đô Hà Nội và các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng
sông Hồng. Tỉnh Bắc Giang nằm trong vùng quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội do
chỉ cách trung tâm thủ đô khoảng 50 km tính từ thành phố Bắc Giang.
Nhờ các ưu thế về vị trí địa lý, nguồn lao động dồi dào, cơ sở vật chất – kỹ
thuật và hạ tầng được đầu tư và chính sách thu hút doanh nghiệp rộng mới, những
năm gần đây, tỉnh Bắc Giang đã có bước phát triển mạnh mẽ, vươn lên trở thành
một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất cả nước.
Trong năm 2020, tỉnh đạt được nhiều thành tích nổi bật như đạt tốc độ tăng trưởng
kinh tế (GRDP) cao nhất cả nước (13,02%), GRDP bình quân đầu người tăng
14,2% so với năm 2019. Sự thay đổi tích cực đó chủ yếu đến từ việc phát triển
các khu công nghiệp như KCN Quang Châu, KCN Vân Trung, KCN Đình Trám,
KCN Song Khê – Nội Hoàng,…và nhiều cụm công nghiệp trong địa bàn tỉnh. Các
khu công nghiệp là động lực chủ yếu giúp ngành công nghiệp của tỉnh phát triển,
thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng
kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Hiện tại, trong các KCN ở Bắc Giang, ngoài các doanh nghiệp trong nước, còn có
rất nhiều nhà đầu tư lớn thuộc chuỗi cung ứng trên thế giới như tập đoàn Foxconn,
Tập đoàn Yadea, Công ty Luxshare – ICT,… Theo thống kê, trong năm 2020, tỉnh
đã thu hút hơn 100 dự án đầu tư với số vốn hơn 1 tỷ USD, tiếp tục nằm trong danh
sách 10 tỉnh có số vốn đầu tư FDI lớn nhất cả nước. 17
Bắc Giang là địa phương cư trú của đông đảo dân cư (năm 2020 ước tính
khoảng 1,841 triệu người, là tỉnh đông dân thứ 12 trên cả nước và xếp thứ nhất
trong các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc). Đây là nơi cư trú của nhiều dân
tộc khác nhau như Kinh, Tày, Nùng, Sán Chay, Sán Dìu,… tạo nên sự phong phú
trong bản sắc văn hóa của địa phương. Những năm gần đây, do sự phát triển của
các khu công nghiệp, tỉnh Bắc Giang là nơi thu hút hàng trăm nghìn lao động từ
nhiều tỉnh thành khác đến sinh sống và làm việc, góp phần thay đổi cảnh quan và
nếp sống ở nhiều địa phương.
Nhìn chung, điều kiện kinh tế - xã hội ở các vùng có sự chênh lệch, còn hạn
chế trên nhiều lĩnh vực, trong đó vấn đề nhận thức về pháp luật đang là vấn đề
cần được quan tâm, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng mới phát triển.
Trong đó, việc thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình là vấn đề có vị trí quan
trọng để góp phần xây dựn ,
g phát triển một xã hội tốt đẹp trong điều kiện nền kinh
tế đang chuyển biến mạnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
2. Ưu điểm trong thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình ở tỉnh Bắc
Giang hiện nay và nguyên nhân
Ngay từ khi Luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015,
UBND tỉnh Bắc Giang đã nhanh chóng ban hành kế hoạch triển khai thực hiện,
tăng cường tuyên truyền, giáo dục về L ậ
u t hôn nhân và gia đình. UBND tỉnh đã
ban hành Kế hoạch số 02/KH-UBND ngày 07/01/2015 về triển khai thi hành Luật
hôn nhân và gia đình, Công văn số 2936/UBND-NC ngày 22/9/2016 về tăng
cường tuyên truyền, giáo dục, ngăn chặn việc tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.
Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật hôn nhân và gia đìn h được các ngành,
các cấp chú trọng triển khai. 10/10 huyện, thành phố trong địa bàn tỉnh đã xây
dựng kế hoạch triển khai thi hành luật đến với nhân dân. 18
Tính đến tháng 5 năm 2019, tỉnh đã tổ chức trên 350 hội nghị triển khai, giới
thiệu Luật hôn nhân và gia đình cho hơn 30.450 lượt người tham gia; mỗi năm có
khoảng hơn 500 cuộc tuyên truyền pháp luật về hôn nhân và gia đình do các cơ
quan cấp tỉnh, cấp huyện/thành phố, các xã/phường/thị trấn tổ chức; phát hành
nhiều tài liệu về hôn nhân và gia đình tới đông đảo cán bộ và nhân dân. Bên cạnh
đó, tỉnh cũng chú trọng tuyên truyền pháp luật qua các phương tiện thông tin đại
chúng với việc xây dựng nhiều chuyên mục, thường xuyên cập nhật tin tức để
tuyên truyền, hướng dẫn người dân thực hiện Luật hôn nhân và gia đình.
Nhờ công tác chỉ đạo, triển khai, tuyên truyền nhanh chóng, chất lượng và
hiệu quả, việc thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình ở địa bàn tỉnh Bắc
Giang đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Ưu điểm:
Thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình của các chủ thể được nâng cao:
Mức độ tuân thủ pháp luật về hôn nhân và gia đình ngày càng cao: Các hành
vi kết hôn, ly hôn trái pháp luật, tình trạng bạo lực gia đình có xu hướng giảm.
Đặc biệt, hủ tục lạc hậu như đa thê, tảo hôn, thách cưới mang tính chất gả bán,…
hầu như được loại bỏ, nhất là ở các vùng miền núi, các dân tộc ít người.
Mức độ sử dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình: qua quá trình thực hiện
các quy định của pháp luật, các chủ thể đã tích cực và chủ động nắm bắt các quy
định và sử dụng pháp luật để thực hiện các quyền của mình. Các cá nhân được tự
quyết định việc kết hôn của mình, chủ động, tích cực thực hiện quyền trong lĩnh
vực hôn nhân và gia đình như quyền thừa kế, quyền ly hôn, quyền chăm sóc và
thương yêu giữa các thành viên trong gia đình.
Mức độ chấp hành pháp luật về hôn nhân và gia đình: các cơ quan, tổ chức,
cá nhân được giao nhiệm vụ thi hành pháp luật về hôn nhân và gia đình đã tổ
chức, triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao theo đúng quy định, đảm bảo
pháp luật về hôn nhân và gia đình được thực thi trong thực tế. Công dân ngày 19