ĐẠI HỌC VĂN LANG
----- -----
BÀI TIỂU LUẬN
GV: Lê Lương Hiếu
Đề tài: BÁN HÀNG RONG TRÊN ĐƯỜNG PHỐ HIỆN NAY
Nhóm: 7
1. Lê Thị Tuyết Nhi: 2273401200181
2. Vũ Ngọc Khánh Linh: 2273401200126
3. Nguyễn Trần Gia Linh: 2273201080785
TP. Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 7 năm 2023
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài.................................................................................................1
2. Đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu.....................................................2
3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................2
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài.....................................................................................2
5. Ý nghĩa, ứng dụng và hướng phát triển của đề tài.................................................2
7. Kết cấu của đề tài..................................................................................................3
NỘI DUNG...............................................................................................................4
Chương I. Cơ sở lý luận của hoạt động bán hàng rong tại Việt Nam.......................4
1.Các khái niệm.........................................................................................................4
2. Địa điểm hoạt động bán hàng rong........................................................................5
3. Đặc điểm của bán hàng rong.................................................................................6
Chương II. Thực trạng hoạt động bán hàng rong trên đường phố.............................8
1. Mặt tích cực mà bán hàng rong đem lại.............................................................8
1.1 Bán hàng rong là một vẻ đẹp độc đáo khi nhắc đến Việt Nam........................8
1.2 Bán hàng rong giúp những người dân mưu sinh:...........................................10
1.3 Mặt hàng rất đa dạng chúng ta có thể mua mà không cần phải vào các cửa
hàng.........................................................................................................................12
2. Mặt hạn chế từ việc bán hàng rong.....................................................................13
2.1 Bán hàng rong không đảm bảo về chất lượng an toàn thực phẩm....................13
2.2 Bán hàng rong bán giá cao chặt chém khách du lịch.....................................15
2.3 Việc buôn bán hàng rong đang ngày càng làm mất mỹ quan, ảnh hưởng tới sự
phát triển của xã hội................................................................................................15
Chương III. Giải pháp cho hoạt động bán hàng rong trên đường phố....................17
1. Tạo ra những khu phố, cung đường bán hàng rong tập trung..........................17
2. Thu thuế, phí của những người bán hàng rong.................................................18
3. Xây dựng thêm cơ chế xử phạt rõ ràng............................................................19
KẾT LUẬN.............................................................................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................22
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Hẳn ai trong chúng ta đều đã khá quen thuộc với những tiếng rao trên
những con đường làng hay ngõ nhỏ. dường như ăn sâu vào trong tâm trí
của mỗi người và những tiếng rao đó, những món quà quê đó càng hiện lên thật
rõ nét mỗi khi ta xa quê hương, xa những con đường. Quả thật nó đã trở thành
một nét đẹp không những của các làng quê Việt Nam, còn hiện hữu
ngay trên các thành phố lớn như Nội, nơi nhiều ngõ ngách quanh co.
Chính từ những gánh hàng rong đó mà ta cảm nhận được nét bình dị của người
dân Việt, nét yên bình của làng quê Việt, của luỹ tre, của giếng làng, cảm nhận
được sự mộc mạc, hiền lành của những người bán hàng rong, nhưng lạinét
ung dung, tự tại, không vội vàng hay đua tranh với cuộc sống. Bên cạnh đó,
bán hàng rong cũng một nghề của một lực lượng khá đông những người dân
lao động nghèo từ các vùng quê lên thành phố kiếm kế sinh nhai. mang lại
thu nhập để nuôi sống chính bản thân họ gia đình. Một mặt giúp tăng
trưởng kinh tế, nuôi sống một bộ phận không nhỏ người dân, đồng thời theo
một khía cạnh nào đó, bán hàng rong cũng được đánh giá một nét văn hóa
đặc trưng. Mặt khác hoạt động bán hàng rong vẫn tồn tại số hạn chế như gây ô
nhiễm môi trường, mất trật tự hội, mất vệ sinh an toàn thực phẩm…. đây
vấn đề mà cả xã hội quan tâm.
Đó do em chọn nghiên cứu đề tài “Bán hàng rong trên đường phố
hiện nay”. Từ đó phân tích về vai trò, tác động, thực trạng bán hàng rong, từ đó
chúng tôi đề xuất các giải pháp khắc phục.
1
2. Đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đè tài là hoạt động bán hàng rong tại các thành
phố lớn. đề tài tập trung vào hai mục tiêu chính: Thứ nhất phân tích, đánh
giá tác động các hoạt động bán hàng rong tới các mặt kinh tế, văn hóa, hội,
thứ hai là tìm ra các giải pháp và hướng đi cho hoạt động bán hàng rong.
3. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm đề tài em sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu
khác nhau, cụ thể: Phương pháp chủ yếu là điều tra, quan sát, phỏng vấn, thống
để thu nhập thông tin liên quan đến hoạt động bán hàng rong. Sau đó áp
dụng phương pháp phân tích, đánh giá nhằm tìm hiểu tác động của hoạt động
bán hàng rong tới kinh tế, xã hội, văn hóa.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài đi vào tìm hiểu về những tác động của gánh bán hàng rong, những
mặt tốt và mặt xấu của gánh hàng rong đối với đời sống văn hóa xã hội, qua đó
thấy được thực trạng đề xuất một số giải pháp giải quyết những tác hại
gánh bán hàng rong đem lại trên các con hẻm, đường phố.
5. Ý nghĩa, ứng dụng và hướng phát triển của đề tài
Đề tài mang ý nghĩa cao về mặt thực tiễn. kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp
cái nhìn tổng quan về hoạt động bán hàng rong trên đường phố hiện nay, đống
thời tổng hợp tác động của hoạt động bán hàng rong tới kinh tế, văn hóa,
hội. Bên cạnh đó, chúng tôi phân tích mặt tích cực hạn chế về vấn đề hàng
2
rong và đưa ra định hướng, giải pháp cho hoạt động buôn bán hàng trên đương
phố.
6. Kết cấu của đề tài
Chương I. Cơ sở lý luận của hoạt động bán hàng rong tại Việt Nam
Chương II. Thực trạng hoạt động bán hàng rong trên đường phố
Chương III. Giải pháp cho hoạt động bán hàng rong trên đường phố
3
NỘI DUNG
Chương I. Cơ sở lý luận của hoạt động bán hàng rong tại Việt Nam
1.Các khái niệm
Buôn bán rong được định nghĩa tại Điểm a Khoản 1 Điều 3 Nghị định
39/2007/NĐ-CP về việc nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường
xuyên không phải đăng kinh doanh do Thủ tướng Chính phủ ban hành với nội
dung như sau:
Buôn bán rong (buôn bán dạo là các hoạt động mua, bán không địa điểm cố)
định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận
sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các
sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong: Buôn bán vặt là hoạt động
mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định; Bán quà vặt là
hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm
cố định; Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến
để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ; Thực hiện các dịch vụ: đánh giày,
bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh
và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định; Các hoạt động thương mại
một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác.
- Hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh theo
quy định của pháp luật.
- Hàng lậu, hàng giá, hàng không xuất xứ, hàng quá thời hạn sử dụng, hàng
không bảo đảm điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật;
hàng không đảm bảo chất lượng, bảo gồm hàng mất phẩm chất, hàng kém chất
lượng, hàng nhiễm độc và thực vật bị dịch bệnh.
4
- Hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh
theo quy định của pháp luật
Theo đó, nhân hoạt động thương mại nhân tự mình hằng ngày thực hiện
một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không
thuộc đối tượng phải đăng kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng
kinh doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của luật thương mại.
2. Địa điểm hoạt động bán hàng rong
Điều 6 Nghị định 39/2007/NĐ-CP cũng quy định về phạm vi địa điểm kinh
doanh của cá nhân hoạt động thương mại. Theo đó, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác, nghiêm cấm nhân thực hiện các hoạt động thương mại tại các khu
vực, tuyến đường, địa điểm sau:
+ Khu vực thuộc các di tích lịch sử, văn hóa đã được xếp hạng, các danh lam
thắng cảnh khác.
+ Khu vực các cơ quan nhà nước, cơ quan ngoại giao, các tổ chức quốc tế.
+ Khu vực thuộc vành đai an toàn kho đạn dược, vật liệu nổ, nhà máy sản xuất
đạn dược, vật liệu nổ, doanh trại Quân đội nhân dân Việt Nam.
+ Khu vực thuộc cảng hàng không, cảng biển, cửa khẩu quốc tế, sân ga, bến tầu,
bến xe, bến phà, bến đò và trên các phương tiện vận chuyển.
+ Khu vực các trường học, bệnh viện, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng.
+ Nơi tạm dừng, đỗ của phương tiện giao thông đang tham gia lưu thông, bao
gồm cả đường bộ và đường thủy.
5
+ Các tuyến đường, khu vực (kể cả khu du lịch) do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) hoặc quan được
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền quy định biển cấm nhân thực hiện các
hoạt động thương mại.
+ Khu vực thuộc quyền sử dụng của tổ chức, cá nhân tuy không phải là khu vực,
tuyến đường, địa điểm cấm sử dụng làm địa điểm kinh doanh theo quy định từ điểm a
đến điểm h khoản 1 Điều này nhưng không được sự đồng ý của tổ chức, nhân đó
hoặc khu vực đó có biển cấm cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại.
3. Đặc điểm của bán hàng rong
Các dạng hoạt động buôn bán hàng rong được phân thành hai nhóm chính
và dạng kinh doanh cố định kinh doanh lưu động.
vậy giữa hai đối tượng buôn bán này sự khác nhau đại đa số những
người đều có nguồn gốc tại các tỉnh khác đến, chủ yếu là các tỉnhbuôn bán lưu động
Đồng bằng sông Hồng các tỉnh Duyên Hải miền Trung. Trong khi đó, số
người hầu hết đều nguồn gốc tại các tỉnh thành sở tại. Như vậybuôn bán cố định
số lao động thu hút vào khu vực hoạt động buôn bán hàng rong, nhất là buôn bán lưu
động có liên quan với số người nhập cư từ các tỉnh khác đến.
Thời gian sinh sống tại các tỉnh thành sở tạiđã có sự khác biệt giữa 2 đối tượng
kinh doanh cố định kinh doanh lưu động. Một điểm cần lưu ý số người buôn
bán cố định thường thời gian sinh sống tại các tỉnh thành sở tạikhá lâu, trong khi
số buôn bán lưu động lại thời gian sinh sống tại các tỉnh thành sở tạimới chỉ vài
năm gần đây thôi.
Thời gian sinh sống liên quan đến việc khai báo về tình trạng hộ khẩu. Nếu
như những người kinh doanh cố định thời gian sinh sống tại các tỉnh thành sở
tạilâu hơn những người buôn bán lưu động thì việc khai báo thường trú của những
6
người buôn bán cố định sẽ chiếm tỉ lệ cao hơn những người kinh doanh lưu động.
Như vậy, mối tương quan giữa thời gian sinh sống, nơi sinh và tình trạng hộ khẩu
mối quan hệ khá rõ nét. Trong mối quan hệ này, những người buôn bán lưu động bao
giờ cũng thường rơi vào trường hợp khai báo chưa có hộ khẩu thường trú.
Mặt hàng kinh doanh của đối tượng buôn n hàng rong khá đa dạng, từ n
phòng phẩm sách báo cho đến thực phẩm thuốc lá và dịch vụ ăn uống. Ngoài ra còn
một vài thứ khác như bách hóa tạp phẩm, quần áo vải nón kính v.v… cũng khá
phổ biến chiếm một tỷ trọng nhất định trong tổng số. Tuy nhiên, khác với đối
tượng kinh doanh cố định, đối tượng buôn bán lưu động chủ yếu tập trung nhiều nhất
vào 2 loại hàng hóa thực phẩm thuốc lá. Đây loại hàng hóa nhu cầu phục
vụ tận nơi nhất trong các ngõ hẻm cách đường khá xa, hoặc tại các nơi sinh hoạt
đông đúc nhưng khả năng cung ứng còn hạn chế.
Buôn bán hàng rong đặc điểm thể phục vụ trên diện rộng nhưng cũng
chính vì thế mà rất khó khăn trong việc tập hợp họ. Nhưng để quản lý tốt khu vực
kinh doanh này đi vào hoạt động sao cho bảo đảm mỹ quan trật tự đô thị, trong
bước đầu hướng đến giải pháp hiện đại thay đổi hoàn toàn với các sinh hoạt còn
mang dáng dấp truyền thống hiện nay; vẫn là bài toán đặt ra nan giải.
7
Chương II. Thực trạng hoạt động bán hàng rong trên đường phố
1. Mặt tích cực mà bán hàng rong đem lại
1.1 Bán hàng rong là một vẻ đẹp độc đáo khi nhắc đến Việt Nam.
Gánh hàng rong từ lâu đã trở thành nét văn hóa, ức không thể quên của con
người Việt Nam. Nói đến hàng rong nói đến những người đi bán dạo tảo tần, cam
phận. Họ không ngồi một chỗ cố định mà rong ruổi đi khắp hang cùng ngõ hẻm. Đặc
trưng của gánh hàng rong những người lao động nghèo với chiếc đòn gánh cong
cong, bất kể ngày nắng hay mưa, họ gánh trên vai rất nhiều thứ thiết yếu phục vụ nhu
cầu sinh hoạt thường ngày. Các gánh hàng rong rong ruổi trong các con phố nhỏ, ngõ
nhỏ, mưu sinh trên lề đường, trong những khu chợ dân sinh đủ các tầng lớp. Từ tờ
mờ sáng, những người bán hàng rong lại tất bật chất hàng, đạp xe xuôi ngược từ mọi
ngả đường vào trung tâm thành phố. Trên những chiếc gánh trên lưng hay những
chiếc xe đạp đơn man hàng hóa: hoa tươi, quả ngọt, đồ dùng gia đình; mùa
nào thức đấy cũng cả. Cùng với những âm thanh nhộn nhịp, tấp nập của phố
phường, người ta vẫn nghe thấy cả những tiếng rao rất quen thuộc, từ tiếng rao tào
phớ, đến bánh mỳ, bánh đa kê, chè cốm, tóc rối đổi kẹo…Họ thể bày bán nhiều
mặt hàng, từ củ hành, mớ rau thơm làng Láng, hoa cúc, hoa hồng, bông thược
dược làng Ngọc cho đến gói xôi Phú Thượng, bánh cuốn Thanh Trì, bìa đậu
Hoàng Mai, mẹt cốm làng Vòng… Giữa cuộc sống hiện đại nhộn nhịp nơi phố thị,
vẫn còn tồn tại nét đẹp văn hóa đặc trưng của người Hà Nội biết bao thế hệ. Giữa trưa
hè oi bức, được ăn bát tào phớ màu trắng ngà, mát lạnh, sóng sánh nước đường cùng
bông hoa nhài nhỏ xinh mà người bán khéo lép múc trong chiếc thùng gỗ nhỏ. Những
món ăn bình dị nhưng thân thương, chan chứa nhiều tâm huyết ở khắp mọi miền Tổ
quốc đong đầy, gói gọn trong một gánh hàng được các các chị mang chở đi khắp
phố phường. trải qua bao thăng trầm của lịch sử, bao bụi mờ cùa thời gian, hình
ảnh những gánh hàng rong sẽ luôn khắc tạc trong tâm trí, cảm xúc và hồn quê bình dị
của dân tộc. Với tốc độ đô thị hóa cao độ, thay thế vẻ xưa những con phố tấp
8
nập, bận rộn với những tòa nhà cao tầng mọc lên san sát, quán xá lung linh, hiện đại.
Đi cùng với quá trình đô thị hóa, những gánh hàng rong cũng nhiều thay đổi.
Những tiếng rao bán ngày càng thưa vắng, xe đạp dần thay thế phương thức đi bộ bán
hàng và đòn gánh. Kỹ thuật rao cũng đã được hiện đại hóa thích ứng bằng những
chiếc loa điện được ghi âm sẵn. Sự phát triển của công nghệ, cùng với những ứng
dụng rao hàng thời 4.0 phần nào cũng khiến cho những gánh hàng rong không còn
được phổ biến ưa chuộng như trước. Thế nhưng, trên tất cả, văn hóa bán ng
rong vẫn rất khó loại bỏ thay thế bởi đã đi sâu vào tiềm thức của nhiều người
Việt bao thế hệ từ xưa đến nay. cuộc sống đã hiện đại lên rất nhiều phát triển
hơn trước nhưng trong các đô thị lớn Việt Nam, đặc biệt Nội Thành phố
Hồ Chí Minh thì vẫn không thể thiếu được những gánh hàng rong... hình ảnh ấy
quá đỗi mộc mạc, chân thực mang đầy những nét hoài niệm về một vùng trời
ức, vậy nên không ít những tác phẩm nghệ thuật được sáng tác truyền cảm
hứng từ những gành hàng rong ấy. Hình ảnh gánh hàng rong một trong những vẻ
đẹp độc đáo những hình ảnh ấy lại xuất hiện trở thành nguồn cảm hứng cho rất
nhiều nhà văn, nhà thơ, họa sỹ sáng tác. Nhà văn Thạch Lam trong “Hà Nội băm sáu
phố phường” đã miêu tả rất kỹ hình ảnh những gánh hàng rong trên đường phố
Nội, hay trong “Thương nhớ mười hai”, Vũ Bằng cũng dành những trang viết tinh tế
về nét đẹp văn hóa Hà thành trong đó khẳng định giá trị của hàng rong, không ít triển
lãm nghệ thuật, trưng bày cũng lấy hình ảnh gánh hàng rong để giới thiệu với công
chúng như một nét đặc trưng của Việt Nam. Đối với những nhà văn thế hệ sau này,
gánh hàng rong trở thành một đối tượng văn học cụ thể trong nhiều tác phẩm. Không
chỉ những nhà văn viết chuyên biệt về Nội mới viết về hình ảnh những gánh
hàng rong, mà đâu đó vẫn luôn thấp thoáng trong các tác phẩm của các nhà văn hiện
đại. Đối với nhiều vị khách du lịch, văn hóa hàng rong cũng đã trở thành nét rất riêng
độc đáo nơi phố thị Thật không khó để bắt gặp những hình ảnh du khách nước
ngoài thích thú trong việc thưởng thức ẩm thực trên phố. Mỗi lần nhắc đến văn hóa
hàng rong, người ta đều mặc nhiên xem nó như một điều thân thuộc, một kí ức trong
mỗi người con nơi đây vàmột nét đẹp văn hóa đặc sắc của với đất nước hình chữ
9
S. Ngày 16/12/2020, UNESCO công bố quyết định công nhận Văn hóa bán hàng
rong ở các nước Đông Nam Á là Di sản Văn hóa Phi vật thể của nhân loại.
1.2 Bán hàng rong giúp những người dân mưu sinh:
Bán hàng rong là 1 ngành nghề mang đến nguồn thu nhập tốt cho nhiều hộ
mái ấm gia đình. Nguồn vốn ít cộng thêm không mất thêm những khoản phí
thuê mặt bằng, thuê nhân viên, mua sắm trang thiết bị… Đây cũng chính
do vì sao nhiều khách hàng lựa chọn mua sản phẩm của bạn. Bán hàng rong
một giải pháp mưu sinh, dù thu nhập mà nghề này mang lại cũng không nhiều.
Phần lớn họ phải sống xa người thân, thuê trọ trong những ngôi nhà rẻ tiền,
thiếu thốn điều kiện sinh hoạt. Không chỉ nghề bán hàng rong là một giải pháp
kinh tế đối với số không nhỏ cư dân nghèo, mà cũng là một nguồn lực cung cấp
hàng hóa, dịch vụ tới người dân. Người bán hàng rong đa phần là dân tứ xứ, do
không có trình độ chuyên môn, tay nghề nên họ chọn lề đường, hè phố làm nơi
kiếm kế sinh nhai. Mặt hàng vô cùng phong phú, đa dạng, đónhững món ăn
dân dã, mùa nào thức ăn đó, tạo cảm giác ngon miệng cho thực khách và giá cả
rất phải chăng. miếng cơm manh áo cả tương lai của các con, nhiều phụ
nữ phải gồng mình với đôi quang gánh rong ruổi khắp các nẻo đường. Đồ nghề
của họ cũng đơn giản, hàng hóa chất lên đôi quang gánh, xe đẩy khi rau củ,
bánh trái, khi quả mít, đu đủ chín của nhà... cùng chiếc cân những chiếc
túi nilong đựng hàng cho khách. Cả người trùm kín mít, lưng áo ướt đẫm mồ
hôi đẩy gánh hàng, xe kéo đi trên đường, thỉnh thoảng dừng lại chỗ bóng râm
phe phẩy chiếc nón làm quạt. Đằng sau đôi quanh gánh những tất tả mưu
sinh bao nỗi lo toan nhọc nhằn thường nhật. Họ thể những người phụ
nữ tần tảo hoặc là người cha trụ cột trong gia đình. Đằng sau những đôi quang
gánh là những thân phận, phận đời, cuộc sống mưu sinh, công việc lương
thiện, gửi gắm chất chứa cả ước của biết bao gia đình. nghèo, nên họ
10
chọn cái nghề không cần nhiều vốn chỉ cần sự tảo tần, chịu thương chịu
khó. Hàng ngày bên gánh hàng nhọc nhằn, mỗi bước chân của họ chứa đựng cả
tình yêu thương dành cho chồng, cho con.bao nhiêu gánh hàng rong là bấy
nhiêu ước hay đơn giản họ chỉ mong chút tiền lãi sống tiếp cho ngày
mai. Để duy trì được kế sinh nhai, hằng ngày, những gánh hàng rong ấy vẫn cứ
rong ruổi khắp các “hang cùng ngõ hẻm”. đằng sau những gánh hàng nặng
trĩu là nỗi lo toan niềm tin về một ngày mai tươi sáng. Mỗi gánh hàng rong
lại mang một nét đặc trưng khác nhau chẳng một ai giống nhau. Thế
nhưng, giữa họ lại một điểm sợi dây hình trung giống nhau, đó chính
số phận, mảnh đời nghèo khổ, những số phận ấy đang từng ngày rong ruổi
trên từng con phố để kiếm sống mưu sinh. Với đôi quang gánh nặng trĩu trên
vai, những người bán hàng rong bán đủ các mặt hàng từ trái cây, đồ ăn vặt, đến
thực phẩm tươi sống, hay vật dụng cần thiết trong sinh hoạt gia đình… Họ
không quản ngại thời tiết, hay quãng đường xa, vẫn miệt mài trong cuộc mưu
sinh để nuôi sống bản thân và gia đình. Điều đáng quý ở họđồng tiền lương
thiện được đánh đổi bằng chính công sức, giọt mồ hôi của mình Mỗi người.
một câu chuyện, nhưng họ chung một hoàn cảnh nghèo khó, không nghề
nghiệp, không đất đai sản xuất nên chọn nghề mua gánh bán bưng làm kế sinh
nhai. Đối với những người phụ nữ bán hàng rong, ước muốn của họ chỉ đơn
giản bán hết được gánh hàng, hay ước muốn nhỏ nhoi được quây quần bên
mâm cơm gia đình không phải lo nghĩ về cơm - áo - gạo - tiền nữa. Quanh
năm, suốt tháng với công việc lặng lẽ ấy, làm sao có tiền nuôi gia đình là mong
ước lớn nhất của rất nhiều người.
11
1.3 Mặt hàng rất đa dạng chúng ta có thể mua mà không cần phải vào các
cửa hàng.
Đầu tiên có thể kể về hàng gánh. Với gánh hàng kĩu kịt trên vai, người bán vừa
đi vừa rao dọc các con phố, luồn lách vào tận hẻm sâu. Hàng đem bán đôi khi chỉ
dăm củ khoai mì, vài quả cóc, bịch chuối khô hay vài ốp bánh tráng muối tôm, một
nồi tào phớ, một xoong cháo sườn hoặc vài niêu cơm rượu… nhưng đó là những món
ăn đặc trưng của từng vùng miền, chúng ta ăn ngon không cần phải vào các nhà
hàng. Người thường ăn quà vặt chỉ nhìn vào đôi quang gánh đầy ắp số hàng hóa kia
là có thể nói lên được quê người bán ở đâu, người bán hàng ở khu phố nào, miền nào.
Miền nào thức nấy, đó chính sự hấp dẫn của các món ăn đường phố. Thức ăn vỉa
đã xuất hiện rất lâu tại Việt Nam, đây một nhu cầu của những người sống nơi
thành phố, nơi tập trung đông nguồn lao động. Nhìn chung, thức ăn vỉa khá đa
dạng, bắt mắt với đủ loại, mang lại nhiều hương vị khác nhau. Không chỉ vậy, giá
thành của những món đây cũng tầm trung, phù hợp với túi tiền của một bộ phận
lớn người dân, chính học sinh, sinh viên những công nhân, nông dân, người
mức sống thấp hoặc trung bình, …Nếu bạn người khá thoải mái trong vấn đề ăn
uống, bạn sẽ dễ dàng bị thu hút bởi những hàng quán ven đường với đủ các loại thực
phẩm bắt mắt. Đa phần nhiều người đều suy nghĩ những món ngon luôn đi kèm
với việc ăn vỉa hè. Ăn vỉa hè cùng bạn bè, cùng người thân hoặc đồng nghiệp, vừa ăn
vừa kể chuyện, nói cười, từ rất lâu đã trở thành một nét văn hóa không thể thiếu của
một vài bộ phận. Một điều nào đó họ cảm nhận được chính sự bình dị và mộc
mạc của cuộc sống. Chỉ cần vài ba chiếc ghế nhựa, 1 vài chiếc bàn, cùng với những
món ăn quen thuộc, bạn đã đủ cho một cuộc nói chuyện dài với bạn bè, người yêu…
mà không phải chịu sự gia hạn thời gian hoặc bất kì một yếu tố nào khác. Không chỉ
vậy, ẩm thực vỉa hè ngày càng trở nên phong phú hơn, thu hút được nhiều đối tượng
hơn, các quán vỉa đem lại cho ta không chỉ một nét ẩm thực, sâu trong đó
còn những lam mưu sinh, những câu chuyện dài của những gia đình nhỏ giữa
nơi thị thành phồn hoa ngày càng phát triển. Mặc cách phục vụ của những hàng
12
quán vỉa hè luôn không có nguyên tắc, nhưng bạn sẽ dễ dàng cảm nhận được sự chân
thật, cởi mở nhiệt tình của những chú chủ hàng. Phải chăng, đó cũng điều
khiến nhiều người thích thú với nét văn hóa này, kiến cho khi thiếu vắng sẽ cảm thấy
nhớ nhiều.
2. Mặt hạn chế từ việc bán hàng rong
2.1 Bán hàng rong không đảm bảo về chất lượng an toàn thực phẩm
Bán hàng rong là những người thường gánh hoặc đẩy những mặt hàng của
mình trên khắp đường phố để bán cho mọi người ảnh hưởng đến vệ sinh
thực phẩm. Vấn đề về vệ sinh thực phẩm vì giá cả cạnh tranh, những gánh hàng
rong thường cung cấp thức ăn với giá rẻ hơn rất nhiều so với những hàng quan
khác. Điều này khiến chúng ta dễ dàng nghĩ đến việc liệu nguồn nguyên liệu
đầu vào có thực sự đảm bảo, thịt có tươi ngon, rau có được rửa sạch hay không,
rồi họ đã nhập nguyên liệu từ nguồn nào? ràng chỉ họ biết không ai
kiểm chứng được độ an toàn của những nguyên liệu này. Những thức ăn của họ
không được bao bọc cẩn thận, mặc sức cho bụi bặm ruồi nhặng bám vào,
thực phẩm của họ không đảm bảo vệ sinh, nên người tiêu dùng sử dụng những
thức ăn ấy dễ bị ngộ độc. Theo quan sát, những bao nguyên liệu của các xe
hàng rong đều đựng trong những túi tự đóng gói, không nguồn gốc xuất xứ
rõ ràng. Khi xem kỹ, những gói bim bim hay bò khô giá rẻ được bày bán ở đây
hầu như đều ghi chữ Trung Quốc, trên bao không ghi bất cứ thành phần
hoặc hạn sử dụng gì. Không chỉ thế, những món ăn này được chế biến, bày bán
ngay bên lề đường, vỉa trong điều kiện khói bụi, nắng nóng nơi công cộng,
dễ nhiễm bẩn, nhiễm khuẩn. Nhiều xe bánviên chiên mà màu dầu mỡ trong
chảo đã đen sì, chảo mỡ cáu bẩn, người bán đồ ăn không đeo bao tay, khẩu
trang khi chế biến, nhưng mỗi giờ tan học vẫn đông nghịt học sinh vây quanh
để mua. Việc sử dụng các loại thực phẩm không an toàn như các món nướng,
rán được chiên đi chiên lại qua dầu mỡ không đảm bảo, hay việc sử dụng thực
13
phẩm không nguồn gốc, xuất xứ trong thời gian dài, tích lũy dần trong
thể sẽ gây nhiều bệnh như tim mạch, béo phì, dạ dày, ngộ độc cấp tính hoặc
mãn tính. Người bán đựng thức ăn trong những chiếc mâm nhôm, thau nhựa, rổ
rá... rồi bày bán tràn lan từ vỉa ra đến lòng lề đường. Bất chấp khói xe, bụi
bặm, ruồi nhặng, mùi hôi thôi bốc lên nồng nặc, nhiều người còn để những
mì, hộp cơm, hộp bún xào làm sẵn ngay cạnh chân mình đứng, bên dưới là nền
đất cáu bẩn đầy rác rưởi. Thậm chí nhiều người ngồi bệt trên miệng hố
ga, đống rác, miệng cống rồi múc đồ ăn, thức uống bán cho khách. Mặt khác,
thể dẫn tới tình trạng mất cân bằng về dinh dưỡng nếu trẻ ăn thường xuyên
các món chiên xào, bỏ nhiều muối, đường, chất béo. Bên cạnh đó những người
bán hàng rong trước cổng trường thường không kiến thức về công tác an
toàn thực phẩm, không nắm bắt được các quy định về nhãn mác thực phẩm,
quy định về điều kiện kinh doanh thực phẩm… Như vậy nguy nhiễm bệnh,
ngộ độc thực phẩm khi ăn uống ở những quán hàng rong là vô cùng lớn, khiến
chúng ta phải cân nhắc. Theo quy định của Bộ Y tế, người kinh doanh thức ăn
phải bảo đảm 10 tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) gồm: đủ
nước sạch, có dụng cụ gắp thức ăn chín, không để lẫn thức ăn chín và sống; nơi
chế biến thực phẩm phải sạch, cách biệt nguồn ô nhiễm như cống rãnh, rác
thải, công trình vệ sinh, nơi bày bán gia súc, gia cầm; người làm dịch vụ chế
biến thức ăn phải được tập huấn kiến thức khám sức khỏe định kỳ, nhân
viên đeo tạp dề, khẩu trang, khi bán hàng; không sử dụng phụ gia màu
thực phẩm; thức ăn phải được bày bán trên giá cao hơn 60cm, phải được bày
bán trong tủ kính và bao gói hợp vệ sinh; có dụng cụ đựng chất thải... Quy định
vậy, nhưng hầu hết các gánh hàng rong, xe đẩy, quán ăn vỉa hiện nay
không đáp ứng các tiêu chuẩn trên. Việc chế biến một món ăncó công phu,
có đảm bảo được nguồn nguyên liệu thì khi bán lòng lề đường, vỉa vẫn bị
ảnh hưởng bởi các tác nhân như ruồi nhặng, khói bụi ô nhiễm... chúng ta
14
khó thể kiểm soát được. chén, đũa muỗng được tráng qua bằng một
nước nhỏ rồi lau khô bằng một giẻ lau cáu bẩn. Vấn đề về an toàn thực phẩm là
vấn đề khó kiểm soát chúng ta cần biện pháp giải quyết từ việc bán
hàng rong.
2.2 Bán hàng rong bán giá cao chặt chém khách du lịch
Lý do thứ hai để cấm việc bán hàng rong đó chính là hiện tượng chèo kéo,
nài nỉ, chặt chém gây phiền toái cho du khách. Những người cùng bán trên
cùng địa bàn xảy ra hiện tượng giành khách với nhau, cho rằng những du
khách không nắm giá cả hét giá trên trời. dụ thực tế những hàng
bán bánh tráng nướng quận 1 khi bán cho người Việt Nam chỉ 10.000 -
15.000 VNĐ mà bán cho những du khách nước ngoài thì lấy 50.000 VNĐ/ cái.
Từng thời điểm, cả khách trong ngoài nước đều “hãi hùng” khi bị các
gánh hàng rong đeo bám, chèo kéo, nâng giá khi mua bán, nói nặng lời khi xem
hàng không mua... tại các di tích lịch sử, văn hóa lớn ở Thủ đô như khu phố cổ,
hồ Hoàn Kiếm, Văn Miếu - Quốc Tử Giám… Hình thức chặt chém này khiến
một số du khách không hài lòng để lại cho họ những trải nghiệm không
tốt.Chính bộ phận những người bán hàng rong hành xử như vậy đã gây ra
những ác cảm đối với những người bạn ngoại quốc đã chọn Việt Nam làm nơi
du lịch, nghỉ dưỡng đồng thởi làm xấu đi bộ mặt của đất nước trước bạn
quốc tế.
2.3 Việc buôn bán hàng rong đang ngày càng làm mất mỹ quan, ảnh
hưởng tới sự phát triển của xã hội
Khi chất lượng cuộc sống ngày càng chú trọng, con người đã dần chú
ý hơn đến việc bảo vệ sức khỏe của bản thân bằng việc ăn sạch, uống sạch, sử
15
dụng thực phẩm healthy. Thì những quán hàng rong lại khó thể đáp ứng
được nhu cầu này, bởi lẽ việc chế biến một món ăn công phu, đảm
bảo được nguồn nguyên liệu thì khi bán lòng lề đường, vỉa vẫn bị ảnh
hưởng bởi các tác nhân như ruồi nhặng, khói bụi ô nhiễm... mà chúng ta khó có
thể kiểm soát được. Bên cạnh đó những bàn ghế, chỗ ngồi tạm bợ, dụng cụ ăn
uống lại không được vệ sinh kỹ càng bởi điều kiện của một gánh hàng rong
không cho phép cũng mang đến cho chúng ta nhiều nguy cơ. Hơn thế nữa,
người bán hàng rong cũng ít khi chu toàn đến việc bố trí sọt rác, thế nên người
ăn uống sau khi ăn xong thường xả rác tại chỗ, người này đi người khác đến,
nhìn tổng thể chúng ta giống như đang ngồi ăn uống trên một bãi rác thải vậy,
cùng mất mỹ quan. Thêm nữa, giá cả cạnh tranh, những gánh hàng rong
thường cung cấp thức ăn với giá rẻ hơn rất nhiều so với những hàng quan khác.
Điều này khiến chúng ta dễ dàng nghĩ đến việc liệu nguồn nguyên liệu đầu vào
thực sự đảm bảo, thịt tươi ngon, rau được rửa sạch hay không, rồi họ
đã nhập nguyên liệu từ nguồn nào? ràng chỉ họ biết không ai kiểm
chứng được độ an toàn của những nguyên liệu này. Như vậy nguy nhiễm
bệnh, ngộ độc thực phẩm khi ăn uống ở những quán hàng rong là cùng lớn,
khiến chúng ta phải cân nhắc. Cùng vấn đề giá cả, việc giá của những quán
hàng rong rẻ hơn đã mang đến sự cạnh tranh thiếu lành mạnh cho những người
cửa hàng chuyên biệt, khi bản thân những món ăn họ làm ra giá đắt hơn
bởi còn phải gánh thêm các chi phí thuê mặt bằng, thuế, tiền giấy tờ thủ
tục hành chính,... Một vấn đề khác cũng đáng quan ngại đến từ việc buôn bán
hàng rong ấy là tình trạng lấn chiếm vỉa hè, lòng lề đường, gây mất mỹ quan đô
thị, ách tắc giao thông, đây không chỉ là hành vi chiếm dụng của công, mà còn
vi phạm luật dân sự, thể bị phạt hành chính. Không những vậy trong khi
nước ta tập trung đẩy mạnh phát triển du lịch những thành phố lớn, thì hình
ảnh người bán hàng rong chặt chém khách, chèo kéo gây phiền nhiễu đã để lại
16
một hình ảnh xấu trong mắt bạn quốc tế, ảnh hưởng lớn đến việc quảng
ngành du lịch Việt Nam.
Chương III. Giải pháp cho hoạt động bán hàng rong trên đường phố
1. Tạo ra những khu phố, cung đường bán hàng rong tập trung
Phần lớn các gánh hàng rong của những người lao động nghèo, hay dân ngoại
tỉnh lên thành phố lập nghiệp nên không có điều kiện để thuê mặt bằng. Giải pháp
ở đây là quy hoạch những tuyến đường được bán hàng rong hay hình thành những
khu phố để họ có nơi ổn định để kinh doanh.
Cụ thể giải pháp:
Xác định vị trí con đường phù hợp: Nghiên cứu về địa bàn điều tra các con
đường hoặc vị trí phù hợp để tạo thành khu vực bán hàng rong tập trung. Đánh giá
sự tiếp cận, thông tin về lưu lượng người qua lại, khả năng cung cấp dịch vụ cơ bản
và tiện ích cho người bán hàng và khách hàng.
Xác định khu vực quy hoạch: Dựa trên việc xác định vị trí phù hợp, thiết lập khu
vực quy hoạch cho hoạt động bán hàng rong. Có thể là một con đường dài hoặc một
khu vực chính trong thành phố.
Thiết kế xây dựng sở hạ tầng: Đầu vào sở hạ tầng để tạo điều kiện
thuận lợi cho người bán hàng rong khách hàng. Bao gồm lắp đặt hệ thống nước
uống, vệ sinh công cộng, điện, chiếu sáng và chỗ đậu xe.
Quản giám sát: Thiết lập các quy định quy tắc để quản hoạt động bán
hàng rong trong khu vực quy hoạch. Bổ sung quản lý nhân viên, bảo vệ môi trường,
đảm bảo an toàn thực phẩm và tuân thủ các quy định về vệ sinh.
Hỗ trợ và đào tạo: Cung cấp hỗ trợ và đào tạo cho người bán hàng rong về kỹ năng
kinh doanh, quản lý và vệ sinh an toàn thực phẩm. Hỗ trợ tư vấn và giúp họ nắm bắt
thông tin thị trường và khách hàng.
17
Tạo sự tương tác giao lưu: Tổ chức các hoạt động giao lưu tương tác giữa
người bán hàng rong, khách hàng và cộng đồng địa phương. Tạo ra một môi trường
gắn kết và thân thiện để khuyến khích sự hợp tác và phát triển chung.
Đánh giá điều chỉnh: Thường xuyên đánh giá hiệu quả của khu vựcn hàng
rong tập trung, lắng nghe ý kiến của người bán hàng và khách hàng để điều chỉnh và
cải thiện hoạt động.
Giải pháp này cũng một phần giải quyết vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm
bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, những khu phố này phải được niêm yết giá cả
để tránh tình trạng chặt chém tội vạ đối với khách du lịch.
2. Thu thuế, phí của những người bán hàng rong
Hiện nay, một số người bán hàng rong hàng tháng vẫn đóng một khoản “tiền đen”
cho các bộ phận quản địa phương tiêu cực nhưng luôn nơm nớp lo sợ bị tịch
thu gánh hàng.
Cụ thể giải pháp:
Đặt chính sách thuế phí hợp lý: Thiết lập mức thuế phí kinh doanh cho
người bán hàng rong một cách hợp công bằng, đồng thời đảm bảo rằng
không gây áp lực quá lớn lên khả năng kinh doanh của họ. Cần xem xét đặc điểm
và thu nhập của người bán hàng rong để áp dụng mức thuế và phí phù hợp.
Đơn giản hóa quy trình thu thuế và phí: Giảm bớt thủ tục phức tạp giữ cho
quy trình thu thuế phí đơn giản, dễ hiểu tiện lợi cho người bán hàng rong.
Điều này giúp họ dễ dàng tuân thủ và đáp ứng các yêu cầu liên quan.
Sử dụng nguồn thu để hỗ trợ ngành bán hàng rong: Sử dụng nguồn thu từ
thuế phí thu được để đầu vào cải thiện sở hạ tầng, hỗ trợ tài chính cho
người bán hàng rong, cung cấp dịch vụ hỗ trợ phát triển ngành bán hàng rong.
Điều này giúp tạo điều kiện thuận lợi và ổn định cho hoạt động kinh doanh của họ.
Kiểm tragiám sát: Thực hiện kiểm tra và giám sát chặt chẽ để đảm bảo
sự tuân thủ quy định thuế và phí từ phía người bán hàng rong. Đồng thời, đảm bảo
sự minh bạch và công bằng trong việc thu thuế và phí.
18

Preview text:

ĐẠI HỌC VĂN LANG ---------- BÀI TIỂU LUẬN GV: Lê Lương Hiếu
Đề tài: BÁN HÀNG RONG TRÊN Đ
ƯỜNG PHỐ HIỆN NAY Nhóm: 7
1. Lê Thị Tuyết Nhi: 2273401200181
2. Vũ Ngọc Khánh Linh: 2273401200126
3. Nguyễn Trần Gia Linh: 2273201080785
TP. Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 7 năm 2023 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài.................................................................................................1
2. Đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu.....................................................2
3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................2
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài.....................................................................................2
5. Ý nghĩa, ứng dụng và hướng phát triển của đề tài.................................................2
7. Kết cấu của đề tài..................................................................................................3
NỘI DUNG...............................................................................................................4
Chương I. Cơ sở lý luận của hoạt động bán hàng rong tại Việt Nam.......................4
1.Các khái niệm.........................................................................................................4
2. Địa điểm hoạt động bán hàng rong........................................................................5
3. Đặc điểm của bán hàng rong.................................................................................6
Chương II. Thực trạng hoạt động bán hàng rong trên đường phố.............................8
1. Mặt tích cực mà bán hàng rong đem lại.............................................................8
1.1 Bán hàng rong là một vẻ đẹp độc đáo khi nhắc đến Việt Nam........................8
1.2 Bán hàng rong giúp những người dân mưu sinh:...........................................10
1.3 Mặt hàng rất đa dạng chúng ta có thể mua mà không cần phải vào các cửa
hàng.........................................................................................................................12
2. Mặt hạn chế từ việc bán hàng rong.....................................................................13
2.1 Bán hàng rong không đảm bảo về chất lượng an toàn thực phẩm....................13
2.2 Bán hàng rong bán giá cao chặt chém khách du lịch.....................................15
2.3 Việc buôn bán hàng rong đang ngày càng làm mất mỹ quan, ảnh hưởng tới sự
phát triển của xã hội................................................................................................15
Chương III. Giải pháp cho hoạt động bán hàng rong trên đường phố....................17
1. Tạo ra những khu phố, cung đường bán hàng rong tập trung..........................17
2. Thu thuế, phí của những người bán hàng rong.................................................18
3. Xây dựng thêm cơ chế xử phạt rõ ràng............................................................19
KẾT LUẬN.............................................................................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................22 MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Hẳn ai trong chúng ta đều đã khá quen thuộc với những tiếng rao trên
những con đường làng hay ngõ nhỏ. Nó dường như ăn sâu vào trong tâm trí
của mỗi người và những tiếng rao đó, những món quà quê đó càng hiện lên thật
rõ nét mỗi khi ta xa quê hương, xa những con đường. Quả thật nó đã trở thành
một nét đẹp không những của các làng quê Việt Nam, mà nó còn hiện hữu
ngay trên các thành phố lớn như ở Hà Nội, nơi có nhiều ngõ ngách quanh co.
Chính từ những gánh hàng rong đó mà ta cảm nhận được nét bình dị của người
dân Việt, nét yên bình của làng quê Việt, của luỹ tre, của giếng làng, cảm nhận
được sự mộc mạc, hiền lành của những người bán hàng rong, nhưng lại có nét
ung dung, tự tại, không vội vàng hay đua tranh với cuộc sống. Bên cạnh đó,
bán hàng rong cũng là một nghề của một lực lượng khá đông những người dân
lao động nghèo từ các vùng quê lên thành phố kiếm kế sinh nhai. Nó mang lại
thu nhập để nuôi sống chính bản thân họ và gia đình. Một mặt nó giúp tăng
trưởng kinh tế, nuôi sống một bộ phận không nhỏ người dân, đồng thời theo
một khía cạnh nào đó, bán hàng rong cũng được đánh giá là một nét văn hóa
đặc trưng. Mặt khác hoạt động bán hàng rong vẫn tồn tại số hạn chế như gây ô
nhiễm môi trường, mất trật tự xã hội, mất vệ sinh an toàn thực phẩm…. đây là
vấn đề mà cả xã hội quan tâm.
Đó là lý do em chọn nghiên cứu đề tài “Bán hàng rong trên đường phố
hiện nay”. Từ đó phân tích về vai trò, tác động, thực trạng bán hàng rong, từ đó
chúng tôi đề xuất các giải pháp khắc phục. 1
2. Đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đè tài là hoạt động bán hàng rong tại các thành
phố lớn. đề tài tập trung vào hai mục tiêu chính: Thứ nhất là phân tích, đánh
giá tác động các hoạt động bán hàng rong tới các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội,
thứ hai là tìm ra các giải pháp và hướng đi cho hoạt động bán hàng rong.
3. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm đề tài em sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu
khác nhau, cụ thể: Phương pháp chủ yếu là điều tra, quan sát, phỏng vấn, thống
kê để thu nhập thông tin liên quan đến hoạt động bán hàng rong. Sau đó áp
dụng phương pháp phân tích, đánh giá nhằm tìm hiểu tác động của hoạt động
bán hàng rong tới kinh tế, xã hội, văn hóa.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài đi vào tìm hiểu về những tác động của gánh bán hàng rong, những
mặt tốt và mặt xấu của gánh hàng rong đối với đời sống văn hóa xã hội, qua đó
thấy được thực trạng và đề xuất một số giải pháp giải quyết những tác hại mà
gánh bán hàng rong đem lại trên các con hẻm, đường phố.
5. Ý nghĩa, ứng dụng và hướng phát triển của đề tài
Đề tài mang ý nghĩa cao về mặt thực tiễn. kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp
cái nhìn tổng quan về hoạt động bán hàng rong trên đường phố hiện nay, đống
thời tổng hợp tác động của hoạt động bán hàng rong tới kinh tế, văn hóa, xã
hội. Bên cạnh đó, chúng tôi phân tích mặt tích cực và hạn chế về vấn đề hàng 2
rong và đưa ra định hướng, giải pháp cho hoạt động buôn bán hàng trên đương phố.
6. Kết cấu của đề tài
Chương I. Cơ sở lý luận của hoạt động bán hàng rong tại Việt Nam
Chương II. Thực trạng hoạt động bán hàng rong trên đường phố
Chương III. Giải pháp cho hoạt động bán hàng rong trên đường phố 3 NỘI DUNG
Chương I. Cơ sở lý luận của hoạt động bán hàng rong tại Việt Nam 1.Các khái niệm
Buôn bán rong được định nghĩa tại Điểm a Khoản 1 Điều 3 Nghị định
39/2007/NĐ-CP về việc cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường
xuyên không phải đăng ký kinh doanh do Thủ tướng Chính phủ ban hành với nội dung như sau:
Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố
định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận
sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các
sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong: Buôn bán vặt là hoạt động
mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định; Bán quà vặt là
hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm
cố định; Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến
để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ; Thực hiện các dịch vụ: đánh giày,
bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh
và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định; Các hoạt động thương mại
một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác.
- Hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh theo
quy định của pháp luật.
- Hàng lậu, hàng giá, hàng không rõ xuất xứ, hàng quá thời hạn sử dụng, hàng
không bảo đảm điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật;
hàng không đảm bảo chất lượng, bảo gồm hàng mất phẩm chất, hàng kém chất
lượng, hàng nhiễm độc và thực vật bị dịch bệnh. 4
- Hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh
theo quy định của pháp luật
Theo đó, cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hằng ngày thực hiện
một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không
thuộc đối tượng phải đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng kí
kinh doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của luật thương mại.
2. Địa điểm hoạt động bán hàng rong
Điều 6 Nghị định 39/2007/NĐ-CP cũng quy định về phạm vi địa điểm kinh
doanh của cá nhân hoạt động thương mại. Theo đó, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác, nghiêm cấm cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại tại các khu
vực, tuyến đường, địa điểm sau:
+ Khu vực thuộc các di tích lịch sử, văn hóa đã được xếp hạng, các danh lam thắng cảnh khác.
+ Khu vực các cơ quan nhà nước, cơ quan ngoại giao, các tổ chức quốc tế.
+ Khu vực thuộc vành đai an toàn kho đạn dược, vật liệu nổ, nhà máy sản xuất
đạn dược, vật liệu nổ, doanh trại Quân đội nhân dân Việt Nam.
+ Khu vực thuộc cảng hàng không, cảng biển, cửa khẩu quốc tế, sân ga, bến tầu,
bến xe, bến phà, bến đò và trên các phương tiện vận chuyển.
+ Khu vực các trường học, bệnh viện, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng.
+ Nơi tạm dừng, đỗ của phương tiện giao thông đang tham gia lưu thông, bao
gồm cả đường bộ và đường thủy. 5
+ Các tuyến đường, khu vực (kể cả khu du lịch) do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) hoặc cơ quan được
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền quy định và có biển cấm cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại.
+ Khu vực thuộc quyền sử dụng của tổ chức, cá nhân tuy không phải là khu vực,
tuyến đường, địa điểm cấm sử dụng làm địa điểm kinh doanh theo quy định từ điểm a
đến điểm h khoản 1 Điều này nhưng không được sự đồng ý của tổ chức, cá nhân đó
hoặc khu vực đó có biển cấm cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại.
3. Đặc điểm của bán hàng rong
Các dạng hoạt động buôn bán hàng rong được phân thành hai nhóm chính
kinh doanh cố định và dạng kinh doanh lưu động.
Vì vậy giữa hai đối tượng buôn bán này có sự khác nhau là đại đa số những
người buôn bán lưu động đều có nguồn gốc tại các tỉnh khác đến, chủ yếu là các tỉnh
Đồng bằng sông Hồng và các tỉnh Duyên Hải miền Trung. Trong khi đó, số
người buôn bán cố định hầu hết đều có nguồn gốc tại các tỉnh thành sở tại. Như vậy
số lao động thu hút vào khu vực hoạt động buôn bán hàng rong, nhất là buôn bán lưu
động có liên quan với số người nhập cư từ các tỉnh khác đến.
Thời gian sinh sống tại các tỉnh thành sở tạiđã có sự khác biệt giữa 2 đối tượng
kinh doanh cố định và kinh doanh lưu động. Một điểm cần lưu ý là số người buôn
bán cố định thường có thời gian sinh sống tại các tỉnh thành sở tạikhá lâu, trong khi
số buôn bán lưu động lại có thời gian sinh sống tại các tỉnh thành sở tạimới chỉ vài năm gần đây thôi.
Thời gian sinh sống có liên quan đến việc khai báo về tình trạng hộ khẩu. Nếu
như những người kinh doanh cố định có thời gian sinh sống tại các tỉnh thành sở
tạilâu hơn những người buôn bán lưu động thì việc khai báo thường trú của những 6
người buôn bán cố định sẽ chiếm tỉ lệ cao hơn những người kinh doanh lưu động.
Như vậy, mối tương quan giữa thời gian sinh sống, nơi sinh và tình trạng hộ khẩu có
mối quan hệ khá rõ nét. Trong mối quan hệ này, những người buôn bán lưu động bao
giờ cũng thường rơi vào trường hợp khai báo chưa có hộ khẩu thường trú.
Mặt hàng kinh doanh của đối tượng buôn bán hàng rong khá đa dạng, từ văn
phòng phẩm sách báo cho đến thực phẩm thuốc lá và dịch vụ ăn uống. Ngoài ra còn
có một vài thứ khác như bách hóa tạp phẩm, quần áo vải nón kính v.v… cũng khá
phổ biến và chiếm một tỷ trọng nhất định trong tổng số. Tuy nhiên, khác với đối
tượng kinh doanh cố định, đối tượng buôn bán lưu động chủ yếu tập trung nhiều nhất
vào 2 loại hàng hóa là thực phẩm và thuốc lá. Đây là loại hàng hóa có nhu cầu phục
vụ tận nơi nhất là trong các ngõ hẻm cách đường khá xa, hoặc tại các nơi sinh hoạt
đông đúc nhưng khả năng cung ứng còn hạn chế.
Buôn bán hàng rong có đặc điểm là có thể phục vụ trên diện rộng nhưng cũng
chính vì thế mà rất là khó khăn trong việc tập hợp họ. Nhưng để quản lý tốt khu vực
kinh doanh này đi vào hoạt động sao cho bảo đảm mỹ quan và trật tự đô thị, trong
bước đầu hướng đến giải pháp hiện đại thay đổi hoàn toàn với các sinh hoạt còn
mang dáng dấp truyền thống hiện nay; vẫn là bài toán đặt ra nan giải. 7
Chương II. Thực trạng hoạt động bán hàng rong trên đường phố
1. Mặt tích cực mà bán hàng rong đem lại
1.1 Bán hàng rong là một vẻ đẹp độc đáo khi nhắc đến Việt Nam.
Gánh hàng rong từ lâu đã trở thành nét văn hóa, ký ức không thể quên của con
người Việt Nam. Nói đến hàng rong là nói đến những người đi bán dạo tảo tần, cam
phận. Họ không ngồi một chỗ cố định mà rong ruổi đi khắp hang cùng ngõ hẻm. Đặc
trưng của gánh hàng rong là những người lao động nghèo với chiếc đòn gánh cong
cong, bất kể ngày nắng hay mưa, họ gánh trên vai rất nhiều thứ thiết yếu phục vụ nhu
cầu sinh hoạt thường ngày. Các gánh hàng rong rong ruổi trong các con phố nhỏ, ngõ
nhỏ, mưu sinh trên lề đường, trong những khu chợ dân sinh đủ các tầng lớp. Từ tờ
mờ sáng, những người bán hàng rong lại tất bật chất hàng, đạp xe xuôi ngược từ mọi
ngả đường vào trung tâm thành phố. Trên những chiếc gánh trên lưng hay những
chiếc xe đạp đơn sơ là cơ man hàng hóa: hoa tươi, quả ngọt, đồ dùng gia đình; mùa
nào thức đấy gì cũng có cả. Cùng với những âm thanh nhộn nhịp, tấp nập của phố
phường, người ta vẫn nghe thấy cả những tiếng rao rất quen thuộc, từ tiếng rao tào
phớ, đến bánh mỳ, bánh đa kê, chè cốm, tóc rối đổi kẹo…Họ có thể bày bán nhiều
mặt hàng, từ củ hành, mớ rau thơm làng Láng, bó hoa cúc, hoa hồng, bông thược
dược làng Ngọc Hà cho đến gói xôi Phú Thượng, bánh cuốn Thanh Trì, bìa đậu
Hoàng Mai, mẹt cốm làng Vòng… Giữa cuộc sống hiện đại nhộn nhịp nơi phố thị,
vẫn còn tồn tại nét đẹp văn hóa đặc trưng của người Hà Nội biết bao thế hệ. Giữa trưa
hè oi bức, được ăn bát tào phớ màu trắng ngà, mát lạnh, sóng sánh nước đường cùng
bông hoa nhài nhỏ xinh mà người bán khéo lép múc trong chiếc thùng gỗ nhỏ. Những
món ăn bình dị nhưng thân thương, chan chứa nhiều tâm huyết ở khắp mọi miền Tổ
quốc đong đầy, gói gọn trong một gánh hàng được các bà các chị mang chở đi khắp
phố phường. Dù trải qua bao thăng trầm của lịch sử, bao bụi mờ cùa thời gian, hình
ảnh những gánh hàng rong sẽ luôn khắc tạc trong tâm trí, cảm xúc và hồn quê bình dị
của dân tộc. Với tốc độ đô thị hóa cao độ, thay thế vẻ xưa cũ là những con phố tấp 8
nập, bận rộn với những tòa nhà cao tầng mọc lên san sát, quán xá lung linh, hiện đại.
Đi cùng với quá trình đô thị hóa, những gánh hàng rong cũng có nhiều thay đổi.
Những tiếng rao bán ngày càng thưa vắng, xe đạp dần thay thế phương thức đi bộ bán
hàng và đòn gánh. Kỹ thuật rao cũng đã được hiện đại hóa và thích ứng bằng những
chiếc loa điện được ghi âm sẵn. Sự phát triển của công nghệ, cùng với những ứng
dụng rao hàng thời 4.0 phần nào cũng khiến cho những gánh hàng rong không còn
được phổ biến và ưa chuộng như trước. Thế nhưng, trên tất cả, văn hóa bán hàng
rong vẫn rất khó loại bỏ và thay thế bởi nó đã đi sâu vào tiềm thức của nhiều người
Việt bao thế hệ từ xưa đến nay. Dù cuộc sống đã hiện đại lên rất nhiều và phát triển
hơn trước nhưng trong các đô thị lớn ở Việt Nam, đặc biệt là Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh thì vẫn không thể thiếu được những gánh hàng rong... Vì hình ảnh ấy
quá đỗi mộc mạc, chân thực và mang đầy những nét hoài niệm về một vùng trời ký
ức, vậy nên có không ít những tác phẩm nghệ thuật được sáng tác và truyền cảm
hứng từ những gành hàng rong ấy. Hình ảnh gánh hàng rong là một trong những vẻ
đẹp độc đáo những hình ảnh ấy lại xuất hiện và trở thành nguồn cảm hứng cho rất
nhiều nhà văn, nhà thơ, họa sỹ sáng tác. Nhà văn Thạch Lam trong “Hà Nội băm sáu
phố phường” đã miêu tả rất kỹ hình ảnh những gánh hàng rong trên đường phố Hà
Nội, hay trong “Thương nhớ mười hai”, Vũ Bằng cũng dành những trang viết tinh tế
về nét đẹp văn hóa Hà thành trong đó khẳng định giá trị của hàng rong, không ít triển
lãm nghệ thuật, trưng bày cũng lấy hình ảnh gánh hàng rong để giới thiệu với công
chúng như một nét đặc trưng của Việt Nam. Đối với những nhà văn thế hệ sau này,
gánh hàng rong trở thành một đối tượng văn học cụ thể trong nhiều tác phẩm. Không
chỉ có những nhà văn viết chuyên biệt về Hà Nội mới viết về hình ảnh những gánh
hàng rong, mà đâu đó vẫn luôn thấp thoáng trong các tác phẩm của các nhà văn hiện
đại. Đối với nhiều vị khách du lịch, văn hóa hàng rong cũng đã trở thành nét rất riêng
và độc đáo nơi phố thị Thật không khó để bắt gặp những hình ảnh du khách nước
ngoài thích thú trong việc thưởng thức ẩm thực trên phố. Mỗi lần nhắc đến văn hóa
hàng rong, người ta đều mặc nhiên xem nó như một điều thân thuộc, một kí ức trong
mỗi người con nơi đây và là một nét đẹp văn hóa đặc sắc của với đất nước hình chữ 9
S. Và Ngày 16/12/2020, UNESCO công bố quyết định công nhận Văn hóa bán hàng
rong ở các nước Đông Nam Á là Di sản Văn hóa Phi vật thể của nhân loại.
1.2 Bán hàng rong giúp những người dân mưu sinh:
Bán hàng rong là 1 ngành nghề mang đến nguồn thu nhập tốt cho nhiều hộ
mái ấm gia đình. Nguồn vốn ít cộng thêm không mất thêm những khoản phí
thuê mặt bằng, thuê nhân viên, mua sắm trang thiết bị… Đây cũng chính là lý
do vì sao nhiều khách hàng lựa chọn mua sản phẩm của bạn. Bán hàng rong là
một giải pháp mưu sinh, dù thu nhập mà nghề này mang lại cũng không nhiều.
Phần lớn họ phải sống xa người thân, thuê trọ trong những ngôi nhà rẻ tiền,
thiếu thốn điều kiện sinh hoạt. Không chỉ nghề bán hàng rong là một giải pháp
kinh tế đối với số không nhỏ cư dân nghèo, mà cũng là một nguồn lực cung cấp
hàng hóa, dịch vụ tới người dân. Người bán hàng rong đa phần là dân tứ xứ, do
không có trình độ chuyên môn, tay nghề nên họ chọn lề đường, hè phố làm nơi
kiếm kế sinh nhai. Mặt hàng vô cùng phong phú, đa dạng, đó là những món ăn
dân dã, mùa nào thức ăn đó, tạo cảm giác ngon miệng cho thực khách và giá cả
rất phải chăng. Vì miếng cơm manh áo và cả tương lai của các con, nhiều phụ
nữ phải gồng mình với đôi quang gánh rong ruổi khắp các nẻo đường. Đồ nghề
của họ cũng đơn giản, hàng hóa chất lên đôi quang gánh, xe đẩy khi là rau củ,
bánh trái, khi là quả mít, đu đủ chín của nhà... cùng chiếc cân và những chiếc
túi nilong đựng hàng cho khách. Cả người trùm kín mít, lưng áo ướt đẫm mồ
hôi đẩy gánh hàng, xe kéo đi trên đường, thỉnh thoảng dừng lại chỗ bóng râm
phe phẩy chiếc nón làm quạt. Đằng sau đôi quanh gánh là những tất tả mưu
sinh và bao nỗi lo toan nhọc nhằn thường nhật. Họ có thể là những người phụ
nữ tần tảo hoặc là người cha trụ cột trong gia đình. Đằng sau những đôi quang
gánh là những thân phận, phận đời, là cuộc sống mưu sinh, là công việc lương
thiện, gửi gắm chất chứa cả ước mơ của biết bao gia đình. Vì nghèo, nên họ 10
chọn cái nghề không cần nhiều vốn mà chỉ cần sự tảo tần, chịu thương chịu
khó. Hàng ngày bên gánh hàng nhọc nhằn, mỗi bước chân của họ chứa đựng cả
tình yêu thương dành cho chồng, cho con. Có bao nhiêu gánh hàng rong là bấy
nhiêu mơ ước hay đơn giản họ chỉ mong có chút tiền lãi sống tiếp cho ngày
mai. Để duy trì được kế sinh nhai, hằng ngày, những gánh hàng rong ấy vẫn cứ
rong ruổi khắp các “hang cùng ngõ hẻm”. Và đằng sau những gánh hàng nặng
trĩu là nỗi lo toan và niềm tin về một ngày mai tươi sáng. Mỗi gánh hàng rong
lại mang một nét đặc trưng khác nhau mà chẳng có một ai giống nhau. Thế
nhưng, giữa họ lại có một điểm sợi dây vô hình trung giống nhau, đó chính là
số phận, là mảnh đời nghèo khổ, những số phận ấy đang từng ngày rong ruổi
trên từng con phố để kiếm sống mưu sinh. Với đôi quang gánh nặng trĩu trên
vai, những người bán hàng rong bán đủ các mặt hàng từ trái cây, đồ ăn vặt, đến
thực phẩm tươi sống, hay vật dụng cần thiết trong sinh hoạt gia đình… Họ
không quản ngại thời tiết, hay quãng đường xa, vẫn miệt mài trong cuộc mưu
sinh để nuôi sống bản thân và gia đình. Điều đáng quý ở họ là đồng tiền lương
thiện được đánh đổi bằng chính công sức, giọt mồ hôi của mình. Mỗi người
một câu chuyện, nhưng họ có chung một hoàn cảnh nghèo khó, không nghề
nghiệp, không đất đai sản xuất nên chọn nghề mua gánh bán bưng làm kế sinh
nhai. Đối với những người phụ nữ bán hàng rong, ước muốn của họ chỉ đơn
giản là bán hết được gánh hàng, hay ước muốn nhỏ nhoi được quây quần bên
mâm cơm gia đình không phải lo nghĩ về cơm - áo - gạo - tiền nữa. Quanh
năm, suốt tháng với công việc lặng lẽ ấy, làm sao có tiền nuôi gia đình là mong
ước lớn nhất của rất nhiều người. 11
1.3 Mặt hàng rất đa dạng chúng ta có thể mua mà không cần phải vào các cửa hàng.
Đầu tiên có thể kể về hàng gánh. Với gánh hàng kĩu kịt trên vai, người bán vừa
đi vừa rao dọc các con phố, luồn lách vào tận hẻm sâu. Hàng đem bán đôi khi chỉ là
dăm củ khoai mì, vài quả cóc, bịch chuối khô hay vài ốp bánh tráng muối tôm, một
nồi tào phớ, một xoong cháo sườn hoặc vài niêu cơm rượu… nhưng đó là những món
ăn đặc trưng của từng vùng miền, chúng ta ăn ngon mà không cần phải vào các nhà
hàng. Người thường ăn quà vặt chỉ nhìn vào đôi quang gánh đầy ắp số hàng hóa kia
là có thể nói lên được quê người bán ở đâu, người bán hàng ở khu phố nào, miền nào.
Miền nào thức nấy, đó chính là sự hấp dẫn của các món ăn đường phố. Thức ăn vỉa
hè đã xuất hiện rất lâu tại Việt Nam, đây là một nhu cầu của những người sống nơi
thành phố, nơi tập trung đông nguồn lao động. Nhìn chung, thức ăn vỉa hè khá đa
dạng, bắt mắt với đủ loại, mang lại nhiều hương vị khác nhau. Không chỉ vậy, giá
thành của những món ở đây cũng ở tầm trung, phù hợp với túi tiền của một bộ phận
lớn người dân, chính là học sinh, sinh viên và những công nhân, nông dân, người có
mức sống thấp hoặc trung bình, …Nếu bạn là người khá thoải mái trong vấn đề ăn
uống, bạn sẽ dễ dàng bị thu hút bởi những hàng quán ven đường với đủ các loại thực
phẩm bắt mắt. Đa phần nhiều người đều có suy nghĩ những món ngon luôn đi kèm
với việc ăn vỉa hè. Ăn vỉa hè cùng bạn bè, cùng người thân hoặc đồng nghiệp, vừa ăn
vừa kể chuyện, nói cười, từ rất lâu đã trở thành một nét văn hóa không thể thiếu của
một vài bộ phận. Một điều nào đó mà họ cảm nhận được chính là sự bình dị và mộc
mạc của cuộc sống. Chỉ cần vài ba chiếc ghế nhựa, 1 vài chiếc bàn, cùng với những
món ăn quen thuộc, bạn đã đủ cho một cuộc nói chuyện dài với bạn bè, người yêu…
mà không phải chịu sự gia hạn thời gian hoặc bất kì một yếu tố nào khác. Không chỉ
vậy, ẩm thực vỉa hè ngày càng trở nên phong phú hơn, thu hút được nhiều đối tượng
hơn, các quán vỉa hè đem lại cho ta không chỉ là một nét ẩm thực, mà sâu trong đó
còn là những lam lũ mưu sinh, những câu chuyện dài của những gia đình nhỏ giữa
nơi thị thành phồn hoa ngày càng phát triển. Mặc dù cách phục vụ của những hàng 12
quán vỉa hè luôn không có nguyên tắc, nhưng bạn sẽ dễ dàng cảm nhận được sự chân
thật, cởi mở và nhiệt tình của những cô chú chủ hàng. Phải chăng, đó cũng là điều
khiến nhiều người thích thú với nét văn hóa này, kiến cho khi thiếu vắng sẽ cảm thấy nhớ nhiều.
2. Mặt hạn chế từ việc bán hàng rong
2.1 Bán hàng rong không đảm bảo về chất lượng an toàn thực phẩm
Bán hàng rong là những người thường gánh hoặc đẩy những mặt hàng của
mình trên khắp đường phố để bán cho mọi người và nó ảnh hưởng đến vệ sinh
thực phẩm. Vấn đề về vệ sinh thực phẩm vì giá cả cạnh tranh, những gánh hàng
rong thường cung cấp thức ăn với giá rẻ hơn rất nhiều so với những hàng quan
khác. Điều này khiến chúng ta dễ dàng nghĩ đến việc liệu nguồn nguyên liệu
đầu vào có thực sự đảm bảo, thịt có tươi ngon, rau có được rửa sạch hay không,
rồi họ đã nhập nguyên liệu từ nguồn nào? Rõ ràng chỉ có họ biết và không ai
kiểm chứng được độ an toàn của những nguyên liệu này. Những thức ăn của họ
không được bao bọc cẩn thận, mặc sức cho bụi bặm và ruồi nhặng bám vào,
thực phẩm của họ không đảm bảo vệ sinh, nên người tiêu dùng sử dụng những
thức ăn ấy dễ bị ngộ độc. Theo quan sát, những bao bì nguyên liệu của các xe
hàng rong đều đựng trong những túi tự đóng gói, không có nguồn gốc xuất xứ
rõ ràng. Khi xem kỹ, những gói bim bim hay bò khô giá rẻ được bày bán ở đây
hầu như đều có ghi chữ Trung Quốc, trên bao bì không ghi bất cứ thành phần
hoặc hạn sử dụng gì. Không chỉ thế, những món ăn này được chế biến, bày bán
ngay bên lề đường, vỉa hè trong điều kiện khói bụi, nắng nóng nơi công cộng,
dễ nhiễm bẩn, nhiễm khuẩn. Nhiều xe bán cá viên chiên mà màu dầu mỡ trong
chảo đã đen sì, chảo mỡ cáu bẩn, người bán đồ ăn không đeo bao tay, khẩu
trang khi chế biến, nhưng mỗi giờ tan học vẫn đông nghịt học sinh vây quanh
để mua. Việc sử dụng các loại thực phẩm không an toàn như các món nướng,
rán được chiên đi chiên lại qua dầu mỡ không đảm bảo, hay việc sử dụng thực 13
phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ trong thời gian dài, tích lũy dần trong cơ
thể sẽ gây nhiều bệnh như tim mạch, béo phì, dạ dày, ngộ độc cấp tính hoặc
mãn tính. Người bán đựng thức ăn trong những chiếc mâm nhôm, thau nhựa, rổ
rá... rồi bày bán tràn lan từ vỉa hè ra đến lòng lề đường. Bất chấp khói xe, bụi
bặm, ruồi nhặng, mùi hôi thôi bốc lên nồng nặc, nhiều người còn để những tô
mì, hộp cơm, hộp bún xào làm sẵn ngay cạnh chân mình đứng, bên dưới là nền
đất cáu bẩn đầy rác rưởi. Thậm chí nhiều người vô tư ngồi bệt trên miệng hố
ga, đống rác, miệng cống rồi múc đồ ăn, thức uống bán cho khách. Mặt khác,
có thể dẫn tới tình trạng mất cân bằng về dinh dưỡng nếu trẻ ăn thường xuyên
các món chiên xào, bỏ nhiều muối, đường, chất béo. Bên cạnh đó những người
bán hàng rong trước cổng trường thường không có kiến thức về công tác an
toàn thực phẩm, không nắm bắt được các quy định về nhãn mác thực phẩm,
quy định về điều kiện kinh doanh thực phẩm… Như vậy nguy cơ nhiễm bệnh,
ngộ độc thực phẩm khi ăn uống ở những quán hàng rong là vô cùng lớn, khiến
chúng ta phải cân nhắc. Theo
quy định của Bộ Y tế, người kinh doanh thức ăn
phải bảo đảm 10 tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) gồm: đủ
nước sạch, có dụng cụ gắp thức ăn chín, không để lẫn thức ăn chín và sống; nơi
chế biến thực phẩm phải sạch, cách biệt nguồn ô nhiễm như cống rãnh, rác
thải, công trình vệ sinh, nơi bày bán gia súc, gia cầm; người làm dịch vụ chế
biến thức ăn phải được tập huấn kiến thức và khám sức khỏe định kỳ, nhân
viên đeo tạp dề, khẩu trang, mũ khi bán hàng; không sử dụng phụ gia và màu
thực phẩm; thức ăn phải được bày bán trên giá cao hơn 60cm, phải được bày
bán trong tủ kính và bao gói hợp vệ sinh; có dụng cụ đựng chất thải... Quy định
là vậy, nhưng hầu hết các gánh hàng rong, xe đẩy, quán ăn ở vỉa hè hiện nay
không đáp ứng các tiêu chuẩn trên. Việc chế biến một món ăn dù có công phu,
có đảm bảo được nguồn nguyên liệu thì khi bán ở lòng lề đường, vỉa hè vẫn bị
ảnh hưởng bởi các tác nhân như ruồi nhặng, khói bụi ô nhiễm... mà chúng ta 14
khó có thể kiểm soát được. Tô chén, đũa muỗng được tráng qua bằng một xô
nước nhỏ rồi lau khô bằng một giẻ lau cáu bẩn. Vấn đề về an toàn thực phẩm là
vấn đề mà khó kiểm soát và chúng ta cần có biện pháp giải quyết từ việc bán hàng rong.
2.2 Bán hàng rong bán giá cao chặt chém khách du lịch
Lý do thứ hai để cấm việc bán hàng rong đó chính là hiện tượng chèo kéo,
nài nỉ, chặt chém gây phiền toái cho du khách. Những người cùng bán trên
cùng địa bàn xảy ra hiện tượng giành khách với nhau, và cho rằng những du
khách không nắm rõ giá cả mà hét giá trên trời. Ví dụ thực tế là những hàng
bán bánh tráng nướng ở quận 1 khi bán cho người Việt Nam chỉ có 10.000 -
15.000 VNĐ mà bán cho những du khách nước ngoài thì lấy 50.000 VNĐ/ cái.
Từng có thời điểm, cả khách trong và ngoài nước đều “hãi hùng” khi bị các
gánh hàng rong đeo bám, chèo kéo, nâng giá khi mua bán, nói nặng lời khi xem
hàng không mua... tại các di tích lịch sử, văn hóa lớn ở Thủ đô như khu phố cổ,
hồ Hoàn Kiếm, Văn Miếu - Quốc Tử Giám… Hình thức chặt chém này khiến
một số du khách không hài lòng và để lại cho họ những trải nghiệm không
tốt.Chính bộ phận những người bán hàng rong hành xử như vậy đã gây ra
những ác cảm đối với những người bạn ngoại quốc đã chọn Việt Nam làm nơi
du lịch, nghỉ dưỡng đồng thởi làm xấu đi bộ mặt của đất nước trước bạn bè quốc tế.
2.3 Việc buôn bán hàng rong đang ngày càng làm mất mỹ quan, ảnh
hưởng tới sự phát triển của xã hội
Khi mà chất lượng cuộc sống ngày càng chú trọng, con người đã dần chú
ý hơn đến việc bảo vệ sức khỏe của bản thân bằng việc ăn sạch, uống sạch, sử 15
dụng thực phẩm healthy. Thì những quán hàng rong lại khó có thể đáp ứng
được nhu cầu này, bởi lẽ việc chế biến một món ăn dù có công phu, có đảm
bảo được nguồn nguyên liệu thì khi bán ở lòng lề đường, vỉa hè vẫn bị ảnh
hưởng bởi các tác nhân như ruồi nhặng, khói bụi ô nhiễm... mà chúng ta khó có
thể kiểm soát được. Bên cạnh đó những bàn ghế, chỗ ngồi tạm bợ, dụng cụ ăn
uống lại không được vệ sinh kỹ càng bởi điều kiện của một gánh hàng rong
không cho phép cũng mang đến cho chúng ta nhiều nguy cơ. Hơn thế nữa,
người bán hàng rong cũng ít khi chu toàn đến việc bố trí sọt rác, thế nên người
ăn uống sau khi ăn xong thường xả rác tại chỗ, người này đi người khác đến,
nhìn tổng thể chúng ta giống như đang ngồi ăn uống trên một bãi rác thải vậy,
vô cùng mất mỹ quan. Thêm nữa, vì giá cả cạnh tranh, những gánh hàng rong
thường cung cấp thức ăn với giá rẻ hơn rất nhiều so với những hàng quan khác.
Điều này khiến chúng ta dễ dàng nghĩ đến việc liệu nguồn nguyên liệu đầu vào
có thực sự đảm bảo, thịt có tươi ngon, rau có được rửa sạch hay không, rồi họ
đã nhập nguyên liệu từ nguồn nào? Rõ ràng chỉ có họ biết và không ai kiểm
chứng được độ an toàn của những nguyên liệu này. Như vậy nguy cơ nhiễm
bệnh, ngộ độc thực phẩm khi ăn uống ở những quán hàng rong là vô cùng lớn,
khiến chúng ta phải cân nhắc. Cùng vấn đề giá cả, việc giá của những quán
hàng rong rẻ hơn đã mang đến sự cạnh tranh thiếu lành mạnh cho những người
có cửa hàng chuyên biệt, khi bản thân những món ăn họ làm ra có giá đắt hơn
là bởi nó còn phải gánh thêm các chi phí thuê mặt bằng, thuế, tiền giấy tờ thủ
tục hành chính,... Một vấn đề khác cũng đáng quan ngại đến từ việc buôn bán
hàng rong ấy là tình trạng lấn chiếm vỉa hè, lòng lề đường, gây mất mỹ quan đô
thị, ách tắc giao thông, đây không chỉ là hành vi chiếm dụng của công, mà còn
vi phạm luật dân sự, có thể bị phạt hành chính. Không những vậy trong khi
nước ta tập trung đẩy mạnh phát triển du lịch ở những thành phố lớn, thì hình
ảnh người bán hàng rong chặt chém khách, chèo kéo gây phiền nhiễu đã để lại 16
một hình ảnh xấu trong mắt bạn bè quốc tế, ảnh hưởng lớn đến việc quảng bá ngành du lịch Việt Nam.
Chương III. Giải pháp cho hoạt động bán hàng rong trên đường phố
1. Tạo ra những khu phố, cung đường bán hàng rong tập trung
Phần lớn các gánh hàng rong là của những người lao động nghèo, hay dân ngoại
tỉnh lên thành phố lập nghiệp nên không có điều kiện để thuê mặt bằng. Giải pháp
ở đây là quy hoạch những tuyến đường được bán hàng rong hay hình thành những
khu phố để họ có nơi ổn định để kinh doanh. Cụ thể giải pháp:
Xác định vị trí và con đường phù hợp: Nghiên cứu về địa bàn và điều tra các con
đường hoặc vị trí phù hợp để tạo thành khu vực bán hàng rong tập trung. Đánh giá
sự tiếp cận, thông tin về lưu lượng người qua lại, khả năng cung cấp dịch vụ cơ bản
và tiện ích cho người bán hàng và khách hàng.
Xác định khu vực quy hoạch: Dựa trên việc xác định vị trí phù hợp, thiết lập khu
vực quy hoạch cho hoạt động bán hàng rong. Có thể là một con đường dài hoặc một
khu vực chính trong thành phố.
Thiết kế và xây dựng cơ sở hạ tầng: Đầu tư vào cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện
thuận lợi cho người bán hàng rong và khách hàng. Bao gồm lắp đặt hệ thống nước
uống, vệ sinh công cộng, điện, chiếu sáng và chỗ đậu xe.
Quản lý và giám sát: Thiết lập các quy định và quy tắc để quản lý hoạt động bán
hàng rong trong khu vực quy hoạch. Bổ sung quản lý nhân viên, bảo vệ môi trường,
đảm bảo an toàn thực phẩm và tuân thủ các quy định về vệ sinh.
Hỗ trợ và đào tạo: Cung cấp hỗ trợ và đào tạo cho người bán hàng rong về kỹ năng
kinh doanh, quản lý và vệ sinh an toàn thực phẩm. Hỗ trợ tư vấn và giúp họ nắm bắt
thông tin thị trường và khách hàng. 17
Tạo sự tương tác và giao lưu: Tổ chức các hoạt động giao lưu và tương tác giữa
người bán hàng rong, khách hàng và cộng đồng địa phương. Tạo ra một môi trường
gắn kết và thân thiện để khuyến khích sự hợp tác và phát triển chung.
Đánh giá và điều chỉnh: Thường xuyên đánh giá hiệu quả của khu vực bán hàng
rong tập trung, lắng nghe ý kiến của người bán hàng và khách hàng để điều chỉnh và cải thiện hoạt động.
Giải pháp này cũng một phần giải quyết vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm và
bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, những khu phố này phải được niêm yết giá cả
để tránh tình trạng chặt chém vô tội vạ đối với khách du lịch.
2. Thu thuế, phí của những người bán hàng rong
Hiện nay, một số người bán hàng rong hàng tháng vẫn đóng một khoản “tiền đen”
cho các bộ phận quản lý địa phương tiêu cực nhưng mà luôn nơm nớp lo sợ bị tịch thu gánh hàng. Cụ thể giải pháp:
Đặt chính sách thuế và phí hợp lý: Thiết lập mức thuế và phí kinh doanh cho
người bán hàng rong một cách hợp lý và công bằng, đồng thời đảm bảo rằng nó
không gây áp lực quá lớn lên khả năng kinh doanh của họ. Cần xem xét đặc điểm
và thu nhập của người bán hàng rong để áp dụng mức thuế và phí phù hợp.
Đơn giản hóa quy trình thu thuế và phí: Giảm bớt thủ tục phức tạp và giữ cho
quy trình thu thuế và phí đơn giản, dễ hiểu và tiện lợi cho người bán hàng rong.
Điều này giúp họ dễ dàng tuân thủ và đáp ứng các yêu cầu liên quan.
Sử dụng nguồn thu để hỗ trợ ngành bán hàng rong: Sử dụng nguồn thu từ
thuế và phí thu được để đầu tư vào cải thiện cơ sở hạ tầng, hỗ trợ tài chính cho
người bán hàng rong, cung cấp dịch vụ hỗ trợ và phát triển ngành bán hàng rong.
Điều này giúp tạo điều kiện thuận lợi và ổn định cho hoạt động kinh doanh của họ.
Kiểm tra và giám sát: Thực hiện kiểm tra và giám sát chặt chẽ để đảm bảo
sự tuân thủ quy định thuế và phí từ phía người bán hàng rong. Đồng thời, đảm bảo
sự minh bạch và công bằng trong việc thu thuế và phí. 18