TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
BÀI THẢO LUẬN
NHẬP MÔN TÀI CHÍNH-TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG GIẢI PHÁP TĂNG THU NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
NHÓM: 8
LỚP HỌC PHẦN: 241_EFIN2811_14
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: NGUYỄN THANH HUYỀN
Hà Nội, tháng 12 năm 2024
LỜI CẢM ƠN
“ Lời đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn đến Trường Đại học Thương Mại đã cho
chúng em hội được học tậpnghiên cứu học phần Nhập môn tài chính- tiền tệ. Đặc
biệt, chúng em xin cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn – cô Nguyễn Thanh Huyền đã
dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập
vừa qua. Trong khoảng thời gian tham gia lớp học,không chỉ tận tình chỉ dạy còn
truyền động lực cho chúng em nhất là khi mới bước chân vào giảng đường Đại hoc. Đây
chắc chắn sẽ những giây phút quýu, hành trang để chúng em thể vững bước
sau này.
Cảm nhận của chúng em sau khi học bộ môn, đây là một môn học thú vị, vô cùng bổ
ích và có tính thực tế sâu sắc. Sau khi học, sinh viên chúng em có thể nắm bắt được
những kiến thức cơ bản về quá trình hình thành, phát triển của tài chính, lịch sử ra đời và
phát triển của tiền tệ cũng như sự vận hành của toàn bộ hệ thống tài chính và hiểu được
những gì đang diễn ra xung quanh đời sống kinh tế- xã hội. Có lẽ, đây là sự chuẩn bị đầu
tiên giúp xây dựng kiến thức cơ sở cho việc nghiên cứu tốt hơn các môn kinh tế ngành.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!”
Nhóm 8 - 241_EFIN2811_14 - Trường Đại học Thương Mại
3
STT Danh Sách Thành Viên Mã SV Nhiệm Vụ
71 Đoàn Thảo Nguyên 24D270067
72 Lê Nguyễn Thành Nguyên 24D290092
73 Hoàng Yến Nhi 24D290144
74 Phùng Yến Nhi 24D270069
75 Vũ Thị Yến Nhi 24D270070
76 Đào Thị Quỳnh Như 24D270071
77 Hồ Thị Quỳnh Như 24D290093
78 Hoàng Trúc Ninh 24D290145
79 Phan Văn Phát 24D290146
80 Đỗ Minh Phương 24D270072
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1. Tính cấp thiết của đề tài 6
2. Mục tiêu nghiên cứu 6
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
4. Kết cấu đề tài 7
NỘI DUNG 9
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
1.1 . Thu Ngân sách Nhà nước 9
1.1.1 . Khái niệm thu Ngân sách Nhà nướ c 9
1.1.2 . Đặc điểm thu Ngân sách Nhà nước 9
1.1.3 . Phân loại thu Ngân sách Nhà nước 10
1.2 . Các yếu tố ảnh hưởng đến thu Ngân sách Nhà nước 12
1.3 . Các nguyên tắc thiết lập hệ thống thu Ngân sách Nhà nước 16
PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG THU NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 18
1.1 . Thực trạng thu Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2020-2024 18
1.2. Đánh giá thực trạng thu Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2020-2024 23
1.2.1 . Nguyên nhân khách quan 24
1.2.2 . Nguyên nhân chủ quan 24
1.3. Giải pháp tăng thu Ngân sách Nhà nước Việt Nam đến năm 2030 25
KẾT LUẬN 30
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
5
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp tăng thu Ngân sách Nhà nước Việt
Nam hiện nay” có ý nghĩa rất cấp thiết trong bối cảnh hiện nay, vì nó đóng vai trò vô
cùng quan trọng trong việc đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ cho phát triển kinh tế -
xã hội. Việc tăng thu Ngân sách không chỉ giúp Nhà nước có thêm nguồn lực đầu tư vào
cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế, quốc phòng mà còn góp phần làm giảm sự phụ thuộc vào nợ
công và các khoản vay từ nước ngoài, từ đó giúp giữ vững và ổn định tình hình tài chính
quốc gia. Trước các thách thức kinh tế toàn cầu, việc tối ưu hóa nguồn thu giúp quốc gia
chủ động đối phó với biến động và đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững. Ngoài ra,
tăng thu Ngân sách Nhà nước còn là giải pháp để giảm thiểu tình trạng thất thu thuế, nâng
cao hiệu quả quản lý thuế và tăng cường tính hợp lí, minh bạch trong các hoạt động tài
chính. Việc nghiên cứu đề tài này góp phần vào việc xây dựng chính sách tài khóa hợp
lý, giúp cân bằng giữa yêu cầu thu Ngân sách với việc tạo môi trường thuận lợi cho phát
triển doanh nghiệp và nâng cao đời sống người dân, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho
tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp tăng thu Ngân sách
Nhà nước Việt Nam hiện nay” bao gồm các nội dung sau:
+Đánh giá thực trạng thu Ngân sách hiện nay: Nghiên cứu nhằm phân tích tình
hình thu Ngân sách tại Việt Nam, làm rõ các nguồn thu chính, hiệu quả thu
Ngân sách và những yếu tố tác động tích cực cũng như tiêu cực đến việc thu
Ngân sách của Nhà nước, từ đó tìm ra các khó khăn, hạn chế, làm rõ nguyên
nhân dẫn đến những bất cập trong hệ thống thu Ngân sách hiện nay.
+Đưa ra các giải pháp tăng thu hiệu quả và bền vững: Đề tài hướng đến việc
xây dựng các giải pháp khả thi, bao gồm cải tiến chính sách thuế, tối ưu hóa
quản lý thu Ngân sách, và đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm giảm thất thu và
tăng tính minh bạch, công bằng trong hệ thống thuế.
+Cung cấp cơ sở cho hoạch định chính sách tài khóa: Kết quả nghiên cứu sẽ là
tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, giúp điều
7
chỉnh và hoàn thiện các quy định pháp lý, từ đó tăng cường hiệu quả thu
Ngân sách mà không gây áp lực lên doanh nghiệp và người dân.
+Góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam: Việc tăng
thu Ngân sách một cách bền vững sẽ cung cấp nguồn lực tài chính ổn định
cho Nhà nước, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy đầu tư công và cải
thiện phúc lợi xã hội, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển lâu dài.
Nhìn chung, mục đích nghiên cứu đề tài này là tìm ra các giải pháp hữu hiệu để
nâng cao hiệu quả thu Ngân sách Nhà nước Việt Nam, góp phần vào sự ổn định và phát
triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Các chính sách thu ngân sách nhà nước, bao gồm các quy định pháp lý và cơ chế
quản lý thuế hiện hành tại Việt Nam; Các nguồn thu ngân sách chính như thuế thu nhập
doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, các loại phí, lệ phí, và các
khoản thu khác từ tài sản công, tài nguyên; Thực trạng quản lý và thực thi thu ngân sách
của các cơ quan thuế và các tổ chức có liên quan; Các yếu tố ảnh hưởng đến thu ngân
sách như tình hình kinh tế vĩ mô, mức độ tuân thủ của doanh nghiệp và cá nhân, và các
thách thức trong quản lý thuế như thất thu thuế, nợ đọng thuế, và trốn thuế.
Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, với trọng
tâm là các cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm thu ngân sách nhà nước như Tổng cục Thuế,
các chi cục thuế địa phương, và các cơ quan quản lý tài chính liên quan.
Thời gian: Phạm vi thời gian là 5 năm gần đây, giúp phản ánh rõ xu hướng thu Ngân
sách, đồng thời đủ dài để đánh giá những thay đổi và tác động của các chính sách thuế,
tài chính công tại Việt Nam.
Nội dung: Nghiên cứu tập trung vào thực trạng thu Ngân sách, các khó khăn, hạn
chế trong quản lý thu Ngân sách Nhà nước, và các giải pháp cụ thể nhằm tăng hiệu quả
thu Ngân sách trong tương lai.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu này giúp tạo ra một bức tranh toàn diện về tình
hình thu Ngân sách Nhà nước hiện nay, từ đó xây dựng các giải pháp tăng thu Ngân sách
hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam.
8
4. Kết cấu đề tài
Kết cấu đề tài gồm 2 phần:
Phần I: Cơ sở lí thuyết về thu Ngân sách Nhà nước
Phần II: Thực trạng, giải pháp tăng thu Ngân sách Nhà nước Việt Nam hiện nay
9
10
NỘI DUNG
PHẦN I: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1.Thu Ngân sách Nhà nước
1.1.1. Khái niệm thu Ngân sách Nhà nước
Từ đòi hỏi của xã hội về việc đảm bảo ổn định xã hội và giải quyết những mâu
thuẫn, xung đột giai cấp, tầng lớp, Nhà nước đã hình thành với vai trò là cơ quan quản lý
xã hội. Để có được những phương tiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại và hoạt động của
mình, Nhà nước đã đặt ra các hình thức thu khác nhau trong đó chủ yếu là thuế để bắt
buộc dân cư phải đóng góp hình thành quỹ tiền tệ của Nhà nước. Ban đầu, Nhà nước sử
dụng quỹ tiền tệ này chủ yếu để đảm bảo sự tồn tại của bộ máy Nhà nước, sau đó phạm
vi sử dụng được mở rộng dần theo sự mở rộng và phát triển các chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước. Chính vì vậy, thu NSNN ngày càng được mở rộng để áp ứng nhu cầu chi tiêu
ngày càng lớn của NSNN.
Qua sự hình thành các khoản thu NSNN, có thể hiểu thu NSNN là: việc Nhà nước
sử dụng quyền lực của mình để huy động, tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia để
hình thành quỹ tiền tệ cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Thu Ngân sách là một trong hai mặt hoạt động cơ bản của Ngân sách Nhà nước. Về
mặt bản chất kinh tế, thu Ngân sách Nhà nước là hệ thống các quan hệ phân phối dưới
hình thái giá trị nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị của mình đ
tập trung một phần nguồn tài chính trong xã hội hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn
nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
1.1.2. Đặc điểm thu Ngân sách Nhà nước
Thu NSNN có hai đặc trưng cơ bản:
Thứ nhất, thu Ngân sách Nhà nước là một hình thức phân phối nguồn tài chính quốc
gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực của Nhà nước nhằm
giải quyết hài hoà các mối quan hệ về lợi ích kinh tế.
Thu ngân sách Nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân
chia các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội.
Chúng ta biết rằng, nguồn tài chính được tập trung vào ngân sách Nhà nước chính là
một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư được chuyển giao cho Nhà nước. Do vậy, việc
11
xác định các khoản thu phải trên cơ sở giải quyết hài hoà giữa lợi ích Nhà nước với lợi
ích của các tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Thứ hai, thu Ngân sách Nhà nước gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của
các phạm trù giá trị khác như giá cả, thu nhập, lãi suất,...
Thu ngân sách Nhà nước trước hết và chủ yếu gắn liền với các hoạt động kinh tế
trong xã hội. Mức độ phát triển kinh tế, tỉ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền đề và là
yếu tố khách quan hình thành nên các khoản thu ngân sách Nhà nước và quyết định mức
độ động viên các khoản thu của ngân sách Nhà nước.
Về mặt pháp lý, thu Ngân sách Nhà nước gồm tất cả những khoản tiền Nhà nước
huy động vào Ngân sách. Tuy nhiên trên thực tế thì nó chỉ gồm những khoản tiền Nhà
nước huy động vào Ngân sách mà không cần phải hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp.
Do đó nó sẽ không bao gồm các khoản vay của Nhà nước. Việc này có ý nghĩa kinh tế
quan trọng vì phản ánh đúng số thực thu của Nhà nước, thể hiện chính xác số bội chi và
tỷ lệ bội chi, tránh được sự nhầm lẫn giữa thực tế thu và số phải đi vay để chi. Sở dĩ về
mặt pháp lý người ta đưa khoản vay vào thu Ngân sách Nhà nước là để tiện lợi về mặt
hạch toán và đảm bảo quản lý chặt chẽ nguồn tài chính của Nhà nước, còn khi phân tích
nguồn hình thành quỹ Ngân sách Nhà nước và xác định bội chi Ngân sách thì phải tách
khoản vay ra khỏi thu Ngân sách Nhà nước.
1.1.3. Phân loại thu ngân sách nhà nước
Căn cứ vào nội dung kinh tế của các khoản thu
a. Thuế
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo
mức độ và thời hạn được pháp luật qui định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp,
nhằm trang trải các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
b. Lệ phí
Lệ phí là khoản thu của NSNN vừa mang tính chất bù đắp chi phí cho việc thực hiện
một số thủ tục hành chính của Nhà nước, vừa mang tính chất động viên đóng góp cho
NSNN. Lệ phí cũng là khoản thu mang tính bắt buộc và chỉ những người được hưởng
những lợi ích từ hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước thì mới phải nộp lệ phí.
c. Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước
Các khoản thu này thường bao gồm:
12
Thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế
Tiền thu hồi vốn của Nhà nước từ các cơ sở kinh tế
Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước
Thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản, tài nguyên của quốc gia: Khoản thu này nhằm
thu hồi vốn và phân phối lại, giúp tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước và nâng
cao hiệu quả sử dụng tài sản quốc gia. Các khoản thu bao gồm: tiền từ bán hoặc cho
thuê tài nguyên như đất, rừng, mặt nước, mặt biển; bán khoáng sản; và bán vật tư từ
quỹ dự trữ Nhà nước.
d. Thu từ hoạt động sự nghiệp
Nhà nước thành lập và tài trợ cho các tổ chức sự nghiệp công lập trong các lĩnh vực
như giáo dục, y tế, văn hóa... nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của xã hội. Để bù đắp
chi phí hoạt động, các tổ chức này thu một số khoản phí như học phí và viện phí, vừa
phục vụ người dân, vừa đóng góp vào ngân sách nhà nước. Do các dịch vụ công rất cần
thiết và không phải ai cũng có khả năng chi trả, Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí, nhằm
đảm bảo lợi ích chung và phát triển bền vững các dịch vụ công.
e. Thu từ vay nợ
Để bù đắp thiếu hụt ngân sách và đáp ứng nhu cầu đầu tư, Nhà nước huy động vốn
qua các khoản vay trong và ngoài nước. Chính phủ và chính quyền địa phương có thể vay
từ ngân hàng trung ương hoặc phát hành các loại trái phiếu (như trái phiếu kho bạc và trái
phiếu đầu tư) để huy động từ công chúng. Về nợ nước ngoài, Nhà nước ký hiệp định vay
với các chính phủ hoặc tổ chức tài chính quốc tế (như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng
Phát triển Châu Á) và có thể phát hành trái phiếu trên thị trường quốc tế để thu hút vốn.
f. Thu khác
Ngoài các khoản thu chính, ngân sách Nhà nước còn bao gồm thu từ viện trợ không
hoàn lại, đóng góp tự nguyện của tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước (như quỹ an
ninh, quỹ phòng chống thiên tai, quỹ vì người nghèo), thu từ hợp tác quốc tế, tiền phạt,
tịch thu tài sản, và kết dư ngân sách.
Căn cứ vào tính chất phát sinh của các khoản thu
a. Thu thường xuyên:
Là những khoản thu của NSNN phát sinh có tính chất thường xuyên trong đó chủ
yếu nhất là các khoản thu thuế và lệ phí. Ngoài ra, thu thường xuyên của NSNN còn bao
13
gồm các khoản thu từ hoạt động sự nghiệp, một số khoản thu từ hoạt động kinh tế của
Nhà nước như tiền cho thuê tài sản, thu lãi cho vay, thu tiền phạt, tịch biên,...
b. Thu không thường xuyên:
Là những khoản thu phát sinh có tính chất không thường xuyên hay bất thường như
tiền bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước, bán cổ phần thuộc sở hữu Nhà nước, thu viện trợ,
vay nợ,...
Căn cứ vào tính chất cân đối của Ngân sách Nhà nước
a. Thu trong cân đối:
Là các khoản thu được xác định và thực hiện trong mối quan hệ cân đối với chi
Ngân sách Nhà nước. Thuộc khoản thu này bao gồm các khoản thu thường xuyên và thu
không thường xuyên.
b. Thu ngoài cân đối (còn gọi là thu bù đắp thiếu hụt NSNN):
Khi lập dự toán NSNN, nếu số thu NSNN không đủ đáp ứng nhu cầu chi NSNN
trong một năm nào đó thì Nhà nước phải huy động thêm các nguồn khác mà chủ yếu là đi
vay.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu Ngân sách nhà nước
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN song nhìn chung, có một số nhân tố cơ bản
sau đây:
a. GDP bình quân đầu người
GDP (Gross Domestic Product) là tổng sản phẩm quốc nội là giá trị thị trường của
tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc
gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) .GDP bình quân đầu người là nhân
tố đầu tiên ảnh hưởng đến thu ngân sách của một quốc gia. Dưới đây là một số tác động
của GDP đến thu ngân sách:
Tăng trưởng GDP dẫn đến tăng thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp:
Khi GDP tăng trưởng, doanh nghiệp thường kinh doanh thuận lợi, tạo ra lợi nhuận cao
hơn. Điều này làm tăng số thuế thu nhập doanh nghiệp, một trong những nguồn thu chủ
yếu của ngân sách nhà nước. Ngược lại nếu GDP giảm, các doanh nghiệp gặp khó khăn
trong hoạt động kinh doanh và lợi nhuận giảm sút, dẫn đến việc nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp ít hơn.
Tác động đến thu từ thuế thu nhập cá nhân:
14
Khi GDP tăng trưởng, nền kinh tế mở rộng, tạo thêm việc làm và cải thiện thu nhập cho
người dân. Thu nhập của người dân tăng kéo theo số thu từ thuế thu nhập cá nhân và các
khoản bảo hiểm xã hội tăng lên. Trong trường hợp GDP giảm, tỷ lệ thất nghiệp có thể
tăng và thu nhập người dân giảm, dẫn đến nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân và bảo
hiểm xã hội bị ảnh hưởng.
Thu từ thuế giá trị gia tăng (VAT) và thuế tiêu thụ đặc biệt:
Tăng trưởng GDP thường đi với tăng tiêu dùng trong nền kinh tế, kéo theo thu từ VAT và
thuế tiêu thụ đặc biệt. Khi người dân và doanh nghiệp tiêu dùng nhiều hơn, nhà nước
cũng sẽ thu được nhiều hơn từ các loại thuế gián thu này. Nếu GDP giảm, nhu cầu tiêu
dùng có thể giảm, từ đó làm giảm thu từ các loại thuế tiêu thụ và gián thu.
Thu từ thuế xuất nhập khẩu và các giao dịch thương mại quốc tế:
Tăng trưởng GDP thường phản ánh môi trường kinh doanh và thương mại quốc tế thuận
lợi, khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Điều này
làm tăng nguồn thu từ các khoản thuế xuất nhập khẩu và các loại thuế liên quan đến
thương mại quốc tế. Khi GDP giảm, nhu cầu xuất nhập khẩu cũng suy giảm, dẫn đến
nguồn thu từ các loại thuế này có thể giảm.
Thúc đẩy đầu tư, tăng thu từ các khoản thuế và phí liên quan:
Khi GDP tăng, nền kinh tế phát triển và mở rộng, thu hút đầu tư trong và ngoài nước.
Điều này không chỉ tạo thêm công ăn việc làm mà còn tăng thu từ các khoản thuế và phí
liên quan đến đầu tư, như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế sử dụng đất, phí dịch vụ hành
chính, v.v. Ngược lại, khi GDP giảm, đầu tư có thể suy giảm, ảnh hưởng đến nguồn thu
từ các khoản thuế và phí liên quan.
Tăng khả năng trả nợ công và giảm áp lực vay nợ:
Tăng trưởng GDP giúp nhà nước thu được nhiều nguồn thu hơn, từ đó giảm bớt nhu cầu
vay nợ công. Điều này giúp giảm áp lực trả nợ và chi phí lãi vay, từ đó ngân sách nhà
nước có thể dành cho các khoản chi khác. Nếu GDP suy giảm, NSNN có thể phải gia
tăng vay nợ để bù đắp, tăng gánh nặng nợ công và áp lực trả lãi vay.
Đảm bảo khả năng chi tiêu công và phúc lợi xã hội:
Tăng trưởng GDP tạo nguồn lực để nhà nước tăng chi tiêu công, đầu tư vào các dự án hạ
tầng, y tế, giáo dục và phúc lợi xã hội. Những khoản chi này góp phần phát triển bền
vững và cải thiện chất lượng sống của người dân. Khi GDP giảm, nguồn thu ngân sách
15
hạn chế, nhà nước có thể phải cắt giảm chi tiêu công và các chương trình phúc lợi, ảnh
hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế và đời sống người dân.
b. Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế
Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế có ảnh hưởng đáng kể đến thu NSNN
qua nhiều kênh khác nhau. Khi tỷ suất lợi nhuận bình quân tăng hoặc giảm, nó có thể tác
động đến động lực đầu tư, hoạt động kinh tế và cuối cùng là nguồn thu thuế. Dưới đây là
cách tỷ suất lợi nhuận bình quân ảnh hưởng đến thu NSNN:
Tác động đến thu thuế doanh nghiệp:
Tỷ suất lợi nhuận bình quân tăng thường kéo theo các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả
hơn và đạt được mức lợi nhuận cao hơn. Điều này sẽ dẫn đến sự gia tăng thuế thu nhập
doanh nghiệp – một trong những nguồn thu quan trọng của NSNN. Ngược lại, khi tỷ suất
lợi nhuận bình quân giảm, doanh nghiệp có thể sẽ đạt lợi nhuận thấp hơn, từ đó số thuế
thu nhập doanh nghiệp nộp vào NSNN cũng giảm.
Tác động đến động lực đầu tư và mở rộng sản xuất:
Tỷ suất lợi nhuận bình quân cao khuyến khích doanh nghiệp mở rộng đầu tư, từ đó tạo ra
nhiều việc làm và tăng sản xuất. Sự gia tăng này có thể giúp tăng thu từ thuế giá trị gia
tăng (VAT) và thuế thu nhập cá nhân từ người lao động. Khi tỷ suất lợi nhuận bình quân
giảm, doanh nghiệp có thể giảm hoặc ngừng đầu tư, thậm chí cắt giảm lao động, dẫn đến
giảm nguồn thu từ thuế VAT, thuế thu nhập cá nhân và có thể cả thuế thu nhập doanh
nghiệp.
Tác động đến tiêu dùng và thuế tiêu thụ:
Tỷ suất lợi nhuận cao có thể tăng cường niềm tin của doanh nghiệp và người tiêu dùng,
khuyến khích chi tiêu và tiêu dùng trong nền kinh tế. Điều này làm tăng nguồn thu từ các
loại thuế tiêu thụ như VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt. Khi tỷ suất lợi nhuận thấp, người tiêu
dùng có xu hướng thận trọng hơn trong chi tiêu, làm giảm doanh thu từ thuế tiêu thụ.
Tác động đến thị trường lao động và thu thuế thu nhập cá nhân:
Nếu tỷ suất lợi nhuận bình quân cao, doanh nghiệp có xu hướng tuyển dụng thêm lao
động, tăng lương để thu hút nhân tài. Điều này dẫn đến tăng nguồn thu thuế thu nhập cá
nhân, đóng góp vào NSNN. Ngược lại, tỷ suất lợi nhuận thấp khiến doanh nghiệp có thể
cắt giảm nhân sự hoặc giảm tiền lương, dẫn đến giảm thu thuế thu nhập cá nhân.
Tác động đến giá trị tài sản và thuế tài sản:
16
Khi tỷ suất lợi nhuận bình quân tăng, giá trị của các doanh nghiệp trên thị trường chứng
khoán thường tăng, dẫn đến thu nhập từ thuế tài sản, thuế chuyển nhượng chứng khoán
và các loại thuế liên quan khác tăng lên. Nếu tỷ suất lợi nhuận giảm, giá trị tài sản của
các doanh nghiệp và thị trường chứng khoán có thể giảm, dẫn đến thu NSNN từ các loại
thuế này cũng giảm.
Tác động đến xuất khẩu và thuế xuất nhập khẩu:
Tỷ suất lợi nhuận bình quân cao có thể thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước tăng cường
sản xuất để xuất khẩu, giúp tăng nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu và đóng góp vào thặng
dư thương mại. Khi tỷ suất lợi nhuận bình quân giảm, động lực xuất khẩu suy giảm, làm
giảm thuế xuất khẩu và ảnh hưởng đến thu Ngân sách.
c. Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên
Đối với các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào phong phú thì việc khai
thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu to lớn cho NSNN. Kinh nghiệm của
các nước cho thấy, nếu tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20% tổng
kim ngạch xuất khẩu thì tỷ suất thu Ngân sách sẽ cao và có khả năng tăng nhanh. Với
cùng một điều kiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và
khoáng sản lớn thì tỷ lệ động viên vào NSNN cũng lớn hơn. Ở các nước trong khối
OPEC, tỷ trọng này khá cao nên tỷ lệ động viên vào NSNN cũng khá lớn. Chẳng hạn, tỷ
suất thuế của Venezuela là 20%, Liberia là 22,6%, Tunisia là 29,8%. Ở Việt Nam, tỷ
trọng kim ngạch xuất khẩu dầu mỏ không cao như nhiều nước, song tỷ lệ động viên vào
NSNN cũng đạt trên 20% và góp phần đáng kể vào việc tăng tỷ lệ động viên vào NSNN.
Dưới đây là một số cách mà việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên tác động
đến nguồn thu Ngân sách:
Tăng nguồn thu từ thuế tài nguyên:
Khai thác tài nguyên thiên nhiên trực tiếp mang lại nguồn thu từ thuế tài nguyên, là loại
thuế đánh vào khối lượng, giá trị của tài nguyên khai thác. Khi khả năng khai thác tài
nguyên cao và nhu cầu thị trường lớn, thuế tài nguyên sẽ là nguồn thu lớn cho NSNN.
Nếu nguồn tài nguyên khai thác bị cạn dần hoặc giá trị thị trường của tài nguyên giảm,
thu từ thuế tài nguyên sẽ giảm, ảnh hưởng trực tiếp đến Ngân sách.
Tăng thu từ thuế xuất khẩu và phí cấp phép:
17
Xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ, than đá, khoáng sản thường đi kèm với
các khoản thuế xuất khẩu. Khi nhu cầu quốc tế đối với tài nguyên này cao, nhà nước có
thể thu được nguồn thu lớn từ thuế xuất khẩu và các khoản phí liên quan. Phí cấp phép
khai thác cũng là nguồn thu quan trọng. Nhà nước có thể thu phí từ công ty khai thác tài
nguyên, đặc biệt khi tài nguyên này có giá trị cao trên thị trường quốc tế. Nếu thị trường
tài nguyên biến động, thu từ các khoản phí này cũng có thể dao động.
Đóng góp lớn vào GDP và tạo nguồn thu từ các hoạt động kinh tế liên quan:
Khai thác tài nguyên thường thúc đẩy phát triển của nhiều ngành công nghiệp liên quan,
như chế biến, vận tải và dịch vụ hỗ trợ khai thác. Điều này gián tiếp làm tăng thu từ các
loại thuế như thuế giá trị gia tăng (VAT), thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá
nhân. Khi ngành khai thác và xuất khẩu tài nguyên phát triển, GDP của quốc gia cũng
tăng, kéo theo nguồn thu từ các hoạt động kinh tế khác.
d. Mức độ trang trải các khoản chi phí
Mức độ trang trải các khoản chi phí có ảnh hưởng đáng kể đến thu NSNN vì chi phí
quá cao có thể làm giảm khả năng tích lũy ngân sách và gây áp lực tăng thu. Khi ngân
sách phải chi trả nhiều cho các khoản như lương, phúc lợi, đầu tư công, và bảo trì cơ sở
hạ tầng, khoản thu còn lại cho các mục tiêu phát triển khác sẽ bị giới hạn. Nếu chi phí
không được kiểm soát tốt, ngân sách sẽ phải tăng thu từ thuế và các nguồn khác để cân
bằng, gây thêm gánh nặng cho người dân và doanh nghiệp, từ đó có thể làm giảm sức
cạnh tranh của nền kinh tế. Ngoài ra, nếu NSNN không đáp ứng được các khoản chi cần
thiết cho dịch vụ công và đầu tư hạ tầng có thể kìm hãm sự phát triển kinh tế dẫn đến suy
giảm nguồn thu dài hạn. Ngược lại, khi chi phí được tối ưu hóa, ngân sách có thể tập
trung đầu tư vào các lĩnh vực mang lại tăng trưởng bền vững, tạo ra nguồn thu ổn định
cho nhà nước trong dài hạn.
e. Tổ chức bộ máy thu nộp
Tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả hoạt động của bộ
máy. Nếu tổ chức hệ thống cơ quan thuế, hải quan, kho bạc Nhà nước gọn nhẹ, đạt hiệu
quả cao, chống được thất thu do trốn và lậu thuế thì đây sẽ là yếu tố tích cực làm giảm tỷ
suất thu NSNN mà vẫn thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của NSNN.
1.3. Các nguyên tắc thiết lập hệ thống thu ngân sách nhà nước
18
Trong lịch sử, việc thiết lập hệ thống thu NSNN thường tuân thủ hai nguyên tắc chỉ
đạo đó là nguyên tắc thu theo lợi ích và nguyên tắc thu theo khả năng. Tuy nhiên ở Việt
Nam, trong quá trình cải cách và hoàn thiện hệ thống thu NSNN, đặc biệt là đối với hệ
thống thuế, cần tôn trọng và chấp hành các nguyên tắc căn bản như sau:
a, Nguyên tắc ổn định và lâu dài:
Đảm bảo nguồn thu ổn định, bền vững để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu công trong dài
hạn. Nguyên tắc này yêu cầu hệ thống thu Ngân sách không phụ thuộc quá mức vào các
nguồn thu dễ biến động như tài nguyên thiên nhiên hoặc thu nhập từ thuế xuất nhập khẩu.
Thay vào đó, nên dựa vào các nguồn thu ổn định như thuế nội địa từ doanh nghiệp và cá
nhân. Điều này giúp duy trì nguồn thu ổn định bất chấp biến động kinh tế, đảm bảo nền
tài chính quốc gia lành mạnh và hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững.
b, Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng:
Nguyên tắc này đòi hỏi việc thiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm công bằng đối với
mọi người chịu thuế, không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế. Việc thiết kế hệ
thống thuế chủ yếu dựa trên khả năng thu nhập của người chịu thuế. Để đảm bảo được
nguyên tắc công bằng trong xây dựng hệ thống thuế thì cần phải kết hợp giữa các sắc
thuế trực thu với các sắc thuế gián thu.
c, Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong thiết lập hệ thống thuế, các điều khoản quy định của các sắc
thuế phải rõ ràng, cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế,... để tránh tình trạng lách luật,
trốn thuế. Hơn nữa, việc sửa đổi bổ sung các điều khoản trong các sắc thuế không phải
lúc nào cũng thực hiện được, cho nên các điều khoản trong luật phải bao quát và phù hợp
với hoạt động của nền kinh tế - xã hội.
d, Nguyên tắc đơn giản:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong mỗi sắc thuế cần hạn chế số lượng thuế suất, xác định rõ
mục tiêu chính, không đề ra quá nhiều mục tiêu trong một sắc thuế. Có như vậy mới tạo
điều kiện thuận lợi cho việc triển khai luật thuế vào thực tiễn, tạo thuận lợi cho cả người
nộp thuế và cơ quan thu thuế, tránh được những hiện tượng tiêu cực như trốn, lậu thuế,
hối lộ,...
19
PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG THU NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1. Thực trạng thu Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2020-2024
a, Giai đoạn từ 2020-2022
Bảng tình hình thu NSNN tại Việt Nam giai đoạn 2020-2022
Đơn vị: Tỷ đồng
Nội dung 2020 2021 2022
Tổng thu NSNN 1.510.579 1.591.411 1.815.470
%GDP 24 18,74 19,08
Thu nội địa 1.293.728 1.313.281 1.443.937
% Tổng thu 85,64 82,52 79,54
Thu cân đối xuất nhập khẩu 177.444 216.307 285.367
% Tổng thu 11,75 13,59 15,72
Thu từ dầu thô 34.598 44.638 78.030
% Tổng thu 2,29 2,80 4,30
Thu viện trợ 4.808 17.185 8.136
% Tổng thu 0,32 1,08 0,45
Nguồn: Bộ Tài chính và tính toán của nhóm tác giả.
Xét ở góc độ quy mô, thu NSNN theo dự toán có xu hướng tăng giai đoạn 2020- 2022
Năm 2020
20
Dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19, nhưng đã có sự tăng trưởng nhẹ trở
lại từ năm 2021, cụ thể:
Thu nội địa:
Dự toán thu là 1.290,77 nghìn tỷ đồng, thực hiện đạt 1.290,9 nghìn tỷ đồng, vượt 117 tỷ
đồng so dự toán, tăng 1,3% so thực hiện năm 2019. Do ảnh hưởng quá lớn của đại dịch
Covid-19 đến nền kinh tế, đặc biệt là đối với các lĩnh vực xuất nhập khẩu, vận tải hàng
không, sản xuất ô tô, điện tử, dệt may, da giày, kinh doanh dịch vụ du lịch, ăn uống, lưu
trú,... làm giảm nguồn thu NSNN. Đồng thời, trong năm đã thực hiện nhiều giải pháp
miễn, giảm, giãn thuế và các khoản thu NSNN nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh
nghiệp, người dân chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Vì vậy, không kể số thu tiền sử
dụng đất, thu hồi vốn NSNN đầu tư tại các tổ chức kinh tế, các khoản thu nội địa còn lại
chỉ có 40% đạt và vượt dự toán, 60% còn lại không đạt dự toán.
Thu từ dầu thô:
Dự toán thu là 35,2 nghìn tỷ đồng, thực hiện đạt 34,6 nghìn tỷ đồng, giảm 602 tỷ đồng (-
1,7%) so dự toán
Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu:
Dự toán thu là 208 nghìn tỷ đồng, thực hiện đạt 177,5 nghìn tỷ đồng, giảm 30,5 nghìn tỷ
đồng (-14,6%) so dự toán, trên cơ sở: tổng số thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 314,57
nghìn tỷ đồng, hoàn thuế giá trị gia tăng theo thực tế là 137 nghìn tỷ đồng.
Thu viện trợ:
Dự toán thu là 5 nghìn tỷ đồng, thực hiện đạt 4,8 nghìn tỷ đồng, giảm 251 tỷ đồng (-5%)
so dự toán.
Năm 2021
Từ cuối quý III năm 2021, nhờ đẩy mạnh thực hiện chiến dịch tiêm chủng vắc-xin với
quy mô và tốc độ bao phủ nhanh trên phạm vi toàn quốc, đã góp phần kiểm soát dịch
bệnh, tạo điều kiện để nền kinh tế chuyển sang giai đoạn thích ứng an toàn, hiệu quả với
dịch. Kết quả thực hiện thu NSNN năm 2021 đạt 1.568,4 nghìn tỷ đồng, tăng 225,1 nghìn
tỷ đồng (+16,8%) so dự toán, tăng 202,9 nghìn tỷ đồng so với báo cáo Quốc hội nhờ số
thu NSNN đạt khá trong quý I và quý IV. Tỷ lệ động viên thu NSNN năm 2021 đạt
18,7% GDP, riêng thu thuế và phí đạt 15,1% GDP, trong đó:
Thu nội địa:
21

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP BÀI THẢO LUẬN
NHẬP MÔN TÀI CHÍNH-TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG THU NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY NHÓM: 8
LỚP HỌC PHẦN: 241_EFIN2811_14
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: NGUYỄN THANH HUYỀN
Hà Nội, tháng 12 năm 2024 LỜI CẢM ƠN
“ Lời đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn đến Trường Đại học Thương Mại đã cho
chúng em cơ hội được học tập và nghiên cứu học phần Nhập môn tài chính- tiền tệ. Đặc
biệt, chúng em xin cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn – cô Nguyễn Thanh Huyền đã
dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập
vừa qua. Trong khoảng thời gian tham gia lớp học, cô không chỉ tận tình chỉ dạy mà còn
truyền động lực cho chúng em nhất là khi mới bước chân vào giảng đường Đại hoc. Đây
chắc chắn sẽ là những giây phút quý báu, là hành trang để chúng em có thể vững bước sau này.
Cảm nhận của chúng em sau khi học bộ môn, đây là một môn học thú vị, vô cùng bổ
ích và có tính thực tế sâu sắc. Sau khi học, sinh viên chúng em có thể nắm bắt được
những kiến thức cơ bản về quá trình hình thành, phát triển của tài chính, lịch sử ra đời và
phát triển của tiền tệ cũng như sự vận hành của toàn bộ hệ thống tài chính và hiểu được
những gì đang diễn ra xung quanh đời sống kinh tế- xã hội. Có lẽ, đây là sự chuẩn bị đầu
tiên giúp xây dựng kiến thức cơ sở cho việc nghiên cứu tốt hơn các môn kinh tế ngành.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!”
Nhóm 8 - 241_EFIN2811_14 - Trường Đại học Thương Mại 3 STT Danh Sách Thành Viên Mã SV Nhiệm Vụ 71 Đoàn Thảo Nguyên 24D270067 72 Lê Nguyễn Thành Nguyên 24D290092 73 Hoàng Yến Nhi 24D290144 74 Phùng Yến Nhi 24D270069 75 Vũ Thị Yến Nhi 24D270070 76 Đào Thị Quỳnh Như 24D270071 77 Hồ Thị Quỳnh Như 24D290093 78 Hoàng Trúc Ninh 24D290145 79 Phan Văn Phát 24D290146 80 Đỗ Minh Phương 24D270072 4 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 6
1. Tính cấp thiết của đề tài 6
2. Mục tiêu nghiên cứu 6
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7 4. Kết cấu đề tài 7 NỘI DUNG 9
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9 1.1
. Thu Ngân sách Nhà nước 9 1.1.1
. Khái niệm thu Ngân sách Nhà nướ c 9 1.1.2
. Đặc điểm thu Ngân sách Nhà nước 9 1.1.3
. Phân loại thu Ngân sách Nhà nước 10 1.2
. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu Ngân sách Nhà nước 12 1.3
. Các nguyên tắc thiết lập hệ thống thu Ngân sách Nhà nướ c 16
PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG THU NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 18 1.1
. Thực trạng thu Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2020-2024 18
1.2. Đánh giá thực trạng thu Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2020-2024 23 1.2.1
. Nguyên nhân khách quan 24 1.2.2
. Nguyên nhân chủ quan 24
1.3. Giải pháp tăng thu Ngân sách Nhà nước Việt Nam đến năm 2030 25 KẾT LUẬN 30
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 31 5 6 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp tăng thu Ngân sách Nhà nước Việt
Nam hiện nay” có ý nghĩa rất cấp thiết trong bối cảnh hiện nay, vì nó đóng vai trò vô
cùng quan trọng trong việc đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ cho phát triển kinh tế -
xã hội. Việc tăng thu Ngân sách không chỉ giúp Nhà nước có thêm nguồn lực đầu tư vào
cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế, quốc phòng mà còn góp phần làm giảm sự phụ thuộc vào nợ
công và các khoản vay từ nước ngoài, từ đó giúp giữ vững và ổn định tình hình tài chính
quốc gia. Trước các thách thức kinh tế toàn cầu, việc tối ưu hóa nguồn thu giúp quốc gia
chủ động đối phó với biến động và đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững. Ngoài ra,
tăng thu Ngân sách Nhà nước còn là giải pháp để giảm thiểu tình trạng thất thu thuế, nâng
cao hiệu quả quản lý thuế và tăng cường tính hợp lí, minh bạch trong các hoạt động tài
chính. Việc nghiên cứu đề tài này góp phần vào việc xây dựng chính sách tài khóa hợp
lý, giúp cân bằng giữa yêu cầu thu Ngân sách với việc tạo môi trường thuận lợi cho phát
triển doanh nghiệp và nâng cao đời sống người dân, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho
tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp tăng thu Ngân sách
Nhà nước Việt Nam hiện nay” bao gồm các nội dung sau:
+Đánh giá thực trạng thu Ngân sách hiện nay: Nghiên cứu nhằm phân tích tình
hình thu Ngân sách tại Việt Nam, làm rõ các nguồn thu chính, hiệu quả thu
Ngân sách và những yếu tố tác động tích cực cũng như tiêu cực đến việc thu
Ngân sách của Nhà nước, từ đó tìm ra các khó khăn, hạn chế, làm rõ nguyên
nhân dẫn đến những bất cập trong hệ thống thu Ngân sách hiện nay.
+Đưa ra các giải pháp tăng thu hiệu quả và bền vững: Đề tài hướng đến việc
xây dựng các giải pháp khả thi, bao gồm cải tiến chính sách thuế, tối ưu hóa
quản lý thu Ngân sách, và đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm giảm thất thu và
tăng tính minh bạch, công bằng trong hệ thống thuế.
+Cung cấp cơ sở cho hoạch định chính sách tài khóa: Kết quả nghiên cứu sẽ là
tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, giúp điều 7
chỉnh và hoàn thiện các quy định pháp lý, từ đó tăng cường hiệu quả thu
Ngân sách mà không gây áp lực lên doanh nghiệp và người dân.
+Góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam: Việc tăng
thu Ngân sách một cách bền vững sẽ cung cấp nguồn lực tài chính ổn định
cho Nhà nước, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy đầu tư công và cải
thiện phúc lợi xã hội, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển lâu dài.
Nhìn chung, mục đích nghiên cứu đề tài này là tìm ra các giải pháp hữu hiệu để
nâng cao hiệu quả thu Ngân sách Nhà nước Việt Nam, góp phần vào sự ổn định và phát
triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Các chính sách thu ngân sách nhà nước, bao gồm các quy định pháp lý và cơ chế
quản lý thuế hiện hành tại Việt Nam; Các nguồn thu ngân sách chính như thuế thu nhập
doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, các loại phí, lệ phí, và các
khoản thu khác từ tài sản công, tài nguyên; Thực trạng quản lý và thực thi thu ngân sách
của các cơ quan thuế và các tổ chức có liên quan; Các yếu tố ảnh hưởng đến thu ngân
sách như tình hình kinh tế vĩ mô, mức độ tuân thủ của doanh nghiệp và cá nhân, và các
thách thức trong quản lý thuế như thất thu thuế, nợ đọng thuế, và trốn thuế.
Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, với trọng
tâm là các cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm thu ngân sách nhà nước như Tổng cục Thuế,
các chi cục thuế địa phương, và các cơ quan quản lý tài chính liên quan.
Thời gian: Phạm vi thời gian là 5 năm gần đây, giúp phản ánh rõ xu hướng thu Ngân
sách, đồng thời đủ dài để đánh giá những thay đổi và tác động của các chính sách thuế,
tài chính công tại Việt Nam.
Nội dung: Nghiên cứu tập trung vào thực trạng thu Ngân sách, các khó khăn, hạn
chế trong quản lý thu Ngân sách Nhà nước, và các giải pháp cụ thể nhằm tăng hiệu quả
thu Ngân sách trong tương lai.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu này giúp tạo ra một bức tranh toàn diện về tình
hình thu Ngân sách Nhà nước hiện nay, từ đó xây dựng các giải pháp tăng thu Ngân sách
hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam. 8
4. Kết cấu đề tài
Kết cấu đề tài gồm 2 phần:
Phần I: Cơ sở lí thuyết về thu Ngân sách Nhà nước
Phần II: Thực trạng, giải pháp tăng thu Ngân sách Nhà nước Việt Nam hiện nay 9 10 NỘI DUNG
PHẦN I: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1.Thu Ngân sách Nhà nước
1.1.1. Khái niệm thu Ngân sách Nhà nước
Từ đòi hỏi của xã hội về việc đảm bảo ổn định xã hội và giải quyết những mâu
thuẫn, xung đột giai cấp, tầng lớp, Nhà nước đã hình thành với vai trò là cơ quan quản lý
xã hội. Để có được những phương tiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại và hoạt động của
mình, Nhà nước đã đặt ra các hình thức thu khác nhau trong đó chủ yếu là thuế để bắt
buộc dân cư phải đóng góp hình thành quỹ tiền tệ của Nhà nước. Ban đầu, Nhà nước sử
dụng quỹ tiền tệ này chủ yếu để đảm bảo sự tồn tại của bộ máy Nhà nước, sau đó phạm
vi sử dụng được mở rộng dần theo sự mở rộng và phát triển các chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước. Chính vì vậy, thu NSNN ngày càng được mở rộng để áp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng lớn của NSNN.
Qua sự hình thành các khoản thu NSNN, có thể hiểu thu NSNN là: việc Nhà nước
sử dụng quyền lực của mình để huy động, tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia để
hình thành quỹ tiền tệ cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Thu Ngân sách là một trong hai mặt hoạt động cơ bản của Ngân sách Nhà nước. Về
mặt bản chất kinh tế, thu Ngân sách Nhà nước là hệ thống các quan hệ phân phối dưới
hình thái giá trị nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị của mình để
tập trung một phần nguồn tài chính trong xã hội hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn
nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
1.1.2. Đặc điểm thu Ngân sách Nhà nước
Thu NSNN có hai đặc trưng cơ bản:
Thứ nhất, thu Ngân sách Nhà nước là một hình thức phân phối nguồn tài chính quốc
gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực của Nhà nước nhằm
giải quyết hài hoà các mối quan hệ về lợi ích kinh tế.
Thu ngân sách Nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân
chia các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội.
Chúng ta biết rằng, nguồn tài chính được tập trung vào ngân sách Nhà nước chính là
một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư được chuyển giao cho Nhà nước. Do vậy, việc 11
xác định các khoản thu phải trên cơ sở giải quyết hài hoà giữa lợi ích Nhà nước với lợi
ích của các tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Thứ hai, thu Ngân sách Nhà nước gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của
các phạm trù giá trị khác như giá cả, thu nhập, lãi suất,...
Thu ngân sách Nhà nước trước hết và chủ yếu gắn liền với các hoạt động kinh tế
trong xã hội. Mức độ phát triển kinh tế, tỉ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền đề và là
yếu tố khách quan hình thành nên các khoản thu ngân sách Nhà nước và quyết định mức
độ động viên các khoản thu của ngân sách Nhà nước.
Về mặt pháp lý, thu Ngân sách Nhà nước gồm tất cả những khoản tiền Nhà nước
huy động vào Ngân sách. Tuy nhiên trên thực tế thì nó chỉ gồm những khoản tiền Nhà
nước huy động vào Ngân sách mà không cần phải hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp.
Do đó nó sẽ không bao gồm các khoản vay của Nhà nước. Việc này có ý nghĩa kinh tế
quan trọng vì phản ánh đúng số thực thu của Nhà nước, thể hiện chính xác số bội chi và
tỷ lệ bội chi, tránh được sự nhầm lẫn giữa thực tế thu và số phải đi vay để chi. Sở dĩ về
mặt pháp lý người ta đưa khoản vay vào thu Ngân sách Nhà nước là để tiện lợi về mặt
hạch toán và đảm bảo quản lý chặt chẽ nguồn tài chính của Nhà nước, còn khi phân tích
nguồn hình thành quỹ Ngân sách Nhà nước và xác định bội chi Ngân sách thì phải tách
khoản vay ra khỏi thu Ngân sách Nhà nước.
1.1.3. Phân loại thu ngân sách nhà nước
Căn cứ vào nội dung kinh tế của các khoản thu a. Thuế
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo
mức độ và thời hạn được pháp luật qui định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp,
nhằm trang trải các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. b. Lệ phí
Lệ phí là khoản thu của NSNN vừa mang tính chất bù đắp chi phí cho việc thực hiện
một số thủ tục hành chính của Nhà nước, vừa mang tính chất động viên đóng góp cho
NSNN. Lệ phí cũng là khoản thu mang tính bắt buộc và chỉ những người được hưởng
những lợi ích từ hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước thì mới phải nộp lệ phí.
c. Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước
Các khoản thu này thường bao gồm: 12
Thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế
Tiền thu hồi vốn của Nhà nước từ các cơ sở kinh tế
Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước
Thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản, tài nguyên của quốc gia: Khoản thu này nhằm
thu hồi vốn và phân phối lại, giúp tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước và nâng
cao hiệu quả sử dụng tài sản quốc gia. Các khoản thu bao gồm: tiền từ bán hoặc cho
thuê tài nguyên như đất, rừng, mặt nước, mặt biển; bán khoáng sản; và bán vật tư từ quỹ dự trữ Nhà nước.
d. Thu từ hoạt động sự nghiệp
Nhà nước thành lập và tài trợ cho các tổ chức sự nghiệp công lập trong các lĩnh vực
như giáo dục, y tế, văn hóa... nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của xã hội. Để bù đắp
chi phí hoạt động, các tổ chức này thu một số khoản phí như học phí và viện phí, vừa
phục vụ người dân, vừa đóng góp vào ngân sách nhà nước. Do các dịch vụ công rất cần
thiết và không phải ai cũng có khả năng chi trả, Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí, nhằm
đảm bảo lợi ích chung và phát triển bền vững các dịch vụ công. e. Thu từ vay nợ
Để bù đắp thiếu hụt ngân sách và đáp ứng nhu cầu đầu tư, Nhà nước huy động vốn
qua các khoản vay trong và ngoài nước. Chính phủ và chính quyền địa phương có thể vay
từ ngân hàng trung ương hoặc phát hành các loại trái phiếu (như trái phiếu kho bạc và trái
phiếu đầu tư) để huy động từ công chúng. Về nợ nước ngoài, Nhà nước ký hiệp định vay
với các chính phủ hoặc tổ chức tài chính quốc tế (như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng
Phát triển Châu Á) và có thể phát hành trái phiếu trên thị trường quốc tế để thu hút vốn. f. Thu khác
Ngoài các khoản thu chính, ngân sách Nhà nước còn bao gồm thu từ viện trợ không
hoàn lại, đóng góp tự nguyện của tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước (như quỹ an
ninh, quỹ phòng chống thiên tai, quỹ vì người nghèo), thu từ hợp tác quốc tế, tiền phạt,
tịch thu tài sản, và kết dư ngân sách.
Căn cứ vào tính chất phát sinh của các khoản thu a. Thu thường xuyên:
Là những khoản thu của NSNN phát sinh có tính chất thường xuyên trong đó chủ
yếu nhất là các khoản thu thuế và lệ phí. Ngoài ra, thu thường xuyên của NSNN còn bao 13
gồm các khoản thu từ hoạt động sự nghiệp, một số khoản thu từ hoạt động kinh tế của
Nhà nước như tiền cho thuê tài sản, thu lãi cho vay, thu tiền phạt, tịch biên,...
b. Thu không thường xuyên:
Là những khoản thu phát sinh có tính chất không thường xuyên hay bất thường như
tiền bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước, bán cổ phần thuộc sở hữu Nhà nước, thu viện trợ, vay nợ,...
Căn cứ vào tính chất cân đối của Ngân sách Nhà nước a. Thu trong cân đối:
Là các khoản thu được xác định và thực hiện trong mối quan hệ cân đối với chi
Ngân sách Nhà nước. Thuộc khoản thu này bao gồm các khoản thu thường xuyên và thu không thường xuyên.
b. Thu ngoài cân đối (còn gọi là thu bù đắp thiếu hụt NSNN):
Khi lập dự toán NSNN, nếu số thu NSNN không đủ đáp ứng nhu cầu chi NSNN
trong một năm nào đó thì Nhà nước phải huy động thêm các nguồn khác mà chủ yếu là đi vay.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu Ngân sách nhà nước
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN song nhìn chung, có một số nhân tố cơ bản sau đây:
a. GDP bình quân đầu người
GDP (Gross Domestic Product) là tổng sản phẩm quốc nội là giá trị thị trường của
tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc
gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) .GDP bình quân đầu người là nhân
tố đầu tiên ảnh hưởng đến thu ngân sách của một quốc gia. Dưới đây là một số tác động
của GDP đến thu ngân sách:
Tăng trưởng GDP dẫn đến tăng thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp:
Khi GDP tăng trưởng, doanh nghiệp thường kinh doanh thuận lợi, tạo ra lợi nhuận cao
hơn. Điều này làm tăng số thuế thu nhập doanh nghiệp, một trong những nguồn thu chủ
yếu của ngân sách nhà nước. Ngược lại nếu GDP giảm, các doanh nghiệp gặp khó khăn
trong hoạt động kinh doanh và lợi nhuận giảm sút, dẫn đến việc nộp thuế thu nhập doanh nghiệp ít hơn.
Tác động đến thu từ thuế thu nhập cá nhân: 14
Khi GDP tăng trưởng, nền kinh tế mở rộng, tạo thêm việc làm và cải thiện thu nhập cho
người dân. Thu nhập của người dân tăng kéo theo số thu từ thuế thu nhập cá nhân và các
khoản bảo hiểm xã hội tăng lên. Trong trường hợp GDP giảm, tỷ lệ thất nghiệp có thể
tăng và thu nhập người dân giảm, dẫn đến nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân và bảo
hiểm xã hội bị ảnh hưởng.
Thu từ thuế giá trị gia tăng (VAT) và thuế tiêu thụ đặc biệt:
Tăng trưởng GDP thường đi với tăng tiêu dùng trong nền kinh tế, kéo theo thu từ VAT và
thuế tiêu thụ đặc biệt. Khi người dân và doanh nghiệp tiêu dùng nhiều hơn, nhà nước
cũng sẽ thu được nhiều hơn từ các loại thuế gián thu này. Nếu GDP giảm, nhu cầu tiêu
dùng có thể giảm, từ đó làm giảm thu từ các loại thuế tiêu thụ và gián thu.
Thu từ thuế xuất nhập khẩu và các giao dịch thương mại quốc tế:
Tăng trưởng GDP thường phản ánh môi trường kinh doanh và thương mại quốc tế thuận
lợi, khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Điều này
làm tăng nguồn thu từ các khoản thuế xuất nhập khẩu và các loại thuế liên quan đến
thương mại quốc tế. Khi GDP giảm, nhu cầu xuất nhập khẩu cũng suy giảm, dẫn đến
nguồn thu từ các loại thuế này có thể giảm.
Thúc đẩy đầu tư, tăng thu từ các khoản thuế và phí liên quan:
Khi GDP tăng, nền kinh tế phát triển và mở rộng, thu hút đầu tư trong và ngoài nước.
Điều này không chỉ tạo thêm công ăn việc làm mà còn tăng thu từ các khoản thuế và phí
liên quan đến đầu tư, như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế sử dụng đất, phí dịch vụ hành
chính, v.v. Ngược lại, khi GDP giảm, đầu tư có thể suy giảm, ảnh hưởng đến nguồn thu
từ các khoản thuế và phí liên quan.
Tăng khả năng trả nợ công và giảm áp lực vay nợ:
Tăng trưởng GDP giúp nhà nước thu được nhiều nguồn thu hơn, từ đó giảm bớt nhu cầu
vay nợ công. Điều này giúp giảm áp lực trả nợ và chi phí lãi vay, từ đó ngân sách nhà
nước có thể dành cho các khoản chi khác. Nếu GDP suy giảm, NSNN có thể phải gia
tăng vay nợ để bù đắp, tăng gánh nặng nợ công và áp lực trả lãi vay.
Đảm bảo khả năng chi tiêu công và phúc lợi xã hội:
Tăng trưởng GDP tạo nguồn lực để nhà nước tăng chi tiêu công, đầu tư vào các dự án hạ
tầng, y tế, giáo dục và phúc lợi xã hội. Những khoản chi này góp phần phát triển bền
vững và cải thiện chất lượng sống của người dân. Khi GDP giảm, nguồn thu ngân sách 15
hạn chế, nhà nước có thể phải cắt giảm chi tiêu công và các chương trình phúc lợi, ảnh
hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế và đời sống người dân.
b. Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế
Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế có ảnh hưởng đáng kể đến thu NSNN
qua nhiều kênh khác nhau. Khi tỷ suất lợi nhuận bình quân tăng hoặc giảm, nó có thể tác
động đến động lực đầu tư, hoạt động kinh tế và cuối cùng là nguồn thu thuế. Dưới đây là
cách tỷ suất lợi nhuận bình quân ảnh hưởng đến thu NSNN:
Tác động đến thu thuế doanh nghiệp:
Tỷ suất lợi nhuận bình quân tăng thường kéo theo các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả
hơn và đạt được mức lợi nhuận cao hơn. Điều này sẽ dẫn đến sự gia tăng thuế thu nhập
doanh nghiệp – một trong những nguồn thu quan trọng của NSNN. Ngược lại, khi tỷ suất
lợi nhuận bình quân giảm, doanh nghiệp có thể sẽ đạt lợi nhuận thấp hơn, từ đó số thuế
thu nhập doanh nghiệp nộp vào NSNN cũng giảm.
Tác động đến động lực đầu tư và mở rộng sản xuất:
Tỷ suất lợi nhuận bình quân cao khuyến khích doanh nghiệp mở rộng đầu tư, từ đó tạo ra
nhiều việc làm và tăng sản xuất. Sự gia tăng này có thể giúp tăng thu từ thuế giá trị gia
tăng (VAT) và thuế thu nhập cá nhân từ người lao động. Khi tỷ suất lợi nhuận bình quân
giảm, doanh nghiệp có thể giảm hoặc ngừng đầu tư, thậm chí cắt giảm lao động, dẫn đến
giảm nguồn thu từ thuế VAT, thuế thu nhập cá nhân và có thể cả thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tác động đến tiêu dùng và thuế tiêu thụ:
Tỷ suất lợi nhuận cao có thể tăng cường niềm tin của doanh nghiệp và người tiêu dùng,
khuyến khích chi tiêu và tiêu dùng trong nền kinh tế. Điều này làm tăng nguồn thu từ các
loại thuế tiêu thụ như VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt. Khi tỷ suất lợi nhuận thấp, người tiêu
dùng có xu hướng thận trọng hơn trong chi tiêu, làm giảm doanh thu từ thuế tiêu thụ.
Tác động đến thị trường lao động và thu thuế thu nhập cá nhân:
Nếu tỷ suất lợi nhuận bình quân cao, doanh nghiệp có xu hướng tuyển dụng thêm lao
động, tăng lương để thu hút nhân tài. Điều này dẫn đến tăng nguồn thu thuế thu nhập cá
nhân, đóng góp vào NSNN. Ngược lại, tỷ suất lợi nhuận thấp khiến doanh nghiệp có thể
cắt giảm nhân sự hoặc giảm tiền lương, dẫn đến giảm thu thuế thu nhập cá nhân.
Tác động đến giá trị tài sản và thuế tài sản: 16
Khi tỷ suất lợi nhuận bình quân tăng, giá trị của các doanh nghiệp trên thị trường chứng
khoán thường tăng, dẫn đến thu nhập từ thuế tài sản, thuế chuyển nhượng chứng khoán
và các loại thuế liên quan khác tăng lên. Nếu tỷ suất lợi nhuận giảm, giá trị tài sản của
các doanh nghiệp và thị trường chứng khoán có thể giảm, dẫn đến thu NSNN từ các loại thuế này cũng giảm.
Tác động đến xuất khẩu và thuế xuất nhập khẩu:
Tỷ suất lợi nhuận bình quân cao có thể thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước tăng cường
sản xuất để xuất khẩu, giúp tăng nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu và đóng góp vào thặng
dư thương mại. Khi tỷ suất lợi nhuận bình quân giảm, động lực xuất khẩu suy giảm, làm
giảm thuế xuất khẩu và ảnh hưởng đến thu Ngân sách.
c. Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên
Đối với các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào phong phú thì việc khai
thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu to lớn cho NSNN. Kinh nghiệm của
các nước cho thấy, nếu tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20% tổng
kim ngạch xuất khẩu thì tỷ suất thu Ngân sách sẽ cao và có khả năng tăng nhanh. Với
cùng một điều kiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và
khoáng sản lớn thì tỷ lệ động viên vào NSNN cũng lớn hơn. Ở các nước trong khối
OPEC, tỷ trọng này khá cao nên tỷ lệ động viên vào NSNN cũng khá lớn. Chẳng hạn, tỷ
suất thuế của Venezuela là 20%, Liberia là 22,6%, Tunisia là 29,8%. Ở Việt Nam, tỷ
trọng kim ngạch xuất khẩu dầu mỏ không cao như nhiều nước, song tỷ lệ động viên vào
NSNN cũng đạt trên 20% và góp phần đáng kể vào việc tăng tỷ lệ động viên vào NSNN.
Dưới đây là một số cách mà việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên tác động
đến nguồn thu Ngân sách:
Tăng nguồn thu từ thuế tài nguyên:
Khai thác tài nguyên thiên nhiên trực tiếp mang lại nguồn thu từ thuế tài nguyên, là loại
thuế đánh vào khối lượng, giá trị của tài nguyên khai thác. Khi khả năng khai thác tài
nguyên cao và nhu cầu thị trường lớn, thuế tài nguyên sẽ là nguồn thu lớn cho NSNN.
Nếu nguồn tài nguyên khai thác bị cạn dần hoặc giá trị thị trường của tài nguyên giảm,
thu từ thuế tài nguyên sẽ giảm, ảnh hưởng trực tiếp đến Ngân sách.
Tăng thu từ thuế xuất khẩu và phí cấp phép: 17
Xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ, than đá, khoáng sản thường đi kèm với
các khoản thuế xuất khẩu. Khi nhu cầu quốc tế đối với tài nguyên này cao, nhà nước có
thể thu được nguồn thu lớn từ thuế xuất khẩu và các khoản phí liên quan. Phí cấp phép
khai thác cũng là nguồn thu quan trọng. Nhà nước có thể thu phí từ công ty khai thác tài
nguyên, đặc biệt khi tài nguyên này có giá trị cao trên thị trường quốc tế. Nếu thị trường
tài nguyên biến động, thu từ các khoản phí này cũng có thể dao động.
Đóng góp lớn vào GDP và tạo nguồn thu từ các hoạt động kinh tế liên quan:
Khai thác tài nguyên thường thúc đẩy phát triển của nhiều ngành công nghiệp liên quan,
như chế biến, vận tải và dịch vụ hỗ trợ khai thác. Điều này gián tiếp làm tăng thu từ các
loại thuế như thuế giá trị gia tăng (VAT), thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá
nhân. Khi ngành khai thác và xuất khẩu tài nguyên phát triển, GDP của quốc gia cũng
tăng, kéo theo nguồn thu từ các hoạt động kinh tế khác.
d. Mức độ trang trải các khoản chi phí
Mức độ trang trải các khoản chi phí có ảnh hưởng đáng kể đến thu NSNN vì chi phí
quá cao có thể làm giảm khả năng tích lũy ngân sách và gây áp lực tăng thu. Khi ngân
sách phải chi trả nhiều cho các khoản như lương, phúc lợi, đầu tư công, và bảo trì cơ sở
hạ tầng, khoản thu còn lại cho các mục tiêu phát triển khác sẽ bị giới hạn. Nếu chi phí
không được kiểm soát tốt, ngân sách sẽ phải tăng thu từ thuế và các nguồn khác để cân
bằng, gây thêm gánh nặng cho người dân và doanh nghiệp, từ đó có thể làm giảm sức
cạnh tranh của nền kinh tế. Ngoài ra, nếu NSNN không đáp ứng được các khoản chi cần
thiết cho dịch vụ công và đầu tư hạ tầng có thể kìm hãm sự phát triển kinh tế dẫn đến suy
giảm nguồn thu dài hạn. Ngược lại, khi chi phí được tối ưu hóa, ngân sách có thể tập
trung đầu tư vào các lĩnh vực mang lại tăng trưởng bền vững, tạo ra nguồn thu ổn định
cho nhà nước trong dài hạn.
e. Tổ chức bộ máy thu nộp
Tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả hoạt động của bộ
máy. Nếu tổ chức hệ thống cơ quan thuế, hải quan, kho bạc Nhà nước gọn nhẹ, đạt hiệu
quả cao, chống được thất thu do trốn và lậu thuế thì đây sẽ là yếu tố tích cực làm giảm tỷ
suất thu NSNN mà vẫn thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của NSNN.
1.3. Các nguyên tắc thiết lập hệ thống thu ngân sách nhà nước 18
Trong lịch sử, việc thiết lập hệ thống thu NSNN thường tuân thủ hai nguyên tắc chỉ
đạo đó là nguyên tắc thu theo lợi ích và nguyên tắc thu theo khả năng. Tuy nhiên ở Việt
Nam, trong quá trình cải cách và hoàn thiện hệ thống thu NSNN, đặc biệt là đối với hệ
thống thuế, cần tôn trọng và chấp hành các nguyên tắc căn bản như sau:
a, Nguyên tắc ổn định và lâu dài:
Đảm bảo nguồn thu ổn định, bền vững để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu công trong dài
hạn. Nguyên tắc này yêu cầu hệ thống thu Ngân sách không phụ thuộc quá mức vào các
nguồn thu dễ biến động như tài nguyên thiên nhiên hoặc thu nhập từ thuế xuất nhập khẩu.
Thay vào đó, nên dựa vào các nguồn thu ổn định như thuế nội địa từ doanh nghiệp và cá
nhân. Điều này giúp duy trì nguồn thu ổn định bất chấp biến động kinh tế, đảm bảo nền
tài chính quốc gia lành mạnh và hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững.
b, Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng:
Nguyên tắc này đòi hỏi việc thiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm công bằng đối với
mọi người chịu thuế, không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế. Việc thiết kế hệ
thống thuế chủ yếu dựa trên khả năng thu nhập của người chịu thuế. Để đảm bảo được
nguyên tắc công bằng trong xây dựng hệ thống thuế thì cần phải kết hợp giữa các sắc
thuế trực thu với các sắc thuế gián thu.
c, Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong thiết lập hệ thống thuế, các điều khoản quy định của các sắc
thuế phải rõ ràng, cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế,... để tránh tình trạng lách luật,
trốn thuế. Hơn nữa, việc sửa đổi bổ sung các điều khoản trong các sắc thuế không phải
lúc nào cũng thực hiện được, cho nên các điều khoản trong luật phải bao quát và phù hợp
với hoạt động của nền kinh tế - xã hội.
d, Nguyên tắc đơn giản:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong mỗi sắc thuế cần hạn chế số lượng thuế suất, xác định rõ
mục tiêu chính, không đề ra quá nhiều mục tiêu trong một sắc thuế. Có như vậy mới tạo
điều kiện thuận lợi cho việc triển khai luật thuế vào thực tiễn, tạo thuận lợi cho cả người
nộp thuế và cơ quan thu thuế, tránh được những hiện tượng tiêu cực như trốn, lậu thuế, hối lộ,... 19
PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG THU NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1. Thực trạng thu Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2020-2024
a, Giai đoạn từ 2020-2022
Bảng tình hình thu NSNN tại Việt Nam giai đoạn 2020-2022 Đơn vị: Tỷ đồng Nội dung 2020 2021 2022 Tổng thu NSNN 1.510.579 1.591.411 1.815.470 %GDP 24 18,74 19,08 Thu nội địa 1.293.728 1.313.281 1.443.937 % Tổng thu 85,64 82,52 79,54
Thu cân đối xuất nhập khẩu 177.444 216.307 285.367 % Tổng thu 11,75 13,59 15,72 Thu từ dầu thô 34.598 44.638 78.030 % Tổng thu 2,29 2,80 4,30 Thu viện trợ 4.808 17.185 8.136 % Tổng thu 0,32 1,08 0,45
Nguồn: Bộ Tài chính và tính toán của nhóm tác giả.
Xét ở góc độ quy mô, thu NSNN theo dự toán có xu hướng tăng giai đoạn 2020- 2022 Năm 2020 20
Dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19, nhưng đã có sự tăng trưởng nhẹ trở
lại từ năm 2021, cụ thể: Thu nội địa:
Dự toán thu là 1.290,77 nghìn tỷ đồng, thực hiện đạt 1.290,9 nghìn tỷ đồng, vượt 117 tỷ
đồng so dự toán, tăng 1,3% so thực hiện năm 2019. Do ảnh hưởng quá lớn của đại dịch
Covid-19 đến nền kinh tế, đặc biệt là đối với các lĩnh vực xuất nhập khẩu, vận tải hàng
không, sản xuất ô tô, điện tử, dệt may, da giày, kinh doanh dịch vụ du lịch, ăn uống, lưu
trú,... làm giảm nguồn thu NSNN. Đồng thời, trong năm đã thực hiện nhiều giải pháp
miễn, giảm, giãn thuế và các khoản thu NSNN nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh
nghiệp, người dân chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Vì vậy, không kể số thu tiền sử
dụng đất, thu hồi vốn NSNN đầu tư tại các tổ chức kinh tế, các khoản thu nội địa còn lại
chỉ có 40% đạt và vượt dự toán, 60% còn lại không đạt dự toán. Thu từ dầu thô:
Dự toán thu là 35,2 nghìn tỷ đồng, thực hiện đạt 34,6 nghìn tỷ đồng, giảm 602 tỷ đồng (- 1,7%) so dự toán
Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu:
Dự toán thu là 208 nghìn tỷ đồng, thực hiện đạt 177,5 nghìn tỷ đồng, giảm 30,5 nghìn tỷ
đồng (-14,6%) so dự toán, trên cơ sở: tổng số thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 314,57
nghìn tỷ đồng, hoàn thuế giá trị gia tăng theo thực tế là 137 nghìn tỷ đồng. Thu viện trợ:
Dự toán thu là 5 nghìn tỷ đồng, thực hiện đạt 4,8 nghìn tỷ đồng, giảm 251 tỷ đồng (-5%) so dự toán. Năm 2021
Từ cuối quý III năm 2021, nhờ đẩy mạnh thực hiện chiến dịch tiêm chủng vắc-xin với
quy mô và tốc độ bao phủ nhanh trên phạm vi toàn quốc, đã góp phần kiểm soát dịch
bệnh, tạo điều kiện để nền kinh tế chuyển sang giai đoạn thích ứng an toàn, hiệu quả với
dịch. Kết quả thực hiện thu NSNN năm 2021 đạt 1.568,4 nghìn tỷ đồng, tăng 225,1 nghìn
tỷ đồng (+16,8%) so dự toán, tăng 202,9 nghìn tỷ đồng so với báo cáo Quốc hội nhờ số
thu NSNN đạt khá trong quý I và quý IV. Tỷ lệ động viên thu NSNN năm 2021 đạt
18,7% GDP, riêng thu thuế và phí đạt 15,1% GDP, trong đó: Thu nội địa: 21