



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ************ BÀI TIỂU LUẬN
CON NGƯỜI & MÔI TRƯỜNG TÊN ĐỀ TÀI:
BÙNG NỔ DÂN SỐ VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG SỐNG TẠI VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: TS. Lê Thị Hoàng Liễu
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Linh Nhi
- Mã số sinh viên: 231A100086
Sinh viên thực hiện: Lâm Hoàng Thảo Ngân
- Mã số sinh viên: 231A050172
Sinh viên thực hiện: Trần Phương Mỹ
- Mã số sinh viên: 231A170065
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Nhân
- Mã số sinh viên: 221A370455
Sinh viên thực hiện: Phùng Kim Ngân
- Mã số sinh viên: 231A140389
Lớp: 211A1002 Con người & Môi trường
Mã Lớp - Hp: 232NAS10136
Học Kỳ 2 Năm học 2023-2024 LỜI CẢM ƠN
Lời nói đầu tiên chúng em muốn gửi lời cảm ơn đến trường Đại học Văn Hiến vì
đã tạo ra cho chúng em một môi trường học đầy đủ tiện nghi. Một môi trường học
tập thoải mái, năng động với nhiều hoạt động vui chơi giải trí bổ ích sau những
ngày học tập đầy căng thẳng trên lớp. Ở đây chúng em được thoả thích thể hiện
khả năng của bản thân tạo thêm được sự tự tin và động lực học để phát triển bản
thân. Nhưng cũng không bỏ quên việc học khi trường đã đưa những giảng viên tốt
nhất, giỏi nhất để dẫn dắt chúng em qua 4 năm đại học đầy gian nan này.Đặc biệt
là cô Lê Thị Hoàng Liễu –người đã phụ trách môn Môi trường và con người cho
chúng em. Một giảng viên tận tuỵ hết lòng vì chúng em. Cô đã dẫn dắt chúng em
trong suốt thời gian qua ở môn Môi trường và con người. Nhờ sự nhẹ nhàng, dễ
thương của cô mà chúng em có thêm nhiều động lực để học. Những câu chuyện
thực tế mà cô kể đã giúp chúng em khắc sâu hơn được kiến thức. Mặc dù cô rất
bận nhưng cô vẫn giành chút thời gian rảnh rỗi giải đáp thắc mắc cho chúng em.
Cảm ơn trường đã cho chúng em những ưu đãi tốt nhất. Cảm ơn cô đã dẫn dắt
chúng em suốt khoá học vừa qua. Một lần nữa chúng em xin chân thành cảm ơn cô. NHẬN XÉT NHÓM STT Họ và tên MSSV Mức độ Ký tên tham gia 1 Nguyễn Thị Linh Nhi 231A100086 100% 2 Phùng Kim Ngân 231A140389 100% 3 Nguyễn Thành Nhân 221A370455 100% 4 Lâm Hoàng Thảo Ngân 231A050172 100% 5 Trần Phương Mỹ 231A170065 100%
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
Ngày........... tháng ……năm 2024 Giảng viên MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................
1. Mục tiêu nghiên cứu..............................................................................
2. Phạm vi nghiên cứu...............................................................................
3. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu.......................................
4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................
5. Tổng quan nghiên cứu, báo cáo trước...................................................
II. PHẦN NỘI DUNG ............................................................................... 11
1. Các khái niệm liên quan. ....................................................................... 11
2. Thực trạng bùng nổ dân số tại Việt Nam. ............................................ 11
3. Nguyên nhân dẫn đến bùng nổ dân số. ................................................. 14
4. Ảnh hưởng tới môi trường sống. .......................................................... 16
5. Ảnh hưởng của môi trường nhân tạo, môi trường xã hội đối với gia
tăng dân số. ............................................................................................ 25
III. KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ ................................................................ 30
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 33 I. PHẦN MỞ ĐẦU DẪN NHẬP
Bùng nổ dân số đang là một vấn đề khó giải quyết của thế giới hiện nay. Hiện
tượng này đã và đang để lại khá nhiều ảnh hưởng tiêu cực cho các nước, trong đó
có Việt Nam. Nó ảnh hường cả từ môi trường nhiên đến môi trường xã hội. Bùng
nổ dân số dẫn đến nhu cầu sử dụng đất và tài nguyên thiên nhiên tăng cao gây ô
nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước và thiếu hụt nước ngọt nghiêm trọng dẫn
đến gia tăng các nguồn dịch bệnh. Bên cạnh đó, khi chưa có đủ điều kiện kinh tế,
khi sinh nhiều con sẽ thì sẽ khiến cho đứa nhỏ không được đáp ứng các nhu cầu
cần thiết để phát triển một cách toàn diện nhất. Vấn đề bùng nổ dân số và ảnh
hưởng đến môi trường sống tại Việt Nam là một vấn đề vô cùng nóng bỏng và
cấp bách trong thời điểm hiện nay. Trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến sự
tăng trưởng dân số không ngừng, Việt Nam không phải là ngoại lệ. Với hơn 97
triệu dân vào năm 2022 và tiếp tục tăng lên, nước ta đang phải đối mặt với một
trong những thách thức lớn nhất của thế kỷ 21 - bùng nổ dân số. Việt Nam, với
một tốc độ tăng trưởng dân số đáng kể, đang phải đối mặt với nhiều thách thức về
môi trường sống. Việt Nam đang trải qua một giai đoạn phát triển nhanh chóng
và việc hiểu rõ về tác động của bùng nổ dân số là cần thiết để xây dựng các chiến
lược và chính sách phù hợp. Sự lựa chọn chủ đề này phản ánh mong muốn của
nhóm chúng em trong việc hiểu rõ và cung cấp thông tin chi tiết về tình hình thực
tế, nguyên nhân và hậu quả của vấn đề này.
Thứ nhất, vấn đề bùng nổ dân số và ảnh hưởng đến môi trường sống là một trong
những thách thức lớn nhất mà xã hội Việt Nam đang đối diện. Vấn đề này không
chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống hàng ngày của người dân mà còn có tác
động sâu rộng đến môi trường sống và sự bền vững của hệ sinh thái. Sự gia tăng
đột biến của dân số không chỉ tạo ra áp lực về nguồn lực mà còn đẩy mạnh
quá trình đô thị hóa và công
nghiệp hóa, góp phần vào sự ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên tự nhiên.
Vấn đề bùng nổ dân số và ảnh hưởng đến môi trường sống không chỉ
là vấn đề của một cá nhân, một cộng đồng hay một quốc gia mà là của toàn
nhân loại. Ảnh hưởng của nó là không thể phủ nhận. Áp lực lớn đặt lên các
nguồn tài nguyên như nước, thức ăn và năng lượng. Sự cạnh tranh về nguồn tài
nguyên dẫn đến sự thiếu hụt và sự không cân bằng, gây ra lo ngại về bền vững.
Đồng thời, sự phát triển không kiểm soát của các khu đô thị, công nghiệp và
nông nghiệp cũng góp phần vào vấn đề ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm không 6
khí, nước và đất trở thành một vấn đề nghiêm trọng, gây hậu quả nặng nề đối
với sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái.
Thứ hai, việc nghiên cứu về vấn đề này là cần thiết để nhận biết và
đánh giá đúng mức độ của vấn đề, từ đó đưa ra các biện pháp giải quyết hiệu
quả. Hiểu rõ hơn về nguyên nhân và hậu quả của bùng nổ dân số cũng như ảnh
hưởng của nó đối với môi trường sống là cơ sở để xây dựng các chính sách và
phương án hành động phù hợp. Việc nghiên cứu và giải quyết vấn đề này không
chỉ mang lại lợi ích cho người dân Việt Nam mà còn góp phần vào sự cân bằng
và bền vững của hệ sinh thái toàn cầu.
Bùng nổ dân số tại Việt Nam có nguyên nhân đa dạng. Trong thời
gian gần đây, dân số tự nhiên và nhập cư đều đóng góp vào sự gia tăng này.
Mặc dù tỷ lệ sinh đã giảm đáng kể, nhưng vẫn cao hơn so với một số quốc gia
khác. Sự tiến bộ trong y tế cũng góp phần vào sự gia tăng dân số, khiến tuổi thọ
trung bình tăng lên và tỷ lệ tử vong sơ sinh giảm. Sự di chuyển của dân cư từ
các vùng nông thôn đến các khu đô thị lớn cũng làm tăng thêm áp lực về dân số và môi trường sống.
Cuối cùng, việc tìm hiểu và chia sẻ thông tin về vấn đề này cũng là
một phần trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng và tạo ra sự nhất quán trong
việc giải quyết vấn đề môi trường. Chúng ta không thể phủ nhận vai trò quan
trọng của việc thông tin hóa và giáo dục dân cử về tác động của bùng nổ dân số
đối với môi trường sống và cần phải tạo ra sự thấu hiểu và đồng thuận trong
cộng đồng để thúc đẩy hành động bảo vệ môi
trường. Việc hiểu rõ về ảnh hưởng của bùng nổ dân số đối với môi trường sống
sẽ giúp chúng ta xác định được những hướng đi phát triển có trách nhiệm hơn,
nhằm bảo vệ và tăng cường sức khỏe của môi trường, đồng thời đảm bảo sự
phát triển bền vững cho cả cộng đồng và kinh tế.
Việc nghiên cứu về bùng nổ dân số và ảnh hưởng đến môi trường sống tại Việt
Nam không chỉ là một nhiệm vụ học thuật mà còn là một trách nhiệm đối với
việc bảo vệ và phát triển bền vững của đất nước. Vì những lí do trên, nhóm
chúng em đã lựa chọn đề tài này nhằm mục đích nghiên cứu, phân tích và chia
sẻ thông tin về vấn đề bùng nổ dân số và ảnh hưởng đến môi trường sống tại
Việt Nam.Vì vậy, trong bài tiểu luận lần này của mình, nhóm em đã lựa chọn
chủ đề bùng nổ dân số và ảnh hưởng đến môi trường sống của con người. 7 1.
Mục tiêu nghiên cứu:
-Mục tiêu tổng quát: Thực trạng tăng dân số hiện nay tại Việt Nam. Ảnh hưởng của
gia tăng dân số tới môi trường sống. -
Mục tiêu cụ thể:
+ Thực trạng gia tăng dân số tại Việt Nam
+ Ảnh hưởng của bùng nổ dân số đến với môi trường sống
+ Ảnh hưởng của môi trường nhân tạo, môi trường xã hội đối với tăng dân số 2.
Phạm vi nghiên cứu: trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam ➢
Phạm vi không gian dựa vào các nghiên cứu báo cáo trước:
Nghiên cứu trong phạm vi cả nước, bắt đầu từ những thành phố lớn như TP. Hồ Chí
Minh, Hà Nội, Đà Nẵng tới các vùng nông thôn. Do không giới hạn phạm vi cụ thể
nên phạm vi nghiên cứu về không gian khá rộng và bao hàm rất nhiều tỉnh thành ở Việt Nam. ➢
Phạm vi nội dung dựa vào các nghiên cứu báo cáo trước:
Nghiên cứu sẽ tập trung nhiều vào các thực trạng cũng như nguyên nhân gây ra tình
trạng bùng nổ dân số và từ những nguyên nhân trên tìm ra những biện pháp thích hợp
để làm giảm tình trạng bùng nổ dân số và khắc phục những hậu quả mà bùng nổ dân
số đem lại cho đời sống cũng như môi trường. 3.
Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu: -
Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng bùng nổ dân số và ảnh hưởng của
bùng nổ dân số đến môi trường sống tại Việt Nam -
Khách thể nghiên cứu: Dân số Việt Nam
4. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thứ cấp
- Cuộc điều tra qua điện thoại hoặc trực tuyến: Sử dụng công nghệ để thu thập dữ
liệu từ một mẫu dân số rộng lớn, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí so với điều tra truyền thống.
Phân tích dữ liệu cảm quan:
+ Phân tích văn bản: Nghiên cứu các tài liệu như báo cáo chính sách, tin tức, tài
liệu pháp lý để hiểu về bối cảnh và ảnh hưởng của bùng nổ dân số
+ Phân tích dữ liệu và số liệu: Sử dụng dữ liệu thống kê về dân số và môi trường 8
từ các nguồn như cơ quan của chính phủ, các tổ chức quốc tế, và các nghiên cứu
từ trước đến nay để hiểu rõ thêm về xu hướng và các mối quan hệ cũng như tác
động của bùng nổ dân số đối với môi trường sống. -
Phương pháp định lượng:
+ Mô hình hồi quy: Sử dụng mô hình hồi quy để phân tích mối liên hệ giữa các
biến số về bùng nổ dân số và các biến số khác như xã hội, và môi trường.
+ Phân tích đa biến: Sử dụng các phương pháp phức tạp hơn như phân tích đa
biến để hiểu sâu hơn về mối quan hệ giữa các yếu tố và bùng nổ dân số. -
Phương pháp nghiên cứu hành vi:
+ Nhóm thảo luận: Tổ chức các nhóm thảo luận để thu thập ý kiến và ý kiến
của nhóm về các vấn đề liên quan đến bùng nổ dân số. -
Phương pháp nhìn thấy vấn đề:
+ Quan sát tham gia: Quan sát trực tiếp hoặc thông qua phương tiện truyền thông
xã hội để hiểu về bùng nổ dân số.
-Nhưng các phương pháp được sinh viên hay dùng nhất là thu thập dữ liệu qua các
phương tiện, thảo luận nhóm để thu thập ý kiến, phân tích các văn bản dữ liệu,
nghiên cứu trường hợp, phân tích dữ liệu trên mạng.
5. Tổng quan nghiên cứu, báo cáo trước:
Sự gia tăng dân số đã gây sức ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường
trái đất do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên phục vụ cho các nhu cầu
của con người. Gia tăng dân số cơ học tạo ra các nguồn rác thải lớn, đồng thời
gây ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước, nhất là tại khu vực đô thị
và các làng nghề. Khi dân số tăng lên hàng tỷ người thì họ cũng sinh sống trên
một hành tinh duy nhất. Nhưng điều đáng nói, mức độ tiêu thụ tài nguyên của
họ hoàn toàn khác nhau. Với sự phát triển kinh tế và đổi mới công nghệ, dân số
của Việt Nam đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây, tạo ra một loạt các
thách thức về bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững.
Trong giai đoạn đầu trong lịch sử phát triển của nhân loài người, tỷ lệ sinh khá
cao cùng với nhu cầu duy trì lực lượng và sản xuất nhầm phục vụ cho sự phát
triển của xã hội, gắn liền với tỷ lệ sinh cao, tỷ lệ tử của trẻ sơ sinh, nhiều căn
bệnh hiểm nghèo không có khả năng cứu chữa và thiếu sự chăm sóc quan tâm
đến sức khỏe. Đó là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên, trong giai đoạn
“bùng nổ dân số” tỷ lệ sinh vẫn duy trì còn tỷ lệ tử thì có xu hướng giảm.
Xét về tình hình dân số Việt Nam hiện nay tổng số dân vào khoảng hơn 99 9
triệu, tăng so với 20,2% trong năm ngoái. Tỷ lệ dân thành thị là 38%, tỷ lệ dân
nông thôn là 62%. Tỷ lệ tăng dân số hàng năm là 1,23%, mật độ dân số là 320
người/km2. Theo nhiều ý kiến của nhiều chuyên gia dân số thì số dân tăng thêm
trong mỗi năm đang có xu hướng giảm dân. Dù vậy, với quy mô và tốc độ tăng
dân như hiện nay, với thực trạng dân số hiện nay đòi hỏi sự quan tâm phối hợp
giải quyết ở mọi cấp độ nhằm hạn chế tình trạng dân số với tốc độ tăng chóng
mặt, như góp phần đưa dân số bước vào giai đoạn tăng trưởng ổn định.
Ngoài việc thể hiện dưới dạng chung nhất, mục tiêu chính sách dân số về mức
sinh luôn luôn được phát triển dưới dạng số lượng cụ thể, ở nước ta đối với một
lãnh thổ ở định thì “số lượng dân số tăng thêm” là chỉ tiêu đặc biệt quan trọng.
Năm 1921, tỷ lệ phát triển dân số Việt Nam có đạt tới 4% thì một năm
cũng chỉ tăng thêm 60 nghìn nhưng hiện nay tỷ lệ tăng giảm xuống còn 1,7% thì
mỗi năm tăng tới hơn 1,3% triệu. Năm 1979, tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi, rất cao, tới
43%; trong khi đó, tỷ lệ dân số trong độ tuổi có khả năng lao động (từ 15 đến 64
tuổi) thấp, chỉ có 52%. Giai đoạn trước năm 2007 ở Việt Nam, tốc độ tăng quy mô
dân số quá nhanh, vì vậy chính sách dân số của Việt Nam lúc bấy giờ là đẩy mạnh
cuộc vận động sinh để có kế hoạch.
Bùng nổ dân số có mối quan hệ trực tiếp đến môi trường sống tại Việt
Nam thông qua việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế và phát thải
vào môi trường. Sự gia tăng dân số đã gây sức ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên và
môi trường sống hiện nay do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên phục vụ cho
các nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của con người. Dân số trung bình của Việt Nam
năm 2023 đạt 100,3 triệu người, trong đó tỷ lệ dân số nam và nữ khá cân bằng
(nam giới chiếm 49,9%, nữ giới 50,1%). Dân số trung bình khu vực thành thị là
38,2 triệu người, chiếm 38,1%; khu vực nông thôn là 62,1 triệu người, chiếm
61,9%. Việt Nam là quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á (sau In-
đô-nê-xi-a và Phi-lip-pin) và đứng thứ 15 trên thế giới. Việt Nam có tổng diện tích
khoảng 331.698 km² với 327.480 km² đất liền và hơn 4.500 km² biển nội thuỷ.
Như vậy, mật độ dân số trung bình của cả nước vào khoảng 320 người/km².
Mặc dù là một nước nông nghiệp đang trong quá trình công nghiệp hóa
- hiện đại hóa, với mục tiêu đến năm 2045 kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trở
thành nước phát triển thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên
Việt Nam cũng phải đang đối diện với nhiều vấn đề môi trường gay gắt. Với quy
mô dân số gần 100 triệu dân, đặt ra những vấn đề gay gắt về dân sinh, cải thiện đời
sống, tăng thu nhập và vấn đề bảo vệ môi trường. Hiện nay, hiểm họa môi trường
sinh thái ở nước ta dưới tác động của quá trình công 10
nghiệp hóa - hiện đại hóa, biến đổi khí hậu, nhất là mâu thuẫn giữa phát triển và
lạc hậu, do ảnh hưởng nặng nề của nếp suy nghĩ, nếp làm thói quen của người
sản xuất nhỏ tiểu nông chưa hoàn thiện. Có thể thấy
một số biểu hiện cụ thể của vấn đề môi trường ở Việt Nam như sau:
Thiên nhiên nước ta ngoài bị ảnh hưởng tác động của chiến tranh trước đây,
hiện nay còn bị phá hoại bởi hoạt động vô ý thức, thái độ tủy tiện vô trách
nhiệm, thiếu kế hoạch trong việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên,
thiên nhiên. Theo thống kê trước năm 1945, rừng bao phủ chiếm tỉ lệ 43,8%,
hiện nay chỉ còn hơn 28% (tức là dưới mức báo động 30%). Diện tích đất trồng
trọt đang bị sói mòn tăng mạnh lên khoảng 13,4 triệu ha. Nguyên nhân chính
của tình trạng này là do du canh du cư, khai thác bừa bãi, mở mang giao thông,
xây dựng thủy điện,…chưa theo quy hoạch thống nhất. Vấn đề quy hoạch sử
dụng đất chưa hợp lý, đang làm lãng phí nguồn tài nguyên quý giá này của đất nước.
Tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái gia tăng đang là vấn đề nan giải hiện
nay. Nhiều nhà máy xả ra chất thải công nghiệp, sinh hoạt, chất độc hại không
được xử lý nghiêm túc, thải trực tiếp vào môi trường gây ô nhiễm môi trường,
gây bệnh tật cho người dân. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường,
hiện nay cả nước có hơn 5400 làng nghề, riêng Hà Nội có hơn 1350 làng nghề,
tuy nhiên 95% hoạt động sản xuất gây ô nhiễm môi trường, hơn 50% gây ô
nhiễm nghiêm trọng. Đây là những doanh nghiệp, cơ sở sản xuất quy mô nhỏ,
công nghệ nhìn chung lạc hậu, chưa đầu tư thích đáng vào xử lý ô nhiễm môi trường, chất thải.
Nồng độ bụi ở đô thị vượt quá nhiều lần chỉ tiêu cho phép. Nồng độ khí thải
CO2 nhất là ở các thành phố lớn, khu công nghiệp vượt tiêu chuẩn cho phép từ
1,5 đến 2,5 lần. Ngoài ra, ô nhiễm tiếng ồn cũng là vấn đề nan giải đối với các
khu dân cư. Bên cạnh đó, vấn đề khai thác mỏ, vật liệu xây dựng, vàng đá
quý,… chính thức và tự do cũng đã và đang làm hủy hoại môi
trường sống. Việc sử dụng mìn khai thác ở nhiều lĩnh vực đang làm phá hoại sự
cân bằng về hệ sinh thái môi trường.
Theo nhiều chuyên gia quốc tế, Việt Nam đang phải đương đầu với nhiều vấn đề
môi trường nghiêm trọng như nạn phá rừng, sói mòn đất, việc khai thác quá mức
nguồn tài nguyên ven biển
đe dọa tới các hệ sinh thái, sự đa dạng sinh học và sự cạn kiệt nguồn gien. Thực
trạng môi trường này đi cùng với vấn đề biến đổi khí hậu, nước biển dâng đang
đặt ra những vấn đề nóng bỏng thách thức đối với sự phát triển nhanh và bền
vững của Việt Nam trong thời gian tới.
Bảo vệ môi trường, tăng cường quản lý tài nguyên, chủ động phòng chống thiên
tai, ứng phó với BĐKH luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm, ban
hành nhiều chủ trương chính sách, xử lý kịp thời những vấn đề đặt ra. Văn kiện
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định nhận thức về
BVMT được nâng lên, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và tăng cường
đầu tư cho lĩnh vực này, hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, Việt Nam đã tham gia
nhiều tổ chức của thế giới trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt
được, văn kiện Đại hội XII cũng thẳng thắn nhìn vào những yếu kém như: “Tài
nguyên chưa được quản lý, khai thác sử dụng có hiệu quả và bền vững; một số
loại tài nguyên bị khai thác quá mức dẫn tới suy thoái, cạn kiệt. Ô nhiễm môi
trường tiếp tục gia tăng, có nơi nghiêm trọng; việc khắc phục hậu quả về môi
trường do chiến tranh để lại còn chậm. Đa dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mất
cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát
triển kinh tế - xã hội, sức khỏe của nhân dân. Chất lượng công tác dự báo và
quy hoạch còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển, chưa đảm bảo
tính tổng thể, tính liên ngành liên vùng; chưa rõ trọng tâm trọng điểm và nguồn lực thực hiện”.
Bài tiểu luận này tập trung vào việc nghiên cứu về vấn đề bùng nổ dân số và tác
động của nó đối với môi trường, đặc biệt là các vấn đề như biến đổi khí hậu,
mất rừng, ô nhiễm không khí và nước gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống
của con . Bùng nổ dân số, hiểu đơn giản là sự tăng nhanh chóng và độ
ngột của dân số trên toàn cầu, đặt ra một loạt thách thức lớn cho bảo vệ và bảo
tồn môi trường. Sự gia tăng đột biến trong số lượng người dân cũng gây ra một
loạt các vấn đề phức tạp và đa chiều cho môi trường tự nhiên, ảnh hưởng đến cả
hệ sinh thái và sức khỏe con người, gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Để
hiểu rõ hơn về tác động của bùng nổ dân số đối với môi trường, tiểu luận sẽ
đi sâu vào phân tích các yếu tố gây ra sự tăng nhanh của dân số và cách mà
chúng tác động lên môi trường. Các yếu tố này bao gồm tăng trưởng dân số,
tăng trưởng kinh tế, và thay đổi xã hội, tất cả đều góp phần vào việc áp đặt áp
lực lớn lên tài nguyên tự nhiên và hệ sinh thái. Một trong những vấn đề quan
trọng nhất mà bùng nổ dân số đặt ra đó chính là vấn đề về tài nguyên, và cách
con người sử dụng tài nguyên. Sự gia tăng đột biến của dân số đồng nghĩa với
việc tăng cường sử dụng tài nguyên như nước, đất đai, và năng lượng gây ra một
sức ép rất lớn cho trái đất. Việc khai thác quá mức và không bền vững của các
tài nguyên này có thể dẫn đến suy giảm nguồn cung, cũng như làm suy yếu hệ
sinh thái tự nhiên, làm chậm sự phát triển của các ngành kinh tế và xã hội. Bùng
nổ dân số cũng gây ra những vấn đề nghiêm trọng về ô nhiễm môi trường và sự
nóng lên toàn cầu. Sự tăng cường của hoạt động công nghiệp, giao thông vận
tải và tiêu dùng hàng ngày đều góp phần vào việc thải ra không khí, nước và đất
đai các chất gây ô nhiễm, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của cả con người và
các loài động, thực vật. Tuy nhiên, không chỉ là một vấn đề, bùng nổ dân số
cũng mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho sự phát triển bền vững, là một vấn đề
nan giải và khó khăn của các nước đang phát triển. Bằng cách hiểu rõ hơn về
tác động của bùng nổ dân số đối với môi trường và xã hội, chúng ta có thể đề
xuất và thực hiện các giải pháp và biện pháp ứng phó phù hợp nhằm giảm thiểu
ảnh hưởng tiêu cực và tạo ra một tương lai bền vững hơn cho hành tinh.
Trong bài tiểu luận này sẽ đi sâu vào phân tích để có thể hiểu rõ hơn các yếu tố
gây ra sự tăng nhanh của dân số và cách mà chúng tác động lên môi trường và
xã hội, đồng thời đề xuất các giải pháp và biện pháp ứng phó nhằm bảo vệ và phục hồi môi
trường giúp con người cải thiện cuộc sống. Đây là một bước quan trọng trong
việc hiểu và giải quyết một trong những thách thức lớn nhất mà nhân loại đang
phải đối mặt trong thế kỷ 21. II. PHẦN NỘI DUNG
1. Các khái niệm liên quan
Dân số là tập hợp của những con người đang sống ở một vùng địa lý hoặc
một không gian nhất định, là nguồn lao động quý báu cho sự phát triển kinh tế –
xã hội, thường được đo bằng cuộc điều tra dân số và biểu hiện bằng tháp dân số.
Bùng nổ dân số là sự gia tăng dân số quá nhanh trong một thời gian ngắn
gây ảnh hưởng tiêu cực đến mọi mặt đời sống xã hội. Bùng nổ dân số xảy ra khi
tỉ lệ gia tăng tự nhiên vượt quá 2,1%.
2. Thực trạng bùng nổ dân số tại Việt Nam
Vấn đề bùng nổ dân số đã là một trong các nguyên nhân làm chậm đi sự phát
triển của kinh tế-xã hội, khiến hoạt động của các ngành trở nên trì truệ và gây
ra nhiều vấn đề làm giảm
chất lượng cuộc sống của con người. Steve Jones, lãnh đạo 12
Trung Quốc, chỉ nhiêu đó ta có thể thấy được sự tăng dân số một cách kỉ lục chỉ
sau ngần ấy năm. Tính đến tháng 11 năm 2022, dân số ở thế giới đã đạt mốc lên
đến 8 tỷ người. Từ giữa thế kỷ 20, đã trải qua những giai đoạn gia tăng dân số
chưa từng có. Dân số thế giới đã tăng hơn gấp ba lần, trong giai đoạn từ năm
1950 đến năm 2020. Tốc độ tăng trưởng dân số của thế giới đạt mức cao
nhất trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 1970, với tăng trung bình là
2,1% năm. Vì thế, từ năm 1804 đến năm 1927 dân số thế giới phải đến 123
năm mới tăng thêm 1 tỷ người thì giai đoạn từ năm 1960 đến năm 2022 dân số
thế giới chỉ mất trung bình khoảng 12,4 năm để tăng lên 1 tỷ người. Trong đó,
giai đoạn gia tăng nhanh nhất của thế giới lên 1 tỷ người là năm 2011 đến năm
2022 khi chỉ mất khoảng 11 năm.Và Việt Nam cũng không ngoại lệ của việc
bùng nổ dân số, theo Tổng cục thống kê báo cáo về tình hình kinh tế-xã hội năm
2023 dân số trung bình của Việt Nam là 100,3 triệu người và tăng 834,8 nghìn
so với năm 2022. Hiện tại Việt Nam đang là quốc gia đông dân thứ ba trong
khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines) và đang đứng thứ 15 trên
thế giới. Trong đó nam giới là 50 triệu người, chiếm 49,9%; nữ chiếm 50,3
triệu người, chiếm 50,1%. Tỉ số giới tính của dân số là 99,5 nam/100 nữ. Tỷ lệ
tăng dân số ở khu vực Đông Nam Bộ là cao nhất với 3,2% năm. Dân số thành
thị của Việt Nam là 28,9 triệu người, còn ở vùng nông thôn khoảng 60.6 triệu
người, chiếm 67,6%. Với 20,4 triệu người, Đồng bằng sông Hồng là vùng có
quy mô dân số lớn nhất, chiếm 22,8% , tiếp đến là Bắc Trung Bộ và Duyên Hải
miền Trung chiếm 21,5%, Tây nguyên là vùng có dân số ít nhất chỉ chiếm
khoảng 6,1% dân số cả nước. Với quy mô dân số lớn , 13
đà dân số tăng cao sẽ còn tiếp tục tăng đến giữa thế kỷ 21 với hơn 100 triệu
người và sẽ vào nhóm 10 nước có số dân lớn nhất trên thế giới. Hai thành phố
có mật độ dân số cao trong cả nước là Hà Nội 2.398 người/km2 và TP.HCM 4.363
người/km2. Mật độ dân số của 2 trung tâm kinh tế xã hội này cao gấp hơn 10
lần so với mật độ chung của cả nước. Theo kết quả điều tra của Tổng cục
Thống kê, hiện mức sinh đang có dấu hiệu giảm nhẹ, tốc độ gia tăng
dân số giảm dần trong những năm gần đây; tốc độ tăng dân số trung bình của
năm 2022 là 0,98% và năm 2023 là 0,84%. Tuy tốc độ dân số có giảm nhưng
mức độ dân số vẫn còn khá lớn, đồng thời là nước nằm trong nhóm các nước có
mật độ dân số cao trên thế giới nhưng chất lượng dân số ở mức trung bình. Cơ
cấu dân số của Việt Nam đang dịch chuyển theo hướng tăng tỉ lệ người cao tuổi
và giảm tỉ lệ dân số trẻ. Việt Nam hiện đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng
và cũng đồng thời trong quá trình già hóa dân số.Tình trạng bùng nổ dân số ở
nước ta đồng thời cũng làm nhu cầu tìm việc làm tăng nhưng lại không đồng bộ
với sự phát triển của nền kinh tế, thành ra dẫn đến tình trạng thất nghiệp và
thiếu việc làm. Dân số tăng nhanh cũng khiến chất lượng nguồn lao động của
nước ta giảm sút khi tỷ lệ lao động có tay nghề và qua đào tạo còn thấp. Hiện
nay, việc dân số tăng nhanh ở Việt Nam đã gây áp lực nặng nề lên môi trường và
tài nguyên thiên nhiên ở nước ta. Điều này ảnh hưởng đến sự bền vững của phát
triển kinh tế xã hội và cũng như an ninh quốc gia và quốc tế. *Tóm lại
Dân số Việt nam hiện tại đang trải qua giai đoạn tăng nhanh, với tỉ lệ tăng
trưởng hằng năm khoảng 1%, đưa tổng dân số
dân lên 100 triệu người. Sự bùng nổ này đặt áp lực lớn lên nguồn lực kinh tế, xã
hội và môi trường, đặc biệt trong các thành phố lớn nơi đô thị hóa đang diễn ra
một cách nhanh chóng. Điều này đồng nghĩa với việc cần đảm bảo cung cấp đủ
dịch vụ y tế, giáo dục và hạ tầng cho một dân số đô thị ngày càng tăng lên. Tuy
nhiên bùng nổ dân số ở nước ta phân bố không đồng đều, với sự chênh lệch rõ
rệt giữa các vùng. Để đối phó với tình trạng này cần áp dụng các biện pháp bền 30 vững như tăng cường
giáo dục giới tính, cải thiện điều kiện sống và hỗ trợ kinh tế ở các vùng miền
phát triển chậm, Chính sách và chiến lược phát triển cần được đặt đảm bảo sự
cân đối giữa sự phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, đồng thời bảo đảm sự
công bằng bền vững cho tất cả các tầng lớp dân số.
3. Nguyên nhân dẫn đến bùng nổ dân số
Sự bùng nổ dân số là hiện tượng dân số tăng nhanh và đột biến trong một
khoảng thời gian ngắn. Đây là kết quả của sự kết hợp giữa nhiều yếu tố khác
nhau. Dưới đây là những yếu tố góp phần vào sự bùng nổ dân số:
Tăng trưởng tự nhiên: Sự gia tăng tự nhiên của dân số khi có sự kết hợp giữa tỉ
lệ sinh và tỉ lệ tử vong cao. Nếu tỉ lệ sinh vượt quá tỉ lệ tử vong, dân số sẽ tăng nhanh chóng.
Tăng trưởng dân số trẻ: Tỉ lệ người trẻ tuổi trong dân số cao cũng góp phần vào
sự bùng nổ dân số. Người trẻ thường có khả năng sinh sản cao hơn và thời gian
sinh con kéo dài hơn so với người già, do đó tạo ra một sự gia tăng dân số nhanh chóng.
Sự gia tăng về sức khỏe và y tế: Phát triển của y tế và sức khỏe công cộng giúp
giảm tỷ lệ tử vong, đồng thời tăng tuổi thọ và tạo ra môi trường thuận lợi cho sự gia tăng dân số.
Sự tăng trưởng kinh tế: Sự phát triển kinh tế và cải thiện đời sống của người
dân cũng ảnh hưởng đến sự gia tăng dân số. Khi đời sống cải thiện, mọi người
có đủ điều kiện để nuôi sống và nuôi dạy nhiều con hơn, dẫn đến sự gia tăng dân số.
Điều kiện sống thuận lợi: Sự cải thiện đáng kể về cơ sở hạ tầng, giáo dục, an
ninh, chính trị và văn hóa có thể tạo ra một môi trường sống thuận lợi, thúc đẩy sự gia tăng dân số.
Ngoài ra, nói về bùng nổ dân số, có 3 nguyên nhân được coi là nguyên nhân
chính đó là: Sự chênh lệch lớn về tỷ lệ sinh tử, nhu cầu về lực lượng sản xuất, quan niệm lạc hậu.
3.1 Sự chênh lệch lớn về tỷ lệ sinh từ
Trong giai đoạn đầu phát triển lịch sử phát triển của nhân loại, tỷ lệ sinh tương
đối cao do nhu cầu duy trì nòi giống và nhu cầu lực lượng sản xuất phục vụ
phát triển xã hội, trong khi đó tỉ lệ tử cũng tương đối cao do điều kiện sống hạn
chế, thiên tai, dịch bệnh nhiều... Do đó, trong giai đoạn này tỷ lệ sinh và tử 30 tương đối cân bằng.
Ngược lại, trong giai đoạn “bùng nổ dân số” tỷ lệ sinh vẫn tiếp tục được duy trì
trong khi đó tỷ lệ tử có xu hướng giảm do điều kiện sống được nâng cao, cùng với sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, các nhu cầu cơ bản của con người được chú
trọng đặc biệt là trong công tác vệ sinh và y tế dẫn tới tỉ lệ từ giảm xuống.
Thêm vào đó, tuổi thọ của con người được nâng cao dần, năm 1975 tuổi trung
bình của dân cư thế giới là 21,9 tuổi, tới năm 2000 là 26,6 tuổi. quá trình toàn
cầu hóa đã mang lại cho các quốc gia kém phát triển khả năng tiếp cận với
những tiến bộ khoa học kĩ thuật. Những căn bệnh trước kia được coi là nan y
đã tìm ra phương pháp chữa trị, người dân đã biết sử dụng rộng rãi các loại
thuốc vắc-xin, thuốc kháng sinh...
Mặt khác khoa học kĩ thuật cũng góp phần làm giảm tỉ lệ tử ở trẻ sơ sinh, mang
lại nhiều cơ hội cho các cặp vợ chồng hiếm
muộn... Chính những yếu tố trên đã làm nảy sinh tình trạng mất cân bằng giữa
sinh và tử, dẫn đến tình trạng tăng dân số một cách chóng mặt.
3.2 Nhu cầu về lực lượng sản xuất
Từ nhu cầu về lao động trong phạm vi gia đình mà mọi người đã có tâm lý sinh
nhiều con. Ví dụ như là ở các vùng điều kiện kinh tế chưa phát triển thường các
gia đình sẽ sinh con nhằm mục đích để có thêm người làm giúp đỡ đần kinh tế.
Ở các quốc gia chậm phát triển, nơi mà khoa học kỹ thuật chưa phát triển thì lại
có nhu cầu sử dụng lao động chân tay và sử dụng sức người sẽ càng lớn. Vậy
nên họ lại càng mong muốn có thêm nhiều con.
3.3 Quan niệm lạc hậu
Ở một số nước nghèo và các nước đang phát triển thì vẫn để tiếp cận, và nhận
thức về dân số còn rất hạn chế, đặc biệt là châu phi và một số nước ở châu Á,
kinh tế nghèo đói, lương thực không đủ ăn chưa nói đến vấn đề tiếp cận đến vấn
đề giáo dục dân số và kế hoạch hóa gia đình. Họ thiếu những kiến thức và
phương tiện cơ bản về phòng tránh thai.
Thậm chí nhiều khi chính các nhà lãnh đạo cũng có nhận thức chưa đầy đủ về
vấn đề này, ví dụ cách đây 8 năm thị trưởng thành phố Manila đã ra lệnh cấm
các trung tâm y tế cung cấp các biện pháp ngừa thai hiện đại như bao cao su,
thuốc tránh thai và triệt sản nhằm mục đích bảo vệ các giá trị cuộc sống
4. Ảnh hưởng tới môi trường sống 30
4.1 Tăng cường áp lực lên tài nguyên tự nhiên
4.1.1 Sự cạnh tranh về tài nguyên môi trường.
Hiện tượng phổ biến trong xã hội hiện đại khi nguồn tài nguyên môi trường
nước, không khí, đất đai và nguồn năng lượng trở nên khan hiếm và bị ô nhiễm.
Đây là một vấn đề ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác nhau về môi trường sống:
4.1.2 Sự giảm thiểu và suy thoái tài nguyên
Sự giảm thiểu tài nguyên: Đây là quá trình sử dụng tài nguyên môi trường một
cách không bền vững, dẫn đến việc cạn kiệt tài nguyên hoặc làm giảm chất
lượng của chúng. Các hoạt động
khai thác, sản xuất và tiêu thụ không kiểm soát có thể gây ra sự giảm thiểu tài
nguyên. Điều này cần được giải quyết thông qua việc thiết lập các chính sách
quản lý tài nguyên, khuyến khích sử dụng tài nguyên tái tạo và phát triển công
nghệ tiết kiệm tài nguyên.
Suy thoái tài nguyên: Suy thoái tài nguyên là quá trình mất mát hoặc suy giảm về
số lượng hoặc chất lượng của tài nguyên môi trường. Điều này có thể bao gồm
suy giảm đất đai, mất rừng, suy giảm nguồn nước ngầm, và hủy hoại hệ sinh
thái. Suy thoái tài nguyên thường được gây ra bởi các hoạt động như khai thác
mìn, phá rừng, và sử dụng không bền vững của đất đai. Để ngăn chặn suy thoái
tài nguyên, cần thiết lập các biện pháp bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái,
và xây dựng các nguyên tắc phát triển bền vững.
Để đối phó với cả hai vấn đề này, cần phải có các biện pháp quản lý hiệu quả
và các chính sách bảo vệ môi trường. Ngoài ra,
việc phục hồi và tái tạo các tài nguyên môi trường là rất quan trọng để khôi
phục lại sự cân bằng tự nhiên và đảm bảo sự sống bền vững cho các thế hệ
tương lai. Sự nhận thức về tác động của các hoạt động của con người đối với
môi trường cần được tăng cường để tạo ra hành động tích cực và bền vững.
4.1.3 Mất môi trường sống tự nhiên
Một vấn đề nghiêm trọng đang diễn ra trên khắp thế giới. Đây là tình trạng mà
môi trường tự nhiên - bao gồm cả đất đai, nước, không khí và các loài sống -
đang bị suy giảm và suy thoái do ảnh hưởng của con người. Mất môi trường tự
nhiên có thể có các nguyên nhân như: Phá rừng, khai thác gỗ, biến đổi khí hậu,…
4.2 Ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị ô nhiễm bởi việc đưa
hóa chất gây ô nhiễm vào môi trường tự nhiên, đồng thời các tính chất vật lý,
hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây tác hại tới sức khỏe con người và các sinh vật khác.
4.2.1 Vấn đề tăng lượng rác thải của môi trường.
Theo số liệu thống kê, bình quân mỗi năm cả nước phát sinh thêm khoảng
25.000 tấn rác thải sinh hoạt, tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ các đô 30
thị có xu hướng tăng trung bình từ 10% - 16%. Trong đó, tỷ lệ thu gom rác thải
tại các đô thị bình quân trên cả nước chỉ đạt khoảng 70% - 85%.Hiện nay, trên
toàn quốc lượng chất thải sinh hoạt ở các khu đô thị phát
sinh 38.000 tấn mỗi ngày, tỷ lệ thu gom, xử lý hơn 85%. Con số này ở nông
thôn là 32.000 tấn mỗi ngày và chỉ thu gom được khoảng 55%. Rác thải sinh
hoạt ảnh hưởng rất lớn đến cả nguồn nước mặt và nước ngầm. Rác có thể do
người dân đổ trực tiếp hoặc bị cuốn trôi theo nước mưa xuống sông, ao hồ,
cống rãnh… Lượng rác này sau khi bị phân huỷ sẽ tác động trực tiếp và gián
tiếp đến chất lượng nước mặt, nước ngầm trong khu vực, làm ô nhiễm nguồn
nước mặt, nước ngầm, gây ra các bệnh nguy hiểm.
Trong thành phần rác thải có chứa nhiều chất độc, khi rác thải được đưa vào
môi trường và không được xử lý khoa học thì những chất độc xâm nhập vào đất
sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật có ích cho đất, làm cho môi trường đất bị giảm
tính đa dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây trồng. Đặc biệt,
hiện nay, việc sử dụng tràn lan các loại túi nilon trong sinh hoạt hằng ngày, mà
các túi nilon này cần 50 - 60 năm mới phân hủy trong đất. Do đó, chúng tạo
thành các bức tường ngăn cách trong đất, hạn chế quá trình phân hủy, tổng hợp
các chất dinh dưỡng, làm cho đất giảm độ phì nhiêu, đất bị chua và năng suất cây trồng giảm sút.
Trong rác thải sinh hoạt, thường hàm lượng hữu cơ chiếm tỷ lệ lớn. Các loại rác
hữu cơ dễ phân huỷ gây hôi thối, phát triển vi khuẩn gây hại làm ô nhiễm, mất
vệ sinh môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe. Khu tập trung rác là nơi thu hút,
phát sinh và phát triển chuột, ruồi, muỗi, gián, các loại vi trùng gây nhiều
chứng bệnh truyền nhiễm cho con người, vật nuôi trong gia đình. Rác thải
không được thu gom, tồn đọng trong không khí, lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến sức
khoẻ của những người sống xung quanh… Đặc biệt, các bãi rác công cộng là nguồn mang dịch bệnh.
4.2.2 Vấn đề ô nhiễm không khí, nước và đất đai hiện nay.
Dân số đông hơn đồng nghĩa với nhu cầu về đất đai, nước sạch, không khí sạch,
tài nguyên cũng lớn hơn rất nhiều. Gia tăng dân số quá nhanh dẫn đến tình trạng
thiếu nước sạch, suy giảm tài nguyên ở nhiều quốc gia.
-Ô nhiễm không khí
Tình trạng mà không khí môi trường xung quanh chúng ta bị ô nhiễm bởi các
chất độc hại, vi khuẩn, hạt bụi và các chất gây ô nhiễm khác. Đây là một vấn đề
lớn đối với sức khỏe của con người và môi trường tự nhiên. Các nguồn gây ra ô
nhiễm không khí bao gồm:
+ Khí thải từ phương tiện giao thông: Các phương tiện động cơ, đặc biệt là
xe hơi và xe máy, thải ra khí thải có chứa
các chất gây ô nhiễm như khí CO2, khí nitơ oxit (NOx), và hạt bụi, góp phần
vào ô nhiễm không khí đô thị.
+ Công nghiệp: Các nhà máy và nhà máy sản xuất thải ra khí thải và hạt bụi
trong quá trình sản xuất, gây ô nhiễm không khí xung quanh.
+ Đốt cháy rác và than: Việc đốt cháy rác và than không chỉ gây ra ô nhiễm 30
không khí mà còn thải ra các chất độc hại như dioxin và furan.
+ Nông nghiệp: Sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu trong nông nghiệp có thể
tạo ra khí ammonia và khí methane, gây ra ô nhiễm không khí.
+ Hóa chất và khí thải công nghiệp: Việc sản xuất và sử dụng hóa chất cũng
có thể tạo ra khí thải độc hại và gây ô nhiễm không khí. - Ô nhiễm nước
Nước trong tự nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: nước cống, nước ở
các sông hồ, tồn tại ở thể hơi trong không khí. Nước bị ô nhiễm nghĩa là thành
phần của nó tồn tại các chất khác, mà các chất này có thể gây hại cho con người
và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Nước ô nhiễm thường là khó khắc phục
mà phải phòng tránh từ đầu. Các nguồn gây ra ô nhiễm nước bao gồm:
+ Thải chất thải: Việc xả thải từ nhà máy công nghiệp, trang trại, và các khu
dân cư trực tiếp vào dòng sông hoặc hồ nước là một nguồn gây ô nhiễm nước lớn.
+ Rác thải nhựa: Rác thải nhựa, đặc biệt là các túi nhựa, chai nhựa, và vật liệu
nhựa khác, có thể bị xả vào dòng sông và biển, gây ra ô nhiễm nước và gây hại
cho các loài sống trong nước.
+ Sự đổ dầu và hóa chất: Sự rò rỉ dầu từ tàu thủy hoặc các cơ sở lưu trữ dầu,
cũng như việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp và công nghiệp có thể gây ô nhiễm nước nặng nề.
+ Sự xả thải từ hoạt động khai thác mỏ: Việc khai thác mỏ có thể làm rò rỉ
các hóa chất độc hại và các kim loại nặng vào môi trường nước.
+ Thải chất phóng xạ: Chất phóng xạ từ các nhà máy hạt nhân có thể coi là
nguồn ô nhiễm mới nhưng lại vô cùng nguy hiểm. Khi khai thác Uranium để
phục vụ cho các nhà máy đã
có một lượng bức xạ phóng ra môi trường sống. Đồng thời đây cũng là nguyên
liệu cho các vũ khí quân sự khi chiến tranh bùng nổ.
-Ô nhiễm đất đai
Một phần biểu hiện của việc suy thoái đất do sự tồn tại của hóa chất xenobamel
(do con người tạo ra) hoặc do những sự thay đổi khác trong môi trường đất tự
nhiên. Nó thường được gây ra bởi các hoạt động trong công nghiệp, hóa chất
trong nông nghiệp hoặc xử lý chất thải không đúng quy định. Ô nhiễm đất đai có
thể gây ra nhiều vấn đề, bao gồm mất năng lượng sinh học, suy giảm sinh sản
của đất, và ô nhiễm nguồn nước ngầm. Để giảm thiểu ô nhiễm đất đai, các biện
pháp như sử dụng phân bón hữu cơ, quản lý chất thải hiệu quả, bảo vệ khu vực
rừng và đất đai tự nhiên. Các nguồn gây ra ô nhiễm đất đai bao gồm:
+ Sử dụng phân bón và hóa chất nông nghiệp: Việc sử dụng phân bón và
hóa chất trong nông nghiệp có thể dẫn đến việc các chất hóa học như nitrat và
phosphate lọc vào đất, gây ô nhiễm và làm mất cân bằng độ pH của đất.
+ Xử lý chất thải: Việc xử lý chất thải không bền vững, đặc biệt là chất thải 30