BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
-----
 .
-----
TIỂU LUẬN
Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ
MINH
HỌC PHẦN: MÔI TRƯỜNG CON NGƯỜI
LHP: 231NAS10137 (LỚP BUỔING TH 6)
GVGD: ThS. Huỳnh Đặng Uyên
NHÓM: 6
TP.HCM, Tháng 12 năm 2023
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
..........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
DANH CH THÀNH VIÊN NHÓM 6
STT
HỌ TÊN
MSSV
MỨC ĐỘ ĐÓNG P
(%)
Ghi chú
1Nguyễn Ngc
Đoan Trinh
221A170482 Nhóm trưởng
2
Đặng Mai Ngọc
n
221A300003
3
Ngô Phạm Ngọc
n
221A310140
4Huỳnh Nguyễn
Khánh Giang
221A050474
5
Lương Sơn Ngọc
n
201A160174
6
Nguyễn Văn
Phát
221A300075
7
Lưu Thị Mỹ
Linh
221A050100
8Nguyễn Hồ
Thanh Nhàn
221A050418
9
Trần Thị Quỳnh
Giao
221A050003
10
Đỗ Khánh Linh
211A050218
MỤC
LỤC
I.
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
do lựa chọn đề i
Ô nhiễm không khí vấn đề xảy ra rộng rãi cả Việt Nam hiện nay nhiều
nước trên thế giới. Rất nhiều cảnh báo cũng như biện pháp của chính ph được đưa
ra để cải thiện chất lượng không khí, thế nhưng thực trạng này vẫn diễn ra rất phổ
biến.
Theo báo cáo thường niên The Environmental Performance Index (EPI) của Mỹ
thực hiện, Việt Nam hiện đang đứng trong top 10 các nước ô nhiễm không khí
Châu Á, tiêu biểu là mức ô nhiễm không khí với các hạt bụi mịn ở mức PM 10 và
PM 2.5. https://www.sonha.net.vn/o-nhiem-khong-khi.html
Thành phố Hồ Chí Minh địa điểm bị ô nhiễm không khí nặng nề nhất cả nước,
tại nhiều thời điểm bụi mịn thể đạt mức PM 2.5 bao phủ cả một bầu trời
khiến cho tầm nhìn của người đi đường bị hạn chế cũng như sức khỏe của con
người bị ảnh hưởng tiêu cực. Theo bản đồ của ứng dụng quan trắc không khí như:
PAM Air, Air Visual, Healthy Air,… thì tới rất nhiều điểm đo màu cam (có
hại cho nhóm nhạy cảm), màu đỏ (có hại cho sức khỏe). Các điểm đo xuất hiện rải
rác các quận 12, quận Vấp, Tân Phú, huyện Bình Chánh,... Chất lượng không
khí xuống thấp. thế nhóm chúng em quyết định tìm hiều về vấn đề Ô nhiễm
không khí Thành phố Hồ Chí Minh” để được cái nhìn tổng quát và đồng thời
có cơ sở để đưa ra những ý kiến góp phần giảm thiểu tình trạng ô nhiễm này.
2.
Mục đích nghiên cu
Tìm hiểu thực trạng ô nhiễm môi trường không khí Thành phố Hồ Chí Minh
những ảnh hưởng của nó. Từ đó, đưa ra các giải pháp góp phần giảm thiểu tình
trạng ô nhiễm.
3.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứ
u
Ô nhiễm môi trường không khí tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
4.
Phương pháp nghiên cứu
1
Phương pháp thu thập thông tin: đề tài thu thập những thông tin liên quan trên
các công trình nghiên cứu khoa học đã được xuất bản, các tạp chí khoa học, luận
văn tốt nghiệp của sinh viên các khoa trước, các bài viết trên báo điện tử.
Phương pháp xử lý thông tin: tổng hợp, chọn lọc, phân tích các dữ kiện có liên
quan.
5.
Cấu trúc tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung của đề tài
được cấu trúc thành 3 chương:
-
Chương 1: Cở sở luận về vấn đề ô nhiễm môi trường không khí
-
Chương 2: Ô nhiễm không khí TP.HCM
-
Chương 3: Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đến đời sống, kinh tế hội Thành
phố Hồ Chí Minh
2
II.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
1.1.
Khái niệm ô nhiễm không khí
Ô nhiễm môi trường không khí sự thay đổi lớn trong thành phần không khí, do
khói, bụi, hơi hay các khí lạ được đưa vào không khí gây nên các mùi lạ, làm giảm
tầm nhìn, biến đổi khí hậu. Chúng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người
cũng như động thực vật trên trái đất. https://www.sonha.net.vn/o-nhiem-khong-
khi.html
Hình: Ô nhiễm môi trường không khí đang đe dọa đến cuộc sống con người
1.2.
Nguồn gây ô nhiễm không khí
Nguồn y ô nhiễm không khí rất nhiều, có thể phân thành hai loại: nguồn ô
nhiễm tự nhiên và nguồn ô nhiễm nhân tạo.
1.2.1.
Nguồn ô nhiễm tự nhiên
Do các hiện tượng thiên nhiên gây ra như: sa mạc, đất trồng bị mưa gió bào mòn
tung lên trời, bụi đất, đá, thực vật,..các hiện tượng núi lửa phun nham thạch. Các
quá trình hủy hoại, thối rửa thực vật động vật thải ra các khí gây ô nhiễm. Cụ thể
như sau:
+ Hoạt động của núi lửa: Núi lửa phun ra những nham thạch nóng nhiều khói
bụi, sinh ra các khí ô nhiễm chủ yếu là dioxit lưu huỳnh (SO2), sunfua hydro
(H2S), florua hydro (HF)… bụi. Không khí chứa bụi lan tỏa đi rất xa được
phun lên rất cao.
+ Cháy rừng: Các đám cháy rừng đồng cỏ bởi các quá trình tự nhiên xảy ra do
sấm chớp, cọ sát giữa thảm thực vật khô như tre cỏ. Các đám cháy này thường lan
3
truyền rộng, sinh các chất ô nhiễm gồm bụi tro các khí oxit nitơ (NOx) và dioxit
lưu huỳnh (SO2), monoxit cacbon (CO).
+ Bụi do gió, do bão sinh ra các vùng khạn hay bán khạn.
+ Sphân huỷ tự nhiên các chất hữu (thực vật, xác động vật…): Các quá
trình phân hủy, thối rửa xác động, thực vật, tự nhiên phát thải nhiều chất khí, các
phản ứng hóa học giữa những khí tự nhiên hình thành các khí metan (CH4), dioxit
cacbon (CO2), các loại muối,… Các loại bụi, khí này đều gây ô nhiễm không khí.
+ Tác nhân sinh học như phấn hoa, vi sinh vật (vi khuẩn, siêu vi khuẩn, nấm
mốc, nấm men, tảo…), các loại côn trùng nhỏ hay các bộ phận của chúng
https://dangcongsan.vn/xay-dung-xa-hoi-an-toan-truoc-thien-tai/nguyen-nhan-gay-
tinh-trang-o-nhiem-moi-truong-khong-khi-va-giai-phap-khac-phuc-594455.html
1.2.2.
Nguồn ô nhiễm nhân tạo
Con người là nạn nhân của việc ô nhiễm môi trường, tuy nhiên con người cũng
chính những tác nhân chính gây ô nhiễm môi trường. Rất nhiều các hoạt động
hằng ngày của con người góp phần gia tăng ô nhiễm môi trường không khí.
Hoạt động sản xuất công, nông nghiệp
Đây nguyên nhân chính, y nhức nhối cho cộng đồng nhà nước, không
riêng Việt Nam rất nhiều các nước đang phát triển điều vướng phải tình trạng
này. Khói bụi từ các ống xả của nhà máy, nghiệp trong những khu công nghiệp
làm đen ngòm một khoảng trời. Chúng thải ra các khí CO
2
, CO, SO
2
, NOx cùng
một số chất hữu cơ khác, với nồng độ cực cao.
Những khu công nghiệp này không chỉ làm ô nhiễm môi trường không khí
còn là tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước, khiến cho các “làng ung thư” được
hình thành.
Mưa Axit cũng chính hậu quả của những hoạt động sản xuất công nghiệp
không xử lý thải đúng cách gây nên.
Việc lạm dụng thuốc trừ sâu, phân bón hay các hoạt động đốt rơm, rạ, đốt rừng
làm rẫy cũng là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường không khí.
Giao thông vận tải
4
Đây chính nguyên nhân lớn nhất gây ô nhiễm không khí hiện nay. Với một số
lượng các phương tiện giao thông khổng lồ di chuyển liên tục, lượng khí thải từ
các phương tiện này cũng vô cùng khủng khiếp. Đặc biệt, đối với những xe đã cũ,
hệ thống máy c hoạt động kém tlượng kthải càng lớn. Các phương tiện giao
thông thải vào không khí các chất độc hại như: CO, VOC, NO
2
, SO
2
,... với nồng đ
cực cao và liên tục.
Nguyên nhân này chỉ đứng sau hoạt động công nghiệp, khi lượng khí thải từ
các phương tiện giao thông xả ra môi trường rất lớn. Theo báo cáo quan năng
lượng quốc tế (IEA) giao thông vận tải đóng góp 24,34% lượng Carbon mỗi năm.
Hoạt động quốc phòng, quân sự
Các chất độc chiến tranh, các nghiên cứu quân sự đã đang nh hưởng rất lớn
đến sức khỏe con người. chiến tranh đã qua đi rất lâu nhưng những nạn nhân
chất độc màu da cam vẫn còn rất lớn.
Ngoài ra các mối đe dọa từ bom hạt nhân vẫn luôn thường trực mỗi ngày, nếu
chúng bị rò rỉ thì hàng triệu người sẽ bị ảnh hưởng.
Hoạt động xây dựng sở hạ tầng
Các hoạt động xây dựng cao ốc, chung cao tầng hay cầu đường luôn luôn
mang đến sự ô nhiễm môi trường không khí nặng nề. Tiêu điểm Nội vào
những ngày giữa tháng 12/2020 bụi mịn bao ph hoàn toàn Nội, làm giảm tầm
nhìn và ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe người dân.
Khi vận chuyển vật liệu, cho được che chắn kỹ lưỡng thì các bụi bẩn cũng sẽ
vương vãi ra môi trường gây ô nhiễm. Chưa kể, đối với những trường hợp không
được che chắn sbị rơi vật liệu ra đường, gây nguy hiểm sản sinh lượng khói
bụi khổng lồ thể cản trở các phương tiện cùng u thông trên đường. Do vậy,
việc chú ý che chắn đúng cách khi vận chuyển vật liệu là bắt buộc phải làm.
5
Bụi mịn PM 2.5 từ các công trình xây dựng bao phủ thành phố.
Thu gom xử rác thải
Việc rác thải được thải ra qnhiều khiến cho các khu tập kết rác không xử
được hết khiến cho mùi hôi thối bốc ra. Hay c phương pháp xử thủ công như
đốt khiến cho không khí bị ô nhiễm trầm trọng.
Hoạt động sinh hot
Trong quá trình nấu nướng, các khí thải từ nguyên liệu cháy như gas, than,
củi,...sẽ giải phóng một lượng lớn khí độc bụi vào môi trường khí. quá trình này
sẽ sản sinh một lượng lớn khí CO, CO
2
, NOx, SOx,... rất độc hại ảnh hưởng
nghiêm trọng đến đời sống con người
6
CHƯƠNG 2: Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ TP.HCM
2.1.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ô nhiễm môi trường không khí thành phố Hồ Chí
Minh
Tình trạng ô nhiễm không khí tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh vấn đề gây
nhiều bức xức hiện nay. Vấn đề này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau,
song các nguyên nhân điển hình có thể kể đến ở đây như:
2.1.1.
Ý thức của người dân
Ý thức của dân đóng vai trò rất quan trọng trong việc phòng chống ô nhiễm
môi trường không khí tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, hiện nay, tình trạng
ô nhiễm vẫn đang diễn ra xu hướng tăng cao, thể thấy của người dân còn
kém, chưa hiểu rõ hết tác hại của những hàng động xấu đến môi trường.
Một số những hành động xấu liên quan đến ý thức của người dân trong việc gây
ra ô nhiễm không khí tại Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm:
Thói quen sử dụng xe máy ô nhân thay các phương tiện công cộng.
Mặc tỉ lệ thấp hơn mức trung bình thế giới, nhưng việc sử dụng xe nhân tại
Thành phố Hồ CMinh cũng rất cao, đặc biệt trong khung giờ cao điểm. Việc sử
dụng xe máy ô nhân đem lại tiện lợi cho người dân, tuy nhiên, chúng cũng
tác động tiêu cực đến môi trường bởi sự thải ra không khí khí thải dầu động cơ.
Thói quen đổc bừa i.
Một số người dân vẫn thường đổ rác bừa bãi các khu vực công cộng, ven
đường hay kênh rạch, không đúng nơi chứa rác, điều này gây ra việc ô nhiễm môi
trường, nhất khí thải nước thải, thu hút côn trùng chất gây ô nhiễm khác.
Không chấp hành nghiêm túc quy định về i trường
Một số người dân không chấp hành nghiêm túc những quy định về môi trường
7
như đổ rác những nơi bảng cấm, xả rác nơi công cộng,…Những hành động
này làm tăng lượng chất thải và tiêu thụ tính suy giảm môi trường.
Hình: Người dân tại TP.HCM xả rác bừa bãi không đúng nơi quy định.
vậy, cần phải nâng cao ý thức của người dân về môi trường, thông qua các
chương trình giáo dục, tăng cường truyền thông xây dựng các địa điểm thải rác,
đồng thời tăng cường quản trong việc gây ô nhiễm môi trường tại thành phố Hồ
Chí Minh.
2.1.4.
Trình độ chuyên môn , nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác
bảo vệ môi trường
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác bảo
vệ môi trường còn hạn chế; phương tiện phục vụ công tác kiểm tra chưa đáp ứng
được đòi hỏi của thực tiễn. Do đó, công tác kiểm soát ô nhiễm gặp một số hạn chế
do tình hình chấp hành quy định pháp luật về bảo vệ môi trường của các doanh
nghiệp sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn thành phố vẫn còn hạn chế, một số
đơn vị thực hiện xử cuối nguồn mang tính đối phó. Với những trường hợp đó,
đoàn kiểm tra không thể phát hiện được những thủ đoạn tinh vi của các doanh
nghiệp thải các chất gây ô nhiễm ra môi trường.
2.1.5.
Những hạn chế bất gặp của chế ,chính sách pháp luật về bảo về môi
trường
Hệ thống pháp luật về bảo về môi trường tuy đã được hình thành về bản
nhưng vẫn còn nhiều bất cập, nhiều quy định còn chung chung, nhiều quy định còn
mang tính nguyên tắc. Còn thiếu hoặc đã quy định nhưng chưa đầy đủ về bảo về
môi trường đất, nước, không khí, về tái chế chất thải, về khắc phục ô nhiễm, cải
tạo, phục hồi môi trường, về tiêu dùng bền vững. Chưa sở pháp về quy
8
hoạch môi trường, phân vùng chức năng sinh thái làm căn cứ để hoạch định chiến
lược phát triển kinh tế - hội, lập quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng.
Chưa hành lang pháp lý, chính sách tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích
phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ môi trường và sản phẩm thân thiện với môi
trường. Thiếu các chế về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm i trường gây ra, giải
quyết tranh chấp, xung đột về môi trường. Mặc đã các quy định về tội phạm
môi trường trong Bộ luật Hình sự nhưng chưa đầy đủ cụ thể nên chưa thực hiện
được trên thực tế. Nhiều quy định về hội hóa hoạt động bảo về môi trường mới
chỉ dừng lại nguyên tắc, thiếu chế phù hợp để thực hiện nên chưa phát huy
được hiệu quả.
chế, chính sách bảo về môi trường chậm đổi mới, chưa đồng bộ với thể chế
thị trường. Các loại thuế, phí về môi trường mới chỉ bước đầu tạo nguồn thu cho
ngân sách chưa phát huy được vai trò công cụ kinh tế điều tiết mô, hạn chế
gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, thúc đẩy các hoạt động kinh tế - hội theo
hướng hài hòa với thiên nhiên, thân thiện với môi trường phát triển bền vững.
Ngoài ra, do sự bất cập giữa các hệ thống luật về bảo vệ phát triển rừng, thuỷ sản, đa
dạng sinh học nên việc quản các khu bảo tồn, các loài hoang còn nhiều chồng
chéo dẫn tới hiệu quả thực thi pháp luật về bảo tồn thiên nhiên đa dạng sinh học chưa
cao. https://monre.gov.vn/Pages/nguyen-nhan-cua-cac-ton-tai,-han-che-trong-cong-tac-
bao-ve-moi-truong.aspx
2.2.
Thực trạng ô nhiễm môi trường không khí thành ph Hồ Chí Minh
Hiện nay, tại địa bàn Thành phố HChí Minh bầu không khí đang mức báo
động, khi hàm lượng bụi tăng nhanh, tiếng ồn, các khí thải độc hại như CO
đang ở mức đáng báo động so với trước đó.
Theo nghiên cứu của Chi cục Bảo vệ Môi trường TP.HCM, áp lực lưu lượng
giao thông quá lớn, trong đó chủ yếu là xe máy nguyên nhân chính gây ra tình
trạng ô nhiễm nặng nề tại TP.HCM. Số lượng xe máy khổng lồ nguồn phát sinh
ra các khí thải gây ô nhiễm. Kế đến kthải độc hại từ các khu chế xuất, khu
công nghiệp… Nguồn ô nhiễm từ rác thải sinh hoạt người dân chỉ chiếm một
phần nhỏ.
9
Bầu trời sương do ô nhiễm không khí TP.HCM vượt mức 'cảnh báo đỏ'.
Theo Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên Môi trường) vào đầu tháng 11
đầu tháng 12 năm 2020 những đợt ô nhiễm không khí xuất hiện. Lượng bụi mịn
PM 2.5 của TP.HCM cao gấp 4 - 5 lần tiêu chuẩn cho phép của WHO. Trong đó, tỷ
lệ PM 2.5 từ phương tiện giao thông chiếm 36,75% nguồn phát thải bụi mịn trong
thành phố. Chất lượng không khí xấu khiến tầm nhìn bị hạn chế, trên nhiều trục
đường chính như Quốc lộ 22, Quốc lộ 1, CMT8, Trường Chinh, Cộng Hòa… nhiều
phương tiện giao thông phải bật đèn pha để cảnh báo. Nhiều tòa nhà cao tầng của
trung tâm thành phố bị chìm khuất trong sương mù.
https://dangcongsan.vn/xay-dung-xa-hoi-an-toan-truoc-thien-tai/nguyen-nhan-
gay-tinh-trang-o-nhiem-moi-truong-khong-khi-va-giai-phap-khac-phuc-
594455.html
https://accgroup.vn/tieu-luan-o-nhiem-moi-truong-khong-khi-o-tp-hcm
2.2.1.
Ô nhiễm bụi
Ô nhiễm bụi nh trạng trong đó không khí hoặc môi trường bị ô nhiễm bởi các
hạt bụi. Ô nhiễm bụi th gây ra hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe con người
môi trường sống. Các nguồn gây nên ô nhiễm bụi thể từ gia đình, công
nghiệp, giao thông nông nghiệp. Các hạt bụi từ việc đốt chất thải, chất thải công
nghiệp, thuốc lá, phương tiện ô tô c hoạt động xây dựng cũng đóng góp o
tình trạng ô nhiễm bụi. Những hạt bụi này có thể gây ra ô nhiễm không khí và ảnh
hưởng đến sức khỏe của mọi người sống gần khu vực đó.
Nghiên cứu của WHO cho rằng bụi PM 2.5 nguyên nhân gây tử vong cao nhất
trong ô nhiễm môi trường. Trong khi đó, lượng bụi mịn PM2.5 của TP.HCM cao
10
gấp 4 - 5 lần tiêu chuẩn cho phép của WHO. Trong đó, tỷ lệ PM2.5 từ phương tiện
giao thông chiếm 36,75% nguồn phát thải bụi mịn trong thành phố.
Theo kết quả quan trắc nồng độ không khí năm 2008 của Chi cục Bảo vệ môi
trường thành phố Hồ Chí Minh tại sáu điểm nằm trên các cửa ngõ rao thành phố
thì cả sáu điểm đều vượt chuẩn cho phép 1,24 đến 2,59 lần, hoặc mức dao động
trong khoảng từ 0,35 mg/cm3 đến 0,78 mg/cm3 (TCVN 5937-2005: 0,3mg/cm3).
Đỉnh điểm nhất tại ngã An Sương, nồng độ bụi trong không khí vượt chuẩn
cho phép đến 4,8 lần, ở mức 1,443 mg/cm3.
Theo khảo sát đo đạc của Trường ĐH Khoa học tự nhiên- ĐH Quốc gia
TP.HCM, TS Trần Thị Ngọc Lan cho biết: TP.HCM bị ô nhiễm bụi nghiêm trọng;
mùa khô ô nhiễm nặng hơn mùa mưa. Cũng qua phân tích nhiều mẫu bụi, ghi nhận
được bụi gây ô nhiễm không khí ở những khu vực này vào những tháng ít mưa có
tính axit”. Đây là một hiện tượng đáng lo ngại, bởi vì bụi có tính axit tác động xấu
đến sức khỏe con người, nhất là khi bị phơi nhiễm trong thời gian dài.
Theo Chi cục Bảo vệ môi trường TP HCM, tình hình ô nhiễm không khí trên địa
bàn thành phố đang diễn biến ngày càng phức tạp, 89% mẫu kiểm tra không k
không đạt tiêu chuẩn cho phép, luôn ở mức nguy hại cao cho sức khỏe con người.
Trong đó, lượng bụi lửng sinh ra từ khói, bụi đang là nhân tố gây ô nhiễm
nghiêm trọng hàng đầu.
2.2.2.
Ô nhiễm khí độc
Bên cạnh vấn đề nồng độ bụi tại nhiều khu vực trong thành phố vượt mức cho
phép, Thành phố Hồ Chí Minh còn xuất hiện tình hình ô nhiễm khí độc. Nồng độ
NO2 trong không khí tại các khu vực mức cho phép trung bình từ
0,15-0,24mg/m3, nhưng đặc biệt tại ngã Đinh Tiên Hoàng- Điện Biên Phủ An
11
https://www.studocu.com/vn/document/dai-hoc-cong-nghiep-thuc-pham-thanh-pho-ho-
chi-minh/nhap-mon-cong-nghe-thong-tin/tieu20luan20tin20hoc/40212612
Thành phố Hồ Chí Minh trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước với mật độ dân
cao đi kèm với lượng khí thải từ các phương tiện giao thông và c khu công
nghiệp, khu chế xuất thải ra môi trường ngày càng nhiềuy nên tình trạng một số
khu vực lượng khí độc vượt mức cho phép đe dọa đến sức khỏe của người dân
nơi đây.
2.2.3.
Các hoạt động giao thông vận tải
PGS - TS Nguyễn Văn Sơn thuộc Viện Sức khoẻ nghề nghiệp môi trường cho
rằng, giao thông vận tải nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sự gia tăng ô nhiễm
không khí các đô thị đóng góp 70% tổng lượng bụi kthảio môi trường
không khí… Nguồn ô nhiễm này gây tác động xấu rất nhiều tới sức khoẻ cộng
đồng.
Theo số liệu thống kê, trên địa bàn TP.HCM hiện khoảng gần 10 triệu phương
tiện giao thông, với hơn 7,6 triệu xe máy, 700 nghìn ô hơn 2 triệu phương tiện
của người dân từ các khu vực khác mang vào thành phố đsinh sống. Trong đó,
nhiều phương tiện nhân không thực hiện nghiêm túc chế độ bảo hành bảo dưỡng
định kỳ nguyên nhân làm tăng lượng khí phát thải ra môi trường với mức độ độc
hại ngày càng lớn. Ngoài ra, trên địa bàn thành phố hiện vẫn tồn tại khoảng 37
điểm thường xuyên xảy ra ùn tắc giao thông gây ô nhiễm môi trường không khí,
đặc biệt là vào các khoảng thời gian đi làm và tan tầm của người dân thành phố.
PGS, TS Hồ Quốc Bằng, Viện Môi trường Tài nguyên (Đại học Quốc gia
TP.HCM) cho biết, hoạt động giao thông là tác nhân gây ô nhiễm không khí lớn
nhất tại TP.HCM. Trong đó, xe máy đang chiếm khoảng 29% nguồn phát thải NO,
90% COchiếm tới 37,7% nguồn phát thải bụi, 31% phát thải bụi siêu mịn. Kết
quả kiểm phát thải knhà kính tại TP.HCM, lĩnh vực giao thông vận tải cũng
chiếm 45% tổng lượng phát thải và hấp thụ khí nhà kính.
2.2.4.
Hoạt động sản xuất công nghiệp
Khí thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất tại TP.Hồ Chí Minh cũng đáng báo
động. Trong 949 doanh nghiệp, ít nhất 170 doanh nghiệp phát sinh khí thải, phần
12
lớn kthải độc hại, hơi dầu, hơi a-xít, xi mạ, mùi hôi từ thuộc da, mùi từ các cơ
sở sản xuất chế biến gỗ. 2/3 trong số đó không trang bị hệ thống xử khí thải.
Theo kết quả khảo sát của ngành chức năng, nguyên nhân gây ô nhiễm không
khí của TP.Hồ Chí Minh chủ yếu từ hoạt động sản xuất của các nhà máy công
nghiệp nằm các khu vực ngoại thành hoặc nằm ngay trong nội thành như các khu
công nghiệp Tân Bình, khu chế xuất Tân Thuận, khu chế xuất Linh Trung, các nhà
máy xi ng Tiên, nhà máy thép thủ Đức... rất nhiều sở sản xuất công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trong đó rất nhiều nhà máy, sở sản xuất chưa trang
bị hệ thống xử lý khí thải, khói bụi.[]
Ủy ban Nhân dân Thành phố vừa giao Sở Tài nguyên Môi trường soát toàn
diện hoạt động của các sở xử chất thải nguy hại, chất thải công nghiệp trên địa
bàn. Sau đó, sẽ có giải pháp x lý đối với từng trường hợp.
2.2.5.
Các hoạt động xây dựng đô thị
Đô thị hóa quá trình tất yếu đang diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam, góp phần đẩy
mạnh phát triển kinh tế hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Gia tăng dân số
các đô thị đã dẫn đến sự cần thiết gia tăng các nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như:
nhà ở, xe cộ, việc làm… đồng thời kéo theo sự phát thải từ các phường tiện hoạt
động phát triển kinh tế – xã hội.
Do đó, hầu hết các đô thị lớn của nước ta đang phải đối mặt với tình trạng ô
nhiễm không khí ngày càng gia tăng. Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong đại công
trường với nhiều công trình đang trong thời gian xây dựng, xe chở vật liệu ra vào
che chắn không kỹ. Theo kết quả quan tắc của
Trường ĐH Khoa học tự nhiên- ĐH
Quốc gia TP.HCM
đo được nồng độ bụi chì
các nút giao thông đã lên tới
0,57mg/m3, gấp đôi mức cho phép; chủ yếu bụi lửng, loại bụi người dân dễ
hít vào nhất.
Tuy nhiên, hiện nay nhiều khu vực hoạt động xây dựng, phát triển đô thị chưa
thực hiện đầy đủ các biện pháp bảo vệ môi trường, đặc biệt tại các công trường xây
dựng đã và đang gây ra ô nhiễm không khí, chủ yếu là ô nhiễm bụi trong quá trình
13
thi công, vận chuyển nguyên vật liệu, đất cát phục vụ xây dựng.
14
CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ ĐẾN ĐỜI
SỐNG, KINH TẾ XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1.
Ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia Việt Nam đã chỉ rõ, ô nhiễm môi trường
không khí gây ra nhữngc động trực tiếp tới sức khỏe cộng đồng. Tỷ lệ người dân
các đô thị lớn mắc các bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí chiếm tỷ lệ khá cao,
trẻ em là nhóm đối tượng chịu tác động lớn nhất.
Việc tiếp xúc với ô nhiễm không khí (gồm bụi, khí Nox, Sox, Ozon…) gây tăng
tỉ lệ bệnh tật và tử vong. Các bệnh do tiếp xúc với ô nhiễm không khí gồm suyễn,
bệnh phỗi tắc nghẽn mạn tính (COPD), viêm phổi, các chứng bệnh hấp, tim
mạch… Việc tiếp xúc với bụi mịn (bụi đường kính khí động nhỏ hơn 2,5 µm) và
bụi phát sinh từ khí thải động cơ có tác hại lớn hơn so với bụi thông thường.
Trong đó, điều đáng lo ngại bụi khí PM 2,5 với kích thước siêu nhỏ mắt
thường không thể nhìn thấy, được coi tác nhân gây ô nhiễm ảnh hưởng nhất
đối với sức khỏe, do khả năng lắng đọng, thẩm thấu, di chuyển trong phổi, thậm
chí còn thể xuyên qua thành mạch máu đi vào hệ tuần hoàn của con người.
thế, các hạt bụi này có thể gây ảnh hưởng tức thời như kích ứng mắt, mũi, họng
phổi, ho, hắt hơi, chảy nước mũi khó thở. Phơi nhiễm lâu dài với bụi mịn cũng
thể tăng tỷ lệ viêm phế quản mạn tính, suy giảm chức năng phổi và tăng tỷ lệ tử
vong do ung thư phổi, đột quỵ và bệnh tim.
Đứng trước thực trạng ô nhiễm không khí ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe
con người và phát triển kinh tế xã hội đang là vấn đề đáng lo ngại tại Thành phố
Hồ Chí Minh nói riêng các đô thị lớn nói chung. Các giải pháp cụ thể nhằm khắc
phục tình trạng này đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Trước hết, các đô thị
cần đầu xây dựng đồng bộ hệ thống giao thông công cộng, đặc biệt giao thông
công cộng xanh để hạn chế sử dụng phương tiện nhân, hạn chế phát thải. Tất cả
các phương tiện giao thông cần được đưa vào kiểm soát đăng kiểm để đảm bảo
chất lượng.
15
3.2.
Gây thiệc hại kinh tế
Ô nhiễm môi trường ngoài việc đe dọa đến sức khỏe của người dân, còn gây ảnh
hưởng lớn đến phát triển kinh tế xã hội. Xem xét dưới góc độ phát triển bền vững,
cách tính GDP như hiện nay chưa quan tâm đến môi trường sinh thái, tài nguyên bị
khai thác trong các hoạt động sản xuất để tạo ra sản phẩm dịch vụ. Cùng với q
trình phát triển kinh tế, tình trạng ô nhiễm môi trường sự cố môi trường ngày
càng gia tăng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế nước ta trong trung
dài hạn. https://moitruongvaxahoi.vn/mot-so-thiet-hai-kinh-te-do-o-nhiem-moi-
truong-gay-nen-407366545.html
Một số thiệt hại kinh tế chủ yếu do ô nhiễm môi trường gây nên:
Một là, thiệt hại kinh tế do gia tăng chi phí cho khám chữa bệnh. Ô nhiễm không
khí ảnh hưởng đến sức khỏe người dân hình thành các khoản chi phí như: chi phí
khám chữa bệnh, tổn thất mất ngày công lao động do nghỉ ốm, chi phí phục hồi
sức khỏe sau nhiễm bệnh, chi phí phòng chống bệnh tật... Ngoài ra, còn ảnh hưởng
đến người thân, tạo nên chi phí gián tiếp do nghỉ học, nghỉ làm để chăm sóc người
thân khi bị m. Kéo theo đó, những nh hưởng tâm bất ổn khiến người ta khó
thể tập trung cho công việc học hành khiến hiệu quả năng suất không cao,
thậm chí nhiều ngành nghề, sự mất tập trung còn gây hậu quả nghiêm trọng về
kinh tế, sức khỏe.
Hai là, thiệt hại về kinh tế do ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Ảnh hưởng tiêu
cực của ô nhiễm không khí đến cây trồng thể dẫn đến giảm năng suất gây mất
mùa. Khi cây trồng không thể hấp thụ đủ ánh sáng dinh dưỡng, năng suất của
chúng giảm đi đáng kể. Điều này ảnh hưởng đến nguồn cung cấp thực phẩm gây
ra tác động tiêu cực đến kinh tế và sự phát triển của một vùng.
Ba là, thiệt hại đối với hoạt động du lịch. Ngành du lịch đang chịu ảnh hưởng nhiều
nhất từ sự biến đổi khí hậu, môi trường sinh thái. Vì vậy, du lịch và môi trường
hai bộ phận không thể tách rời nhau, môi trường tốt thì du lịch mới phát triển
bền vững. Ô nhiễm không khí khiến cho khách du lịch nguy mắc các bệnh về
hô hấp là nguyên nhân làm cho các du khách đều “e ngại” khi tới thăm quan.
Bốn , thiệt hại kinh tế do chi phí cải thiện môi trường. Để tăng trưởng bền vững,
16

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN ----- . ----- TIỂU LUẬN Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỌC PHẦN: MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI
LHP: 231NAS10137 (LỚP BUỔI SÁNG THỨ 6)
GVGD: ThS. Huỳnh Đặng Hà Uyên NHÓM: 6
TP.HCM, Tháng 12 năm 2023
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
..........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 6 STT HỌ VÀ TÊN MSSV MỨC ĐỘ ĐÓNG GÓP Ghi chú (%) 1Nguyễn Ngọc 221A170482 Nhóm trưởng Đoan Trinh 2Đặng Mai Ngọc 221A300003 Hân 3Ngô Phạm Ngọc 221A310140 Hân 4Huỳnh Nguyễn 221A050474 Khánh Giang 5Lương Sơn Ngọc 201A160174 Vân 6Nguyễn Văn 221A300075 Phát 7Lưu Thị Mỹ 221A050100 Linh 8Nguyễn Hồ 221A050418 Thanh Nhàn 9Trần Thị Quỳnh 221A050003 Giao 10 Đỗ Khánh Linh 211A050218 MỤC LỤC I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Ô nhiễm không khí là vấn đề xảy ra rộng rãi ở cả Việt Nam hiện nay và nhiều
nước trên thế giới. Rất nhiều cảnh báo cũng như biện pháp của chính phủ được đưa
ra để cải thiện chất lượng không khí, thế nhưng thực trạng này vẫn diễn ra rất phổ biến.
Theo báo cáo thường niên The Environmental Performance Index (EPI) của Mỹ
thực hiện, Việt Nam hiện đang đứng trong top 10 các nước ô nhiễm không khí ở
Châu Á, tiêu biểu là mức ô nhiễm không khí với các hạt bụi mịn ở mức PM 10 và
PM 2.5. https://www.sonha.net.vn/o-nhiem-khong-khi.html
Thành phố Hồ Chí Minh là địa điểm bị ô nhiễm không khí nặng nề nhất cả nước,
tại nhiều thời điểm bụi mịn có thể đạt ở mức PM 2.5 và bao phủ cả một bầu trời
khiến cho tầm nhìn của người đi đường bị hạn chế cũng như sức khỏe của con
người bị ảnh hưởng tiêu cực. Theo bản đồ của ứng dụng quan trắc không khí như:
PAM Air, Air Visual, Healthy Air,… thì có tới rất nhiều điểm đo là màu cam (có
hại cho nhóm nhạy cảm), màu đỏ (có hại cho sức khỏe). Các điểm đo xuất hiện rải
rác ở các quận 12, quận Gò Vấp, Tân Phú, huyện Bình Chánh,... Chất lượng không
khí xuống thấp. Vì thế nhóm chúng em quyết định tìm hiều về vấn đề “ Ô nhiễm
không khí ở Thành phố Hồ Chí Minh” để có được cái nhìn tổng quát và đồng thời
có cơ sở để đưa ra những ý kiến góp phần giảm thiểu tình trạng ô nhiễm này.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng ô nhiễm môi trường không khí ở Thành phố Hồ Chí Minh
và những ảnh hưởng của nó. Từ đó, đưa ra các giải pháp góp phần giảm thiểu tình trạng ô nhiễm.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Ô nhiễm môi trường không khí tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Phương pháp nghiên cứu 1
Phương pháp thu thập thông tin: đề tài thu thập những thông tin liên quan trên
các công trình nghiên cứu khoa học đã được xuất bản, các tạp chí khoa học, luận
văn tốt nghiệp của sinh viên các khoa trước, các bài viết trên báo điện tử.
Phương pháp xử lý thông tin: tổng hợp, chọn lọc, phân tích các dữ kiện có liên quan.
5. Cấu trúc tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung của đề tài
được cấu trúc thành 3 chương: -
Chương 1: Cở sở lý luận về vấn đề ô nhiễm môi trường không khí -
Chương 2: Ô nhiễm không khí ở TP.HCM -
Chương 3: Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đến đời sống, kinh tế xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh 2 II. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
1.1. Khái niệm ô nhiễm không khí
Ô nhiễm môi trường không khí là sự thay đổi lớn trong thành phần không khí, do
khói, bụi, hơi hay các khí lạ được đưa vào không khí gây nên các mùi lạ, làm giảm
tầm nhìn, biến đổi khí hậu. Chúng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người
cũng như động thực vật trên trái đất. https://www.sonha.net.vn/o-nhiem-khong- khi.html
Hình: Ô nhiễm môi trường không khí đang đe dọa đến cuộc sống con người
1.2. Nguồn gây ô nhiễm không khí
Nguồn gây ô nhiễm không khí rất nhiều, có thể phân thành hai loại: nguồn ô
nhiễm tự nhiên và nguồn ô nhiễm nhân tạo.
1.2.1. Nguồn ô nhiễm tự nhiên
Do các hiện tượng thiên nhiên gây ra như: sa mạc, đất trồng bị mưa gió bào mòn
và tung lên trời, bụi đất, đá, thực vật,..các hiện tượng núi lửa phun nham thạch. Các
quá trình hủy hoại, thối rửa thực vật và động vật thải ra các khí gây ô nhiễm. Cụ thể như sau:
+ Hoạt động của núi lửa: Núi lửa phun ra những nham thạch nóng và nhiều khói
bụi, sinh ra các khí ô nhiễm chủ yếu là dioxit lưu huỳnh (SO2), sunfua hydro
(H2S), florua hydro (HF)… và bụi. Không khí chứa bụi lan tỏa đi rất xa vì nó được phun lên rất cao.
+ Cháy rừng: Các đám cháy rừng và đồng cỏ bởi các quá trình tự nhiên xảy ra do
sấm chớp, cọ sát giữa thảm thực vật khô như tre cỏ. Các đám cháy này thường lan 3
truyền rộng, sinh các chất ô nhiễm gồm bụi tro các khí oxit nitơ (NOx) và dioxit
lưu huỳnh (SO2), monoxit cacbon (CO).
+ Bụi do gió, do bão sinh ra ở các vùng khô hạn hay bán khô hạn.
+ Sự phân huỷ tự nhiên các chất hữu cơ (thực vật, xác động vật…): Các quá
trình phân hủy, thối rửa xác động, thực vật, tự nhiên phát thải nhiều chất khí, các
phản ứng hóa học giữa những khí tự nhiên hình thành các khí metan (CH4), dioxit
cacbon (CO2), các loại muối,… Các loại bụi, khí này đều gây ô nhiễm không khí.
+ Tác nhân sinh học như phấn hoa, vi sinh vật (vi khuẩn, siêu vi khuẩn, nấm
mốc, nấm men, tảo…), các loại côn trùng nhỏ hay các bộ phận của chúng…
https://dangcongsan.vn/xay-dung-xa-hoi-an-toan-truoc-thien-tai/nguyen-nhan-gay-
tinh-trang-o-nhiem-moi-truong-khong-khi-va-giai-phap-khac-phuc-594455.html

1.2.2. Nguồn ô nhiễm nhân tạo
Con người là nạn nhân của việc ô nhiễm môi trường, tuy nhiên con người cũng
chính là những tác nhân chính gây ô nhiễm môi trường. Rất nhiều các hoạt động
hằng ngày của con người góp phần gia tăng ô nhiễm môi trường không khí.
Hoạt động sản xuất công, nông nghiệp
Đây là nguyên nhân chính, gây nhức nhối cho cộng đồng và nhà nước, không
riêng gì Việt Nam mà rất nhiều các nước đang phát triển điều vướng phải tình trạng
này. Khói bụi từ các ống xả của nhà máy, xí nghiệp trong những khu công nghiệp
làm đen ngòm một khoảng trời. Chúng thải ra các khí CO2, CO, SO2, NOx cùng
một số chất hữu cơ khác, với nồng độ cực cao.
Những khu công nghiệp này không chỉ làm ô nhiễm môi trường không khí mà
còn là tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước, khiến cho các “làng ung thư” được hình thành.
Mưa Axit cũng chính là hậu quả của những hoạt động sản xuất công nghiệp
không xử lý thải đúng cách gây nên.
Việc lạm dụng thuốc trừ sâu, phân bón hay các hoạt động đốt rơm, rạ, đốt rừng
làm rẫy cũng là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường không khí.
Giao thông vận tải 4
Đây chính là nguyên nhân lớn nhất gây ô nhiễm không khí hiện nay. Với một số
lượng các phương tiện giao thông khổng lồ và di chuyển liên tục, lượng khí thải từ
các phương tiện này cũng vô cùng khủng khiếp. Đặc biệt, đối với những xe đã cũ,
hệ thống máy móc hoạt động kém thì lượng khí thải càng lớn. Các phương tiện giao
thông thải vào không khí các chất độc hại như: CO, VOC, NO2, SO2,... với nồng độ cực cao và liên tục.
Nguyên nhân này chỉ đứng sau hoạt động công nghiệp, khi mà lượng khí thải từ
các phương tiện giao thông xả ra môi trường rất lớn. Theo báo cáo Cơ quan năng
lượng quốc tế (IEA) giao thông vận tải đóng góp 24,34% lượng Carbon mỗi năm.
Hoạt động quốc phòng, quân sự
Các chất độc chiến tranh, các nghiên cứu quân sự đã và đang ảnh hưởng rất lớn
đến sức khỏe con người. Dù chiến tranh đã qua đi rất lâu nhưng những nạn nhân
chất độc màu da cam vẫn còn rất lớn.
Ngoài ra các mối đe dọa từ bom hạt nhân vẫn luôn thường trực mỗi ngày, nếu
chúng bị rò rỉ thì hàng triệu người sẽ bị ảnh hưởng.
Hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng
Các hoạt động xây dựng cao ốc, chung cư cao tầng hay cầu đường luôn luôn
mang đến sự ô nhiễm môi trường không khí nặng nề. Tiêu điểm là ở Hà Nội vào
những ngày giữa tháng 12/2020 bụi mịn bao phủ hoàn toàn Hà Nội, làm giảm tầm
nhìn và ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe người dân.
Khi vận chuyển vật liệu, cho dù được che chắn kỹ lưỡng thì các bụi bẩn cũng sẽ
vương vãi ra môi trường và gây ô nhiễm. Chưa kể, đối với những trường hợp không
được che chắn sẽ bị rơi vật liệu ra đường, gây nguy hiểm và sản sinh lượng khói
bụi khổng lồ có thể cản trở các phương tiện cùng lưu thông trên đường. Do vậy,
việc chú ý che chắn đúng cách khi vận chuyển vật liệu là bắt buộc phải làm. 5
Bụi mịn PM 2.5 từ các công trình xây dựng bao phủ thành phố.
Thu gom xử lý rác thải
Việc rác thải được thải ra quá nhiều khiến cho các khu tập kết rác không xử lý
được hết khiến cho mùi hôi thối bốc ra. Hay các phương pháp xử lý thủ công như
đốt khiến cho không khí bị ô nhiễm trầm trọng.
Hoạt động sinh hoạt
Trong quá trình nấu nướng, các khí thải từ nguyên liệu cháy như gas, than,
củi,...sẽ giải phóng một lượng lớn khí độc và bụi vào môi trường khí. quá trình này
sẽ sản sinh một lượng lớn khí CO, CO2, NOx, SOx,... rất độc hại và ảnh hưởng
nghiêm trọng đến đời sống con người 6
CHƯƠNG 2: Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ Ở TP.HCM
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến ô nhiễm môi trường không khí ở thành phố Hồ Chí Minh
Tình trạng ô nhiễm không khí tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là vấn đề gây
nhiều bức xức hiện nay. Vấn đề này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau,
song các nguyên nhân điển hình có thể kể đến ở đây như:
2.1.1. Ý thức của người dân
Ý thức của dân cư đóng vai trò rất quan trọng trong việc phòng chống ô nhiễm
môi trường không khí tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, hiện nay, tình trạng
ô nhiễm vẫn đang diễn ra và có xu hướng tăng cao, có thể thấy của người dân còn
kém, chưa hiểu rõ hết tác hại của những hàng động xấu đến môi trường.
Một số những hành động xấu liên quan đến ý thức của người dân trong việc gây
ra ô nhiễm không khí tại Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm:
Thói quen sử dụng xe máy và ô tô cá nhân thay vì các phương tiện công cộng.
Mặc dù tỉ lệ thấp hơn mức trung bình thế giới, nhưng việc sử dụng xe cá nhân tại
Thành phố Hồ Chí Minh cũng rất cao, đặc biệt trong khung giờ cao điểm. Việc sử
dụng xe máy và ô tô cá nhân đem lại tiện lợi cho người dân, tuy nhiên, chúng cũng
tác động tiêu cực đến môi trường bởi sự thải ra không khí và khí thải dầu động cơ.
Thói quen đổ rác bừa bãi.
Một số người dân vẫn thường đổ rác bừa bãi ở các khu vực công cộng, ven
đường hay kênh rạch, không đúng nơi chứa rác, điều này gây ra việc ô nhiễm môi
trường, nhất là khí thải và nước thải, thu hút côn trùng và chất gây ô nhiễm khác.
Không chấp hành nghiêm túc quy định về môi trường
Một số người dân không chấp hành nghiêm túc những quy định về môi trường 7
như đổ rác ở những nơi có bảng cấm, xả rác ở nơi công cộng,…Những hành động
này làm tăng lượng chất thải và tiêu thụ tính suy giảm môi trường.
Hình: Người dân tại TP.HCM xả rác bừa bãi không đúng nơi quy định.
Vì vậy, cần phải nâng cao ý thức của người dân về môi trường, thông qua các
chương trình giáo dục, tăng cường truyền thông và xây dựng các địa điểm thải rác,
đồng thời tăng cường quản lý trong việc gây ô nhiễm môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh.
2.1.4. Trình độ chuyên môn , nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác
bảo vệ môi trường
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác bảo
vệ môi trường còn hạn chế; phương tiện phục vụ công tác kiểm tra chưa đáp ứng
được đòi hỏi của thực tiễn. Do đó, công tác kiểm soát ô nhiễm gặp một số hạn chế
do tình hình chấp hành quy định pháp luật về bảo vệ môi trường của các doanh
nghiệp sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn thành phố vẫn còn hạn chế, một số
đơn vị thực hiện xử lý cuối nguồn mang tính đối phó. Với những trường hợp đó,
đoàn kiểm tra không thể phát hiện được những thủ đoạn tinh vi của các doanh
nghiệp thải các chất gây ô nhiễm ra môi trường.
2.1.5. Những hạn chế bất gặp của cơ chế ,chính sách pháp luật về bảo về môi trường
Hệ thống pháp luật về bảo về môi trường tuy đã được hình thành về cơ bản
nhưng vẫn còn nhiều bất cập, nhiều quy định còn chung chung, nhiều quy định còn
mang tính nguyên tắc. Còn thiếu hoặc đã có quy định nhưng chưa đầy đủ về bảo về
môi trường đất, nước, không khí, về tái chế chất thải, về khắc phục ô nhiễm, cải
tạo, phục hồi môi trường, về tiêu dùng bền vững. Chưa có cơ sở pháp lý về quy 8
hoạch môi trường, phân vùng chức năng sinh thái làm căn cứ để hoạch định chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội, lập quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng.
Chưa có hành lang pháp lý, chính sách tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích
phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ môi trường và sản phẩm thân thiện với môi
trường. Thiếu các cơ chế về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra, giải
quyết tranh chấp, xung đột về môi trường. Mặc dù đã có các quy định về tội phạm
môi trường trong Bộ luật Hình sự nhưng chưa đầy đủ và cụ thể nên chưa thực hiện
được trên thực tế. Nhiều quy định về xã hội hóa hoạt động bảo về môi trường mới
chỉ dừng lại ở nguyên tắc, thiếu cơ chế phù hợp để thực hiện nên chưa phát huy được hiệu quả.
Cơ chế, chính sách bảo về môi trường chậm đổi mới, chưa đồng bộ với thể chế
thị trường. Các loại thuế, phí về môi trường mới chỉ bước đầu tạo nguồn thu cho
ngân sách mà chưa phát huy được vai trò công cụ kinh tế điều tiết vĩ mô, hạn chế
gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, thúc đẩy các hoạt động kinh tế - xã hội theo
hướng hài hòa với thiên nhiên, thân thiện với môi trường và phát triển bền vững.
Ngoài ra, do sự bất cập giữa các hệ thống luật về bảo vệ và phát triển rừng, thuỷ sản, đa
dạng sinh học nên việc quản lý các khu bảo tồn, các loài hoang dã còn có nhiều chồng
chéo dẫn tới hiệu quả thực thi pháp luật về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học chưa
cao. https://monre.gov.vn/Pages/nguyen-nhan-cua-cac-ton-tai,-han-che-trong-cong-tac- bao-ve-moi-truong.aspx
2.2. Thực trạng ô nhiễm môi trường không khí ở thành phố Hồ Chí Minh
Hiện nay, tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh bầu không khí đang ở mức báo
động, khi mà hàm lượng bụi tăng nhanh, tiếng ồn, và các khí thải độc hại như CO
đang ở mức đáng báo động so với trước đó.
Theo nghiên cứu của Chi cục Bảo vệ Môi trường TP.HCM, áp lực lưu lượng
giao thông quá lớn, trong đó chủ yếu là xe máy là nguyên nhân chính gây ra tình
trạng ô nhiễm nặng nề tại TP.HCM. Số lượng xe máy khổng lồ là nguồn phát sinh
ra các khí thải gây ô nhiễm. Kế đến là khí thải độc hại từ các khu chế xuất, khu
công nghiệp… Nguồn ô nhiễm từ rác thải và sinh hoạt người dân chỉ chiếm một phần nhỏ. 9
Bầu trời mù sương do ô nhiễm không khí ở TP.HCM vượt mức 'cảnh báo đỏ'.
Theo Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) vào đầu tháng 11 và
đầu tháng 12 năm 2020 là những đợt ô nhiễm không khí xuất hiện. Lượng bụi mịn
PM 2.5 của TP.HCM cao gấp 4 - 5 lần tiêu chuẩn cho phép của WHO. Trong đó, tỷ
lệ PM 2.5 từ phương tiện giao thông chiếm 36,75% nguồn phát thải bụi mịn trong
thành phố. Chất lượng không khí xấu khiến tầm nhìn bị hạn chế, trên nhiều trục
đường chính như Quốc lộ 22, Quốc lộ 1, CMT8, Trường Chinh, Cộng Hòa… nhiều
phương tiện giao thông phải bật đèn pha để cảnh báo. Nhiều tòa nhà cao tầng của
trung tâm thành phố bị chìm khuất trong sương mù.
https://dangcongsan.vn/xay-dung-xa-hoi-an-toan-truoc-thien-tai/nguyen-nhan-
gay-tinh-trang-o-nhiem-moi-truong-khong-khi-va-giai-phap-khac-phuc- 594455.html
https://accgroup.vn/tieu-luan-o-nhiem-moi-truong-khong-khi-o-tp-hcm
2.2.1. Ô nhiễm bụi
Ô nhiễm bụi là tình trạng trong đó không khí hoặc môi trường bị ô nhiễm bởi các
hạt bụi. Ô nhiễm bụi có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe con người và
môi trường sống. Các nguồn gây nên ô nhiễm bụi có thể là từ gia đình, công
nghiệp, giao thông và nông nghiệp. Các hạt bụi từ việc đốt chất thải, chất thải công
nghiệp, thuốc lá, phương tiện ô tô và các hoạt động xây dựng cũng đóng góp vào
tình trạng ô nhiễm bụi. Những hạt bụi này có thể gây ra ô nhiễm không khí và ảnh
hưởng đến sức khỏe của mọi người sống gần khu vực đó.
Nghiên cứu của WHO cho rằng bụi PM 2.5 là nguyên nhân gây tử vong cao nhất
trong ô nhiễm môi trường. Trong khi đó, lượng bụi mịn PM2.5 của TP.HCM cao 10
gấp 4 - 5 lần tiêu chuẩn cho phép của WHO. Trong đó, tỷ lệ PM2.5 từ phương tiện
giao thông chiếm 36,75% nguồn phát thải bụi mịn trong thành phố.
Theo kết quả quan trắc nồng độ không khí năm 2008 của Chi cục Bảo vệ môi
trường thành phố Hồ Chí Minh tại sáu điểm nằm trên các cửa ngõ ra vào thành phố
thì cả sáu điểm đều vượt chuẩn cho phép 1,24 đến 2,59 lần, hoặc có mức dao động
trong khoảng từ 0,35 mg/cm3 đến 0,78 mg/cm3 (TCVN 5937-2005: 0,3mg/cm3).
Đỉnh điểm nhất là tại ngã tư An Sương, nồng độ bụi trong không khí vượt chuẩn
cho phép đến 4,8 lần, ở mức 1,443 mg/cm3.
Theo khảo sát và đo đạc của Trường ĐH Khoa học tự nhiên- ĐH Quốc gia
TP.HCM, TS Trần Thị Ngọc Lan cho biết: “TP.HCM bị ô nhiễm bụi nghiêm trọng;
mùa khô ô nhiễm nặng hơn mùa mưa. Cũng qua phân tích nhiều mẫu bụi, ghi nhận
được bụi gây ô nhiễm không khí ở những khu vực này vào những tháng ít mưa có
tính axit”. Đây là một hiện tượng đáng lo ngại, bởi vì bụi có tính axit tác động xấu
đến sức khỏe con người, nhất là khi bị phơi nhiễm trong thời gian dài.
Theo Chi cục Bảo vệ môi trường TP HCM, tình hình ô nhiễm không khí trên địa
bàn thành phố đang diễn biến ngày càng phức tạp, 89% mẫu kiểm tra không khí
không đạt tiêu chuẩn cho phép, luôn ở mức nguy hại cao cho sức khỏe con người.
Trong đó, lượng bụi lơ lửng sinh ra từ khói, bụi đang là nhân tố gây ô nhiễm nghiêm trọng hàng đầu.
2.2.2. Ô nhiễm khí độc
Bên cạnh vấn đề nồng độ bụi tại nhiều khu vực trong thành phố vượt mức cho
phép, Thành phố Hồ Chí Minh còn xuất hiện tình hình ô nhiễm khí độc. Nồng độ
NO2 trong không khí tại các khu vực ở mức cho phép trung bình từ
0,15-0,24mg/m3, nhưng đặc biệt tại ngã tư Đinh Tiên Hoàng- Điện Biên Phủ và An 11
https://www.studocu.com/vn/document/dai-hoc-cong-nghiep-thuc-pham-thanh-pho-ho-
chi-minh/nhap-mon-cong-nghe-thong-tin/tieu20luan20tin20hoc/40212612
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước với mật độ dân cư
cao đi kèm với lượng khí thải từ các phương tiện giao thông và các khu công
nghiệp, khu chế xuất thải ra môi trường ngày càng nhiều gây nên tình trạng một số
khu vực có lượng khí độc vượt mức cho phép đe dọa đến sức khỏe của người dân nơi đây.
2.2.3. Các hoạt động giao thông vận tải
PGS - TS Nguyễn Văn Sơn thuộc Viện Sức khoẻ nghề nghiệp và môi trường cho
rằng, giao thông vận tải là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sự gia tăng ô nhiễm
không khí ở các đô thị và đóng góp 70% tổng lượng bụi và khí thải vào môi trường
không khí… Nguồn ô nhiễm này gây tác động xấu rất nhiều tới sức khoẻ cộng đồng.
Theo số liệu thống kê, trên địa bàn TP.HCM hiện có khoảng gần 10 triệu phương
tiện giao thông, với hơn 7,6 triệu xe máy, 700 nghìn ô tô và hơn 2 triệu phương tiện
của người dân từ các khu vực khác mang vào thành phố để sinh sống. Trong đó,
nhiều phương tiện cá nhân không thực hiện nghiêm túc chế độ bảo hành bảo dưỡng
định kỳ là nguyên nhân làm tăng lượng khí phát thải ra môi trường với mức độ độc
hại ngày càng lớn. Ngoài ra, trên địa bàn thành phố hiện vẫn tồn tại khoảng 37
điểm thường xuyên xảy ra ùn tắc giao thông gây ô nhiễm môi trường không khí,
đặc biệt là vào các khoảng thời gian đi làm và tan tầm của người dân thành phố.
PGS, TS Hồ Quốc Bằng, Viện Môi trường và Tài nguyên (Đại học Quốc gia
TP.HCM) cho biết, hoạt động giao thông là tác nhân gây ô nhiễm không khí lớn
nhất tại TP.HCM. Trong đó, xe máy đang chiếm khoảng 29% nguồn phát thải NO,
90% CO và chiếm tới 37,7% nguồn phát thải bụi, 31% phát thải bụi siêu mịn. Kết
quả kiểm kê phát thải khí nhà kính tại TP.HCM, lĩnh vực giao thông vận tải cũng
chiếm 45% tổng lượng phát thải và hấp thụ khí nhà kính.
2.2.4. Hoạt động sản xuất công nghiệp
Khí thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất tại TP.Hồ Chí Minh cũng đáng báo
động. Trong 949 doanh nghiệp, có ít nhất 170 doanh nghiệp phát sinh khí thải, phần 12
lớn là khí thải độc hại, hơi dầu, hơi a-xít, xi mạ, mùi hôi từ thuộc da, mùi từ các cơ
sở sản xuất chế biến gỗ. Có 2/3 trong số đó không trang bị hệ thống xử lý khí thải.
Theo kết quả khảo sát của ngành chức năng, nguyên nhân gây ô nhiễm không
khí của TP.Hồ Chí Minh chủ yếu từ hoạt động sản xuất của các nhà máy công
nghiệp nằm ở các khu vực ngoại thành hoặc nằm ngay trong nội thành như các khu
công nghiệp Tân Bình, khu chế xuất Tân Thuận, khu chế xuất Linh Trung, các nhà
máy xi măng Hà Tiên, nhà máy thép thủ Đức... và rất nhiều cơ sở sản xuất công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trong đó rất nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất chưa trang
bị hệ thống xử lý khí thải, khói bụi.[]
Ủy ban Nhân dân Thành phố vừa giao Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát toàn
diện hoạt động của các cơ sở xử lý chất thải nguy hại, chất thải công nghiệp trên địa
bàn. Sau đó, sẽ có giải pháp xử lý đối với từng trường hợp.
2.2.5. Các hoạt động xây dựng đô thị
Đô thị hóa là quá trình tất yếu đang diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam, góp phần đẩy
mạnh phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Gia tăng dân số ở
các đô thị đã dẫn đến sự cần thiết gia tăng các nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như:
nhà ở, xe cộ, việc làm… đồng thời kéo theo sự phát thải từ các phường tiện và hoạt
động phát triển kinh tế – xã hội.
Do đó, hầu hết các đô thị lớn của nước ta đang phải đối mặt với tình trạng ô
nhiễm không khí ngày càng gia tăng. Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong đại công
trường với nhiều công trình đang trong thời gian xây dựng, xe chở vật liệu ra vào
che chắn không kỹ. Theo kết quả quan tắc của Trường ĐH Khoa học tự nhiên- ĐH
Quốc gia TP.HCM đo được nồng độ bụi chì ở các nút giao thông đã lên tới
0,57mg/m3, gấp đôi mức cho phép; chủ yếu là bụi lơ lửng, loại bụi người dân dễ hít vào nhất.
Tuy nhiên, hiện nay nhiều khu vực hoạt động xây dựng, phát triển đô thị chưa
thực hiện đầy đủ các biện pháp bảo vệ môi trường, đặc biệt tại các công trường xây
dựng đã và đang gây ra ô nhiễm không khí, chủ yếu là ô nhiễm bụi trong quá trình 13
thi công, vận chuyển nguyên vật liệu, đất cát phục vụ xây dựng. 14
CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ ĐẾN ĐỜI
SỐNG, KINH TẾ XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1. Ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia Việt Nam đã chỉ rõ, ô nhiễm môi trường
không khí gây ra những tác động trực tiếp tới sức khỏe cộng đồng. Tỷ lệ người dân
ở các đô thị lớn mắc các bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí chiếm tỷ lệ khá cao,
trẻ em là nhóm đối tượng chịu tác động lớn nhất.
Việc tiếp xúc với ô nhiễm không khí (gồm bụi, khí Nox, Sox, Ozon…) gây tăng
tỉ lệ bệnh tật và tử vong. Các bệnh do tiếp xúc với ô nhiễm không khí gồm suyễn,
bệnh phỗi tắc nghẽn mạn tính (COPD), viêm phổi, các chứng bệnh hô hấp, tim
mạch… Việc tiếp xúc với bụi mịn (bụi có đường kính khí động nhỏ hơn 2,5 µm) và
bụi phát sinh từ khí thải động cơ có tác hại lớn hơn so với bụi thông thường.
Trong đó, điều đáng lo ngại là bụi khí PM 2,5 với kích thước siêu nhỏ mà mắt
thường không thể nhìn thấy, được coi là tác nhân gây ô nhiễm có ảnh hưởng nhất
đối với sức khỏe, do có khả năng lắng đọng, thẩm thấu, di chuyển trong phổi, thậm
chí còn có thể xuyên qua thành mạch máu đi vào hệ tuần hoàn của con người. Vì
thế, các hạt bụi này có thể gây ảnh hưởng tức thời như kích ứng mắt, mũi, họng và
phổi, ho, hắt hơi, chảy nước mũi và khó thở. Phơi nhiễm lâu dài với bụi mịn cũng
có thể tăng tỷ lệ viêm phế quản mạn tính, suy giảm chức năng phổi và tăng tỷ lệ tử
vong do ung thư phổi, đột quỵ và bệnh tim.
Đứng trước thực trạng ô nhiễm không khí ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe
con người và phát triển kinh tế – xã hội đang là vấn đề đáng lo ngại tại Thành phố
Hồ Chí Minh nói riêng và các đô thị lớn nói chung. Các giải pháp cụ thể nhằm khắc
phục tình trạng này đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Trước hết, các đô thị
cần đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống giao thông công cộng, đặc biệt là giao thông
công cộng xanh để hạn chế sử dụng phương tiện cá nhân, hạn chế phát thải. Tất cả
các phương tiện giao thông cần được đưa vào kiểm soát và đăng kiểm để đảm bảo chất lượng. 15
3.2. Gây thiệc hại kinh tế
Ô nhiễm môi trường ngoài việc đe dọa đến sức khỏe của người dân, còn gây ảnh
hưởng lớn đến phát triển kinh tế xã hội. Xem xét dưới góc độ phát triển bền vững,
cách tính GDP như hiện nay chưa quan tâm đến môi trường sinh thái, tài nguyên bị
khai thác trong các hoạt động sản xuất để tạo ra sản phẩm và dịch vụ. Cùng với quá
trình phát triển kinh tế, tình trạng ô nhiễm môi trường và sự cố môi trường ngày
càng gia tăng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế nước ta trong trung
và dài hạn. https://moitruongvaxahoi.vn/mot-so-thiet-hai-kinh-te-do-o-nhiem-moi- truong-gay-nen-407366545.html
Một số thiệt hại kinh tế chủ yếu do ô nhiễm môi trường gây nên:
Một là, thiệt hại kinh tế do gia tăng chi phí cho khám chữa bệnh. Ô nhiễm không
khí ảnh hưởng đến sức khỏe người dân hình thành các khoản chi phí như: chi phí
khám và chữa bệnh, tổn thất mất ngày công lao động do nghỉ ốm, chi phí phục hồi
sức khỏe sau nhiễm bệnh, chi phí phòng chống bệnh tật... Ngoài ra, còn ảnh hưởng
đến người thân, tạo nên chi phí gián tiếp do nghỉ học, nghỉ làm để chăm sóc người
thân khi bị ốm. Kéo theo đó, là những ảnh hưởng tâm lý bất ổn khiến người ta khó
có thể tập trung cho công việc và học hành khiến hiệu quả năng suất không cao,
thậm chí ở nhiều ngành nghề, sự mất tập trung còn gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, sức khỏe.
Hai là, thiệt hại về kinh tế do ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Ảnh hưởng tiêu
cực của ô nhiễm không khí đến cây trồng có thể dẫn đến giảm năng suất và gây mất
mùa. Khi cây trồng không thể hấp thụ đủ ánh sáng và dinh dưỡng, năng suất của
chúng giảm đi đáng kể. Điều này ảnh hưởng đến nguồn cung cấp thực phẩm và gây
ra tác động tiêu cực đến kinh tế và sự phát triển của một vùng.
Ba là, thiệt hại đối với hoạt động du lịch. Ngành du lịch đang chịu ảnh hưởng nhiều
nhất từ sự biến đổi khí hậu, môi trường sinh thái. Vì vậy, du lịch và môi trường là
hai bộ phận không thể tách rời nhau, môi trường có tốt thì du lịch mới phát triển
bền vững. Ô nhiễm không khí khiến cho khách du lịch có nguy cơ mắc các bệnh về
hô hấp là nguyên nhân làm cho các du khách đều “e ngại” khi tới thăm quan.
Bốn là, thiệt hại kinh tế do chi phí cải thiện môi trường. Để tăng trưởng bền vững, 16