TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐHQG TP.HCM-
KHOA NHẬT BẢN HỌC
❀❀❀
BÀI TẬP GIỮA KÌ MÔN: PHƯƠNG PHÁP NCKH (CLC)
TÊN ĐỀ TÀI: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CỬA HÀNG TIỆN LỢI TẠI
NHẬT BẢN
Thành viên:
Họ và tên Mã số sinh viên
Đinh Thị Xuân Hiền 2256191025
Võ Giang Thanh (+1) 2256191057
Lương Ngọc Thanh Thủy (+1) 2256191063
Khúc Thảo Nguyên 2256191077
SĐT liên lạc: 0919766630 (Võ Giang Thanh)
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2023
1
1. Lý do chọn đề tài
Nhật Bản vốn là một quốc gia có nền kinh tế đứng hàng đầu trên thế giới, đi đôi
với đó cũng một nền văn hóa đặc sắc, độc đáo. Đối với những ai niềm yêu thích
tìm hiểu về đất nước này, hẳn sẽ biết đến sự phổ biến của cửa hàng tiện lợi (convenience
store, hay tại Nhật được gọi 1) trong đời sống của người dân nơi đây. Việc
sử dụng các cửa hàng tiện lợi một cách thường xuyên của họ còn được cho một nét
độc đáo của văn hóa tiêu dùng của người dân Nhật Bản. Trong bài báo “The unique
culture of Japanese convenience stores”, Laura Studarus (BBC, 2019) viết:
Through both selection and ubiquity, konbini seem to have gained cultural
significance.” (tạm dịch: “Qua sự tin dùng và phổ biến khắp mọi nơi của mình, konbini
dường như đã đạt được tầm ý nghĩa về mặt văn hóa”).
Cửa hàng tiện lợi đúng như cái tên của nó, hướng tới việc cung cấp những trải
nghiệm “tiện lợi” nhất đến với khách hàng, điển hình như: mở cửa 24/7, tốc độ phục vụ
nhanh chóng, sự dễ tìm vì mật độ dày đặc, cung cấp tất cả các dịch v mà bạn cần như
mua tàu, thu tiền điện nước, v.v… Nguồn gốc của cửa hàng tiện lợi vốn từ Mỹ,
xuất hiện lần đầu tại đây năm 1927, nhưng đến tận năm 1969, cửa hàng tiện lợi đầu tiên
tại Nhật Bản My Shop mới ra đời. Thời điểm đó, không ai thể ngờ rằng đây khởi
đầu cho sự phát triển chưa từng của một loại hình kinh doanh bán lẻ thị trường
Nhật Bản. Tính đến năm 2019, đã có đến hơn 55,620 cửa hàng tiện lợi tại Nhật, với tổng
doanh thu 11,16 nghìn tỷ yên (xấp xỉ 102 tỷ USD), so sánh với m 2018, con số này
đã tăng lên đến 1,7% (theo ). Với tổng dân số Nhật Bản vào năm 2019 là Tokyoesque
khoảng 126,6 triệu người, vậy cứ 2,265 người Nhật sẽ một cửa hàng tiện lợi. So
sánh với Mỹ, quốc gia khai sinh ra hình kinh doanh này, thì cứ 2,250 người sẽ
một cửa hàng tiện lợi. Một quốc gia khác vị trí địa gần hơn với Nhật Trung
Quốc, số lượng cửa hàng tiện lợi tại đây là 7,033 người trên một cửa hàng, như vậy có
thể thấy rằng tuy số lượng dân số lớn hơn rất nhiều nhưng mật độ cửa hàng tiện lợi tại
đây chỉ bằng ⅓ Nhật Bản. Những dữ liệu y đã chứng minh sự “ăn nên làm ra” của
hình kinh doanh này tại Nhật Bản. Nhưng cũng chính điều này đặt ra câu hỏi “Vậy cửa
hàng tiện lợi tại Nhật Bản đã trải qua những giai đoạn o để đạt đến được phát triển
được như ngày m nay?”. Mọi hiện tượng trong đời sống đều nguyên do của nó,
thiết nghĩ, trong quá trình du nhập phát triển của một hình kinh doanh n mới
như cửa hàng tiện lợi, đã những thay đổi để phù hợp với văn hóa tiêu dùng của người
dân tại đây. Nếu chỉ nghiên cứu những lý do khiến cửa hàng tiện lợi trở nên phổ biến, e
1 V cách phiên âm c a t này, mi tài li u s cách phiên âm khác nhau là “kombini”, “combini”, “konbini”
hoặc “conbini”.
2
rằng sẽ khó được cái nhìn bao quát, mỗi thời kỳ, con người sẽ những khác
biệt trong hành vi mua sắm nhu cầu mua sắm. Chính thế, việc đi vào m hiểu sự
phát triển của một hình kinh doanh, đặt trong các hoàn cảnh lịch sử cụ thể khác nhau
sẽ tạo nên sự so sánh, cuối cùng, đúc kết được do phát triển bền vững của cửa hàng
tiện lợi tại Nhật Bản.
Trong đoạn phỏng vấn nằm trong bài nghiên cứu tên “Kombini - Nation”
(Katarzyna J. Cwiertka, Ewa Machotka, Consuming Life in Post-Bubble Japan - A
Transdisciplinary Perspective, p.71, 2018), một người cung cấp thông tin thuộc thế hệ
X (thế hệ những người sinh ra từ năm 1965 1980) cho rằng cửa hàng tiện lợi như -
“không khí mà bạn hít thở mỗi ngày”, và thật khó để họ tưởng tượng ra được một cuộc
sống không có cửa hàng tiện lợi. Cũng trong nghiên cứu này, các tác giả chỉ ra một điển
hình cựu siêu sao bóng đá 30 tuổi Nakata Hidetoshi, anh đã sống nhiều năm nước
ngoài khi thi đấu cho các đội tuyển và trong các cuộc phỏng vấn, anh cho rằng điều khó
khăn nhất khi sống ngoài nước Nhật sự ít ỏi của các cửa hàng tiện lợi. Hình nh những
người Nhật tin dùng, yêu thích hay thậm chí là “phát cuồng” với cửa hàng tiện lợi được
xuất hiện rất nhiều trong các sản phẩm văn hóa đại chúng của Nhật Bản. Đơn cử như
trong quyển tiểu thuyết (Tên tiếng Anh: Kombini Ningen” “Convenience Store
Woman”, tên tiếng Việt: “Cô nàng cửa hàng tiện ích”) của tác giả Murata Sayaka, xuất
bản năm 2016, đã khắc họa bầu không khí quen thuộc của cửa hàng tiện lợi gắn liền với
đời sống của người Nhật qua con mắt của một người thu ngân làm việc toàn thời gian
tại đây. Qua những ví dụ trên, có thể thấy tầm quan trọng của cửa hàng tiện lợi đối với
người dân Nhật Bản, bởi thế một đề tài có thể khái quát được lịch sử của một hình
kinh doanh ý nghĩa không những trong kinh tế trong đời sống văn hóa, xã hội của
một quốc gia hẳn cũng là một đề tài đáng để tìm hiểu và thực hiện.
Khi chọn một đề tài nghiên cứu, sự quan m, yêu thích cũng là một trong những
do hàng đầu. Tập thể thực hiện đề tài với cương vị nhóm sinh viên m 2 khoa
Nhật Bản học cho rằng đây là một đề tài thú vị, sự cấp thiết và có liên quan tới ngành
học của bản thân. Bản chất đề tài là một đề tài mang tính lý thuyết, đòi hỏi cần thu thập,
so sánh đưa ra kết luận trên nhiều tài liệu với nhau, vậy đây cũng hội để
nhóm nghiên cứu khám phá thêm một lĩnh vực nhỏ liên quan đến đất nước Nhật Bản là
đối tượng nghiên cứu của ngành học nhóm đang theo đuổi, trau dồi thêm hiểu biết
của bản thân.
Xuất phát từ những lý do trên, “Lịch sử phát triển của cửa hàng tiện lợi tại Nhật
Bản” được nhóm nghiên cứu lựa chọn làm đề tài cho nghiên cứu khoa học của mình.
3
2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cửa hàng tiện lợi (Convenience store)
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Nhật Bản
Phạm vi thời gian: từ năm 1969 đến năm 2019 (khoảng thời gian 50 năm)
3. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Cửa hàng tiện lợi vừa là một mô hình kinh doanh phát triển, vừa một nét văn
hóa tiêu biểu của Nhật Bản. Chính vì vậy mà số lượng bài nghiên cứu liên quan đến chủ
đề này không phải là một con số nhỏ. Tuy nhiên, trong phạm vi vấn đề nghiên cứu liên
quan đến lịch sử phát triển của cửa hàng tiện lợi tại Nhật Bản thời gian nghiên cứu
không quá dài, sau đây là một số những nghiên cứu có giá trị tham khảo đã được nhóm
thực hiện đề tài tổng hợp và phân tích:
3.1. Các đề tài cung cấp cơ sở lý thuyết
赤羽 (2009) (tạm dịch:
Akabane Wataru, Tại sao cửa hàng tiện lợi lại phát triển?)
Bài luận văn trên giải quyết câu hỏi “Vì sao cửa hàng tiện lợi lại phát triển?”.
Thông qua việc phân tích cơ cấu và dịch vụ trong vận hành mô nh này. Tác giả đưa ra
nhiều thuyết như khái niệm về cửa hàng tiện lợi, phân loại cửa hàng tiện lợi hay sự
vận hành của các dịch vụ (như hệ thống ATM, dịch vụ rút nạp tiền,..) những nhân tố - -
thực sự biến một cửa hàng tiện lợi trở nên thật sự “tiện lợi”. Kết luận của luận văn cho
thấy, cửa hàng tiện lợi đáp ứng được sự tiện lợi so với các loại hình kinh doanh truyền
thống trên các phương diện như thời gian (mở cửa 24/7), khoảng cách (mật độ cửa hàng
dày đặc, có mặt ở cả chung cư, bệnh viện, trường học,...) và chủng loại sản phẩm.
川邉信雄
かわべのぶお
。第
だい2
世代
せだい
のコンビニ
こんびに
ろん けいせんぎょうたいろんから業態進化論
(2013) (tạm dịch: Nobuo Kawa, Lý thuyết về cửa hàng tiện lợi thế hệ thứ 2 Từ -
thuyết về một hình thức kinh doanh đến lý thuyết về sự phát triển của các hình thức
kinh doanh)
Đây là một luận văn phân tích khá rõ nét về sự thay đổi của các cửa hàng tiện lợi
từ cuối thế kỷ XIX đến năm 2013. Ban đầu, cửa hàng tiện lợi ra đời chỉ phục vụ cho
việc bán những loại sản phẩm, hàng hóa thông dụng trong đời sống hằng ngày của người
dân. Tuy nhiên, vào đầu những năm 2000, nhiều loại dịch vụ khác đã được bổ sung
nhanh chóng và các cửa hàng tiện lợi dần dần trở thành shạ tầng thiết yếu trong đời
sống xã hội Nhật Bản. Nguyên nhân cho sự thay đổi cơ cấu nhanh chóng như thế là do
4
thực trạng dân số già đi; số lượng người sống một mình tăng lên cả sự tiến bộ của
phụ nữ lúc bấy giờ. Bên cạnh đó, từ cuối những m 1990, công nghệ thông tin, Internet
phát triển mạnh mẽ, khách hàng bắt đầu tìm kiếm sự tiện lợi khi sử dụng dịch vụ thương
mại điện tử từ các cửa hàng tiện lợi thay cách thức mua hàng truyền thống. Trong đó,
các thương hiệu nổi tiếng như Lawson, Family Mart và Sunkus đã nhanh chóng dẫn đầu
trong lĩnh vực thương mại điện tử. Số lượng cửa hàng tiện lợi tại Nhật Bản tăng từ
44,500 lên hơn 50,000 trong 5 m kể từ năm 2008. Tuy nhiên, các chủ cửa hàng vẫn
cho rằng họ vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu của người dân. Sau trận động đất xảy
ra ở phía Đông Nhật Bản vào ngày 11 tháng 03 năm 2011, 7-Eleven cho biết họ đã xác
định được 118 nh vực cần cải thiện. Sự phát triển của cửa hàng tiện lợi từ năm 2010
có thể nói kết quả nỗ lực to lớn khi các công ty đứng sau luôn cải tiến mô hình kinh
doanh phù hợp với thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng. Đây có thể là giá trị cốt lõi
khiến các chuỗi cửa hàng tiện lợi ngày nay vẫn luôn phát triển ổn định.
Katarzyna J.Cwiertka, Ewa Machotka. Kombini-Nation. In: Consuming Life
in Post-Bubble Japan - A Transdisciplinary Perspective, p.69-86 (2018)
(tạm dịch . Nằm trong: Đời sống tiêu dùng thời kỳ hậu Bong bóng : Kombini-Nation
Nhật Bản - Một góc nhìn xuyên ngành)
chương Kombini nation, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những góc nhìn v-
hình thức kinh doanh này khi nó mới xuất hiện tại Nhật Bản hậu “Thời kBong bóng”2.
Một trong những yếu tố quan trọng đó cửa hàng tiện lợi cung cấp dịch vụ nhanh chóng
và tiện lợi cho khách hàng. Khách hàng có thể dễ dàng tìm thấy các sản phẩm cần thiết
mua hàng mọi lúc trong ngày, nhờ vào thời gian mcửa dài và liên tục. Điều này đặc
biệt hữu ích trong một hội đang trở nên ngày càng bận rộn áp lực công việc gia
tăng. Sự tiện lợi y đã giúp cửa hàng tiện lợi trở thành một địa điểm mua sắm tuyệt vời
cho nhu cầu ngắn hạn và khẩn cấp. Ngoài ra cửa hàng tiện lợi cũng cung cấp những ưu
đãi tốt cho người mua hàng. Nhờ vậy, có thể tạo ra một môi trường cạnh tranh sôi động
giữa các cửa hàng tiện lợi và khuyến khích sự trung thành của khách hàng. Hơn nữa,
cửa hàng tiện lợi không chỉ đơn thuần nơi bán hàng, còn nơi giao tiếp, tương
tác xã hội. Đây là một vài trong rất nhiều lý do củng cố cho sự phát triển cho cửa hàng
tiện lợi tại Nhật, từ thời điểm đó cho đến nay.
2 “Thời k Bong bóng kinh t Nh t B ế ản”: Kéo dài t -1991. năm 1986 Thi k “Hậu bong bóng” di n ra t
đầu năm 1992, khi bong ng giá này bị vào năm 1991 ật đi vào đình trệ v nn kinh tế Nh . (Ngun:
Kunio Okina, Masaaki Shirakawa, and Shigenori Shiratsuka, The Asset Price Bubble and Monetary Policy:
Japan's Experience in the Late 1980s and the Lessons”, 2001)
5
3.2. Các đề tài bàn về các khía cạnh nằm trong quá trình phát triển của cửa hàng
tiện lợi
Terasaka, A. Development of new store types: The role of convenience stores
in Japan. In: , 317 325 (1998) GeoJournal 45 (tạm dịch: Sự phát triển của một loại
cửa hàng mới: Vai trò của cửa hàng tiện lợi ở Nhật Bản)
Qua bài nghiên cứu này, tác giả Terasaka đã trình bày các yếu tố góp phần giúp
các chuỗi cửa hàng tiện lợi từ loại hình cửa hàng mới chuyển sang trở nên phổ biến
phát triển rộng rãi tại Nhật Bản vào năm 1997. Theo số liệu nghiên cứu, xu hướng tăng
trưởng của mô hình cửa hàng tiện lợi từ năm 1982 đến năm 1992 không ngừng gia tăng
dần lan rộng khắp Nhật Bản (đã ng từ 23,235 cửa hàng đến 48,405 cửa hàng từ năm
1982 đến 1994). Thông qua việc các hệ thống chuỗi cửa hàng được chuyển giao, chắt
lọc từ kinh nghiệm quản siêu thị nắm bắt được nhu cầu của người tiêu dùng, các
doanh nghiệp đã thiết lập các dịch vụ đa dạng các cửa hàng bán lẻ truyền thống
không thể phục vụ được như thời gian mở cửa dài, đa dạng các loại đồ ăn nhanh và phục
vụ nhiều loại hình dịch vụ cá nhân (thanh toán công cộng, đặt vé,...). Ngoài ra, các cửa
hàng được phân bố rộng ở các nhà ga, các tuyến đường chính,...đã dễ dàng tiếp cận với
người tiêu dùng. Tuy nhiên, theo thời gian, các chuỗi cửa hàng tiện lợi đã những sự
thay đổi mới để phát triển bền vững mà để tài nghiên cứu này được thực hiện vào năm
1998 nên đã không thể cung cấp đầy đủ những thông tin của các chuỗi cửa hàng tiện lợi
ở thời điểm hiện tại.
Meyer-Ohle, H., Convenience Stores and the Organization of E-Commerce.
In: Innovation and Dynamics in Japanese Retailing, 211-226 (2003) (tạm dịch: Cửa
hàng tiện lợi và Sự tổ chức của thương mại điện tử)
Thương mại điện tử commerce) chắc hẳn đã không còn xa lạ khi các quốc (e-
gia trên thế giới đã và đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, Nhật Bản
một trong số đó. Từ giai đoạn những năm 1990 trở về sau, sự xuất hiện của Internet
một bước tiến tuyệt vời, cung cấp cho ngành thương mại một công cụ trao đổi mới
giữa người bán với người mua. Trong nghiên cứu này, tác giả trình bày sự hiện diện của
các công cụ điện tử trong vận hành các cửa hàng tiện lợi tại Nhật Bản. Những áp dụng
của hệ thống thương mại điện tử trong các cửa hàng tiện lợi, đã cho thấy những lợi thế
của các thương hiệu cửa hàng tại Nhật trong việc áp dụng công nghệ thông tin nhằm
tăng trải nghiệm khách hàng lượng khách hàng. Đây lại là một khía cạnh đáng để tìm
hiểu khi nói đến dòng thời gian phát triển của các cửa hàng tiện lợi.
6
Rapp, W., Islam, M. Japanese Mini-Banks: Retail Banking Services through
Convenience Stores. In: Asian Bus Manage 5, 187 206 (2006) (tạm dịch: Những ngân
hàng thu nhỏ của Nhật Bản: Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ thông qua cửa hàng tiện lợi)
Về nội dung, nghiên cứu này trình bày cách mà các chuỗi cửa hàng tiện lợi hàng
đầu tại Nhật Bản đã thực hiện tổ chức cung cấp các dịch vụ của một ngân hàng bán lẻ
(retail bank) như: thanh toán hóa đơn điện nước, thanh toán hóa đơn trực tuyến, chuyển
tiền, v.v… trong suốt 2 thập kỷ. Kết quả nghiên cứu cho thấy hình “ngân hàng thu
nhỏ” trong các cửa hàng tiện lợi đã đem đến những lợi ích như: tạo ra được khoản thu
hoa hồng qua các giao dịch tài chính, tăng lượng khách sử dụng cửa hàng và cuối cùng
tăng lòng trung thành của khách hàng. Mô hình ngân hàng trong các cửa hàng tiện lợi
này được coi một trong những ớc ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển của
loại hình kinh doanh y, đặc biệt trong thời điểm mới xuất hiện, các ngân hàng
Nhật Bản đang suy yếu chịu hậu quả do sự sụp đổ của thời kỳ “bong bóng” (1990)
tại quốc gia này, vì vậy mà các thương hiệu cửa hàng tiện lợi đã cho thấy được năng lực
thu hút khách hàng của họ những lợi thế trong lĩnh vực tài chính. Nghiên cứu sử dụng
phương pháp tổng hợp tài liệu, để đưa ra lý thuyết và phân tích những khía cạnh của
hình “ngân hàng thu nhỏ” (mini bank) trong các cửa hàng tiện lợi hàng đầu tại Nhật như -
Lawsons, Family Mart,... trên nền tảng lý thuyết về bối cảnh lịch sử của Nhật Bản thời
kỳ hậu Chiến tranh thế giới thứ II lược về cửa hàng tiện lợi tại Nhật Bản, đây
những thông tin có giá trị tham khảo cho đề tài này.
Gavin H. Whitelaw. Rice Ball Rivalries: Japanese Convenience Store and
the Appetite of Late Capitalism (2006) (tạm dịch: Những đối thủ cơm nắm: Cửa hàng
tiện lợi Nhật Bản và sự khao khát của chủ nghĩa tư bản muộn)
Nghiên cứu y tập trung vào vai trò của Onigiri một loại cơm nắm của Nhật -
Bản đã xuất hiện từ thời k Heian (794 1192). Onigiri đóng vai trò quan trọng trong -
chiến lược tiếp thị xây dựng hình ảnh của các chuỗi cửa hàng tiện lợi thể hiện sự
cạnh tranh Onigiri giữa hai chuỗi cửa hàng tiện lợi lớn nhất Nhật Bản - FamilyMart và
Lawson. Qua đó nêu bật cách chúng thống trị thị trường bán lẻ và thói quen hàng ngày
của nhiều người Nhật. Chuỗi cung ứng hiệu quả thực phẩm làm sẵn (đặc biệt
Onigiri) một trong những yếu tố quyết định sự thành công của các cửa hàng tiện lợi
này. Các sản phẩm Onigiri của FamilyMart và Lawson được phân tích chuyên sâu, cho
thấy chúng thể hiện cả sự cạnh tranh và tiêu chuẩn hóa trong sản phẩm và tiếp thị. Nhìn
chung, nghiên cứu này sử dụng sản phẩm Onigiri làm “lăng kính” để cho thấy rằng các
cửa hàng tiện lợi đã biến thực phẩm thông thường thành hàng hóa thương hiệu, tối
đa hóa doanh số bán hàng.
7
田尻雅幸
たじりまさゆき
。コンビニ
こんびに
における課題
かだい
、ロボット
ろぼっと
技術
ぎじゅつ
に期待
きたい
すること。
計測
けいそく
と制御
せいぎょ だい 5757 かん だい 1212 ごう (2018) (tạm dịch: Masayuki Tajiri. Những thách thức
trong cửa hàng tiện lợi và sự kỳ vọng đối với công nghệ Robot)
Trong bài nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu cụ thể được xác định chuỗi
cửa hàng tiện lợi 7 một chuỗi cửa hàng tiện lợi lớn nhất thế giới hiện nay. Cửa -Eleven -
hàng 7-Eleven đầu tiên xuất hiện tại Nhật Bản vào năm 1974 nhanh chóng hòa
nhập với hội Nhật Bản với tốc độ nhanh chóng. Chỉ khoảng một m sau đó, trong
bối cảnh nền kinh tế Tokyo đang phát triển mạnh mẽ được cho thời điểm thích
hợp cho các cửa hàng tiện lợi hoạt động vào ban đêm (ban đầu các cửa hàng chỉ hoạt
động trong khung giờ tử 7 giờ sáng đến 11 giờ tối), cuộc thử nghiệm “mở cửa 24 giờ”
đã được tiến hành lần đầu tiên ở một vùng nông thôn thuộc tỉnh Fukushima. Thông qua
số liệu thử nghiệm cho thấy, doanh số mà các cửa hàng mở cửa trong 24 giờ cao hơn so
với dự kiến ban đầu và sẽ còn tiếp tục tăng trong tương lai. m 1975, công ty Ito-
Yokado đã áp dụng việc mở cửa 24 giờ cho tất cả cửa hàng 7 Eleven trên toàn Nhật -
Bản. Đến năm 2018, cũng m tác giả Masayuki viết bài nghiên cứu y, số lượng
cửa hàng 7 Eleven Nhật Bản 20,000 cửa hàng. Trong khi đó, vào năm 2008, số -
lượng cửa hàng 7 Eleven tại Nhật Bản chỉ là 12,000 cửa hàng. Sự phát triển của xã hội -
nhu cầu của người tiêu dùng ngày một tăng cao. Bước vào thời đại 4.0, các bước
thanh toán phức tạp; việc kiểm kê, dọn dẹp hàng hóa; m nóng các loại thức ăn nhanh,...
đã trở thành những ng việc tiêu tốn nhiều thời gian và công sức của người mua lẫn
người bán. Chính thế, 7 Eleven bắt đầu nghĩ đến việc ứng dụng khoa học kỹ thuật - -
vào việc kinh doanh chuỗi cửa hàng Một số ý kiến được đề cập đến trong nghiên cứu .
cho rằng, sẽ thật tuyệt nếu có sự hỗ trợ của AI trong khoảng thời gian các cửa hàng đông
khách. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, các thông tin và số liệu mà nghiên cứu này đem
lại đã thay đổi khá nhiều. Với sự tác động của đại dịch Covid 19 ít nhiều đã y ra những
ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của 7 Eleven nói riêng các thương hiệu cửa hàng -
tiện lợi nói chung, trong đề tài y nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục kế thừa trình
bày rõ hơn.
David Marshall, Convenience stores and well-being of young Japanese
consumers (2018) (tạm dịch: Cửa hàng tiện lợi và sức khỏe của người tiêu dùng trẻ tại
Nhật Bản)
Bài nghiên cứu y cung cấp một cái nhìn tổng quan về việc mua sắm tại các cửa
hàng tiện lợi của nhóm người tiêu dùng trẻ tại Nhật Bản. Thông qua kết quả của cuộc
khảo sát, đã cho thấy phần lớn các bạn trẻ đến cửa tiện lợi 2 3 tuần một lần vào chiều -
8
tối và 40% người tiêu dùng thường mua các sản phẩm mang đi (bánh mì, salad,..) và đồ
ăn vặt (bánh, kẹo,..). Khác với các cửa hàng bán đồ ăn nhanh, cửa hàng tiện lợi cung
cấp các sản phẩm phần lành mạnh hơn như cơm nắm, bánh mì,...mang đến người tiêu
dùng trẻ một bữa ăn nhanh gọn mà không quá có hại cho sức khỏe. Ngoài ra, sự thu hút
cửa hàng tiện lợi đối với người tiêu ng trẻ còn nằm thời gian mở cửa 24/24 cùng
với vị trí gần các công ty, trường học giúp việc mua sắm trở nên dễ dàng và thuận tiện
hơn. Mặc dù, người tiêu dùng trẻ không quan tâm quá nhiều đến sức khỏe nhưng để có
thể phát triển lớn mạnh và thu hút được người tiêu dùng ở mọi lứa tuổi đồng thời nâng
cao trải nghiệm thì các cửa hàng cần cung cấp các mặt hàng lành mạnh hơn, hoặc quảng
bá thực phẩm ăn nhẹ, ít chế biến của Nhật Bản góp phần nâng cao sức khỏe người tiêu
dùng. Qua bài nghiên cứu trên, đã cung cấp những yếu tố giúp cửa hàng tiện lợi thu hút
giới trẻ Nhật Bản.
3.3. Nhận xét chung
Các đề tài nghiên cứu được tổng hợp phân tích thời gian phát triển cung cấp
thuyết về cửa hàng tiện lợi tài liệu tham khảo chủ yếu về cả nội dung phương
pháp của nhóm nghiên cứu. Tuy vậy, các đề tài thường có phạm vi thời gian nghiên cứu
ngắn, chỉ nghiên cứu ở một thời kỳ nổi bật trong bối cảnh lịch sử của cửa hàng tiện lợi.
Đây là những điều mà đề tài này có thể kế thừa và bổ sung để tổng hợp được một dòng
thời gian liền mạch hơn của quá trình phát triển cửa hàng tiện lợi.
Còn các nghiên cứu còn lại đã cung cấp cho đề tài y nhiều thuyết phân
tích về hình cửa hàng tiện lợi thông qua việc kết hợp phân tích với các khía cạnh
gắn liền với sự tồn tại và phát triển của như là việc kết hợp các dịch vụ, áp dụng công
nghệ thông tin, hay phân tích các mặt hàng được bày bán trong cửa hàng… Điều y
làm vấn đề các tác giả đang nghiên cứu có sự chi tiết hơn. Trong đề tài y, những
phân tích về các lĩnh vực cụ thđó sẽ được kế thừa, để đặt vào một các giai đoạn lịch
sử cụ thể, tạo nên “bức tranh toàn cảnh” hơn cho lịch sử phát triển của hình cửa
hàng tiện lợi.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài, chúng tôi có hai mục đích:
Thứ nhất tìm hiểu quá trình du nhập phát triển của cửa ng tiện lợi
(konbini) tại Nhật Bản. Sau khi hoàn thành đề tài, thể xác định được các giai đoạn
quan trọng trong sự phát triển của cửa hàng tiện lợi, những yếu tố đã đóng vai trò chính
9
trong quá trình này, những thay đổi quan trọng trong hình kinh doanh kiến
trúc của các cửa hàng tiện lợi qua thời gian.
Thứ hai là chỉ ra được những ảnh hưởng của cửa hàng tiện lợi đối với người tiêu
dùng Nhật Bản. Từ đó chỉ ra được sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng của người dân
Nhật Bản song song với sự phát triển của cửa hàng tiện lợi.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Ứng với hai mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra cho đề tài những này là:
Một là, tổng hợp phân tích các giai đoạn quan trọng trong sự hình thành
phát triển của cửa hàng tiện lợi tại Nhật Bản, bao gồm nguồn gốc lịch sử của hình
cửa hàng tiện lợi.
Hai là, nghiên cứu xác định những lợi ích hạn chế cửa hàng tiện lợi
mang đến cho người tiêu dùng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu thuyết, cụ thể
là các phương pháp sau:
Phương pháp phân tích tổng hợp được áp dụng bằng cách thông qua các
văn bản, tài liệu liên quan đến sự hình thành phát triển của hàng tiện lợi,
từ đó phân tích chọn lọc những thông tin quan trọng liên quan đến đề tài
nghiên cứu.
Phương pháp lịch sử được áp dụng để phân ch quá trình phát triển của cửa
hàng tiện lợi tại Nhật Bản qua từng giai đoạn khác nhau; đồng thời, áp dụng
phương pháp logic để tổng kết làm những thành tựu, những điều hạn
chế trong quá trình phát triển của các chuỗi cửa hàng tiện lợi tại Nhật Bản.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về ý nghĩa khoa học, đây đề tài chưa được quan tâm thảo luận nhiều tại Việt
Nam, chính vì thế thông qua bài nghiên cứu y chúng tôi mong muốn mang lại một bài
báo cáo được trình bày một cách logic, khách quan nhất cho những học giả quan tâm.
Cũng như đặt nền móng sở luận tài liệu tham khảo hữu ích cho các đề tài
nghiên cứu liên quan sau y. Đồng thời, tạo cảm hứng cho các bạn sinh viên
mong muốn bắt đầu nghiên cứu khoa học.
Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài bàn luận trực tiếp về sự phát triển của một hình
kinh doanh cụ thể tại một quốc gia khác. Vì vậy, đây có thể là một gợi ý cho những nhà
quản hoặc những ai đang nung nấu thực hiện hình cửa hàng tiện lợi phù hợp
10
với Việt Nam, thể tham khảo những biến chuyển trong phát triển hình y tại
Nhật nhằm thay đổi mô hình của mình hoặc tránh áp dụng những điều chưa thật sự hiệu
quả vào quá trình vận hành cửa hàng của bản thân.
7. Kết cấu đề tài dự kiến
Ngoài các mục Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài này dự
kiến có 3 phần:
Chương 1: Khái quát về cửa hàng tiện lợi
Chương 2: Sự du nhập và phát triển của cửa hàng tiện lợi qua từng giai đoạn tại
Nhật Bản
Chương 3: Ảnh hưởng của cửa hàng tiện lợi đối với người tiêu dùng Nhật Bản

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN - ĐHQG TP.HCM
KHOA NHẬT BẢN HỌC ❀❀❀
BÀI TẬP GIỮA KÌ MÔN: PHƯƠNG PHÁP NCKH (CLC)
TÊN ĐỀ TÀI: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CỬA HÀNG TIỆN LỢI TẠI NHẬT BẢN Thành viên: Họ và tên Mã số sinh viên Đinh Thị Xuân Hiền 2256191025 Võ Giang Thanh (+1) 2256191057
Lương Ngọc Thanh Thủy (+1) 2256191063 Khúc Thảo Nguyên 2256191077
SĐT liên lạc: 0919766630 (Võ Giang Thanh)
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2023 1
1. Lý do chọn đề tài
Nhật Bản vốn là một quốc gia có nền kinh tế đứng hàng đầu trên thế giới, đi đôi
với đó cũng là một nền văn hóa đặc sắc, độc đáo. Đối với những ai có niềm yêu thích
tìm hiểu về đất nước này, hẳn sẽ biết đến sự phổ biến của cửa hàng tiện lợi (convenience
store, hay tại Nhật được gọi là コンビニ 1) trong đời sống của người dân nơi đây. Việc
sử dụng các cửa hàng tiện lợi một cách thường xuyên của họ còn được cho là một nét
độc đáo của văn hóa tiêu dùng của người dân Nhật Bản. Trong bài báo “The unique
culture of Japanese convenience stores”, Laura Studarus (BBC, 2019) có viết:
Through both selection and ubiquity, konbini seem to have gained cultural
significance.” (tạm dịch: “Qua sự tin dùng và phổ biến khắp mọi nơi của mình, konbini
dường như đã đạt được tầm ý nghĩa về mặt văn hóa”).
Cửa hàng tiện lợi đúng như cái tên của nó, hướng tới việc cung cấp những trải
nghiệm “tiện lợi” nhất đến với khách hàng, điển hình như: mở cửa 24/7, tốc độ phục vụ
nhanh chóng, sự dễ tìm vì mật độ dày đặc, cung cấp tất cả các dịch vụ mà bạn cần như
mua vé tàu, thu tiền điện nước, v.v… Nguồn gốc của cửa hàng tiện lợi vốn là từ Mỹ,
xuất hiện lần đầu tại đây năm 1927, nhưng đến tận năm 1969, cửa hàng tiện lợi đầu tiên
tại Nhật Bản là My Shop mới ra đời. Thời điểm đó, không ai có thể ngờ rằng đây là khởi
đầu cho sự phát triển chưa từng có của một loại hình kinh doanh bán lẻ ở thị trường
Nhật Bản. Tính đến năm 2019, đã có đến hơn 55,620 cửa hàng tiện lợi tại Nhật, với tổng
doanh thu là 11,16 nghìn tỷ yên (xấp xỉ 102 tỷ USD), so sánh với năm 2018, con số này
đã tăng lên đến 1,7% (theo Tokyoesque). Với tổng dân số Nhật Bản vào năm 2019 là
khoảng 126,6 triệu người, vậy cứ 2,265 người Nhật là sẽ có một cửa hàng tiện lợi. So
sánh với Mỹ, quốc gia khai sinh ra mô hình kinh doanh này, thì cứ 2,250 người sẽ có
một cửa hàng tiện lợi. Một quốc gia khác có vị trí địa lý gần hơn với Nhật là Trung
Quốc, số lượng cửa hàng tiện lợi tại đây là 7,033 người trên một cửa hàng, như vậy có
thể thấy rằng tuy số lượng dân số lớn hơn rất nhiều nhưng mật độ cửa hàng tiện lợi tại
đây chỉ bằng ⅓ Nhật Bản. Những dữ liệu này đã chứng minh sự “ăn nên làm ra” của mô
hình kinh doanh này tại Nhật Bản. Nhưng cũng chính điều này đặt ra câu hỏi “Vậy cửa
hàng tiện lợi tại Nhật Bản đã trải qua những giai đoạn nào để đạt đến được phát triển
được như ngày hôm nay?”. Mọi hiện tượng trong đời sống đều có nguyên do của nó,
thiết nghĩ, trong quá trình du nhập và phát triển của một mô hình kinh doanh còn mới
như cửa hàng tiện lợi, đã có những thay đổi để phù hợp với văn hóa tiêu dùng của người
dân tại đây. Nếu chỉ nghiên cứu những lý do khiến cửa hàng tiện lợi trở nên phổ biến, e
1 Về cách phiên âm của từ này, mỗi tài liệu sẽ có cách phiên âm khác nhau là “kombini”, “combini”, “konbini” hoặc “conbini”. 2
rằng sẽ khó có được cái nhìn bao quát, vì ở mỗi thời kỳ, con người sẽ có những khác
biệt trong hành vi mua sắm và nhu cầu mua sắm. Chính vì thế, việc đi vào tìm hiểu sự
phát triển của một mô hình kinh doanh, đặt trong các hoàn cảnh lịch sử cụ thể khác nhau
sẽ tạo nên sự so sánh, cuối cùng, đúc kết được lý do phát triển bền vững của cửa hàng
tiện lợi tại Nhật Bản.
Trong đoạn phỏng vấn nằm trong bài nghiên cứu có tên “Kombini - Nation”
(Katarzyna J. Cwiertka, Ewa Machotka, Consuming Life in Post-Bubble Japan - A
Transdisciplinary Perspective, p.71, 2018),
một người cung cấp thông tin thuộc thế hệ
X (thế hệ những người sinh ra từ năm 1965-1980) cho rằng cửa hàng tiện lợi như là
“không khí mà bạn hít thở mỗi ngày”, và thật khó để họ tưởng tượng ra được một cuộc
sống không có cửa hàng tiện lợi. Cũng trong nghiên cứu này, các tác giả chỉ ra một điển
hình là cựu siêu sao bóng đá 30 tuổi Nakata Hidetoshi, anh đã sống nhiều năm ở nước
ngoài khi thi đấu cho các đội tuyển và trong các cuộc phỏng vấn, anh cho rằng điều khó
khăn nhất khi sống ngoài nước Nhật là sự ít ỏi của các cửa hàng tiện lợi. Hình ảnh những
người Nhật tin dùng, yêu thích hay thậm chí là “phát cuồng” với cửa hàng tiện lợi được
xuất hiện rất nhiều trong các sản phẩm văn hóa đại chúng của Nhật Bản. Đơn cử như
trong quyển tiểu thuyết “Kombini Ningen” (Tên tiếng Anh: “Convenience Store
Woman”, tên tiếng Việt: “Cô nàng cửa hàng tiện ích”) của tác giả Murata Sayaka, xuất
bản năm 2016, đã khắc họa bầu không khí quen thuộc của cửa hàng tiện lợi gắn liền với
đời sống của người Nhật qua con mắt của một người thu ngân làm việc toàn thời gian
tại đây. Qua những ví dụ trên, có thể thấy tầm quan trọng của cửa hàng tiện lợi đối với
người dân Nhật Bản, bởi thế một đề tài có thể khái quát được lịch sử của một mô hình
kinh doanh có ý nghĩa không những trong kinh tế mà trong đời sống văn hóa, xã hội của
một quốc gia hẳn cũng là một đề tài đáng để tìm hiểu và thực hiện.
Khi chọn một đề tài nghiên cứu, sự quan tâm, yêu thích cũng là một trong những
lý do hàng đầu. Tập thể thực hiện đề tài với cương vị là nhóm sinh viên năm 2 khoa
Nhật Bản học cho rằng đây là một đề tài thú vị, có sự cấp thiết và có liên quan tới ngành
học của bản thân. Bản chất đề tài là một đề tài mang tính lý thuyết, đòi hỏi cần thu thập,
so sánh và đưa ra kết luận trên nhiều tài liệu với nhau, vì vậy đây cũng là cơ hội để
nhóm nghiên cứu khám phá thêm một lĩnh vực nhỏ liên quan đến đất nước Nhật Bản là
đối tượng nghiên cứu của ngành học mà nhóm đang theo đuổi, trau dồi thêm hiểu biết của bản thân.
Xuất phát từ những lý do trên, “Lịch sử phát triển của cửa hàng tiện lợi tại Nhật
Bản” được nhóm nghiên cứu lựa chọn làm đề tài cho nghiên cứu khoa học của mình. 3
2.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu
● Đối tượng nghiên cứu: Cửa hàng tiện lợi (Convenience store) ● Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Nhật Bản
Phạm vi thời gian: từ năm 1969 đến năm 2019 (khoảng thời gian 50 năm)
3. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Cửa hàng tiện lợi vừa là một mô hình kinh doanh phát triển, vừa là một nét văn
hóa tiêu biểu của Nhật Bản. Chính vì vậy mà số lượng bài nghiên cứu liên quan đến chủ
đề này không phải là một con số nhỏ. Tuy nhiên, trong phạm vi vấn đề nghiên cứu liên
quan đến lịch sử phát triển của cửa hàng tiện lợi tại Nhật Bản và thời gian nghiên cứu
không quá dài, sau đây là một số những nghiên cứu có giá trị tham khảo đã được nhóm
thực hiện đề tài tổng hợp và phân tích:
3.1. Các đề tài cung cấp cơ sở lý thuyết
赤羽 航。なぜコンビニエンスストアは発展したのか (2009) (tạm dịch:
Akabane Wataru, Tại sao cửa hàng tiện lợi lại phát triển?)
Bài luận văn trên giải quyết câu hỏi “Vì sao cửa hàng tiện lợi lại phát triển?”.
Thông qua việc phân tích cơ cấu và dịch vụ trong vận hành mô hình này. Tác giả đưa ra
nhiều lý thuyết như khái niệm về cửa hàng tiện lợi, phân loại cửa hàng tiện lợi hay sự
vận hành của các dịch vụ (như hệ thống ATM, dịch vụ rút - nạp tiền,..) - những nhân tố
thực sự biến một cửa hàng tiện lợi trở nên thật sự “tiện lợi”. Kết luận của luận văn cho
thấy, cửa hàng tiện lợi đáp ứng được sự tiện lợi so với các loại hình kinh doanh truyền
thống trên các phương diện như thời gian (mở cửa 24/7), khoảng cách (mật độ cửa hàng
dày đặc, có mặt ở cả chung cư, bệnh viện, trường học,...) và chủng loại sản phẩm. かわべのぶお せだい こんびに 川邉信雄。第 だい2 2世代のコンビニ論 ろん ─ けいせん業 ぎょ 態 うた 論 いろんから業 ぎょ態 うた進 いし化 んか論 ろんへ─
(2013) (tạm dịch: Nobuo Kawa, Lý thuyết về cửa hàng tiện lợi thế hệ thứ 2 - Từ lý
thuyết về một hình thức kinh doanh đến lý thuyết về sự phát triển của các hình thức kinh doanh)
Đây là một luận văn phân tích khá rõ nét về sự thay đổi của các cửa hàng tiện lợi
từ cuối thế kỷ XIX đến năm 2013. Ban đầu, cửa hàng tiện lợi ra đời chỉ phục vụ cho
việc bán những loại sản phẩm, hàng hóa thông dụng trong đời sống hằng ngày của người
dân. Tuy nhiên, vào đầu những năm 2000, nhiều loại dịch vụ khác đã được bổ sung
nhanh chóng và các cửa hàng tiện lợi dần dần trở thành cơ sở hạ tầng thiết yếu trong đời
sống xã hội Nhật Bản. Nguyên nhân cho sự thay đổi cơ cấu nhanh chóng như thế là do 4
thực trạng dân số già đi; số lượng người sống một mình tăng lên và cả sự tiến bộ của
phụ nữ lúc bấy giờ. Bên cạnh đó, từ cuối những năm 1990, công nghệ thông tin, Internet
phát triển mạnh mẽ, khách hàng bắt đầu tìm kiếm sự tiện lợi khi sử dụng dịch vụ thương
mại điện tử từ các cửa hàng tiện lợi thay vì cách thức mua hàng truyền thống. Trong đó,
các thương hiệu nổi tiếng như Lawson, Family Mart và Sunkus đã nhanh chóng dẫn đầu
trong lĩnh vực thương mại điện tử. Số lượng cửa hàng tiện lợi tại Nhật Bản tăng từ
44,500 lên hơn 50,000 trong 5 năm kể từ năm 2008. Tuy nhiên, các chủ cửa hàng vẫn
cho rằng họ vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu của người dân. Sau trận động đất xảy
ra ở phía Đông Nhật Bản vào ngày 11 tháng 03 năm 2011, 7-Eleven cho biết họ đã xác
định được 118 lĩnh vực cần cải thiện. Sự phát triển của cửa hàng tiện lợi từ năm 2010
có thể nói là kết quả nỗ lực to lớn khi các công ty đứng sau luôn cải tiến mô hình kinh
doanh phù hợp với thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng. Đây có thể là giá trị cốt lõi
khiến các chuỗi cửa hàng tiện lợi ngày nay vẫn luôn phát triển ổn định.
Katarzyna J.Cwiertka, Ewa Machotka. Kombini-Nation. In: Consuming Life
in Post-Bubble Japan - A Transdisciplinary Perspective, p.69-86 (2018)
(tạm dịch: Kombini-Nation. Nằm trong: Đời sống tiêu dùng thời kỳ hậu Bong bóng ở
Nhật Bản - Một góc nhìn xuyên ngành)
Ở chương Kombini - nation, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những góc nhìn về
hình thức kinh doanh này khi nó mới xuất hiện tại Nhật Bản hậu “Thời kỳ Bong bóng”2.
Một trong những yếu tố quan trọng đó là cửa hàng tiện lợi cung cấp dịch vụ nhanh chóng
và tiện lợi cho khách hàng. Khách hàng có thể dễ dàng tìm thấy các sản phẩm cần thiết
và mua hàng mọi lúc trong ngày, nhờ vào thời gian mở cửa dài và liên tục. Điều này đặc
biệt hữu ích trong một xã hội đang trở nên ngày càng bận rộn và áp lực công việc gia
tăng. Sự tiện lợi này đã giúp cửa hàng tiện lợi trở thành một địa điểm mua sắm tuyệt vời
cho nhu cầu ngắn hạn và khẩn cấp. Ngoài ra cửa hàng tiện lợi cũng cung cấp những ưu
đãi tốt cho người mua hàng. Nhờ vậy, có thể tạo ra một môi trường cạnh tranh sôi động
giữa các cửa hàng tiện lợi và khuyến khích sự trung thành của khách hàng. Hơn nữa,
cửa hàng tiện lợi không chỉ đơn thuần là nơi bán hàng, mà còn là nơi giao tiếp, tương
tác xã hội. Đây là một vài trong rất nhiều lý do củng cố cho sự phát triển cho cửa hàng
tiện lợi tại Nhật, từ thời điểm đó cho đến nay.
2 “Thời k Bong bóng kinh tế Nht Bản”: Kéo dài từ năm 1986-1991. Thi k “Hậu bong bóng” diễn ra từ
đầu năm 1992, khi bong bóng giá này bị vỡ vào năm 1991 và nền kinh tế Nhật đi vào đình trệ. (Nguồn:
Kunio Okina, Masaaki Shirakawa, and Shigenori Shiratsuka, “The Asset Price Bubble and Monetary Policy:
Japan's Experience in the Late 1980s and the
Lessons”, 2001) 5
3.2. Các đề tài bàn về các khía cạnh nằm trong quá trình phát triển của cửa hàng tiện lợi
Terasaka, A. Development of new store types: The role of convenience stores
in Japan. In: GeoJournal 45, 317325 (1998) (tạm dịch: Sự phát triển của một loại
cửa hàng mới: Vai trò của cửa hàng tiện lợi ở Nhật Bản)
Qua bài nghiên cứu này, tác giả Terasaka đã trình bày các yếu tố góp phần giúp
các chuỗi cửa hàng tiện lợi từ loại hình cửa hàng mới chuyển sang trở nên phổ biến và
phát triển rộng rãi tại Nhật Bản vào năm 1997. Theo số liệu nghiên cứu, xu hướng tăng
trưởng của mô hình cửa hàng tiện lợi từ năm 1982 đến năm 1992 không ngừng gia tăng
và dần lan rộng khắp Nhật Bản (đã tăng từ 23,235 cửa hàng đến 48,405 cửa hàng từ năm
1982 đến 1994). Thông qua việc các hệ thống chuỗi cửa hàng được chuyển giao, chắt
lọc từ kinh nghiệm quản lý siêu thị và nắm bắt được nhu cầu của người tiêu dùng, các
doanh nghiệp đã thiết lập các dịch vụ đa dạng mà các cửa hàng bán lẻ truyền thống
không thể phục vụ được như thời gian mở cửa dài, đa dạng các loại đồ ăn nhanh và phục
vụ nhiều loại hình dịch vụ cá nhân (thanh toán công cộng, đặt vé,...). Ngoài ra, các cửa
hàng được phân bố rộng ở các nhà ga, các tuyến đường chính,...đã dễ dàng tiếp cận với
người tiêu dùng. Tuy nhiên, theo thời gian, các chuỗi cửa hàng tiện lợi đã có những sự
thay đổi mới để phát triển bền vững mà để tài nghiên cứu này được thực hiện vào năm
1998 nên đã không thể cung cấp đầy đủ những thông tin của các chuỗi cửa hàng tiện lợi
ở thời điểm hiện tại.
Meyer-Ohle, H., Convenience Stores and the Organization of E-Commerce.
In: Innovation and Dynamics in Japanese Retailing, 211-226 (2003) (tạm dịch: Cửa
hàng tiện lợi và Sự tổ chức của thương mại điện tử)
Thương mại điện tử (e-commerce) chắc hẳn đã không còn xa lạ gì khi các quốc
gia trên thế giới đã và đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, Nhật Bản
là một trong số đó. Từ giai đoạn những năm 1990 trở về sau, sự xuất hiện của Internet
là một bước tiến tuyệt vời, cung cấp cho ngành thương mại một công cụ trao đổi mới
giữa người bán với người mua. Trong nghiên cứu này, tác giả trình bày sự hiện diện của
các công cụ điện tử trong vận hành các cửa hàng tiện lợi tại Nhật Bản. Những áp dụng
của hệ thống thương mại điện tử trong các cửa hàng tiện lợi, đã cho thấy những lợi thế
của các thương hiệu cửa hàng tại Nhật trong việc áp dụng công nghệ thông tin nhằm
tăng trải nghiệm khách hàng và lượng khách hàng. Đây lại là một khía cạnh đáng để tìm
hiểu khi nói đến dòng thời gian phát triển của các cửa hàng tiện lợi. 6
Rapp, W., Islam, M. Japanese Mini-Banks: Retail Banking Services through
Convenience Stores. In: Asian Bus Manage 5, 187206 (2006) (tạm dịch: Những ngân
hàng thu nhỏ của Nhật Bản: Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ thông qua cửa hàng tiện lợi)
Về nội dung, nghiên cứu này trình bày cách mà các chuỗi cửa hàng tiện lợi hàng
đầu tại Nhật Bản đã thực hiện tổ chức cung cấp các dịch vụ của một ngân hàng bán lẻ
(retail bank) như: thanh toán hóa đơn điện nước, thanh toán hóa đơn trực tuyến, chuyển
tiền, v.v… trong suốt 2 thập kỷ. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình “ngân hàng thu
nhỏ” trong các cửa hàng tiện lợi đã đem đến những lợi ích như: tạo ra được khoản thu
hoa hồng qua các giao dịch tài chính, tăng lượng khách sử dụng cửa hàng và cuối cùng
là tăng lòng trung thành của khách hàng. Mô hình ngân hàng trong các cửa hàng tiện lợi
này được coi là một trong những bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển của
loại hình kinh doanh này, đặc biệt là trong thời điểm nó mới xuất hiện, các ngân hàng
Nhật Bản đang suy yếu vì chịu hậu quả do sự sụp đổ của thời kỳ “bong bóng” (1990)
tại quốc gia này, vì vậy mà các thương hiệu cửa hàng tiện lợi đã cho thấy được năng lực
thu hút khách hàng của họ và những lợi thế trong lĩnh vực tài chính. Nghiên cứu sử dụng
phương pháp tổng hợp tài liệu, để đưa ra lý thuyết và phân tích những khía cạnh của mô
hình “ngân hàng thu nhỏ” (mini-bank) trong các cửa hàng tiện lợi hàng đầu tại Nhật như
Lawsons, Family Mart,... trên nền tảng lý thuyết về bối cảnh lịch sử của Nhật Bản thời
kỳ hậu Chiến tranh thế giới thứ II và sơ lược về cửa hàng tiện lợi tại Nhật Bản, đây là
những thông tin có giá trị tham khảo cho đề tài này.
Gavin H. Whitelaw. Rice Ball Rivalries: Japanese Convenience Store and
the Appetite of Late Capitalism (2006) (tạm dịch: Những đối thủ cơm nắm: Cửa hàng
tiện lợi Nhật Bản và sự khao khát của chủ nghĩa tư bản muộn)
Nghiên cứu này tập trung vào vai trò của Onigiri - một loại cơm nắm của Nhật
Bản đã xuất hiện từ thời kỳ Heian (794 - 1192). Onigiri đóng vai trò quan trọng trong
chiến lược tiếp thị và xây dựng hình ảnh của các chuỗi cửa hàng tiện lợi thể hiện ở sự
cạnh tranh Onigiri giữa hai chuỗi cửa hàng tiện lợi lớn nhất Nhật Bản - FamilyMart và
Lawson. Qua đó nêu bật cách chúng thống trị thị trường bán lẻ và thói quen hàng ngày
của nhiều người Nhật. Chuỗi cung ứng hiệu quả và thực phẩm làm sẵn (đặc biệt là
Onigiri) là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của các cửa hàng tiện lợi
này. Các sản phẩm Onigiri của FamilyMart và Lawson được phân tích chuyên sâu, cho
thấy chúng thể hiện cả sự cạnh tranh và tiêu chuẩn hóa trong sản phẩm và tiếp thị. Nhìn
chung, nghiên cứu này sử dụng sản phẩm Onigiri làm “lăng kính” để cho thấy rằng các
cửa hàng tiện lợi đã biến thực phẩm thông thường thành hàng hóa có thương hiệu, tối
đa hóa doanh số bán hàng. 7 たじりまさゆき こんびに かだい ろぼっと ぎじゅつ きたい
田尻雅幸 。コンビニ における課題 、ロボット 技術 に期待 すること。 けいそく 計測と制 せ 御 いぎょ 第 だい 57 57 巻 かん 第 だい 12 12
ごう (2018) (tạm dịch: Masayuki Tajiri. Những thách thức
trong cửa hàng tiện lợi và sự kỳ vọng đối với công nghệ Robot)
Trong bài nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu cụ thể được xác định là chuỗi
cửa hàng tiện lợi 7-Eleven - một chuỗi cửa hàng tiện lợi lớn nhất thế giới hiện nay. Cửa
hàng 7-Eleven đầu tiên xuất hiện tại Nhật Bản là vào năm 1974 và nhanh chóng hòa
nhập với xã hội Nhật Bản với tốc độ nhanh chóng. Chỉ khoảng một năm sau đó, trong
bối cảnh nền kinh tế ở Tokyo đang phát triển mạnh mẽ và được cho là thời điểm thích
hợp cho các cửa hàng tiện lợi hoạt động vào ban đêm (ban đầu các cửa hàng chỉ hoạt
động trong khung giờ tử 7 giờ sáng đến 11 giờ tối), cuộc thử nghiệm “mở cửa 24 giờ”
đã được tiến hành lần đầu tiên ở một vùng nông thôn thuộc tỉnh Fukushima. Thông qua
số liệu thử nghiệm cho thấy, doanh số mà các cửa hàng mở cửa trong 24 giờ cao hơn so
với dự kiến ban đầu và sẽ còn tiếp tục tăng trong tương lai. Năm 1975, công ty Ito-
Yokado đã áp dụng việc mở cửa 24 giờ cho tất cả cửa hàng 7-Eleven trên toàn Nhật
Bản. Đến năm 2018, cũng là năm tác giả Masayuki viết bài nghiên cứu này, số lượng
cửa hàng 7-Eleven ở Nhật Bản là 20,000 cửa hàng. Trong khi đó, vào năm 2008, số
lượng cửa hàng 7-Eleven tại Nhật Bản chỉ là 12,000 cửa hàng. Sự phát triển của xã hội
và nhu cầu của người tiêu dùng ngày một tăng cao. Bước vào thời đại 4.0, các bước
thanh toán phức tạp; việc kiểm kê, dọn dẹp hàng hóa; hâm nóng các loại thức ăn nhanh,...
đã trở thành những công việc tiêu tốn nhiều thời gian và công sức của người mua lẫn
người bán. Chính vì thế, 7-Eleven bắt đầu nghĩ đến việc ứng dụng khoa học - kỹ thuật
vào việc kinh doanh chuỗi cửa hàng. Một số ý kiến được đề cập đến trong nghiên cứu
cho rằng, sẽ thật tuyệt nếu có sự hỗ trợ của AI trong khoảng thời gian các cửa hàng đông
khách. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, các thông tin và số liệu mà nghiên cứu này đem
lại đã thay đổi khá nhiều. Với sự tác động của đại dịch Covid 19 ít nhiều đã gây ra những
ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của 7-Eleven nói riêng và các thương hiệu cửa hàng
tiện lợi nói chung, mà ở trong đề tài này nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục kế thừa và trình bày rõ hơn.
David Marshall, Convenience stores and well-being of young Japanese
consumers (2018) (tạm dịch: Cửa hàng tiện lợi và sức khỏe của người tiêu dùng trẻ tại Nhật Bản)
Bài nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn tổng quan về việc mua sắm tại các cửa
hàng tiện lợi của nhóm người tiêu dùng trẻ tại Nhật Bản. Thông qua kết quả của cuộc
khảo sát, đã cho thấy phần lớn các bạn trẻ đến cửa tiện lợi 2 - 3 tuần một lần vào chiều 8
tối và 40% người tiêu dùng thường mua các sản phẩm mang đi (bánh mì, salad,..) và đồ
ăn vặt (bánh, kẹo,..). Khác với các cửa hàng bán đồ ăn nhanh, cửa hàng tiện lợi cung
cấp các sản phẩm có phần lành mạnh hơn như cơm nắm, bánh mì,...mang đến người tiêu
dùng trẻ một bữa ăn nhanh gọn mà không quá có hại cho sức khỏe. Ngoài ra, sự thu hút
cửa hàng tiện lợi đối với người tiêu dùng trẻ còn nằm ở thời gian mở cửa 24/24 cùng
với vị trí gần các công ty, trường học giúp việc mua sắm trở nên dễ dàng và thuận tiện
hơn. Mặc dù, người tiêu dùng trẻ không quan tâm quá nhiều đến sức khỏe nhưng để có
thể phát triển lớn mạnh và thu hút được người tiêu dùng ở mọi lứa tuổi đồng thời nâng
cao trải nghiệm thì các cửa hàng cần cung cấp các mặt hàng lành mạnh hơn, hoặc quảng
bá thực phẩm ăn nhẹ, ít chế biến của Nhật Bản góp phần nâng cao sức khỏe người tiêu
dùng. Qua bài nghiên cứu trên, đã cung cấp những yếu tố giúp cửa hàng tiện lợi thu hút giới trẻ Nhật Bản. 3.3. Nhận xét chung
Các đề tài nghiên cứu được tổng hợp phân tích thời gian phát triển và cung cấp
lý thuyết về cửa hàng tiện lợi là tài liệu tham khảo chủ yếu về cả nội dung và phương
pháp của nhóm nghiên cứu. Tuy vậy, các đề tài thường có phạm vi thời gian nghiên cứu
ngắn, chỉ nghiên cứu ở một thời kỳ nổi bật trong bối cảnh lịch sử của cửa hàng tiện lợi.
Đây là những điều mà đề tài này có thể kế thừa và bổ sung để tổng hợp được một dòng
thời gian liền mạch hơn của quá trình phát triển cửa hàng tiện lợi.
Còn các nghiên cứu còn lại đã cung cấp cho đề tài này nhiều lý thuyết và phân
tích về mô hình cửa hàng tiện lợi thông qua việc kết hợp phân tích với các khía cạnh
gắn liền với sự tồn tại và phát triển của nó như là việc kết hợp các dịch vụ, áp dụng công
nghệ thông tin, hay phân tích các mặt hàng được bày bán trong cửa hàng… Điều này
làm vấn đề mà các tác giả đang nghiên cứu có sự chi tiết hơn. Trong đề tài này, những
phân tích về các lĩnh vực cụ thể đó sẽ được kế thừa, để đặt vào một các giai đoạn lịch
sử cụ thể, tạo nên “bức tranh toàn cảnh” hơn cho lịch sử phát triển của mô hình cửa hàng tiện lợi.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài, chúng tôi có hai mục đích:
Thứ nhất là tìm hiểu quá trình du nhập và phát triển của cửa hàng tiện lợi
(konbini) tại Nhật Bản. Sau khi hoàn thành đề tài, có thể xác định được các giai đoạn
quan trọng trong sự phát triển của cửa hàng tiện lợi, những yếu tố đã đóng vai trò chính 9
trong quá trình này, và những thay đổi quan trọng trong mô hình kinh doanh và kiến
trúc của các cửa hàng tiện lợi qua thời gian.
Thứ hai là chỉ ra được những ảnh hưởng của cửa hàng tiện lợi đối với người tiêu
dùng Nhật Bản. Từ đó chỉ ra được sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng của người dân
Nhật Bản song song với sự phát triển của cửa hàng tiện lợi.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Ứng với hai mục đích trên, những nhiệm vụ đặt ra cho đề tài này là:
Một là, tổng hợp và phân tích các giai đoạn quan trọng trong sự hình thành và
phát triển của cửa hàng tiện lợi tại Nhật Bản, bao gồm nguồn gốc và lịch sử của mô hình cửa hàng tiện lợi.
Hai là, nghiên cứu và xác định những lợi ích và hạn chế mà cửa hàng tiện lợi
mang đến cho người tiêu dùng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu lý thuyết, cụ thể là các phương pháp sau:
 Phương pháp phân tích và tổng hợp được áp dụng bằng cách thông qua các
văn bản, tài liệu liên quan đến sự hình thành và phát triển của hàng tiện lợi,
từ đó phân tích và chọn lọc những thông tin quan trọng liên quan đến đề tài nghiên cứu.
 Phương pháp lịch sử được áp dụng để phân tích quá trình phát triển của cửa
hàng tiện lợi tại Nhật Bản qua từng giai đoạn khác nhau; đồng thời, áp dụng
phương pháp logic để tổng kết và làm rõ những thành tựu, những điều hạn
chế trong quá trình phát triển của các chuỗi cửa hàng tiện lợi tại Nhật Bản.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về ý nghĩa khoa học, đây là đề tài chưa được quan tâm thảo luận nhiều tại Việt
Nam, chính vì thế thông qua bài nghiên cứu này chúng tôi mong muốn mang lại một bài
báo cáo được trình bày một cách logic, khách quan nhất cho những học giả quan tâm.
Cũng như đặt nền móng cơ sở lý luận và là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đề tài
nghiên cứu có liên quan sau này. Đồng thời, tạo cảm hứng cho các bạn sinh viên có
mong muốn bắt đầu nghiên cứu khoa học.
Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài bàn luận trực tiếp về sự phát triển của một mô hình
kinh doanh cụ thể tại một quốc gia khác. Vì vậy, đây có thể là một gợi ý cho những nhà
quản lý hoặc những ai đang có nung nấu thực hiện mô hình cửa hàng tiện lợi phù hợp 10
với Việt Nam, có thể tham khảo những biến chuyển trong phát triển mô hình này tại
Nhật nhằm thay đổi mô hình của mình hoặc tránh áp dụng những điều chưa thật sự hiệu
quả vào quá trình vận hành cửa hàng của bản thân.
7. Kết cấu đề tài dự kiến
Ngoài các mục Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài này dự kiến có 3 phần:
● Chương 1: Khái quát về cửa hàng tiện lợi
● Chương 2: Sự du nhập và phát triển của cửa hàng tiện lợi qua từng giai đoạn tại Nhật Bản
● Chương 3: Ảnh hưởng của cửa hàng tiện lợi đối với người tiêu dùng Nhật Bản