



















Preview text:
I.PHẨN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài :
Trong bối cảnh đô thị hóa và hiện đại hóa không ngừng. Mỗi người chúng ta đều
đứng trước lựa chọn: là góp phần bảo vệ môi trường hoặc là trở thành nguyên nhân gây
hại cho chính nơi mình đang sống. Để xây dựng một thành phố xanh – sạch – đẹp,
không chỉ cần những chính sách phù hợp, mà còn cần ý thức và hành động từ mỗi cá
nhân. Vì vậy, lý do chọn đề tài "Giải pháp bảo vệ môi trường từ chính sách đến hành
động của con người" bắt nguồn từ hiện trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm
trọng tại TP. Hồ Chí Minh. Đây là một trong những đô thị có tốc độ phát triển nhanh
và mật độ dân cư cao nhất cả nước. Với dân số không ngừng tăng lên, lượng chất thải
rắn sinh hoạt (CTRSH) phát sinh từ các hộ gia đình và hoạt động sản xuất kinh doanh
cũng gia tăng đáng kể và gây áp lực lớn lên hệ thống quản lý chất thải của thành phố.
Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, vào năm 2024, TP. Hồ Chí Minh trung
bình thu gom khoảng 10.000 tấn chất thải rắn mỗi ngày, trong đó chất thải nhựa chiếm
tỉ lệ đáng kể. Mỗi năm thành phố có thêm hàng chục nghìn tấn chất thải mới, tạo ra
nhiều thách thức lớn đối với công tác xử lý và bảo vệ môi trường và ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng sống và sức khỏe của người dân.
Thực tế cho thấy, tình trạng xả rác bừa bãi vẫn diễn ra tại nhiều khu vực trong thành
phố. Đặc biệt là những khu vực gần sông, hồ, kênh rạch, cống rãnh. Thói quen xả rác
tại các nơi công cộng hoặc tại các vị trí thoát nước khiến cho rác thải dễ dàng bị cuốn
theo nước mưa vào các nguồn nước mặt như ao, hồ, kênh rạch, gây ô nhiễm nước
nghiêm trọng. Sự tồn đọng của rác thải trong các kênh mương, ao hồ không chỉ làm tắc
nghẽn hệ thống thoát nước, gây ngập úng trong mùa mưa mà còn ảnh hưởng đến khả
năng tự làm sạch của nguồn nước và làm suy thoái hệ sinh thái. Lâu dần, tình trạng ô
nhiễm này sẽ làm giảm diện tích của các nguồn nước tự nhiên, đồng thời tạo môi
trường sinh sống lý tưởng cho nhiều loài côn trùng gây bệnh như ruồi, muỗi. Điều này
không chỉ ảnh hưởng đến hệ sinh thái nước mà còn là nguyên nhân gây ra nhiều loại 1
bệnh truyền nhiễm như sốt xuất huyết, tả, lỵ, tiêu chảy và nhiều bệnh mãn tính khác
ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng.
Không chỉ dừng lại ở nước, ô nhiễm do chất thải rắn còn tác động nghiêm trọng đến
đất và không khí. Với thành phần chất thải rắn sinh hoạt chứa nhiều nhựa và túi nilon
mất hàng chục năm thậm chí hàng trăm năm để phân hủy. Khi chúng được xả trực tiếp
ra môi trường, chúng tạo thành những lớp cản trở quá trình trao đổi chất tự nhiên trong
đất, gây suy thoái chất lượng đất, làm giảm độ phì nhiêu, ảnh hưởng đến cây trồng và
sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, chất thải hữu cơ nếu không được xử lý đúng cách sẽ
bốc mùi hôi thối, làm giảm chất lượng không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe của
người dân sống xung quanh. Những người thường xuyên tiếp xúc với rác thải, đặc biệt
là người lao động tại các bãi rác có nguy cơ cao mắc các bệnh về hô hấp, da liễu, bệnh
ngoài da, phụ khoa và nhiều bệnh truyền nhiễm khác. Ngoài ra, các bãi rác không được
xử lý đúng cách sẽ trở thành nơi trú ngụ của các loài vi sinh vật gây bệnh, ký sinh
trùng có thể dễ dàng lây nhiễm qua các vết thương hở hoặc niêm mạc da, đặc biệt trong
điều kiện thời tiết ẩm ướt, mưa nhiều, sẽ làm gia tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh.
Trước những vấn đề trên, đề tài "Giải pháp bảo vệ môi trường từ chính sách đến
hành động của con người" được thực hiện nhằm nghiên cứu, tìm hiểu vai trò và hiệu
quả của các chính sách về quản lý và xử lý chất thải của thành phố, đồng thời đánh giá
mức độ nhận thức và hành vi của người dân trong việc bảo vệ môi trường. Nghiên cứu
không chỉ hướng đến việc tìm ra những giải pháp hiệu quả để cải thiện chất lượng sống
mà còn nâng cao nhận thức của cộng đồng, khuyến khích mỗi cá nhân thực hiện các
hành động bảo vệ môi trường ngay từ gia đình. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu mối quan
hệ giữa các chính sách bảo vệ môi trường và hành động của người dân sẽ giúp đề xuất
những biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý rác thải, đảm bảo phát triển bền vững, góp
phần xây dựng TP. Hồ Chí Minh trở thành một đô thị xanh – sạch – đẹp, nơi mà mỗi
người dân đều có ý thức và hành động bảo vệ môi trường sống của mình. Đó là lí do
chúng tôi chọn tên đề tài tiểu luận “ GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỪ
CHÍNH SÁCH ĐẾN HÀNH ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI”. 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu: Nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường.
Mục tiêu cụ thể 1: Nguyên nhân và quy định chung về bảo vệ môi trường.
Mục tiêu cụ thể 2: Hành động của con người trong việc bảo vệ môi trường.
Mục tiêu cụ thể 3: Đề xuất các giải pháp sử dụng công nghệ bảo vệ môi trường hiệu quả.
1.3 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu này xem xét hiệu quả của các chính sách quản lý môi trường và xử lý
chất thải tại TP. Hồ Chí Minh, nhằm đánh giá mức độ nhận thức và hành vi của người
dân trong việc bảo vệ môi trường.
1.4 Đối tượng nghiên cứu; khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp bảo vệ môi trường từ chính sách đến hành động của con người.
Khách thể nghiên cứu: Đánh giá nhận thức và các hành vi của người dân liên quan
đến bảo vệ môi trường.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài tiểu luận này chúng tôi thực hiện phương pháp nghiên cứu thứ cấp qua thu
thập thông tin từ những nguồn đã có từ trước, từ các báo cáo của chính phủ, tổ chức xã
hội, tổ chức phi chính phủ, các nghiên cứu, báo cáo khoa học trong nước và ngoài nước
có liên quan đến đề tài .
1.6 Tổng quan nghiên cứu, báo cáo trước
Nghiên cứu “HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2021 CƠ QUAN CHỦ TRÌ” của SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG.
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất Việt Nam cả về quy mô lẫn dân số; vị trí
địa lý thuận lợi. Do vậy, Thành Phố Hồ Chí Minh có nền kinh tế-xã hội phát triển nhất
trong cả nước. Sau hơn 3 tháng thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 16 từ tháng 7/2021 đến
nay tình hình dịch COVID-19 ở TP.HCM cơ bản đã được kiểm soát. Theo dữ liệu của
Cục Thống kê TP.HCM, tình hình kinh tế - xã hội năm 2021 giảm 6,78% so với cùng kỳ
năm trước, đây được xem là mức giảm sâu nhất trong lịch sử nguyên nhân do tác động
của đại dịch COVID-19.Trong khi CPI bình quân năm 2021 tăng 2,36% so với cùng kỳ
năm ngoái. Riêng tháng 12/2021, CPI tăng 1,24% so với cùng kỳ năm trước.Theo số 3
liệu Tổng điều tra dân số năm 2019 thì dân số thành phố là hơn 8,9 triệu dân, là thành
phố đông dân nhất cả nước chiếm tỷ trọng 9,4% dân số cả nước; tỷ lệ dân số khu vực
thành thị là 79,2%, quỹ đất trong khu vực trung tâm thành phố ngày càng thu hẹp. Hội
nhập quốc tế là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, Việt Nam đang tham gia 17 FTA
với khoảng 60 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Với vai trò đầu tàu kinh tế, kinh
tế Thành phố vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá, đóng góp khoảng 23% GDP và
khoảng 27% ngân sách quốc gia. Cũng chính vì sự phát triển trên mà đã tạo cho
TP.HCM nhiều sức ép lớn. Với sức ép về dân số (khoảng 9 triệu dân), mỗi ngày
TP.HCM thải ra môi trường lượng nước thải sinh hoạt tương ứng vào khoảng 1.451.000
m3/ngày (80% lượng nước cấp) và có 3 nhà máy/trạm xử lý nước thải đã đưa vào vận
hành. Về sức ép công nghiệp, hiện có 4.213/4.335 cơ sở (đạt 97%) với tổng lượng nước
thải được thu gom xử lý đạt quy chuẩn môi trường là 99% thực hiện xử lý nước thải. Có
23 khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố; có 03 cụm công nghiệp; việc
xử lý nước thải được thực hiện cục bộ tại các doanh nghiệp trước khi thải ra môi trường;
có 781/806 (đạt 97%) nguồn thải khí được xử lý qua hệ thống xử lý khí thải trước khi
thoát ra môi trường. Sức ép của ngành giao thông - vận tải chiếm lượng phát thải lớn
nhất cho tất cả các chất gây ô nhiễm không khí. Theo kết quả đo đạc các chỉ tiêu về chất
lượng không khí năm 2019 tại 19 vị trí quan trắc không khí do hoạt động giao thông so
với đầu kỳ năm 2016, hầu hết các chỉ tiêu đều đạt quy chuẩn cho phép ngọai trừ TSS
( tổng chất rắn lơ lửng trong nước). Các giải pháp ngành Giao thông vận tải triển khai
thực hiện đã mang lại kết quả tích cực góp phần làm giảm lượng phát thải các chất ô
nhiễm. Theo diễn biến chất lượng không khí năm 2020 so với QCVN ( Quy chuẩn kĩ
thuật Quốc Gia ) 05:2013/bộ tài nguyên môi trường thì nồng độ trung bình của CO, NOx, SO 100% 2
số liệu đạt chuẩn; riêng nồng độ trung bình giờ của bụi lơ lửng chỉ đạt
63,3%. Sức ép hoạt động nông - lâm nghiệp và thủy sản thì lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ
thực vật là vấn đề sử dụng phân bón và thuốc hóa học trong sản xuất (hiện nay có 489 bể
thu gom bao bì vỏ chai thuốc bảo vệ thực vật ); trong chăn nuôi chủ yếu từ hoạt động
chăn nuôi, giết mổ (có 89 cơ sở chăn nuôi và 13 cơ sở giết mổ); trong thủy sản, ước tính
tổng lượng rác thải do tàu khai thác có chiều dài từ 6m vào khoảng 64.143 tấn/năm. Với
sức ép từ y tế, 100% bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải (04/124 bệnh viện chưa đạt
chuẩn) và 100% chất thải y tế phát sinh được phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và
giao cho đơn vị có chức năng để xử lý. Ngoài ra, TP.HCM có 4.426 cơ sở lưu trú du lịch
với hơn 46.800 phòng; trong đó 1.313 khách sạn từ 1-5 sao với 16.767 phòng và 3.113
cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn tối thiểu kinh doanh lưu trú du lịch với hơn 30.000 phòng.
Do dịch bệnh, tính đến 09 tháng đầu năm 2021, khách quốc tế đến TP.HCM là 0
lượt; khách du lịch nội địa ước đạt 7.750.000 lượt khách, giảm 31% so với 9 tháng 2020
và giảm 52% so với 9 tháng năm 2019. Từ lượng khách du lịch ghé thăm và thời gian
lưu trú bình quân, lượng nước thải phát sinh từ khách du lịch ước khoảng 1.250.000 m ,3
giảm 81% so với cùng kỳ năm 2019. Theo đó, lượng khí CO phát 2 thải cũng giảm đáng kể so với năm 2019.
Hiện trạng môi trường
Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt lục địa trên địa bàn TP.HCM năm 2021 so với
năm 2020, các chỉ tiêu hàm lượng TSS (tổng chất rắn lơ lửng trong nước), hàm 4
lượng amoni và nồng độ BOD tăng 5
tại 69%; các chỉ tiêu độ còn lại có xu hướng
giảm tại 56 - 100% các điểm quan trắc. Kết quả phân tích kim loại nặng: Fe tại 81% các
điểm không đạt quy chuẩn Việt Nam đối với nguồn nước mặt loại B (QCVN 1 08- MT:2015/BTNMT).
Kết quả phân tích các chỉ tiêu kim loại nặng trong nước biển ven bờ năm 2021 tại tất
cả các vị trí quan trắc đều đạt quy chuẩn Việt Nam (QCVN 10-MT:2015/BTNMT; giới
hạn khu vực nuôi trồng thủy sản và khu vực bãi tắm). Tất cả các chỉ tiêu kim loại nặng
trong trầm tích đáy ven biển Cần Giờ trong năm 2021 đều đạt quy chuẩn Việt Nam
(QCVN 43:2012/BTNMT đối với bùn đáy cửa biển: nồng độ chì (Pb) 112 mg/kg;
cadimi (Cd) 4,2 mg/kg; thủy ngân (Hg) 0,7 mg/kg; asen (As) 41,6mg/kg; đồng (Cu) 108 mg/kg).
Trong năm 2021, nhìn chung chất lượng môi trường không khí có cải thiện: chỉ tiêu CO, NO hoàn 2
toàn đạt QCVN và có xu hướng giảm so với năm 2020; các chỉ tiêu Bụi,
PM10, cũng được cải thiện (giảm hầu hết tại các vị trí quan trắc); riêng 2 chỉ tiêu là
SO2 tuy đạt QCVN tại các kỳ quan trắc nhưng so với năm 2020 chỉ tiêu này đang có
xướng tăng; chỉ tiêu Benzen có 25% số liệu vượt QCVN và đang có xu hướng tăng tại
hầu hết các trạm quan trắc.
Công tác xây dựng cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý tỷ lệ 1/2.000, 1/5.000 khu vực
TP.HCM, Sở Tài nguyên và Môi trường đã bàn giao dữ liệu bình đồ ảnh, mô hình số độ
cao và dữ liệu nền thông tin địa lý, dữ liệu bản đồ địa hình cho Ủy ban nhân dân Thành
phố Thủ Đức để làm quy hoạch và Sở Thông tin và Truyền thông khai thác sử
dụng. Căn cứ kế hoạch được duyệt, Sở Tài nguyên và Môi trường đang phối hợp Sở
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện các nhóm ứng dụng: Xây dựng cơ sở dữ
liệu giám sát đường bờ (sông, hồ, biển); ứng dụng trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu
phục vụ tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, phòng chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu;
giám sát lún bề mặt đất. Kết quả phân tích các mẫu quan trắc cho thấy chất lượng thành
phần môi trường đất trên địa bàn TP.HCM chưa bị ô nhiễm bởi tồn dư thuốc bảo vê • thực
vâ •t, đất thuộc nhóm trung bình đến giàu hữu cơ, nghèo lân và kali tổng số.
Hiện trạng đa dạng sinh học theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP.HCM
có 3 hệ sinh thái đặc trưng: rừng gập mặn, ngập phèn, gò đồi. Trong đó diện tích rừng
ngập mặn năm 2020 là 33.672,79 ha và diện tích các hệ sinh thái tự nhiên có tầm quan
trọng địa phương, quốc gia và quốc tế là 13.497,64 ha. TP.HCM không có các thảm cỏ
biển và rạn san hô. Trong những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
luôn được các đơn vị quan tâm thực hiện có hiệu quả, nâng cao khả năng phòng hộ, hạn
chế thiên tai, điều hòa khí hậu, đảm bảo hệ sinh thái rừng ngập mặn phát triển bền vững.
Đối với công tác quản lý chất thải rắn, công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại
nguồn đang tồn tại song song hai hệ thống gồm hệ thống thu gom công lập do lực lượng
của Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạng Môi Trường Việt, Môi trường đô thị Thành phố,
Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạng Môi Trường Việt Dịch vụ công ích quận, huyện thực
hiện và hệ thống thu gom do các công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ/đường dây
thu gom rác dân lập thực hiện. Để vận hành hệ thống thu gom, vận chuyển chất thải rắn
sinh hoạt nêu trên, hiện nay Thành phố có khoảng 908 điểm hẹn tập trung chủ yếu ở các 5
quận nội thành và phân bố rải rác ở các huyện ngoại thành và 27 trạm trung chuyển đang
hoạt động với nhiều quy mô khác nhau. Người dân thực hiện phân loại chất thải rắn tại
nguồn theo Quyết định 09/2021/QĐ-UBND thành nhóm chất thải có thể tái chế và nhóm
chất thải còn lại. Chất thải có thể tái chế (phế liệu) được bán cho các cá nhân/tổ chức thu
mua ve chai/phế liệu hoặc cho người thu gom. Chất thải còn lại được Công ty TNHH
MTV Dịch vụ công ích huyện, Hợp tác xã hoặc các Công ty tư nhân thu gom.
Đối với Biến đổi khí hậu, thiên tai, sự cố môi trường được thể hiện thông qua sự gia
tăng của bão, xâm nhập mặn, mưa lớn, ngập lụt, nắng nóng và tình trạng hạn hán kết
hợp với mức độ nhạy cảm thiên tai. Phát thải khí nhà kính của TPHCM năm 2013 và
năm 2016 lần lượt là 38,5 triệu tấn và 52,2 triệu tấn CO tương 2
đương. Với dân số của
năm 2013 là 7,8 triệu và năm 2016 là 8,4 triệu người, ước tính lượng phát thải bình quân
đầu người của TPHCM là 4,9 tấn (2013) và 6,2 tấn CO tương 2 đương (2016). Qua kết
quả thống kê cho thấy, trong năm 2021 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã xảy ra 01
sự cố chìm sà lan tải trọng 800 tấn.Về đánh giá quy mô, sự cố có quy mô nhỏ và chủ
phương tiện có năng lực và nguồn lực cần thiết để tự triển khai ứng phó nếu có sự cố
tràn dầu xảy ra, chưa phát hiện dấu hiệu dầu tràn từ khoang chứa dầu của sà lan. Đến
nay, đơn vị cứu hộ đã tìm được vị trí sà lan bị chìm và đang triển khai các phương án để
trục vớt. Đồng thời, địa bàn thành phố Hồ Chí Minh không xảy ra sự cố hóa chất trong năm 2021.
Tác động của ô nhiễm môi trường đã ảnh hưởng đến sức khỏe con người (thông qua 2
con đường chính là: Ăn uống và tiếp xúc); các vấn đề kinh tế-xã hội; cảnh quan và hệ
sinh thái do ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí; phát sinh xung đột môi trường
(Theo Quyết định số 729/QĐ-TTg ngày 19 tháng 6 năm 2012 thì dự kiến Quy hoạch
tổng thể cấp nước Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025 và nhu cầu cấp nước của
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025 là 3,7 triệu m /ngày đêm). 3
Các thách thức trong bảo vệ môi trường có những thách thức như: Công tác phối hợp
giữa Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành còn chưa đồng bộ; công tác phối hợp
giữa các sở ngành, Ủy ban nhân dân các quận - huyện còn chưa kịp thời; công tác tuyên
truyền chưa hiệu quả; công tác quản lý chất thải rắn còn gặp nhiều khó khăn.
Để giải quyết những thách thức trên thì cơ quan quản lý đã đề ra các giải pháp như:
tăng cường sự tham gia và phối hợp của các Sở ban ngành, Mặt trận Tổ quốc, các tổ
chức chính trị - xã hội, Ủy ban nhân dân các quận huyện và các đơn vị có liên quan
trong công tác truyền thông nâng cao nhận thức trong cộng đồng; hoàn thiện cơ chế
chính sách để thu hút các ngành nghề đầu tư trong lĩnh vực môi trường; nâng cao năng
lực quản lý, phát triển nguồn nhân lực, hiện đại hóa cơ sở vật chất; đẩy mạnh đầu tư
công nghệ cao, khuyến khích việc sử dụng công nghệ, thiết bị tiên tiến trong sản xuất,
kinh doanh, giảm thiểu chất thải, kiểm soát và xử lý triệt để ô nhiễm, kết hợp xử lý chất
thải tạo năng lượng, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường sinh thái. Tăng cường
liên kết, hợp tác với các tỉnh, thành phố trong vùng và các vùng lân cận và quốc tế trong
quản lý, giải quyết các vấn đề tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. II. Nội dung 6 1 Khái niệm
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị ô nhiễm bởi việc con người
đưa hóa chất gây ô nhiễm vào môi trường tự nhiên, đồng thời các tính chất vật lý, hóa
học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây tác hại tới sức khỏe con người và các sinh
vật khác. Ô nhiễm môi trường có thể ở dạng bất kỳ chất nào (rắn, lỏng hoặc khí) hoặc
năng lượng(chẳng hạn như phóng xạ, nhiệt, âm thanh hoặc ánh sáng). Mặc dù ô nhiễm
môi trường có thể do các sự kiện tự nhiên gây ra, nhưng đa số ô nhiễm do con người tạo
nên. Ô nhiễm thường được phân loại là ô nhiễm nguồn điểm hoặc nguồn không điểm.
Năm 2015, ô nhiễm đã giết chết chín triệu người trên toàn thế giới (cứ sáu người bị
nhiễm thì có một người chết). Ngoài ra,ô nhiễm còn do một số hoạt động của tự nhiên
khác có tác động tới môi trường.
Ô nhiễm đất: Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả do các hoạt động của con người làm
thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái của các quần xã sống
trong đất. Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn, là
nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa của con
người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài nguyên đất vào hoạt
động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực thực phẩm cho con
người. Nhưng với nhịp độ gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt
động đô thị hoá như hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất
lượng đất ngày càng bị suy thoái, diện tích đất bình quân đầu người giảm. Riêng chỉ
với ở Việt Nam, thực tế suy thoái tài nguyên đất là rất đáng lo ngại và nghiêm trọng.
Ô nhiễm nước: Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi theo chiều tiêu cực của các
tính chất vật lý – hóa học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể
lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ
đa dạng các sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô
nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.
Nước bị ô nhiễm là do sự phú dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các
vùng ven biển, vùng biển khép kín. Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu 7
cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hóa được.
Kết quả làm cho hàm lượng ôxytrong nước giảm đột ngột, các khí độc tăng lên, tăng độ
đục của nước, gây suy thoái thủy vực. Ở các đại dương là nguyên nhân chính gây ô
nhiễm đó là các sự cố tràn dầu. Ô nhiễm nước có nguyên nhân từ các loại hóa chất,
chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp thải ra sông, ra biển, đại dương mà chưa qua xử lý;
các loại phân bón hoá học và thuốc trừ sâu dư thừa trên đồng ruộng ngấm vào nguồn
nước ngầm và nước ao hồ; nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu dân cư ven sông
gây ô nhiễm trầm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân, sinh vật trong khu
vực. Các loại chất độc hại đó lại bị đưa ra biển và là nguyên nhân xảy ra hiện tượng
"thủy triều đỏ", gây ô nhiễm nặng nề và làm chết các sinh vật sống ở môi trường nước.
Trong những năm gần đây, có hiện tượng gọi là sa mạc hóa biển do ô nhiễm mà ra.
Chúng ta cần khắc phục điều này thật nhanh chóng để bảo vệ hệ sinh thái biển.
Ô nhiễm không khí: Một hậu quả nữa của ô nhiễm khí quyển là hiện tượng lỗ thủng
tầng ôzôn. CFC là "kẻ phá hoại" chính của tầng ôzôn. Sau khi chịu tác động của khí
CFC và một số loại chất độc hại khác thì tầng ôzôn sẽ bị mỏng dần rồi thủng.
Ô nhiễm phóng xạ là do các hoạt động của con người như khai thác, xử lý vật liệu
phóng xạ, xử lý và lưu trữ chất thải phóng xạ,... gây ra. Làm gia tăng mức độ bức xạ tự
nhiên, ảnh hưởng đến sức khỏe của cơ thể (gây nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn thậm
chí là ung thư da, ung thư xương,...).
Ô nhiễm điện từ trường (hay ô nhiễm bức xạ điện từ) là do các loại sóng hay bức xạ
từ trường như sóng điện thoại, truyền hình,... tồn tại với mật độ lớn. Các loại bức xạ
này gây ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, gây tác động đến việc phát triển các khối u, ung thư trong não.
2. Nguyên nhân và quy định chung về bảo vệ môi trường 2.1 Nguyên nhân
Hiện nay, vấn đề thực trạng ô nhiễm môi trường tại Việt Nam đang là chủ đề nóng
trên các mặt báo và nhận được rất nhiều sự quan tâm của người dân. Trong đó, đặc biệt 8
là vấn đề ô nhiễm nguồn nước ở Việt Nam đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng
hơn. Thông qua các phương tiện truyên thông, chúng ta có thê dê dàng thây được các
hình ảnh, cũng như các bài báo phản ánh vê thực trạng môi trường hiện nay. Mặc dù các
ban ngành, đoàn thể ra sức kêu gọi bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước,... nhưng có
vẻ là chưa đủ để cải thiện tình trạng ô nhiễm ngày càng trở nên trầm trọng hơn.
2.2 Các nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay
Do chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp: Trong nước có rất nhiều khu
công nghiệp được xây dựng đề hưởng ứng quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nước. Tuy nhiên, các khu công nghiệp lại chưa được đầu tư đúng cách, hiệu quả, làm
cho tinh trạng ô nhiễm môi trường trở nên trầm trọng hơn do các hoạt động xả thải của
chúng. Tình trạng ô nhiễm môi trường đang ở mức báo động đỏ và việc cấp bách và tìm
ra giải pháp cho vấn đề này. Quá trình hoạt động của các khu công nghiệp là một trong
những nguyên nhân hàng đầu gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường không thể cứu vãn
được. Các quá trình gây ô nhiễm mà quá trình đốt các nhiên liệu hóa thạch: Than, dầu,
khí đốt tạo ra: CO2, CO, SO2, NOx, các chất hữu cơ chưa cháy hết: Muội than, bụi, quá
trình thất thoát, rò rỉ trên dây chuyền công nghệ, các quá trình vận chuyển các hóa chất
bay hơi, bụi. Nguồn gây ô nhiễm không khí từ hoạt động công nghiệp có nồng độ chất
độc hại cao, thường tập trung trong một không gian nhỏ. Bên cạnh đó, Việt Nam có xu
hướng nới lỏng các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường nhằm cạnh tranh với các nước khác
trong quá trình thu hút nguồn vồn này. Chính vì vậy, FDI ( đầu tư trực tiếp nước
ngoài )đã gây nên những tác hại rất lớn đối với môi trường, ví dụ: Xả thải của công ty
Vedan, Miwon, sự cố của Formosa gây ra tại 4 tỉnh miền Trung, khói bụi ô nhiễm của
nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2, nhà máy giấy gây ô nhiễm ở Hậu Giang... Ngoài ra, các
nhà đầu tư lợi dụng những hạn chế ở của Việt Nam về các quy chuẩn kỹ thuật để tuồn
những công nghệ lạc hậu, thâm dụng tài nguyên, năng lượng và lao động nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
2.3 Do chất bảo vệ thực vật và chất độc hóa học
Nền kinh tế phát triển dẫn đến ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào trong sản
xuất nông nghiệp, để đảm bảo mùa vụ nên người nông dân đã quá lạm dụng các loại
thuốc bảo vệ thực vật cho cây trồng. Phun một lượng lớn những hóa chất vào cây trồng
không chỉ làm ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng mà còn gây ô nhiễm môi trường
đất khi một lượng lớn không được cây trồng hấp thụ hết.
Theo bộ tài nguyên môi trường, hiện tượng thoái hóa, ô nhiễm đất đang làm ảnh
hưởng đến 50% diện tích đất trên toàn quốc, trong đó phần lớn là nhóm đất đồi núi nằm 9
ở khu vực nông thôn. Một số loại hình thoái hóa đất đang diễn ra trên diện rộng ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam.
2.4 Do các chất rác thải rắn
Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa làm cho nền kinh tế nước ta phát triển, nhiều
cơ sở sản xuất ra đời phục vụ nhu cầu sử dụng các sản phầm ngày càng lớn của người
dân. Chính điều này đã làm tiền đề cho sự gia tăng một lượng lớn rác thải rắn bao gồm:
Chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng...
2.5 Do ý thức của người dân
Đầu tiên, đó chính là sự thiếu ý thức nghiêm trọng và thờ ơ của người dân. Nhiều
người cho rằng những việc mình làm là quá nhỏ bé, không đủ để làm hại môi trường.
Một số người lại cho rằng việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm của nhà nước, của các
cấp chính quyền..trong khi số khác lại nghĩ rằng việc môi trường đã bị ô nhiểm thì có
làm gì cũng "chăng ăn thua", và ô nhiễm môi trường cũng không ảnh hướng đến mình
nhiều. Và chính những suy nghĩ này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đên việc giáo dục cũng
như tư duy bảo vệ môi trường của các thê hê trẻ về sau..
Thật vậy, người lớn không làm gương đề giáo dục trẻ em, mà minh chứng cụ thê đầu
tiên là hành động vứt rác bừa bãi ra môi trường thay vì vứt đúng nơi quy định. Theo
quan sát, tại các trưởng học, chúng tôi nhiều lần chứng kiến phụ huynh đưa con đi học
đến cồng trường dừng lại ăn sáng và sau khi ăn xong, thay vì bỏ hộp xôi, hộp bánh vào
thùng rác thì họ lại vứt ngay tại chỗ. Mặc dù, các trường học có treo rất nhiều tấm biến,
khẩu hiệu cấm xả rác bừa bãi nhưng phụ huynh vẫn thản nhiên xà rác nơi công cộng thì
rất khó hình thành ý thức tốt cho thế hệ trẻ.
Tình trạng này thậm chí còn tồi tệ hơn ở các bãi biển tự nhiên. Theo thống kê mới nhất
của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tại Việt Nam rác thải nhựa chiếm 7% tổng lượng chất
thải rắn thải ra, tương đương gần 2.500 tấn/ ngày. Bạn có biết rằng Việt Nam đang đứng
thứ 4 trên thế giới về lượng chất thải nhựa xả ra đại dương hàng năm lên đến 0,28 - 0,73
triệu tấn rác thải nhựa (chiếm 6% toàn thế giới), chi đứng sau Trung Quốc, Indonesia và
Philipines. Việc phá hoại môi trưởng của một người chi ảnh hưởng nhỏ nhưng nếu gọp
nhiều người lại thì rất lớn. Một tờ giấy, vỏ hộp sữa, túi ni-lông,.. tuy nhỏ nhưng tích tụ
lại lâu ngày sẽ gây ô nhiễm, mất mỹ quan, rác thải đọng lại trong các lô-côt gây ra tình
trạng công thoát nước bị nghẹt mỗi khi mưa lớn hay thủy triêu lên. Đó là chưa kê đên
tình trạng phóng uê bừa bãi tại các công viên công cộng vân đang tiếp diên hàng ngày.
Trong khi, đây là những địa điểm được trồng nhiều cây xanh đề người dân lui tới tập thể 10
dục, hít thở không khí trong lành,... thì một bộ phận người dân lại thường xuyên phóng
uê vô ý thức. Điều này không chỉ gây mất vệ sinh mà còn gây mùi hôi thôi, tiêm ân
nhiêu nguy cơ mắc bệnh hô hâp,... mà hơn thê nữa là góp phân gây ô nhiêm không khí
tại nơi mà lẽ ra đó là "lá phổi" của khu vực sống. Quy định
Trong các lĩnh vực địa lí, lí học, sinh học, y học..., bảo vệ môi trường được hiểu là
tập hợp các biện pháp giữ gìn, sử dụng hoặc phục hồi một cách hợp lí sinh giới (vi sinh
vật, thực vật, động vật) và môi sinh (đất, nước, không khí, lòng đất, khí hậu...), nghiên
cứu thử nghiệm thiết bị sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ không có
hoặc ít có phế liệu... nhằm tạo ra một không gian tối ưu cho con người. Với tư cách là
thuật ngữ pháp lí, bảo vệ môi trường được hình thành vào giữa thế kỉ XX, ở các nước
có nền công nghiệp phát triển. Thời gian đầu, bảo vệ môi trường chỉ được hiểu đồng
nghĩa với bảo tồn, sau đó nội dung được mở rộng bao gồm cả việc khai thác, sử dụng
hợp lí các nguồn tài nguyên và cải thiện môi trường sống của con người và hệ sinh vật.
Ngày nay, các nhà khoa học còn cho rằng, môi trường không chỉ được hiểu là môi
trường tự nhiên mà còn bao gồm cả môi trường xã hội - là các điều kiện về tinh thần và
văn hoá... phục vụ cho Cuộc sống con người được thoải mái. Tuy nhiên, pháp luật môi
trường hiện hành chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tự
nhiên, bao gồm: các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với
nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát
triển của con người và thiên nhiên. Tại Luật bảo vệ môi trường năm 2005, hoạt động
bảo vệ môi trường là hoạt động nhằm làm cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng
ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô
nhiễm, suy thoái; phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lí và tiết
kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học. Như vậy, bảo vệ môi trường vừa
được hiểu là bảo vệ chất lượng môi trường nói chung, vừa bảo vệ chất lượng của từng
thành phần môi trường như bảo vệ đất, bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ nguồn
lợi thủy sản, bảo vệ đa dạng sinh học...Bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của tất
cả mọi người và của mọi quốc gia, không phân biệt hình thức chính thể, chế độ chính 11
trị và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước. Bảo vệ môi trường được thực
hiện bằng việc áp dụng tổng hợp các biện pháp khác nhau như biện pháp tổ chức -
chính trị, biện pháp kinh tế, biện pháp khoa học - công nghệ, biện pháp tuyên truyền,
giáo dục, biện pháp pháp lí...Bảo vệ môi trường có thể tiến hành theo nhiều cấp độ
khác nhau, gồm: cấp cá nhân, cấp cộng đồng, cấp địa phương, vùng, cấp quốc gia, cấp
tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu. Môi trường hiện nay đang là vấn đề nóng bỏng của
mọi quốc gia, dù đó là quốc gia phát triển hay là quốc gia đang phát triển. Sự ô nhiễm,
suy thoái và những sự cổ môi trường diễn ra ngày càng ở mức độ cao đang đặt con
người trước những sự trả thù ghê gớm của thiên nhiên. Nguy cơ môi trường đặc biệt
nóng bỏng ở các quốc gia đang phát triển - nơi nhu cầu cuộc sống hàng ngày của con
người và nhu cầu phát triển của xã hội xung đột mạnh mẽ với sự cần thiết phải bảo vệ
tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Việt Nam đúng trong hàng ngũ của các quốc gia
đang phát triển và cũng đang phải đổi đầu với vấn đề môi trường. Bảo vệ môi trường
ngày nay đã trở thành một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước
ta. Bằng những biện pháp và chính sách khác nhau, Nhà nước ta đang can thiệp mạnh
mẽ vào các hoạt động của cá nhân, tổ chức trong xã hội để bảo vệ các yếu tổ cùa môi
trường, ngăn chặn việc gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường. Trong những biện
pháp mà Nhà nước sử dụng, pháp luật đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Sự xuất hiện và
vai trò ngày càng tăng của các quy định pháp luật về môi trường kể từ khi đất nước
chuyển sang nền kinh tế thị trường là biểu hiện rõ nét về sự cấp bách của vấn đề môi
trường và dẫn đến hệ quả tất yếu là phải đào tạo, giáo dục công dân nhũng kiến thức về pháp luật môi trường.
3. Hành động của con người trong việc bảo vệ môi trường
3.1 Sử dụng năng lượng sạch
Thói quen sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo như gió và ánh nắng mặt trời đang
trở nên cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết. Đây là các nguồn năng lượng sạch,
không gây ra khí thải gây hiệu ứng nhà kính khi sản xuất và tiêu thụ. Vì vậy, chúng ta 12
cần thay đổi thói quen trong việc sử dụng năng lượng và chuyển sang sử dụng các
nguồn năng lượng tái tạo để giảm thiểu ảnhưởng đến môi trường.
3.2 Hạn chế sử dụng túi nilon
Những túi nilon được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày là một trong
những tác nhân gây ô nhiễm môi trường. Với khả năng phân hủy rất chậm, chúng đe
dọa sức khỏe của con người và gây ảnh hưởng đến môi trường đất và nước. Để giảm
thiểu tác động này, chúng ta có thể sử dụng các loại túi bằng giấy hoặc lá cây thay vì
túi nilon hay các loại túi bằng nhựa khác. Những loại túi này dễ phân hủy hơn và có thể
được sử dụng lại nhiều lần để giảm thiểu lượng rác thải sinh ra. Tái chế lại đồ dùng,
việc thu gom và phân loại các sản phẩm từ nhựa, kim loại, thủy tinh, đồ điện tử… là rất
quan trọng để vận chuyển đến các cơ sở tái chế. Tái chế lại các sản phẩm này là một
phương pháp bảo vệ môi trường hiệu quả, giúp tiết kiệm năng lượng và giảm thiểu ô
nhiễm môi trường, bảo vệ tài nguyên đất, nước và không khí. Bỏ rác đúng nơi quy
định, để bảo vệ môi trường và sức khỏe con người, mỗi người chúng ta cần phải bỏ rác
vào thùng đúng nơi quy định. Việc này giúp giữ gìn mỹ quan môi trường, tránh tình
trạng rác thải tràn lan và gây ô nhiễm. Ngoài ra, bỏ rác vào thùng đúng cách còn giúp
cho quá trình thu gom, xử lý rác thải được diễn ra dễ dàng và hiệu quả hơn. Chúng ta
nên tìm hiểu và tuân thủ các quy định về việc phân loại rác thải và bỏ rác đúng thùng
để đảm bảo tối đa hiệu quả xử lý và bảo vệ môi trường.
3.3 Trồng nhiều cây xanh
Hiện nay, chặt phá rừng đang diễn ra một cách trầm trọng và là một trong những
nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, ý thức bảo vệ rừng của một
số người vẫn còn rất hạn chế và thờ ơ. Để đóng góp vào việc bảo vệ môi trường, chúng
ta cần tích cực trồng cây xanh để bảo vệ môi trường sống của chúng ta. Cây xanh
không chỉ cung cấp oxy cho con người hít thở, mà còn hấp thụ khí CO2 trong không
khí, giúp làm giảm hiệu ứng nhà kính. Hơn nữa, cây còn cung cấp một môi trường
sống cho các loài động vật và thực vật, giúp duy trì sự cân bằng trong hệ sinh thái. Vì 13
vậy, việc trồng nhiều cây xanh là một trong những cách hiệu quả nhất để bảo vệ môi trường của chúng ta.
3.4 Sử dụng tiết kiệm điện: Việc để nguyên phích cắm trong ổ điện ngay cả khi
không sử dụng các thiết bị điện (TV, máy tính, sạc điện thoại, quạt…) là một thói quen
phổ biến của nhiều người, tuy nhiên hành động này vô tình gây lãng phí một lượng
điện lớn ngay cả khi các thiết bị trong chế độ chờ. Để giảm thiểu lãng phí điện, tốt hơn
hết là bạn nên rút phích cắm ra khỏi ổ hoặc tắt nguồn các thiết bị điện khi không sử dụng.
3.5 Tiết kiệm giấy: việc giảm sử dụng giấy không chỉ giúp giảm tần suất chặt cây
phá rừng để sản xuất giấy mà còn giúp giảm lượng chất thải rắn ra môi trường. Để tiết
kiệm giấy, chúng ta có thể tái sử dụng nhiều lần trước khi quyết định chôn lấp hoặc đốt
chúng. Ví dụ như sử dụng giấy in 2 mặt, sử dụng giấy nháp để ghi chú thay vì giấy
mới, tái sử dụng bao thư hoặc bọc sách, đồng thời sử dụng các sản phẩm giấy tái chế.
Ngoài ra, chúng ta cũng có thể sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin để thay
thế cho việc in ấn trên giấy, giảm thiểu việc sử dụng giấy một cách hiệu quả. Xử lý ô
nhiễm nước thải trước khi xả ra môi trường, để xử lý ô nhiễm nước thải trước khi xả ra
môi trường, cần áp dụng các phương pháp xử lý nước thải như xử lý sinh học, hóa học
và vật lý. Các hệ thống xử lý nước thải có thể được thiết kế để loại bỏ các chất gây ô
nhiễm như vi sinh vật, hóa chất và chất rắn. Ngoài ra, các nhà máy, khu công nghiệp
cần phải có hệ thống xử lý nước thải hiệu quả trước khi thải ra môi trường. Các biện
pháp phòng ngừa như kiểm soát nồng độ chất ô nhiễm, giảm thiểu sử dụng chất độc hại
và tăng cường giám sát cũng cần được thực hiện để đảm bảo sức khỏe con người và
bảo vệ môi trường nước. Nâng cao ý thức của mỗi người, để
nâng cao ý thức bảo vệ
môi trường, mỗi người chúng ta có thể thực hiện nhiều hoạt động khác nhau. Ví dụ như
chia sẻ thông tin về môi trường với bạn bè, gia đình và cộng đồng. Các hoạt động tham
gia bảo vệ môi trường như tình nguyện làm vệ sinh, tập huấn bảo vệ môi trường cũng
là những cách hiệu quả để nâng cao nhận thức của mọi người. Để đảm bảo tương lai
của đất nước, chúng ta cần đưa vào chương trình giáo dục các bài học về môi trường, 14
khuyến khích trẻ em yêu thiên nhiên và hướng dẫn cách bảo vệ môi trường ngay từ khi còn nhỏ.
4. Đề xuất giải pháp mới để bảo vệ môi trường một cách hiệu quả hơn
4.1 Sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo: Trí tuệ nhân tạo (còn được gọi là AI) được
coi là công nghệ sẽ thay đổi cuộc chơi lớn nhất trong nền kinh tế toàn cầu. Với sự gia
tăng ngày một lớn về phạm vi và ứng dụng, ước tính đến năm 2030, trí tuệ nhân tạo sẽ
đóng góp tới 15,7 nghìn tỷ đô cho nền kinh tế toàn cầu, nhiều hơn giá trị sản lượng
hiện tại của cả Trung Quốc và Ấn Độ cộng lại. Trí tuệ nhân tạo được ứng dụng trong
nhiều khía cạnh của cuộc sống giúp thay đổi cách sử dụng năng lượng, làm cho các
thành phố trở nên trong sạch và bền vững hơn; hỗ trợ xây dựng nền nông nghiệp thông
minh; góp phần bảo vệ đại dương hay dự đoán sự thay đổi của thời tiết và khí hậu một
cách chính xác hơn… Việc áp dụng trí tuệ nhân tạo vào bảo vệ môi trường hỗ trợ quản
lý môi trường tốt hơn giúp giảm 4% lượng khí thải nhà kính trên toàn thế giới vào năm
2030 bên cạnh việc thúc đẩy GDP toàn cầu. Các ứng dụng AI trong lĩnh vực năng
lượng và giao thông cũng sẽ góp phần giảm phát thải qua việc giảm năng lượng tiêu
thụ khi tối ưu nguồn nguyên liệu đầu vào, tự động hóa các quy trình… Một ví dụ trong
việc cho thấy những tiềm năng của AI, đó là các thành phố đang dần mở rộng việc lắp
đặt lưới điện thông minh sử dụng các kỹ thuật trí tuệ nhân tạo để điều chỉnh và kiểm
soát việc cung cấp điện nhằm tránh tình trạng lãng phí điện không sử dụng đến. Công
nghệ trí tuệ nhân tạo có thể được ứng dụng cùng những công nghệ khác để tạo dựng
được những giá trị hiệu quả hơn trong việc nghiên cứu, phân tích bảo vệ môi trường.
Công nghệ máy bay không người lái được sử dụng để quay, chụp video hình ảnh trên
không cho một khu vực để nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới khu vực
được khảo sát. Máy bay không người lái cung cấp hình ảnh tĩnh và video có thể được
ghép lại với nhau để tạo thành các bản đồ và bản đồ 3D. Tiếp theo, công nghệ trí tuệ
nhân tạo sẽ phân tích những bản đồ được lập lên để dự đoán các vấn đề như mực nước
biển dâng ở các khu vực ven biển, sự thay đổi mật độ hệ sinh thái rừng… Trong việc
ứng phó với những sự cố ô nhiễm môi trường đặc biệt là môi trường biển, một số tổ
chức sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo được ứng dụng trong robot nhằm hỗ trợ giữ 15
sạch đại dương như: xử lý các sự cố tràn dầu hay tràn chất độc có hại trong các mỏ;
làm sạch ô nhiễm trên khu vực bãi biển và các khu vực công cộng; v.v. Trong tương
lai, việc xây dựng và duy trì một hệ sinh thái môi trường trong sạch, bền vững cho Trái
đất là việc quan trọng song song với quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Đặc biệt
khi CSR ngày càng được coi trọng giữa cộng đồng công dân và người tiêu dùng. Ứng
dụng công nghệ đặc biệt là trí tuệ nhân tạo sẽ là một công cụ hỗ trợ đắc lực trong việc
bảo vệ môi trường. Khi lĩnh vực trí tuệ nhân tạo tiếp tục phát triển, khả năng hỗ trợ bảo
vệ môi trường của nó sẽ ngày một cải thiện và chính xác hơn. AI là một chìa khóa để
mở khóa hướng tới một hành tinh xanh – sạch – an toàn hơn.
4.2 Thu hồi và lưu trữ CO2: Thu hồi và lưu trữ cacbon (Thu hồi và lưu trữ cacbon
- CSS) là một công nghệ mới nổi giúp phân tách CO2 khỏi các loại khí khác mà
quy trình công nghiệp tạo ra. Khí CO2 hay khí thải nhà kính là một loại khí có mặt
trong khí quyền trái đất và đang góp phần làm trái đất nóng lên. CCS sẽ vận hành
cacbon bằng đường ống và lưu trữ nó trong các khối đá dưới lòng đất, tại đây, khí CO2
sẽ không gây ra bất kỳ tác động tiêu cực nào cho môi trường. Hệ thống thu hồi cacbon
đầu tiên trên thế giới được Thuỵ. Sĩ khai tài khoản vào năm 2017. Một số công ty ở
Hoa Kỳ và Canada cũng đang phát triển nhà máy thu hồi cacbon của riêng mình để
giảm thiểu ảnh hưởng gây hại cho môi trường, cải thiện "sức khỏẻ" cho hành động của chúng ta.
4.3 Năng lượng mặt trời: Kính năng lượng mặt trời là một công nghệ mới nổi khác
có cải thiện đáng kể tính bền vững của năng lượng toàn cầu. Chất liệu này được sử
dụng để tạo ra cửa sổ và các bề mặt kính khác có năng suất cao hơn và chuyền đổi
năng lượng của Mặt trời. Một nhím nhà khoa học tại Đại học Michigan (Hoa Kỳ) đã
phát triển một loại kính năng lượng mặt trời tạo ra hiệu suất 15% trở lên, đồng thời cho
phép 50% ánh sáng đi qua cừa sổ. Điều này đã giải quyết một trong những khả năng
trở nên lớn nhất của năng lượng kính mặt trời, đó là duy trì tốc độ tối đa của cừa sổ mà
không làm giảm hiệu ứng chuyển đổi độ sáng của thành điện. Theo ước tính của nhóm 16
nhà khoa học này, hiện tại có đủ không gian số có thể sử dụng để cung cấp 40% nhu
cầu năng lượng của Hoa Kỳ bằng năng lượng mặt trời.
4.4 Môi trường biến cảm ứng: Các cảm biến được kết nối mạng giám sát chất
lượng không khí và nước, theo dõi quá trình axit hóa, xác định các nguồn gây ô nhiễm
và thu thập dữ liệu thời gian thực về các môi trường yếu tố khác gây tổn hại đến sức
khỏe của hành động của chúng ta. Công nghệ cảm biến đã phát triển vượt bậc trong
những năng lực gần đây, được ứng dụng để theo dõi việc sử dụng năng lượng và nước
để giảm lãng phí, trong khi đó, cảm biến theo dõi ô nhiễm không khí sẽ cảnh báo công
về mức độ nguy hiểm của các nguyên tố có hại trong khí cụ.Các hành vi bị nghiêm
cấm trong hoạt động bảo vệ môi trường: vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải
rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ
môi trường. Xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi
trường ra môi trường. Phát tán, thải ra môi trường chất độc hại, vi rút độc hại có khả
năng lây nhiễm cho con người, động vật, vi sinh vật chưa được kiểm định, xác súc vật
chết do dịch bệnh và tác nhân độc hại khác đối với sức khỏe con người, sinh vật và tự
nhiên. Gây tiếng ồn, độ rung vượt mức cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường;
xả thải khói, bụi, khí có mùi độc hại vào không khí. Thực hiện dự án đầu tư hoặc xả
thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Nhập
khẩu, tạm nhập, tái xuất, quá cảnh chất thải từ nước ngoài dưới mọi hình thức. Nhập
khẩu trái phép phương tiện, máy móc, thiết bị đã qua sử dụng để phá dỡ, tái chế.
Không thực hiện công trình, biện pháp, hoạt động phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự
cố môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và quy định khác của
pháp luật có liên quan. Che giấu hành vi gây ô nhiễm môi trường, cản trở, làm sai lệch
thông tin, gian dối trong hoạt động bảo vệ môi trường dẫn đến hậu quả xấu đối với môi
trường. Sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho sức khỏe con người, sinh vật
và tự nhiên; sản xuất, sử dụng nguyên liệu, vật liệu xây dựng chứa yếu tố độc hại vượt
mức cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Sản xuất, nhập khẩu, tạm nhập, tái
xuất và tiêu thụ chất làm suy giảm tầng ô-dôn theo quy định của điều ước quốc tế về 17
các chất làm suy giảm tầng ô-dôn mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên. Phá hoại, xâm chiếm công trình, thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động
bảo vệ môi trường. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
III. Kết luận – Khuyến nghị 1. Kết luận
Qua nội dung vừa nêu trên đã cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của việc bảo
vệ môi trường là một nhiệm vụ cấp bách và vô cùng quan trọng. Môi trường không chỉ
cung cấp cho chúng ta một nguồn nước sạch để sử dụng, một môi trường không khí
trong lành để hít thở, một khu rừng xanh và một bờ biển xanh sạch đẹp,… Môi trường
sạch giúp duy trùy cân bằng sinh học và bảo vệ sức khỏe mọi người khỏi nguy cơ ô
nhiễm môi trường. Đồng thời việc bảo vệ môi trường cũng góp phần giúp cho thế hệ
tương lai được sống trong môi trường trong lành và tránh được các bệnh liên quan đến
ô nhiễm môi trường, thiên tai, hạn hán và biến đổi khí hậu. 2. Khuyến nghị
Kêu gọi hành động thúc đẩy ý thức và trách nhiệm của cộng đồng: Chúng ta đang sống
trong một thế giới đang đối mặt với nhiều thách thức lớn lao về môi trường: ô nhiễm
không khí, biến đổi khí hậu, mất mát đa dạng sinh học và sự cạn kiệt tài nguyên thiên
nhiên. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến hành tinh của chúng ta mà còn ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khỏe, đời sống và tương lai của chính chúng ta và các thế hệ
tương lai. Vì vậy, thúc đẩy ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường trong mỗi cá nhân,
mỗi cộng đồng là nhiệm vụ quan trọng hơn bao giờ hết. Chúng ta cần nhận thức rằng
mỗi hành động, dù là nhỏ nhất, đều có tác động đến hành tinh – từ việc tiết kiệm năng
lượng, tái chế rác thải, đến việc lựa chọn các sản phẩm thân thiện với môi trường. Trách
nhiệm bảo vệ môi trường không chỉ là nhiệm vụ của các tổ chức chính phủ hay các
doanh nghiệp lớn mà là trách nhiệm chung của mỗi cá nhân trong xã hội. Mỗi người
trong chúng ta, từ người dân đến học sinh, từ doanh nghiệp đến các nhà lãnh đạo, đều có
thể đóng góp vào việc tạo dựng một tương lai bền vững. Việc thực hiện các hành động
bảo vệ môi trường không chỉ là việc làm thiện nguyện mà là một phần của trách nhiệm
xã hội và đạo đức. Tương lai bền vững không chỉ đơn giản là bảo vệ môi trường, mà còn
là một xã hội công bằng, phát triển thịnh vượng và hòa hợp với thiên nhiên. Một tương 18
lai bền vững là nơi mà chúng ta có thể sống hòa hợp với các hệ sinh thái tự nhiên, nơi
các tài nguyên thiên nhiên được quản lý và sử dụng một cách hợp lý, nơi không khí
trong lành, nước sạch, và đất đai màu mỡ vẫn tồn tại cho các thế hệ tương lai.
Để đạt được những mục tiêu trên chúng ta cần phải: Đẩy mạnh giáo dục và nâng cao
nhận thức: Cộng đồng cần được trang bị những kiến thức cần thiết về môi trường và tầm
quan trọng của việc bảo vệ nó. Điều này không chỉ giúp thay đổi thói quen tiêu dùng mà
còn thúc đẩy các hành động bền vững trong cuộc sống hàng ngày. Khuyến khích các
giải pháp sáng tạo và bền vững: Các doanh nghiệp, các tổ chức và các cá nhân cần tìm
kiếm các giải pháp sáng tạo để giảm thiểu tác động tiêu cực lên môi trường. Các công
nghệ xanh, các phương thức sản xuất và tiêu thụ bền vững sẽ giúp bảo vệ tài nguyên và
hạn chế ô nhiễm. Thực hiện cam kết toàn cầu: Các quốc gia cần có những cam kết mạnh
mẽ để giảm thiểu khí thải nhà kính, bảo vệ đa dạng sinh học và thúc đẩy sử dụng năng
lượng tái tạo. Đây là một cuộc chiến toàn cầu mà mỗi quốc gia và mỗi cá nhân đều phải
tham gia. Tương lai bền vững không phải là một khái niệm xa vời, mà là mục tiêu có thể
đạt được nếu chúng ta hành động ngay từ bây giờ. Chính chúng ta, mỗi cá nhân và cộng
đồng, có thể tạo ra sự thay đổi và xây dựng một thế giới xanh, sạch và phát triển bền
vững. Hãy cùng nhau hành động ngay hôm nay để bảo vệ môi trường và hướng tới một
tương lai bền vững, nơi mà con người và thiên nhiên sống hòa hợp, nơi các giá trị của sự
phát triển bền vững được thực thi trong mọi hành động và quyết định của chúng ta.
Chúng ta có thể làm được điều này, vì hành động của chúng ta hôm nay sẽ quyết định
chất lượng cuộc sống của thế hệ mai sau. Hy vọng rằng lời kêu gọi này sẽ giúp thúc đẩy
ý thức và trách nhiệm của cộng đồng, đồng thời truyền cảm hứng cho mỗi cá nhân tham
gia vào công cuộc bảo vệ môi trường vì một tương lai bền vững. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Nguyễn Xuân Cự; Nguyễn Phương Loan (2016); “ Con người &Môi trường” ; Nhà
Xuất Bản Đại Học Quốc Gia.
2. .Lê Thị Hoàng Liễu (2023): Bài giảng Con người & Môi trường. 19
3. Trần Việt Long, Viện Xã hội học, Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam 2023.
Nhận thức, thái độ và hành vi của người dân đô thị trong việc phân loại CTRSH tại
nguồn - Nghiên cứu trường hợp tại phường Trung Liệt, quận Đống Đa, TP. Hà Nội
(Tạp Chí Môi Trường số 9/2023).
4. Ngân hàng thế giới, 2018. Đánh giá công tác quản lý CTRSH, chất thải công nghiệp
nguy hại, các phương án và hành động.
5. Bộ Tài Nguyên Môi Trường (2019); Báo cáo thực trạng rác thải rắn sinh hoạt hộ gia đình. 20