



















Preview text:
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................... 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ................................................................................... 8
1.1. Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ............................................................................ 8
1.1.1. Tín ngưỡng ....................................................................................................... 8
1.1.2. Văn hóa tín ngưỡng .......................................................................................... 9
1.2. Thờ Mẫu ở Việt Nam ................................................................................................. 11
1.2.1. Thờ Mẫu ........................................................................................................... 11
1.2.2. Đặc điểm của tín ngưỡng Thờ Mẫu ................................................................. 13
1.3. Thờ Mẫu ở Nam Định dưới hệ tọa độ văn hóa ......................................................... 16
1.3.1. Chủ thể văn hóa ................................................................................................ 16
1.3.2. Không gian văn hóa .......................................................................................... 17
1.3.3. Thời gian văn hóa ............................................................................................ 18
1.4. Tiểu kết ...................................................................................................................... 19
CHƯƠNG 2: TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NAM
ĐỊNH ............................................................................................................................... 20
2.1. Đặc điểm tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Nam Định ............................................................. 20
2.1.1. Biểu hiện ứng xử của con người đối với tự nhiên, xã hội ................................ 20
2.1.2. Sự gắn kết giữa truyền thống và hiện đại ........................................................ 21
2.2. Ý nghĩa của tín ngưỡng Thờ Mẫu trong đời sống văn hóa của Nam Định .............. 22
2.2.1. Tín ngưỡng Thờ Mẫu đối với đời sống tâm linh - tinh thần của người dân ..... 22
2.2.2. Tính cộng đồng mà Thờ Mẫu mang đến cho một cộng đồng người dân ........ 24
2.2.3. Sự tác động đến nhu cầu sáng tạo và đối với hưởng thụ văn hóa văn học nghệ
thuật ........................................................................................................................... 25 1
2.3. Tiểu kết ....................................................................................................................... 27
CHƯƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA
CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở NAM ĐỊNH ........................................................ 28
3.1. Những vấn đề ở tiêu cực tác động trong thời đại mới .............................................. 28
3.2. Bảo tồn các giá trị truyền thống văn hóa của Thờ Mẫu ở Nam Định ....................... 30
3.3. Tiểu kết ...................................................................................................................... 32
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 34
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................... 35 2 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống
tinh thần của người Việt Nam. Qua từng thời kỳ phát triển thì tín ngưỡng thờ Mẫu càng thể
hiện lên được vị trí trong hệ thống tín ngưỡng của người Việt. Thờ Mẫu là một loại hình tín
ngưỡng dân gian phổ biến ở nhiều dân tộc như Tày, Nùng… tuy nhiên rất nổi bật lên là một
tín ngưỡng của Việt Nam và được hình thành lâu đời từ người Việt. Hình thành từ những
năm thế kỷ thứ III và II trước công nguyên, thờ Mẫu ban đầu xuất phát từ miền Bắc sau đó
phổ biến hơn vào các vùng ở Việt Nam.
Tín ngưỡng thờ Mẫu thể hiện sự tôn kính đối với người mẹ - nguồn gốc của sự sống
và chăm bẵm, nuôi dưỡng. Từ đó, ta có thể thấy được nhận thức về thế giới và xã hội của
những người nông dân lúa nước đó là quan tâm đến thế giới tự nhiên, đến mùa màng và sự
sinh sôi nảy nở có lẽ là từ việc sinh sống nhờ trồng lúa nước phụ thuộc nhiều vào tự nhiên.
Thờ Mẫu đa dạng và nổi bật trong nền văn hóa của Việt Nam với nhiều hình thức thờ, cúng,
lễ hội, nghi lễ, âm nhạc, văn học… Thờ Mẫu là một tín ngưỡng góp phần lớn cho kho tàng
văn hóa của Việt Nam, cô đọng những tinh hoa văn hóa của người Việt.
Thông qua việc tìm hiểu chúng tôi nhận thấy rằng Nam Định là địa phương thuộc Bắc
Bộ, là nơi có nhiều di tích lịch sử - văn hóa gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu. Đời sống tín
ngưỡng ở địa phương này cũng được coi trọng, vậy nên chúng tôi đã chọn chủ đề “Thờ Mẫu
với đời sống văn hoá tín ngưỡng ở Nam Định“ nhằm hy vọng có thể lý giải được những hiện
tượng văn hóa cùng những giá trị mà nó đem lại để có thể góp phần bảo tồn, phát huy tín
ngưỡng Thờ Mẫu ở địa phương này.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
Trong những năm gần đây, tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và thờ Mẫu ở Nam Định
nói riêng đã trở thành đề tài được quan tâm rộng rãi trong giới nghiên cứu ở Việt Nam. Đặc
biệt, sau khi UNESCO vinh danh “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt”
là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2016, lĩnh vực này càng thu hút
sự chú ý lớn từ các nhà khoa học trong và ngoài nước. Điều này phản ánh mức độ quan tâm
cao của giới nghiên cứu đối với một hiện tượng tín ngưỡng dân gian độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa Việt.
Tín ngưỡng thờ Mẫu đã được nghiên cứu tương đối phong phú dưới nhiều góc độ:
Từ phương diện lịch sử và tôn giáo học, các công trình của GS. Ngô Đức Thịnh, PGS.
TS. Nguyễn Thị Hiền… đã làm rõ nguồn gốc, hệ thống thần điện và quá trình hình thành,
phát triển của thờ Mẫu ở Việt Nam.
Từ phương diện văn hóa dân gian, các nghiên cứu tập trung vào các yếu tố như nghi
lễ hầu đồng, lễ hội, âm nhạc, trang phục, biểu tượng văn hóa…
Từ phương diện xã hội học và nhân học, nhiều công trình đã tìm hiểu vai trò của thờ
Mẫu trong đời sống cộng đồng, trong mối quan hệ với giới, quyền lực biểu tượng, bản sắc
dân tộc và chuyển biến xã hội.
Riêng với Nam Định – được mệnh danh là “kinh đô” của tín ngưỡng thờ Mẫu, cũng
đã có khá nhiều công trình đề cập. Một số luận văn thạc sĩ, đề tài nghiên cứu địa phương và
bài viết khoa học đã khảo sát hệ thống đền phủ, lễ hội Phủ Dầy, vai trò của các “thanh
đồng”, cũng như mối liên hệ giữa thờ Mẫu và du lịch tâm linh. Tuy nhiên, những nghiên cứu
này phần lớn tập trung vào khía cạnh nghi lễ, di tích và sự kiện văn hóa, mà chưa đi sâu vào
việc phân tích tác động qua lại giữa thờ Mẫu và đời sống văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng
dân cư tại Nam Định, nhất là trong bối cảnh hiện đại.Nhìn chung, tín ngưỡng thờ Mẫu là
một lĩnh vực đã được chú ý nhiều, đặc biệt là từ sau năm 2016, tuy nhiên việc khảo sát 4
chuyên sâu ở phạm vi địa phương cụ thể như Nam Định – dưới góc nhìn văn hóa học, với sự
kết hợp giữa lý luận và thực tiễn – vẫn còn khá hạn chế. Đây chính là khoảng trống cần tiếp
tục nghiên cứu để góp phần nhận diện đầy đủ hơn giá trị văn hóa và vai trò xã hội của tín
ngưỡng này trong đời sống đương đại.
- Những tác phẩm tiêu biểu:
1.Nguyễn Thị Thanh – “Lễ hội Phủ Dầy – Một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc ở
Nam Định” (Tạp chí Văn hóa dân gian, 2019)
2. Nguyễn Thị Minh Nguyệt – “Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Định: Bảo tồn và phát
huy giá trị văn hóa trong bối cảnh hiện đại” (luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, 2018)
3. GS. Ngô Đức Thịnh – “Đạo Mẫu Việt Nam” (2006)
4. PGS. TS. Nguyễn Thị Hiền – “Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam: Những tiếp cận liên ngành” (2013)
5. Trần Hồng Liên – “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” (2016)
3. Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu hướng đến việc đánh giá những tác động của tín ngưỡng thờ Mẫu đối
với đời sống tinh thần và văn hóa của người dân Nam Định. Các nghiên cứu cũng góp phần
bảo tồn và phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu như một di sản văn hóa phi vật thể độc
đáo của Việt Nam, đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của nó
trong đời sống văn hóa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Thờ mẫu với đời sống văn hoá tín ngưỡng. 5
- Phạm vi nghiên cứu: địa phương Nam Định. Nghiên cứu trên phạm vi các đền phủ,
đền thờ, nơi thờ tự, những nghi lễ… của tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Nam Định.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu - Phương pháp lịch sử
- Phương pháp đối chiếu - so sánh
- Phương pháp nghiên cứu thông qua văn hóa học và nhân học
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về ý nghĩa khoa học, nghiên cứu “Thờ mẫu với đời sống văn hoá tín ngưỡng ở Nam
Định” đánh giá sự tác động và những giá trị của tín ngưỡng Thờ Mẫu đối với đời sống văn
hóa tín ngưỡng ở Nam Định.
Về thực tiễn, nghiên cứu là để bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống ở Nam Định,
qua các hiện tượng tín ngưỡng của Thờ Mẫu để đáp ứng nhiều thêm nhu cầu đời sống tín
ngưỡng của người dân Nam Định. 7. Bố cục
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài được chia thành 3 chương như sau: 6
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Tín ngưỡng Thờ Mẫu trong đời sống văn hóa của Nam Định
Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống văn hóa của tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Nam Định 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng
1.1.1. Tín ngưỡng
Có rất nhiều khái niệm về tín ngưỡng. Căn cứ khoản 1 Điều 2 Luật Tín ngưỡng tôn
giáo 2016 thì tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người được thể hiện thông qua
những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh
thần cho cá nhân và cộng đồng. Theo Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam thì tín
ngưỡng là một hình thức văn hóa tinh thần của con người và các cộng đồng người theo các
mức độ khác nhau và có truyền thống lâu đời. Ở Việt Nam từ thời kỳ Hùng Vương dựng
nước, tín ngưỡng đã có vai trò của nó trong việc cố kết cộng đồng, thờ cúng, tôn vinh những
thủ lĩnh hay những người có công với cộng đồng, tín ngưỡng còn là “hình thức sơ khai của
tôn giáo, mang tính bản địa, phản ánh nhu cầu tinh thần của cộng đồng dân cư trong mối
quan hệ với tự nhiên, tổ tiên, thần linh”. Còn theo TS. Phạm Việt Long thì khi phân tích ra
từng chữ cái, có thể hiểu rằng: “tín” trong “tín ngưỡng” xuất phát từ động từ “tín thác” tức là
tin tưởng, tin vào điều gì đó. Trong ngữ cảnh này, “tín” nói về việc tin tưởng vào sự tồn tại
và sức mạnh của các vị thần linh,... “ngưỡng” trong “tín ngưỡng” có nghĩa là sự kính trọng,
tôn kính. Đây là thái độ tôn kính, trọng thị đối với những vị thần linh mà nhân gian tin
tưởng. Khi kết hợp lại, “tín ngưỡng” nói đến hệ thống niềm tin và sự tôn kính vào một lực
lượng siêu nhiên đã được thiên hóa hoặc thần thánh hóa. Đây là một phần quan trọng của
văn hóa dân gian có tính thiêng, giúp con người nhận thức, lý giải và đương đầu với những
khía cạnh khó hiểu của thế giới xung quanh. Còn Trần Ngọc Thêm cho rằng, tín ngưỡng là
niềm tin của con người vào những điều, những sự vật, những nhân vật vào đó. Niềm tin này
không thể lý giải bằng logic thông thường vì nó đối lập với tư duy khoa học.dù quan niệm
như thế nào chăng nữa, tín ngưỡng đều là sự phản ánh các mối quan hệ của một xã hội, một
giai cấp, xã hội, điều kiện tồn tại của các tộc người, các nền văn hóa khác nhau. 8
Các hình thức tín ngưỡng sẽ mang đặc thù theo từng không gian văn hóa khác nhau
những quy chung vẫn là niềm tin vào cái thiêng, sự ngưỡng mộ và sùng bái của con người.
Do đó tín ngưỡng cũng mang đặc trưng riêng biệt của mình là phản ánh rất rõ nét hình ảnh,
hiện tượng văn hóa mang tính lịch sử, thể hiện tính đa dạng trong văn hóa và đậm đà bản sắc dân tộc
1.1.2. Văn hóa tín ngưỡng
Theo Nguyễn Duy Hinh “văn hóa tín ngưỡng là một thành tố trong đời sống văn hóa
tinh thần, gắn liền với truyền thống, tập quán về thế giới quan của con người trong cộng
đồng dân cư”. Có thể thấy đời sống tín ngưỡng của con người Việt Nam vô cùng phong phú
và đa dạng. Nó như mạch ngầm đưa các giá trị bản sắc dân tộc, toát lên giá trị nhân sinh sâu
sắc. Theo các nhà nghiên cứu, văn hóa tín ngưỡng của người Việt Nam phản ánh khá rõ nét
những đặc trưng của nền văn minh lúa nước. Văn hóa tín ngưỡng ấy được hình thành từ rất
sớm, trãi qua hàng nghìn năm biến động cùng các giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội, có
thăng có trầm nhưng văn hóa ấy vẫn tồn tại và phát triển không ngừng, từ đó xây dựng lên
một nền văn hóa phong phú. Nhìn vào đời sống tín ngưỡng từ miền ngược vào miền xuôi, từ
nông thôn đến hải đảo có thể nhìn thấy hệ thống văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam rất đa dạng.
Nếu gắn với điều kiện địa hình thì có loại tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, được thể hiện ở việc
thờ cây, thờ đá, thờ thần núi, thần rừng, thần sông, thần biển,... gắn với đời sống, với lao
động thì có loại hình tín ngưỡng phồn thực. Một điểm nổi trội trong văn hóa tín ngưỡng của
người Việt còn là việc tôn thờ người chống lại giặc ngoại xâm. Là một đất nước có truyền
thống yêu nước lâu đời, trải qua một chiều dài lịch sử với biết bao cuộc khởi nghĩa đấu tranh
giành lại hòa bình cho dân tộc, coi độc lập dân tộc và lợi ích quốc gia là lý tưởng thiêng
liêng nên hiển nhiên, những người có công đánh đuổi quân thù, chống giặc ngoại xâm luôn
được nhân dân quý trọng, kính nể, được thần thánh hóa. Từ những nhân vật huyền thoại như
Thánh Gióng đến những nhân vật lịch sử có thật như Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, 9
Nguyễn Trãi,... đều được lập đền, lập miếu thờ phụng theo triết lý “sinh vi danh tướng, tử vi
thần” – sống làm danh tướng, chết là thần.
Đặc biệt, người Việt còn dành sự kính ngưỡng đặc biệt cho mẹ. Yếu tố âm – yếu tố nữ
được thể hiện qua rất nhiều trong hệ thống văn hóa tín ngưỡng Việt Nam. Họ có thể là
những nhân vật không có thật như mẹ đất, mẹ rừng, mẹ biển và cũng có thể là những người
có thật trong lịch sử. Tất cả tạo nên bức tranh tín ngưỡng mang đầy ước vọng sinh sôi nảy
nở, được che chở, bảo vệ khỏi tai ương, được ban phát hạnh phúc, may mắn. Đây thật sự là
một điểm nổi bật trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, khác với rất nhiều quốc gia khác trên thế giới
Trong chiều dài lịch sử dân tộc, văn hóa tín ngưỡng dân gian đã đóng vai trò quan
trọng trong việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Việt.
Thông qua các nghi lễ thờ cúng, truyền thuyết, huyền thoại, thần tích và phong tục tập quán
được gắn kết trong từng hình thức tín ngưỡng, những ký ức văn hóa và bản sắc dân tộc được
khơi dậy và truyền lưu qua nhiều thế hệ. Đặc biệt, các sinh hoạt tín ngưỡng không chỉ duy trì
hệ giá trị tinh thần, mà còn là môi trường nuôi dưỡng và phát triển các loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc.
Tiêu biểu như trong tín ngưỡng thờ Mẫu – một trong những tín ngưỡng tiêu biểu của
người Việt – những nghi lễ như hầu đồng hay hát chầu văn không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo
mà còn là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa âm nhạc, vũ đạo, trang phục và trình diễn sân khấu
dân gian. Đây là môi trường sống động giúp các hình thức nghệ thuật truyền thống như múa,
hát, biểu diễn dân gian (hát xoan, hát cửa đình, chèo, ả đào…) tiếp tục tồn tại và lan tỏa trong cộng đồng.
Không dừng lại ở lĩnh vực văn hóa phi vật thể, văn hóa tín ngưỡng dân gian còn để lại
dấu ấn sâu đậm trong hệ thống di sản văn hóa vật thể. Các công trình kiến trúc như đình,
đền, miếu, phủ không chỉ là nơi thực hành nghi lễ mà còn là minh chứng rõ nét cho sự sáng 10
tạo và tay nghề điêu luyện của các nghệ nhân dân gian xưa. Từ hình khối, hoa văn, chạm
khắc, bố cục đến màu sắc đều phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và đời sống tín
ngưỡng phong phú của cư dân Việt, đặc biệt trong không gian văn hóa làng xã truyền thống.
Có thể thấy, hệ thống văn hóa tín ngưỡng đa dạng đã ăn sâu, bám rễ, hòa quyện cùng
với dòng chảy của thời đại, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của nhân dân.
Từ đó, văn hóa tín ngưỡng không chỉ đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt tâm linh, tinh thần mà
còn góp phần thêm đa dạng cho nền văn hóa của dân tộc. Cũng từ dòng chảy này, các giá trị
bản sắc dần thẩm thấu thông qua đức tin và phương thức thực hành của từng loại hình tín
ngưỡng để truyền từ đời này sang đời khác, đó cũng như một lời khẳng định rằng văn hóa tín
ngưỡng Việt Nam sẽ không bao giờ mất đi mà sẽ mãi tồn tại vững mạnh và ngày càng phát
triển một cách văn minh, tốt đẹp hơn.
1.2. Thờ Mẫu ở Việt Nam
1.2.1. Thờ Mẫu
Trong kho tàng tín ngưỡng dân gian Việt Nam, tín ngưỡng Thờ Mẫu giữ một vị trí đặc
biệt không chỉ bởi sự phổ biến rộng rãi mà còn vì giá trị nhân văn, lịch sử và văn hóa sâu
sắc. Việc tìm hiểu sau hơn về “Thờ Mẫu” không chỉ giúp hiểu thêm về hình thức sinh hoạt
tín ngưỡng tiêu biểu của người Việt Nam từ bao đời nay mà còn góp phần vào việc bảo tồn
và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc.
Thờ mẫu là gì? Từ thời nguyên thủy, Thờ Mẫu đã được hình thành, đây là tín ngưỡng
bản địa, nó thỏa mãn sự cầu mong, sự sinh sôi nảy nở của những người nông dân. Và ở thời
kỳ của chế độ phong kiến, đặc biệt là ở thế kỷ XVI – XVII thì Thờ Mẫu còn đáp ứng cho
những nhu cầu, mong muốn của tầng lớp thương nhân, thượng lưu. Và đến ngày nay, Thờ
Mẫu vẫn được phát triển theo nhiều chiều hướng nhằm đáp ứng về kinh tế thị trường và đô
thị hóa, hiện đại hóa. Một bức tranh với đa dạng sắc màu của tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam
được hình thành với sự trải dài của tín ngưỡng Thờ Mẫu ở khắp đồng bằng đến đô thị và 11
miền núi. Mặc dù trong quá trình phát triển, Thờ Mẫu đã tiếp thu những ảnh hưởng của các
loại hình tín ngưỡng khác như: Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo... song vẫn có thể khẳng định
rằng Thờ Mẫu là một tín ngưỡng có nguồn gốc bản địa đích thực. Về nguyên lý thì Thờ Mẫu
có nguồn gốc từ chế độ mẫu hệ, khi mà người phụ nữ giữ vị trí quan trọng trong gia đình, tín
ngưỡng thờ mẫu tôn sùng các vị nữ thần mà theo quan niệm dân gian có quyền năng sinh
sôi, bảo trợ và che chở con người. Tín ngưỡng Thờ Mẫu cũng phản ánh niềm khao khát của
người phụ nữ Việt Nam được giải thoát khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho phong kiến.
Xuất phát từ hiện thực đời sống nông nghiệp, nơi người phụ nữ giữ vai trò then chốt
trong sản xuất và sinh hoạt cộng đồng, người Việt từ rất sớm đã hình thành tư tưởng tôn vinh
người Mẹ như một biểu tượng linh thiêng, đại diện cho sự sinh sôi, che chở và bảo trợ. Từ
những yếu tố tín ngưỡng dân gian ban đầu mang tính chất phân tán và chưa hệ thống, tín
ngưỡng thờ Mẫu đã từng bước phát triển thành một hệ thống điện thần chặt chẽ và phong
phú. Hệ thống này bao gồm bốn phủ chính là Thiên phủ, Địa phủ, Thoải phủ và Nhạc phủ,
cùng với hàng chục vị thần từ cao đến thấp như Ngọc Hoàng, Mẫu, Quan, Chầu, Ông
Hoàng, Cô, Cậu… Trong đó, Thánh Mẫu được tôn xưng là vị thần tối cao, giữ vai trò trung
tâm trong điện thần. Cấu trúc điện thần đa tầng và được quy chuẩn hóa cho thấy rằng tín
ngưỡng thờ Mẫu không chỉ là sản phẩm thuần túy của trí tưởng tượng dân gian, mà đã trở
thành một hình thức tín ngưỡng có tổ chức. Việc hành đạo trong tín ngưỡng này đòi hỏi
người thực hành phải có kiến thức chuyên môn, am hiểu nghi lễ và sở hữu kỹ năng mang tính chuyên nghiệp.
Tín ngưỡng Thờ Mẫu của người Việt đã thật sự thể hiện lòng tôn kính và tri ân sâu
sắc đối với hình tượng người Mẹ – biểu tượng của nguồn cội, sự sống và khả năng nuôi
dưỡng. Đây không chỉ là một hình thức tâm linh mà còn là biểu hiện sinh động của bản sắc
văn hóa dân gian Việt Nam, được thể hiện qua các nghi lễ, lễ hội, diễn xướng, trang phục
truyền thống, âm nhạc và văn học dân gian. Trong đó, nghi lễ hầu đồng giữ vai trò trung tâm 12
– là hình thức nhập hồn các vị Thánh vào thanh đồng nhằm gửi gắm những ước nguyện và
mong cầu về một cuộc sống an lành, no đủ. Hầu đồng không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng
mà còn được xem như một di sản văn hóa sống động, phản ánh lịch sử, thẩm mỹ và tinh thần
của dân tộc Việt. Đặc biệt còn ý nghĩa hơn khi Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ đã được
UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2016. Đây
không chỉ là niềm tự hào mà còn là trách nhiệm lớn lao đối với người Việt trong việc bảo
tồn, phát huy và lan tỏa những giá trị văn hóa đặc sắc này đến với cộng đồng trong nước, thế
hệ trẻ và bạn bè quốc tế.
1.2.2. Đặc điểm của tín ngưỡng Thờ Mẫu
Đặc điểm quan trọng và đặc biệt nhất của Thờ Mẫu chính là việc đây là một loại hình
tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp Việt Nam và bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ nữ thần. Tín
ngưỡng này đã tôn vinh yếu tố nữ tính thông qua hình tượng của người phụ nữ quyền năng,
người có khả năng sáng tạo, sinh sôi và nuôi dưỡng vạn vật. Chính từ hiện thực đời sống
nông nghiệp, nơi người phụ nữ đóng vai trò quan trọng, người Việt đã sớm hình thành tư
tưởng tôn thờ và đề cao vai trò của người Mẹ như một biểu tượng thiêng liêng. Ban đầu, tín
ngưỡng thờ Mẫu mang tính chất tản mạn, chưa có hệ thống rõ ràng. Tuy nhiên, qua thời gian
phát triển, tín ngưỡng này đã dần hình thành một hệ thống điện thần tương đối chặt chẽ và
phong phú, với các phủ như Thiên phủ, Địa phủ, Thoải phủ, Nhạc phủ, cùng hàng chục vị
thần từ cao đến thấp (Ngọc Hoàng, Mẫu, Quan, Chầu, Ông Hoàng, Cô, Cậu…), mà đỉnh cao
là Thánh Mẫu – vị thần chủ tối cao. Cấu trúc điện thần đa tầng, quy củ chứng minh rằng tín
ngưỡng Thờ Mẫu không chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng dân gian, mà còn là một hình
thức tín ngưỡng có tổ chức, đòi hỏi người hành đạo cần có hiểu biết và kỹ năng mang tính chuyên nghiệp.
Tín ngưỡng Thờ Mẫu còn là một tín ngưỡng dân gian đa thần, thể hiện sự giao thoa
và hòa quyện với nhiều yếu tố trong hệ thống tín ngưỡng và tôn giáo truyền thống của người
Việt. Trong hệ thống điện thần của Đạo Mẫu, bên cạnh các vị Mẫu đại diện cho Thiên, Địa, 13
Thủy, Nhạc phủ, còn có sự hiện diện của nhiều nữ thần là anh hùng dân tộc như Hai Bà
Trưng, Bà Triệu, Nguyên phi Ỷ Lan… cũng như các bà mẹ, người vợ của các danh nhân lịch
sử – những người đã góp phần vào công cuộc dựng nước và giữ nước, thể hiện lòng biết ơn
sâu sắc của nhân dân dành cho những người có công lao trong việc lập nước và giữ nước.
Không chỉ dừng lại ở Thờ Mẫu, trong nhiều đền, phủ còn thờ các nhân vật tâm linh khác như
Đức Thánh Trần, Phật, và các linh vật được nhân hóa (như ông Hổ, ông Lốt…). Nhiều nơi
áp dụng mô hình thờ tự theo cấu trúc “tiền Phật hậu Thánh”, cho thấy sự linh hoạt, mở rộng
và bao dung của hệ thống tín ngưỡng này.
Tín ngưỡng thờ Mẫu không chỉ là một hình thức tín ngưỡng tôn giáo, mà còn là một
hiện tượng văn hóa dân gian đặc sắc, phản ánh rõ nét lối sống, quan niệm và ước vọng của
người Việt từ truyền thống đến hiện đại. Thông qua các nghi lễ đặc trưng như lên đồng, cùng
với lễ hội, trang phục, âm nhạc và phong tục đi kèm, tín ngưỡng thờ Mẫu thể hiện nhu cầu
thiết thực và nhân bản của con người trong đời sống thực tại: cầu tài, cầu lộc, sức khỏe, may
mắn, bình an… Sau mỗi nghi lễ hầu đồng, người hành lễ được “thụ lộc”, như một hình thức
ban ơn từ thần linh, đáp ứng niềm tin vào sự giao hòa giữa thế giới thần thánh và con người.
Điều đáng chú ý là, trong không gian của Đạo Mẫu, mọi người đều bình đẳng trước Mẫu,
không phân biệt địa vị xã hội, tuổi tác hay điều kiện kinh tế – một điểm tương đồng với tục
xin lộc đầu năm trong Phật giáo Việt Nam.
Bên cạnh chức năng tâm linh, tín ngưỡng thờ Mẫu còn là một không gian nghệ thuật
độc đáo, thể hiện rõ qua các hình thức diễn xướng dân gian như hát chầu văn, hát bóng, múa
bóng… Những hình thức này được ví như “sân khấu tâm linh” – nơi hội tụ của âm nhạc,
múa, diễn, thơ ca và tín ngưỡng, mang giá trị thẩm mỹ cao và giàu tính biểu cảm. Đặc biệt,
hát chầu văn – với tính ứng tác, ngôn từ trau chuốt, tiết tấu linh hoạt – trở thành một trong
những nét nghệ thuật tiêu biểu của Đạo Mẫu. Nhờ đó, tín ngưỡng thờ Mẫu góp phần quan
trọng vào việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc theo cách
sống động, hấp dẫn và có khả năng lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng. 14
Tín ngưỡng Thờ Mẫu không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh mà còn chứa đựng triết lý
nhân sinh sâu sắc. Nó thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn với những
người phụ nữ có công với cộng đồng, đồng thời gửi gắm ước vọng về sức khỏe, tài lộc, may
mắn và hạnh phúc trong cuộc sống hiện thực. Thông qua hình tượng Mẫu – người mẹ thiêng
liêng, tín ngưỡng này truyền dạy con người lối sống thiện lương, biết cư xử đúng đạo lý, thờ
kính tổ tiên và tri ân công đức tiền nhân. Từ thế kỷ XVI, với sự xuất hiện của Thánh Mẫu
Liễu Hạnh, một biểu tượng trung tâm đã được “thần hóa”, Đạo Mẫu phát triển mạnh mẽ
thành hệ thống Tam phủ – Tứ phủ, đáp ứng sâu sắc nhu cầu tâm linh đặc biệt của người phụ
nữ. Các trung tâm thờ Mẫu lớn như Phủ Dầy (Nam Định), Phủ Tây Hồ (Hà Nội), Điện Hòn
Chén (Huế) trở thành nơi hành hương, thực hành nghi lễ tiêu biểu của Đạo Mẫu. Có thể nói,
tín ngưỡng Thờ Mẫu đã phát triển từ hình thức nguyên thủy thành một hệ thống tôn giáo sơ
khai – Đạo Mẫu, với cộng đồng tín đồ rộng khắp, bao gồm các ông đồng, bà đồng, thanh
đồng, con nhang, đệ tử… Từ chỗ mang tính tự phát, rời rạc, Đạo Mẫu nay đã đạt đến mức độ
tổ chức chặt chẽ và có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hóa – tâm linh của người Việt.
Tín ngưỡng Thờ Mẫu chứa đựng nhiều giá trị sâu sắc trong đời sống tinh thần và tâm
linh của người Việt. Đây không chỉ là một hình thức tôn giáo dân gian mà còn là động lực
tinh thần mạnh mẽ đối với một bộ phận lớn cư dân, giúp họ tìm thấy điểm tựa tâm lý trong
cuộc sống nhiều áp lực, biến động. Tín ngưỡng này phản ánh những quan niệm phong phú
của người Việt về con người, về tự nhiên, và về các mối quan hệ xã hội. Trong đó, hình
tượng Mẫu đóng vai trò trung tâm – là biểu tượng của sự bao dung, che chở, bảo vệ và cũng
là người xét xử, quở phạt những hành vi bất kính, sai lệch với đạo lý. Người dân tin rằng các
Thánh Mẫu luôn dõi theo, lắng nghe và ban phúc cho những ai thành tâm, đồng thời nghiêm
khắc với những ai xúc phạm, lừa dối hay thiếu lễ nghĩa. Việc thực hành tín ngưỡng Thờ Mẫu
không chỉ là một hành vi tâm linh mà còn là cách con người tìm lại sự cân bằng trong tâm
hồn, giải tỏa lo âu, gửi gắm hy vọng vào một sức mạnh siêu nhiên gần gũi, nhân hậu. Đặc
biệt, tín ngưỡng này không hướng con người đến thế giới sau khi chết, mà chú trọng vào
hiện thực đời sống, vào những điều cụ thể như sức khỏe, tài lộc, công danh, hạnh phúc – thể 15
hiện rõ tính thực tiễn và nhân sinh sâu sắc. Tín ngưỡng Thờ Mẫu vì thế trở thành một điểm
tựa tinh thần vững chắc, nuôi dưỡng niềm tin và đạo lý sống hướng thiện, góp phần giữ gìn
sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình.
1.3. Thờ Mẫu ở Nam Định dưới hệ tọa độ văn hóa
Việc khảo sát tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Định dưới hệ tọa độ văn hóa – gồm ba trục:
chủ thể, không gian và thời gian – cho phép ta hiểu rõ hơn về sự sống động, bền vững và sức
lan tỏa của một hình thái tín ngưỡng dân gian độc đáo. Đây không chỉ là một thực hành tôn
giáo đơn lẻ mà là một không gian văn hóa – xã hội tổng thể, gắn bó mật thiết với con người,
vùng đất và dòng chảy lịch sử – tâm linh Việt Nam.
1.3.1. Chủ thể văn hóa
Chủ thể văn hóa trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Định chính là con người – những
cá nhân và cộng đồng gắn bó lâu đời với mảnh đất này. Họ không chỉ là người tiếp nhận,
thực hành mà còn là chủ thể sáng tạo, gìn giữ và truyền bá tín ngưỡng. Trước hết, đó là cư
dân bản địa của Nam Định, chủ yếu là nông dân sống ở vùng đồng bằng châu thổ sông
Hồng. Trong đời sống lao động và sinh hoạt thường nhật, họ luôn hướng về các vị thần Mẫu
– đặc biệt là Mẫu Liễu Hạnh – như một chỗ dựa tâm linh linh thiêng, bảo hộ mùa màng, gia
đạo và sức khỏe. Đức tin của họ được thể hiện qua các lễ hội, nghi lễ hầu đồng, việc thờ tự
tại gia và trong cộng đồng làng xã.
Tiếp theo, phải kể đến lực lượng thanh đồng, cung văn, đồng thầy, thủ nhang… –
những người trực tiếp thực hành nghi lễ, giữ vai trò trung gian giữa thế giới thần linh và con
người. Họ không chỉ thực hành mà còn truyền dạy, biểu diễn và điều tiết các yếu tố nghi lễ,
đóng vai trò giữ cho dòng chảy tín ngưỡng không bị đứt gãy.Ngoài ra, không thể không nhắc
tới cộng đồng người hành hương, con nhang đệ tử từ nhiều vùng miền khác trên cả nước tìm
về Nam Định – đặc biệt là trong dịp lễ hội Phủ Dầy. Họ đến để cầu an, cầu lộc, cầu duyên, 16
đồng thời góp phần tạo nên một không gian tín ngưỡng mở, đa dạng, giao thoa văn hóa vùng miền.
Cuối cùng, chính người dân cũng là chủ thể sáng tạo văn hóa dân gian. Qua các
truyền thuyết, tích truyện, văn chầu, điệu múa, nghi lễ… họ đã thần thánh hóa các nữ nhân
vật lịch sử, như Mẫu Liễu Hạnh, Chầu Bát, Cô Bé, v.v… Hình tượng các vị này không chỉ
được nâng tầm thiêng liêng mà còn mang trong mình dấu ấn “trần gian hóa” – gần gũi, đời
thường, đáp ứng các nhu cầu cụ thể trong cuộc sống.
1.3.2. Không gian văn hóa
Không gian văn hóa thờ Mẫu ở Nam Định không chỉ là địa lý thiêng, mà còn là trung
tâm hội tụ của một hệ thống tín ngưỡng dân gian đặc sắc. Nam Định được giới nghiên cứu
ghi nhận là “kinh đô của Đạo Mẫu”, nơi sản sinh, bảo lưu và lan tỏa hệ thống thờ Mẫu Tam
phủ – Tứ phủ một cách rõ nét và toàn diện.Trung tâm nổi bật nhất là quần thể di tích Phủ
Dầy (huyện Vụ Bản), nơi thờ chính Thánh Mẫu Liễu Hạnh – một trong Tứ bất tử của văn
hóa dân gian Việt Nam. Hệ thống đền phủ tại đây, như đền Tiên Hương, đền Vân Cát, đền
Công Đồng…, không chỉ có giá trị kiến trúc và lịch sử, mà còn là không gian thực hành nghi
lễ, diễn ra các hoạt động tín ngưỡng như hầu đồng, dâng lễ, rước kiệu, hát văn.
Nam Định còn giữ vị trí là trung tâm lan tỏa tín ngưỡng thờ Mẫu ra khắp vùng đồng
bằng Bắc Bộ, đặc biệt tới các tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương… Theo lý thuyết
“trung tâm – ngoại vi” (Ngô Đức Thịnh), từ trung tâm Nam Định, các yếu tố tín ngưỡng đã
được tích hợp, định hình và truyền bá tới nhiều vùng, tạo nên mạng lưới văn hóa thờ Mẫu
liên vùng.Không gian này không chỉ gắn với địa danh cụ thể, mà còn là không gian văn hóa
biểu tượng – nơi diễn ra sự kết nối giữa người và thần linh, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa
hiện tại và truyền thống. Nó lưu giữ ký ức văn hóa, căn tính tâm linh và bản sắc dân tộc qua các thế hệ. 17
1.3.3. Thời gian văn hóa
Thời gian văn hóa trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Định là một dòng chảy nhiều
lớp, kết hợp giữa chiều sâu lịch sử và chu kỳ lễ hội tín ngưỡng thường niên.
Về chiều sâu lịch sử, Đạo Mẫu được hình thành từ lớp tín ngưỡng thờ nữ thần bản
địa, phát triển mạnh vào thời Hậu Lê (thế kỷ XVI) khi hình tượng Mẫu Liễu Hạnh được “lên
khuôn” trong văn hóa dân gian và trong cả tư tưởng Nho – Lão – Phật. Từ thế kỷ XVII–
XVIII, cùng với quá trình mở rộng phủ đền, hình tượng các nữ thần như Chầu Bát – Bát Nạn
đại tướng cũng được thần thánh hóa và đưa vào hệ thống điện thần Tứ phủ.Về thời gian thực
hành tín ngưỡng, tiêu biểu nhất là lễ hội Phủ Dầy tổ chức từ mùng 3 đến mùng 8 tháng 3 âm
lịch, quy tụ hàng vạn người hành hương. Trong lễ hội và các nghi lễ khác như hầu đồng,
rước thánh, lễ tạ… thời gian trở thành thời điểm linh thiêng – nơi diễn ra sự giao thoa giữa
trần thế và thần linh, giữa quá khứ và hiện tại.
Từ năm 2016, khi UNESCO công nhận tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt
là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, một giai đoạn hiện đại mới đã mở ra
cho thờ Mẫu tại Nam Định. Sự kiện này không chỉ nâng cao vị thế tín ngưỡng trong tâm
thức cộng đồng, mà còn đánh dấu một thời kỳ phục hưng, phát triển mạnh mẽ, với sự tham
gia ngày càng đông đảo của giới trẻ, cộng đồng nghiên cứu, ngành du lịch và truyền thông.
1.4. Tiểu kết
Chương 1 đã đặt nền tảng lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu
tại Nam Định dưới hệ tọa độ văn hóa. Trước hết, chương trình bày các khái niệm cơ bản về
tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng – hai phạm trù gắn bó chặt chẽ với đời sống tinh thần của
người Việt. Tín ngưỡng, xét về bản chất, là niềm tin thiêng liêng được biểu hiện qua các nghi
lễ, phong tục tập quán truyền thống; còn văn hóa tín ngưỡng phản ánh sâu sắc hệ giá trị, lối
sống và thế giới quan của các cộng đồng dân cư qua chiều dài lịch sử.Trong bức tranh đa 18
dạng ấy, tín ngưỡng thờ Mẫu nổi bật như một hiện tượng văn hóa – tôn giáo đặc sắc có
nguồn gốc bản địa, gắn liền với tín ngưỡng thờ nữ thần và chế độ mẫu hệ thời kỳ đầu. Tín
ngưỡng này không chỉ thể hiện sự tôn vinh đối với người phụ nữ – đặc biệt là hình tượng
“người Mẹ” thiêng liêng – mà còn chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc, thấm đẫm tinh thần
“uống nước nhớ nguồn” và ước vọng về sự sinh sôi, che chở, phúc lộc trong đời sống hiện thực.
Phần cuối của chương đã phân tích tín ngưỡng thờ Mẫu tại Nam Định dưới hệ tọa độ
văn hóa – tức ba chiều kích: chủ thể, không gian và thời gian văn hóa. Trong đó:
Chủ thể văn hóa là người dân Nam Định – từ cư dân bản địa, thanh đồng, cung văn
đến cộng đồng hành hương – tất cả đều góp phần sáng tạo, gìn giữ và lan tỏa tín ngưỡng thờ Mẫu.
Không gian văn hóa là vùng đất Nam Định – đặc biệt là Phủ Dầy và các đền phủ lân
cận – nơi quy tụ các yếu tố thiêng liêng, nơi diễn ra các hoạt động thờ cúng và là trung tâm
lan tỏa tín ngưỡng đến khắp miền Bắc.
Thời gian văn hóa được xác lập qua các lớp thời gian lịch sử (từ thời Hậu Lê), thời
gian lễ hội định kỳ (tháng 3 âm lịch), và thời kỳ hiện đại khi tín ngưỡng được UNESCO
công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Từ những phân tích trên, có thể thấy tín ngưỡng thờ Mẫu không chỉ là một hình thức
sinh hoạt tâm linh dân gian mà còn là một biểu tượng văn hóa giàu bản sắc, sống động và có
sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống người Việt – đặc biệt tại vùng đất Nam Định, cái nôi
thiêng liêng của Đạo Mẫu. 19
CHƯƠNG 2: TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NAM ĐỊNH
2.1. Đặc điểm tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Nam Định
2.1.1. Biểu hiện ứng xử của con người đối với tự nhiên, xã hội
Trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Định, cách con người ứng xử với tự nhiên và xã
hội không chỉ thể hiện niềm tin tâm linh mà còn thể hiện hệ giá trị văn hóa sâu sắc, kết tinh
từ quá trình lịch sử lâu dài của cộng đồng người Nam Định. Thờ Mẫu là một tín ngưỡng đặc
trưng của người Việt trong đó lấy trung tâm là các vị Thánh Mẫu, trong đó thì mỗi vị trong
đó cai quản một cõi của trời đất: Mẫu Thượng Thiên cai quản trời, Mẫu Thượng Ngàn cai
quản rừng núi, Mẫu Thoải cai quản sông nước và Mẫu địa cai quản đất đai. Qua đó, tín
ngưỡng thờ Mẫu thể hiện quan điểm về thế giới của con người đó là sự hài hòa và quan
trọng của thiên nhiên trong đời sống, từ đó hướng tới một thái độ trân trọng, biết ơn và cầu
mong sự bảo hộ từ các lực lượng siêu nhiên đại diện cho tự nhiên.
Việt Nam là một quốc gia với văn hóa đậm nét nông nghiệp cụ thể là trồng lúa nước,
bởi tính chất của lúa nước chịu ảnh hưởng nhiều từ giới tự nhiên, thiên nhiên… Nên con
người Việt Nam luôn cầu cho mưa thuận, gió hòa bởi thế mà từ lâu họ đã gắn liền những
hiện tượng tự nhiên với giới siêu nhiên như một cách tôn trọng và thờ kính. Mà cũng từ lâu
thì hình tượng người phụ nữ được con người Việt Nam thần thánh hóa lên với những giá trị
về sự sinh sôi nảy nở, no đủ, sự tái sinh, tươi tốt… như hình tượng mẹ Âu Cơ với giai thoại
lý giải cho nguồn gốc của người Việt, và ở đây là tín ngưỡng Thờ Mẫu lấy hình tượng người
mẹ, người phụ nữ đôn hậu với quyền năng sáng tạo, sinh sôi, bảo bọc, ôm ấp con người. Cụ
thể trong những nghi lễ thờ Mẫu, người dân thường cầu mong những điều gắn liền với con
người như sự sung túc, no đủ và hơn hết là những điều gắn liền với quy luật tự nhiên như
mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt… Những nghi lễ như hầu đồng không chỉ mang tính
tâm linh mà còn hàm chứa khát khao được sống hài hòa với tự nhiên. 20