



















Preview text:
sBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ************ BÀI TIỂU LUẬN
CON NGƯỜI & MÔI TRƯỜNG TÊN ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC ẢNH HƯỞNG
ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN TẠI ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Giảng viên hướng dẫn: TS. Lê Thị Hoàng Liễu
Sinh viên thực hiện: Huỳnh Châu Bảo Ngọc
- Mã số sinh viên: 221A210328
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Hồng Ngọc
- Mã số sinh viên: 221A170210
Sinh viên thực hiện: Đặng Trần Uyên Nhi
- Mã số sinh viên: 221A300320
Sinh viên thực hiện: Lê Mai Quỳnh Như
- Mã số sinh viên: 221A210439
Sinh viên thực hiện: Cù Võ Quỳnh Như
- Mã số sinh viên: 221A210612
Lớp: Môi trường & Con người Mã MH: 223NAS10124 1 LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, nhóm chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại Học Văn
Hiến đã đưa môn “Môi trường và con người” vào chương trình giảng dạy và học tập của
chúng tôi. Đặc biệt, nhóm chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn -
TS. Lê Thị Hoàng Liễu đã tận tâm dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu và quan
trọng cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua. Trong thời gian tham gia lớp
học “Môi trường và con người” của cô, chúng tôi đã có thêm cho mình nhiều kiến thức
bổ ích, trang bị những kỹ năng cần thiết trong học tập. Đây chắc chắn sẽ là những kiến
thức nền tảng, giá trị để nhóm có thể vững bước trong tương lai.
Môn “Môi trường và con người” là môn học thú vị, vô cùng cần thiết và có tính thực
tế cao, đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, đi liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên hiện
nay. Tuy nhiên, sẽ không thể tránh khỏi việc kiến thức còn hạn chế và khả năng tiếp thu
chưa triệt để, dễ gặp phải thiếu xót và thông tin chưa chính xác, kính mong cô xem xét và
góp ý để tiểu luận của nhóm chúng tôi hoàn thiện hơn. Trân trọng. 2 Mức STT Họ và Tên MSSV Công việc độ Ký phân chia tham tên gia 1Huỳnh ChâuBảo Ngọc 221A210328 Nội dung 100% 2Trần Thị Hồng Ngọc 221A170210 Nội dung 100% 3Đặng Trần Uyên Nhi 221A300320 Nội dung 100% Tổng hợp, 4Lê Mai Quỳnh Như 221A210439 chỉnh sửa 100% nội dung
5Cù Võ QuỳnhNhư 221A210612 Nội dung 100% 3
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
..............................................................................................................................
Tp.HCM, ngày tháng năm 2023
Giảng viên: Lê Thị Hoàng Liễu 4 MỤC LỤC
I. PHẦN DẪN NHẬP Trang
Lý do chọn đề tài...........................................................................................................1
1.1. Mục tiêu nghiên cứu...............................................................................................2
1.2. Phạm vi nghiên cứu................................................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu; khách thể nghiên cứu.........................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................2
1.5. Tổng quan nghiên cứu, báo cáo trước....................................................................4 II. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Các khái niệm liên quan ........................................................................................8
2.2. Thực trạng ô nhiễm nguồn nước hiện nay..............................................................9
2.3. Ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn nước đến đời sống của người dân tại địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh..........................................................................................................16
2.4. Biện pháp khắc phục ô nhiễm nguồn nước.............................................................21
III. KẾT LUẬN & KHUYẾN NGHỊ
3.1. Kết luận..................................................................................................................30
3.2. Khuyến nghị...........................................................................................................31
TÀI LIỆU KHAM KHẢO.......................................................................................... 0 I. PHẦN DẪN NHẬP
Lý do chọn đề tài
Cuộc sống trên Trái Đất bắt nguồn từ trong nước. Tất cả các sự sống trên Trái Đất đều
phụ thuộc vào nước và vòng tuần hoàn nước. Nước có ảnh hưởng quyết định đến khí hậu
và là nguyên nhân tạo ra thời tiết. Năng lượng mặt trời sưởi ấm không đồng đều các đại
dương đã tạo nên các dòng hải lưu trên toàn cầu. Dòng hải lưu Gulf Stream vận chuyển
nước âm từ vùng Vịnh Mexico đến Bắc Đại Tây Dương làm ảnh hưởng đến khí hậu của
vài vùng châu Âu. Nước là thành phần quan trọng của các tế bào sinh học và là môi
trường của các quá trình sinh hóa cơ bản như quang hợp.
Hơn 70% diện tích của Trái Đất được bao phủ bởi nước. Lượng nước trên Trái Đất có
vào khoảng 1,38 tỉ km. Trong đó 97,4% là nước mặn trong các đại dương trên thế giới,
phần còn lại, 2,6%, là nước ngọt, tồn tại chủ yếu dưới dạng băng tuyết đóng ở hai cực và
trên các ngọn núi, chỉ có 0,3% nước trên toàn thế giới (hay 3,6 triệu km) là có thể sử
dụng làm nước uống. Việc cung cấp nước uống sẽ là một trong những thử thách lớn nhất
của loài người trong vài thập niên tới đây. Nguồn nước cũng đã là nguyên nhân gây ra
một trong những cuộc chiến tranh ở Trung Cận Đông.
Theo dự báo đến năm 2025, hành tinh của chúng ta sẽ phải đối mặt với nguy cơ khoảng
1.8 tỉ người dân sống tại nhiều khu vực "hoàn toàn khan hiếm nước". Sự bùng nổ dân số
cùng với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh chóng đã tạo ra một sức ép lớn tới
môi trường sống ở Việt Nam, đặc biệt là với việc nguồn nước sinh hoạt ngày càng trở
nên thiếu hụt và ô nhiễm. Tại Việt Nam, theo số liệu điều tra, có 3.450 sông, suối tương
đối lớn với tổng lượng nước trung binh hằng năm khoảng 830 tỉ m3, nhưng gần 2/3 phụ
thuộc vào nguồn nước quốc tế. Về nước ngầm, Việt Nam có nguồn nước chất lượng tốt
với trữ lượng lớn nhưng ở nhiều nơi, nước ngầm bị khai thác tập trung nên đang có mức
sụt giảm nghiêm trọng. Việc khai thác và sử dụng quá mức dẫn đến nguồn nước đang bị
ô nhiễm và cạn kiệt, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, sinh hoạt của người dân ở nhiều
địa phương. Việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước ra sao để đảm bảo sự phát
triển bắn vững là bài toán cần các cấp, các ngành chung tay để đưa ra lời giải. Hiện nay
hầu hết các sống hồ ở các thành phố lớn nơi có dân cư đông đúc và nhiều khu công
nghiệp, bệnh viện đều bị ô nhiễm trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh. Áp lực đó đã kéo
theo tinh trạng rác thải, nước thái ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước mặt và nước ngầm
cả về số lượng và chất lượng. Đã có nhiều khu vực phát hiện tình trạng nguồn nước
nhiễm độc tố ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dần. Cùng với cảnh báo của
cơ quan quản lý về sự suy giảm nguồn nước cho thấy vấn đề ô nhiễm nguồn nước ở
Thành phố Hồ Chí Minh đã đến mức báo động. 1
Chính vì tình trạng đáng báo động và sự cấp thiết của việc bảo vệ tài nguyên cũng như
môi trường nước, nhóm chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Thực trạng ô nhiễm nguồn nước
ảnh hưởng đến đời sống của người dân tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”.
1.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Tìm hiểu thực trạng ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng đến đời sống của người dân tại địa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Mục tiêu cụ thể:
+Thực trạng ô nhiễm nguồn nước tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
+Ảnh hưởng của ô nhiệm nguồn nước đến đời sống của người dân tại địa phương.
+Biện pháp khắc phục ô nhiễm nguồn nước.
1.2. Phạm vi nghiên cứu
Các quận, huyện có con sông, kênh, rạch đang chịu ô nhiễm tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Việt Nam.
1.3. Đối tượng nghiên cứu; Khách thể nghiên cứu
Môi trường nước và các vần đề liên quan đến ô nhiễm và con người.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng phổ biến và có vị trí vai trò quan trọng
trong việc tạo dựng cơ sở lý luận cho một đề tài nghiên cứu. Đặc trưng của nhóm phương
pháp này là người nghiên cứu không có bất kỳ một sự quan sát trực tiếp nào lên đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu tài liệu bao gồm tập hợp các phương pháp: Phân loại tài liệu, phân tích tài
liệu, đọc, ghi chép và tóm tắt tài liệu khoa học.
1.4.1. Phương pháp thu thập và phân loại tài liệu
a. Thu thập tài liệu: Là bước đầu tiên nhà nghiên cứu phải thực hiện khi bắt tay nghiên
cứu một đề tài khoa học. Căn cứ vào vấn đề nghiên cứu, nhà nghiên cứu tiến hành xác
định nguồn tài liệu, tìm kiếm và lựa chọn những tài liệu cần thiết nhằm làm sang rõ vấn đề.
Về nguyên tắc, tất cả những tài liệu chứa đựng các thông tin liên quan đến nhiệm vụ
nghiên cứu của đề tài đều phải được thu thập. Hiện nay, sự phát triển khoa học cùng với 2
cuộc cách mạng khoa học công nghệ, cách mạng thông tin diễn ra trên toàn cầu tác động
mạnh mẽ tới quy luật tồn tại và phát triển tài liệu khoa học. Bên cạnh đó, quy luật về sự
tập trung và tản mạnh thông tin cũng tác động đến sự tồn tại của tài liệu khoa học. Quy
luật này hình thành do quá trình phân lập và tích hợp khoa học. Quá trình phân lập các
khoa học dẫn đến việc hình thành các tài liệu chuyên môn hẹp. Quá trình tích hợp khoa
học lại dẫn đến việc hình thành các tài liệu khoa học liên ngành. Tính hữu ích của một tài
liệu khoa học được xác định bằng giá trị nội dung, tính thời sự cũng như khả năng tương
thích của nó đối với vấn đề nghiên cứu mà nhà khoa học quan tâm.
b. Phân loại tài liệu
Phân loại tài liệu: Được tiến hành sau khi thu thập tài liệu để chuẩn bị cho quá trình
đọc, khai thác nội dung. Phân loại tài liệu là phương pháp sắp xếp tài liệu khoa học thành
hệ thống logic chặt chẽ theo từng mặt, từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề khoa học có
cùng dấu hiệu theo mục đích sử dụng của nhà nghiên cứu. Các hình thức phân loại phổ
biến hiện nay là phân loại theo tên tác giả, phân loại theo thời gian công bố, hình thức
công bố. Ngoài ra còn nhiều cách phân loại khác, tùy theo mục đích nghiên cứu của đề
tài mà nhà nghiên cứu phân loại cho phù hợp.
1.2.2. Phân tích và tổng hợp tài liệu
a. Phân tích tài liệu
Phân tích tài liệu: Là phương pháp nghiên cứu tài liệu về một chủ đề bằng cách tách
chúng thành từng bộ phận, từng mặt, từng vấn đề để hiểu chúng một cách sâu sắc, tìm
thông tin phục vụ vấn đề nghiên cứu. Phân tích tài liệu nhằm xác định độ tin cậy, tính
khách quan, tính cập nhật của tài liệu, giới hạn và phạm vi của vấn đề mà tài liệu đề cập đến.
Mục đích của việc phân tích tài liệu là thông qua phân tích hình thức và nội dung tài
liệu, nhà nghiên cứu xác định tính hữu ích của tài liệu và phạm vi có thể kế thừa nội dung
tài liệu đó đối với đề tài họ triển khai. Thông qua việc phân tích hình thức tài liệu, xác
định nguồn tài liệu, tác giả, nơi công bố, hình thức công bố tài liệu. Trên cơ sở phân tích
tài liệu, nhà nghiên cứu xác định mức độ phải xử lý tài liệu theo mục tiêu và nhiệm vụ
nghiên cứu của mình.Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu của đề tài để phân tích tài liệu xây
dựng theo các tiêu chí: chủ đề chính của tài liệu, nội dung cơ bản, mục đích, phạm vi
nghiên cứu cũng như mức độ sử dụng của thông tin trong tài liệu.
b. Tổng hợp tài liệu
Tổng hợp tài liệu: Là phương pháp liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin từ tài liệu
từ các tài liệu thu thập được nhằm tạo ra một cách hiểu đầy đủ và sâu sắc về chủ đề
nghiên cứu. Tổng hợp tài liệu được thực hiện trên nhiều tài liệu phong phú về đối tượng.
Tổng hợp tài liệu được thực hiện trên cơ sở kết quả phân tích tài liệu, cho phép nhà
nghiên cứu có những thông tin toàn diện và khái quát về vấn đề nghiên cứu dựa trên những tài liệu đã có. 3
Tổng hợp tài liệu nhằm mục đích xác định tính tương thích của tài liệu so với mục tiêu
nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, lựa chọn tư liệu cần và đủ, sắp xếp chúng theo tiến trình thời
gian hay quan hệ nhân quả.
Phân tích và tổng hợp tài liệu là hai phương pháp có chiều hướng đối lập nhau song
thống nhất biện chứng và bổ trợ cho nhau, giúp nhà nghiên cứu nắm bắt được thông tin
xung quanh vấn đề nghiên cứu một cách sâu sắc và khái quát.
1.4.3. Phương pháp đọc và ghi chép tài liệu
Đọc và ghi chép tài liệu là một công đoạn trong phương pháp nghiên cứu tài liệu khoa
học. Cách thức đọc và ghi chép tài liệu nói lên nhà nghiên cứu sẽ sử dụng, tiếp thu, ghi
nhớ thông tin tài liệu đó như thế nào. a. Đọc tài liệu
Phương pháp đọc tài liệu gắn liền với hành vi tư duy. Yêu cầu đạt được khi đọc tài liệu
là ghi nhớ được tên tài liệu, nguồn, tác giả tài liệu, nội dung cơ bản, những dữ kiện được
đề cập đến trong tài liệu, khả năng sử dụng chúng trong giải quyết vấn đề khoa học của
nhà nghiên cứu. Đối với từng tài liệu, căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu của từng đề tài cụ
thể có thể có nhiều cách đọc khác nhau. Đọc thông thường đối với tài liệu không cần thiết
phải quá ghi nhớ và chú ý nhiều.
+Đọc nhanh: Đọc tài liệu phổ biến thông tin khoa học với tốc độ nhanh, đồng thời đặt
ra yêu cầu ghi nhớ những thông tin căn bản trong tài liệu.
+Đọc lướt: Theo toàn bộ nội dung tài liệu nhưng chỉ chú ý đến những đoạn cần thiết.
toàn bộ nội dung tài liệu mà chỉ lướt theo những phần có thể có thông tin ẩn. Chẳng
hạn khi nhà nghiên cứu tìm những số liệu, dữ kiện cần thiết trong các sách tra cứu.
Đọc sâu đối với những tài liệu chuyên môn phức tạp, yêu cầu nhà nghiên cứu phải
suy nghĩ và phân tích ngay trong quá trình đọc.
Thông thường, trình tự đọc một tài liệu là: Đọc tổng quát tài liệu nhằm xác định những
phần, những trang phải đọc kỹ; Đọc kỹ những phần đã đánh dấu và tiến hành ghi chép.
b. Ghi chép tài liệu
Sau khi đọc toàn bộ tài liệu, nhà khoa học tiến hành đọc kỹ và ghi chép những nội dung
tài liệu có ý nghĩa với nhà khoa học và liên qua đến vấn đề nghiên cứu của mình. Đối với
các tài liệu khoa học, có thể tiến hành ghi chép nội dung tài liệu theo những quy tắc ghi
nhớ. Những ghi chép ban đầu này chính là vật liệu thông tin đầu tiên làm tiền đề cho các
nhà khoa học tiến hành xử lý thông tin trong quá trình nghiên cứu tài liệu. Đó là thực
hiện tóm tắt tài liệu khoa học.
1.5. Tổng quan nghiên cứu, báo cáo trước 4
Khi nói và đề cập đến vấn đề về " Ô nhiễm môi trường nước" đã có một số bài báo viết và nghiên cứu về nó:
Theo Trung tâm Nghiên Cứu Môi trường Cộng đồng cho rằng: "Khoảng 70% nước thải
từ các khu công nghiệp không qua xử lý mà xả thẳng ra môi trường. Ở các khu tập trung
dân cư đông đúc – nổi bật là Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, chắc chắn sẽ bắt gặp
tình trạng nhiều nơi nước sông ngả màu đen, rác thải nổi lềnh bềnh và bốc mùi hôi thối.
Tất cả đều do sự thờ ơ và ý thức chưa cao của một bộ phận người dân. Điển hình như ở
Thành phố Hồ Chí Minh, ở các con sông, nồng độ chất ô nhiễm trong nước vượt quá tiêu
chuẩn cho phép (từ 1,5 đến 3 lần).
Thực trạng ô nhiễm môi trường nước ở nước ta đã kéo theo những hệ lụy khủng khiếp
cho con người. Cứ mỗi năm các tổ chức quốc tế vẫn tiếp tục đưa ra những con số rất
đáng lo ngại về tình trạng ô nhiễm môi trường nước ở nước ta:
+Khoảng 9.000 người tử vong mỗi năm do nguồn nước bẩn.
+Khoảng 20.000 người phát hiện bị ung thư nguyên nhân chính là do ô nhiễm nguồn
nước (theo Bộ Y Tế và Bộ Tài Nguyên và Môi Trường).
+Khoảng 21% dân số đang sử dụng nguồn nước bị nhiễm Asen hay Arsenic vô cơ -
một chất hóa học cực độc thường được sử dụng trong việc tạo ra các loại thuốc diệt
cỏ và các loại thuốc trừ sâu (theo Bộ Y Tế và Bộ Tài Nguyên và Môi Trường).
+Khoảng 44% trẻ em bị nhiễm giun do sử dụng nước bị không đạt chất lượng.
+Khoảng 27% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng do thiếu nước sạch và vệ sinh kém (theo WHO).
Theo phóng viên Lê Phan của báo Tuổi Trẻ đã chia sẻ: "Nguồn nước mặt sông Sài Gòn
(quỹ dự trữ nước mặt chính của Thành phố Hồ Chí Minh) đang chịu tác động từ các
nguồn thải khác nhau như nguồn nước thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp. Nước
thải đô thị cùng với nước mưa chảy tràn đổ vào sông theo hệ thống cống xả chung rồi đổ
ra sông Sài Gòn - Đồng Nai đang khiến dòng sông hứng chịu một nguồn chất hữu cơ
khổng lồ.Hoạt động sản xuất nông nghiệp sử dụng ngày càng nhiều phân bón hóa học và
thuốc bảo vệ thực vật, phát triển giao thông vận tải vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro và sự cố môi
trường... hay nước rò rỉ từ các bãi rác chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải vào
nguồn nước cũng góp phần vào việc "giết dần" các nguồn dự trữ nước mặt."
Còn theo ThS. Nguyễn Thị Nga : "Ô nhiễm nguồn nước, suy giảm chất lượng canh tác,
nuôi trồng, sản xuất ở các làng nghề,… đã ảnh hưởng lớn đến sinh kế người dân, nhất là
đối với người nông dân nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn hoặc không thể có cơ
hội thay đổi công việc, chỗ ở. Nếu coi nước là nguồn lực tham gia hoạt động sản xuất, thì
ô nhiễm nước đã và đang là một trong những yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng và tác động
trực tiếp đến thu nhập và sinh kế bền vững của người dân khu vực nông thôn. Ngoài ra nó 5
cũng làm cho thu nhập từ hoạt động du lịch bị giảm do không hút được lượng khách đến
tham quan và nghỉ dưỡng ở những khu vực bị ô nhiễm nguồn nước”.
Chi cục Bảo vệ môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cảnh báo về vấn đề ô nhiễm nước
ở kênh Ba Bò: “Đây là vấn đề đáng quan tâm nhất và cần thiết phải cảnh báo, vì diện tích
đất nông nghiệp dọc khu vực kênh Ba Bò sử dụng nguồn nước của kênh để tưới tiêu cho
rau tươi trồng trong khu vực...”
Chương trình “Chuyển động 24h” cũng đề cập rằng: “Đơn cử tại huyện Bình Chánh,
hiện có tới 85% nước thải từ khu công nghiệp và sinh hoạt đang xả trực tiếp ra các kênh
rạch mà không qua xử lý. Điều này khiến nguồn nước nuôi cá và trồng lúa của người dân
quanh khu vực này bị ô nhiễm nghiêm trọng, có thể khiến cá chết và cây trồng bị ảnh
hưởng. Có 15 tuyến kênh rạch ở các huyện phía Tây như Bình Chánh, Hóc Môn đang bị
ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến 1.700 hộ dân trồng lúa và nuôi cá ở khu vực này”.
Chủ một tiệm cơm nằm sát rạch Bà Tiếng chia sẻ: “Vào những ngày nắng nóng, nước từ
kênh bốc lên mùi hôi thối không thể chịu được, khách vào ăn cơm đôi khi phải vừa bịt
mũi vừa ăn. Nếu tình trạng hôi thối còn kéo dài, có khi nhà tôi dẹp quán cơm để chuyển sang nghề khác”
Theo Bà Lê Thị Năm (sinh năm 1960) sống cạnh rạch Xuyên Tâm cho hay: “Chúng tôi
đã chịu cảnh ô nhiễm hôi thối này lâu lắm rồi. Trời nắng còn đỡ, trời mưa nước bẩn và
rác thải tràn cả lên đường, trôi vào nhà. Gia đình lại có trẻ con nên chúng tôi rất lo lắng,
rất mong chính quyền sớm giải quyết cho người dân bớt khổ”.
Chị Nguyễn Thu Trang (sinh năm 1985), sinh sống tại rạch Xuyên Tâm cũng chia sẻ:
"Mùi thối từ nước kênh đã chịu không thấu, đằng này thêm rác và xác chết động vật phân
hủy ở nơi khác trôi về nên càng ùn ứ, ô nhiễm hơn. Nhưng đáng sợ nhất là muỗi và ruồi
nhặng, đêm đến là nỗi ám ảnh bởi giấc ngủ không tròn".
Theo kết quả phân tích chất lượng nguồn nước kênh Thầy Cai, An Hạ, kênh B, C của
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: “Các thông
số COD, BOD5, Coliform (các chỉ tiêu xác định mức độ nhiễm bẩn của ước) đều vượt
tiêu chuẩn chất lượng nước dùng cho thuỷ lợi và tiêu chuẩn nước thải công nghiệp từ vài
lần đến hàng chục ngàn lần. Từng dòng nước có màu nâu đen, mùi khó chịu chảy về các
nhánh. Nhiều hộ dân, sống dọc theo con kênh này cho biết, kênh B, C thường xuyên bốc
mùi hôi thối. Nguồn nước hai kênh này bị ô nhiễm bởi khu công nghiệp, cụm công
nghiệp Lê Minh Xuân và các cơ sở nhỏ lẻ dọc kênh”.
Đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng cho biết thêm: “Nguồn nước bị ô
nhiễm đã ảnh hưởng đến công tác điều tiết phục vụ tưới tiêu, ngăn mặn, xổ phèn và
phòng chống cháy rừng, đặc biệt là ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt, sức khoẻ của người
dân quận vùng ven và các huyện ngoại thành. Trong nhiều năm qua chất thải ô nhiễm từ 6
khu công nghiệp Lê Minh Xuân đã gây ra hiện tượng cá chết, vịt chết (2004), cây cỏ biến
đổi màu (2007), cá sấu chết, kiến chết hàng loạt (2008),…” .
Theo bài báo khoa học “Pollution and health: A progress update” công bố vào tháng
05/2022 trên tạp chí The Lancet Planetary Health: " Ô nhiễm là nguyên nhân gây ra
khoảng 9 triệu ca tử vong mỗi năm trên toàn thế giới và không thay đổi kể từ năm 2015
đến năm 2019, hơn 90% các ca tử vong liên quan đến ô nhiễm xảy ra ở các nước thu
nhập thấp và trung bình. Dữ liệu nghiên cứu trong năm 2019 cho biết, trong 9 triệu ca tử
vong có 6,67 triệu ca là do ô nhiễm không khí; 1,36 triệu ca là do ô nhiễm nguồn nước".
Theo đánh giá của UNESCO : "Chất lượng nước là một trong những thách thức chính
mà toàn xã hội sẽ phải đối mặt trong thế kỷ 21. Chất lượng nước giảm xuống sẽ đe dọa
đến sức khỏe con người, hạn chế sản xuất lương thực, giảm chức năng hệ sinh thái và cản
trở tăng trưởng kinh tế. Ước tính có khoảng 80% tổng lượng nước thải công nghiệp và
nước thải đô thị được thải ra môi trường trên toàn cầu mà không qua bất kỳ xử lý trước
nào (theo World Water Development Report 2021 của Liên Hợp Quốc), tỷ lệ này cao hơn
nhiều ở các nước kém phát triển do thiếu các hệ thống xử lý nước thải."
Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản, tổng diện tích mặt nước sử dụng cho nuôi trồng thuỷ
sản đến năm 2001 của cả nước là 751.999 ha. Do nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy
hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi
trường nước. Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hoá chất trong
nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi
trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và
xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thuỷ triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam.
Theo Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNPD): Số túi nilon tiêu thụ trong một
giờ có thể quấn bảy vòng quanh trái đất nếu được đặt cạnh nhau.Trái Đất đang hứng chịu
chất thải nhựa rất lớn. Mỗi năm có đến 300 triệu tấn rác thải nhựa được thải ra, nhưng chỉ
có 9% tái chế lại.Và có hơn 5000 tỉ túi nilong được thải ra ở biển, hậu quả mang lại là rùa
biển thường nhận nhầm túi ni lông là sứa, trong khi hải âu nhầm tưởng những chiếc túi
nhựa nguy hại này là mực. Túi nilong sau khi vào cơ thể sinh vật sẽ làm tắc nghẽn hoặc
gây tổn hại thành ruột, dẫn tới giảm khả năng hấp thụ của sinh vật, thậm chí là gây tử vong. 7 II. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Các khái niệm liên quan 2.1.1. Ô nhiễm
Ô nhiễm (pollution) là sự hủy hoại môi trường bằng bụi bẩn và các phế thải có hại.
Ô nhiễm có nhiều dạng như khói từ ống khói nhà máy, hóa chất độc hại. v.v…. Nó
thường được gọi là ảnh hưởng ngoại hiện khi nghiên cứu quá trình nghiên cứu sản xuất
công nghiệp và bị coi là cái giá phải trả cho sự tăng trưởng. Các loại ô nhiễm:
Tất cả các loại được liệt kê dưới đây được tạo ra bởi ba hoạt động phát triển chính của
con người: công nghiệp hóa, đô thị hóa và cơ giới hóa.
Vì vậy, kiểm soát của họ gần như không thể theo cách hiện tại của cuộc sống và phát
triển nhưng chúng ta có thể giảm thiểu nó đến một giới hạn mà tại đó chúng ta có thể tồn
tại hoặc cảm thấy thoải mái.
Như vậy, ô nhiễm môi trường có thể được phân loại trên cơ sở trung bình: +Ô nhiễm không khí +Ô nhiễm nước +Đất/ đất ô nhiễm +Ô nhiễm tiếng ồn
2.1.2. Nguồn nước/ môi trường nước
Môi trường tự nhiên nước là môi trường tự nhiên xung quanh mà các cá thể có thể sinh
sống, tác động hỗ tương với nhau thông qua nước. Ví dụ các vùng nước sông suối, ao hồ,
biển, nước ngầm,… đều là những môi trường tự nhiên xung quanh nước, chứa đựng sự tồn tại và phát triển.
Môi trường nước có thể bao quát trong một lưu vực rộng lớn hoặc chỉ chứa trong một giọt nước.
2.1.3. Ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm môi trường nước là việc nguồn nước tại các ao, hồ, sông, suối, kênh, rạch,
mạch nước ngầm, biển…. chứa các chất độc hại với hàm lượng cao gây nguy hiểm cho
sức khỏe của con người và động thực vật. Những chất độc hại này đến từ tự nhiên và đặc
biệt là từ công nghiệp, sinh hoạt là những tác nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường nước như hiện nay.
Ô nhiễm nước còn là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý - hóa học - sinh
học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên
độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước. Xét về tốc 8
độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.
Có nhiều nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường nước trên toàn cầu nhưng hiện nay được chia làm hai phần:
+Ô nhiễm môi trường nước tự nhiên
+Ô nhiễm môi trường nước nhân tạo
Ở phần ô nhiễm môi trường nước nhân tạo tiếp tục chia ra như sau:
+Ô nhiễm do nước thải sinh hoạt.
+Ô nhiễm do hoạt động các khu công nghiệp.
+Ô nhiễm do hoạt động sản xuất nông nghiệp.
+Ô nhiễm do rác thải y tế.
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung
do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con
người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã". 2.1.4. Đời sống
Đời sống riêng tư hay đời sống cá nhân, đời tư là cuộc sống của một cá nhân, đặc biệt
được xem như toàn bộ sự lựa chọn cá nhân góp phần nhận dạng tính cách một người.
Đây là một khái niệm phổ biến trong đời sống hiện đại - mặc dù chúng phát triển hơn ở
nhiều vùng trên thế giới như Tây Âu và Bắc Mỹ.
“Đời sống” được hiểu theo 2 loại: Đời sống vật chất và đời sống tinh thần
2.2. Thực trạng ô nhiễm nguồn nước hiện nay
2.2.1. Nguyên nhân gây ra ô nhiễm nguồn nước
Để minh chứng rõ cho từng nguồn thải là nguyên nhân gây ra ô nhiễm nguồn nước, ta chia làm 2 phần như sau:
2.2.1.1. Ô nhiễm nguồn nước có nguồn gốc tự nhiên
Là do mưa,tuyết tan, lũ lụt,gió bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh
vật, kể cả xác chết của chúng.
Cây cối, sinh vật chết đi , chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ. Một phần sẽ
ngấm vào lòng đất, sau đó ăn sâu vào nước ngầm, gây ô nhiễm. hoặc theo dòng nước ngầm hòa vào dòng lớn. 9
Lụt lội có thể làm nước mất sự trong sạch, khuấy động những chất dơ trong hệ thống
cống rãnh, mang theo nhiều chất thải độc hại từ nơi đổ rác, và cuốn theo các loại hoá chất
trước đây đã được cất giữ.
Nước lụt có thể bị ô nhiễm do hoá chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ hoặc do các
tác nhân độc hại ở các khu phế thải. Công nhân thu dọn lân cận các công trường kỹ nghệ
bị lụt có thể bị tác hại bởi nước ô nhiễm hoá chất.
Ô nhiễm nước do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt,...) có thể rất nghiêm
trọng, nhưng không thường xuyên, và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái
chất lượng nước toàn cầu. Đây chỉ là nguyên nhân thứ yếu gây nên ô nhiễm môi trường
nước như hiện tai, nguyên nhân chính vẫn đến từ các tác nhân nhân tạo.
2.2.1.2. Ô nhiễm nguồn nước có nguồn gốc nhân tạo
Có 4 nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước do nhân tạo khiến cho tình trạng ô
nhiễm trầm trọng như hiện nay: Nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước thải
nông - ngư nghiệp, nước thải y tế. Trong đó:
+ Nước thải sinh hoạt: Hầu như toàn bộ nước thải sinh hoạt hằng ngày vẫn chưa được
xử lý và thải thẳng ra môi trường. Thành phần cơ bản của nước thải sinh hoạt là các chất
hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học (cacbohydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dưỡng
(photpho, nitơ), chất rắn và vi trùng. Tùy theo mức sống và lối sống mà lượng nước thải
cũng như tải lượng các chất có trong nước thải của mỗi người trong một ngày là khác
nhau. Nhìn chung mức sống càng cao thì lượng nước thải và tải lượng thải càng cao.
Trong nguồn nước thải này còn chứa các chất gây ô nhiễm như: Na+, K+, PO43, Cl-,… .
+ Nước thải nông - ngư nghiệp
Nước thải nông nghiệp: Từ những hoạt động như chăn nuôi, trồng trọt của các bà con
nông dân cũng dẫn đến ô nhiễm khi thức ăn thừa, phân động vật chưa được xử lý, để thải
ra môi trường hằng ngày. Ngoài ra nhiều hộ nông dân còn sử dụng thuốc trừ sâu, phân
bón hóa học làm các chất độc hại này thấm xuống đất và ngấm vào mạch nước ngầm làm
ô nhiễm môi trường nước ngầm. Đặc biệt còn có những hộ dân sử dụng các hóa chất cấm
để bón, tưới cho cây trồng không những nguy hại đến sức khỏe con người mà còn làm
tình trạng ô nhiễm môi trường nước trở nên nặng hơn.
+ Nước thải ngư nghiệp: Thức ăn, nước trong hồ, ao nuôi lâu ngày bị phân hủy không
được xử lý tốt mà xả ra sông suối, biển gây ô nhiễm nguồn nước. Các chất thải nuôi trồng
thủy sản là nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư sử dụng như hóa
chất và thuốc kháng sinh, vôi và các loại khoáng chất. Chất thải ao nuôi công nghiệp có
thể chứa đến trên 45% Nitrogen và 22% là các chất hữu cơ khác, là nguồn có thể gây ô
nhiễm môi trường và dịch bệnh thủy sản phát sinh trong môi trường nước. 10
Bên cạnh đó, các xưởng chế biến mỗi ngày chế biến hàng tấn thủy hải sản, tuy nhiên
trong quá trình chế biến đã thải ra môi trường toàn bộ lượng nước thải, bao gồm cả hóa
chất, chất bảo quản. Ngoài ra, nhiều loại thủy hải sản chỉ lấy một phần, phần còn lại vứt
xuống sông, biển làm nước bị ô nhiễm, bốc mùi hôi khó chịu.
+ Nước thải y tế: Bao gồm nước thải từ các phòng phẫu thuật, phòng xét nghiệm, phòng
thí nghiệm, từ các nhà vệ sinh, khu giặt là, rửa thực phẩm, bát đĩa, từ việc làm vệ sinh
phòng... cũng có thể từ các hoạt động sinh hoạt của bệnh nhân, người nuôi bệnh và cán
bộ công nhân viên làm việc trong bệnh viện. Nước thải y tế có khả năng lan truyền rất
mạnh các vi khuẩn gây bệnh, nhất là đối với nước thải được xả ra từ những bệnh viện hay
những khoa truyền nhiễm, lây nhiễm.
Những nguồn nước thải này là một trong những nhân tố cơ bản có khả năng gây truyền
nhiễm qua đường tiêu hóa và làm ô nhiễm môi trường. Đặc biệt nguy hiểm khi nước thải
bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật qua
nguồn nước, qua các loại rau được tưới bằng nước thải.
+ Nước thải công nghiệp (industrial wastewater): Nước thải từ các cơ sở sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải.
Khác với nước thải sinh hoạt hay nước thải đô thị, nước thải công nghiệp không có
thành phần cơ bản giống nhau, mà phụ thuộc vào ngành sản xuất công nghiệp cụ thể. Ví
dụ: nước thải của các xí nghiệp chế biến thực phẩm thường chứa lượng lớn các chất hữu
cơ; nước thải của các xí nghiệp thuộc da ngoài các chất hữu cơ còn có các kim loại nặng,
sulfua,... . Đây là nguyên nhân chính gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường nước như hiện
nay, bởi vì tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa ngày càng nhanh, kéo theo đó là các khu
công nghiệp mọc lên để đáp ứng nhu cầu của con người.
Ở các khu công nghiệp các nhà máy xả thải hàng nghìn m3 nước ra môi trường mỗi
ngày mà chưa qua xử lý kéo theo nguồn nước tại các khu vực này ô nhiễm nặng khiến
cho tuổi thọ, sức khỏe của người dân tại đây ngày càn giảm sút. Đáng báo động hơn là
tính trạng “Làng Ung Thư” xuất hiện càng ngày càng nhiều quanh các khu công nghiệp.
+ Nước thải đô thị (municipal wastewater): Loại nước thải tạo thành do sự gộp chung
nước thải sinh hoạt, nước thải vệ sinh và nước thải của các cơ sở thương mại, công
nghiệp nhỏ trong khu đô thị. Nước thải đô thị thường được thu gom vào hệ thống cống
thải thành phố, đô thị để xử lý chung. Nhìn chung, thành phần cơ bản của nước thải đô
thị cũng gần tương tự nước thải sinh hoạt.
Ở nhiều vùng , phân người và nước thải sinh hoạt không được xử lý mà quay trở lại
vòng tuần hoàn của nước. Do đó bệnh tật có điều kiện để lây lan và gây ô nhiễm môi
trường. Nước thải không được xử lý chảy vào sông rạch và ao hồ gây thiếu hụt oxy làm
cho nhiều loại động vật và cây cỏ không thể tồn tại.
2.2.1.3. Ô nhiễm nguồn nước xảy ra do ý thức của con người 11
Nhận thức kém, tư tưởng lạc hậu về việc bảo vệ môi trường nước cùng cơ sở hạ tầng bị
hạn chế, thiếu hụt dẫn tới ô nhiễm nước. Bên cạnh đó, hoạt động quản lý đến từ các cấp,
các tổ chức còn lỏng lẻo, chưa chặt chẽ, nhiều lỗ hổng khiến người dân chịu nhiều ảnh
hưởng, nhất là vấn đề nước sạch. Sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp
và dịch vụ, quá trình đô thị hóa và tập trung dân cư nhanh chóng cũng là các nguyên
nhân gây quá tải môi trường nước.
2.2.1.4. Ô nhiễm nguồn nước xảy ra do quá trình đô thị hóa
Đô thị hóa là quá trình phát triển tất yếu của các nước trên thế giới hiện nay. Đất đai
được quy hoạch thành các khu chung cư, nhà cao tầng, cây cối bị chặt để xây đường, xây
cầu vượt,... Quá trình đô thị hóa diễn ra quá nhanh đã làm thay đổi bộ mặt của tự nhiên,
kéo theo nguồn nhân lực dồi dào và hiển nhiên, dù ít hay nhiều, chính quá trình đô thị
hóa đã tàn phá nặng nề môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng. Bởi các hoạt
động xây dựng đô thị.
2.2.2. Thực trạng ô nhiễm nguồn nước tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Ô nhiễm môi trường nước đã và đang là một vấn đề quan trọng, hệ quả của một quá
trình phát triển nóng của các nước đang phát triển trong giai đoạn công nghiệp hóa và
hiện đại hóa của Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Có nhiều hoạt động sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm nước, trong đó chủ yếu là:
+Do các hoạt động sản xuất: Nhiều nhà máy vẫn dùng công nghệ cũ, có khu công
nghiệp thải ra 500.000 m3 nước thải mỗi ngày chưa qua xử lý. Chất lượng nước thải
công nghiệp đều vượt quá nhiều lần giới hạn cho phép. Đặc biệt là nước thải các
ngành công nghiệp nhộm, thuộc da, chế biến thực phẩm, hóa chất có hàm lượng các
chất gây ô nhiễm cao, không được xử lý thải trực tiếp vào hệ thống thoát nước đã làm
cho nguồn nước bị ô nhiễm nặng.
+Do khai thác khoáng sản: Trong việc khai khoáng công nghiệp thì khó khăn lớn
nhất là xử lý chất thải dưới dạng đất đá và bùn. Trong chất thải này có thể có các hóa
chất độc hại mà người ta sử dụng để tách quặng khỏi đất đá. Trong chất thải ở các mỏ
thường có các hợp chất sulfid-kim loại, chúng có thể tạo thành axít, với khối lượng
lớn chúng có thể gây hại đối với đồng ruộng và nguồn nước ở xung quanh. Bùn từ
các khu mỏ chảy ra sông suối có thể gây ùn tắc dòng chảy từ đó gây lũ lụt. Một lượng
chất thải rất lớn bao gồm chất thải rắn, nước thải và bùn thải hàng năm, không được
quản lý và xử lý, gây ô nhiễm môi trường.
+Từ các lò nung và chế biến hợp kim: Trong quá trình sản xuất và chế biến các loại
kim loại như đồng, nicken, kẽm, bạc, kobalt, vàng và kadmium, môi trường bị ảnh
hưởng nặng nề. Hydrofluor, Sunfua-dioxit, Nitơ-oxit khói độc cũng như các kim loại
nặng như chì, Arsen, Chrom, Kadmium, Nickel, đồng và kẽm bị thải ra môi
trường.Một lượng lớn axít-sunfuaric được sử dụng để chế biến. Chất thải rắn độc hại
cũng gây hại đến môi trường. Bụi mịn gây hại nặng nề và ảnh hưởng tới nguồn nước. 12
Hiện nay, ở Thành phố Hồ Chí Minh, ô nhiễm kênh rạch là một trong những vấn đề môi
trường gây bức xúc, lôi cuốn sự quan tâm của các nhà quản lý và cộng đồng dân cư.
Thành phố Hồ Chí Minh lại được thiên nhiên ưu đãi cho một hệ thống sông ngòi chằng
chịt, len lỏi qua khắp 24 quận, huyện. Ngồi các trục sông chính, thành phố Hồ Chí Minh
còn có mạng lưới kênh rạch với trên 100 tuyến sông rạch với chiều dài gần 700 km.
Hệ thống sông Sài Gòn có các rạch Láng Thé, Bàu Nông, Rạch Tra, Bến Cát, An
Hạ,Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, kênh Tẻ, kênh
Đôi,Tàu Hủ. Ba Bò. Ở phía Nam Thành phố, thuộc địa bàn Nhà Bè, Cần Giờ, mật độ
kênh rạch dày đặc. Phía Củ Chi, Bình Chánh có các kênh cấp 3 – 4 của kênh Đông, kênh
Tham Lương,kênh An Hạ, kênh Thái Mỹ, kênh Xáng... giúp cho việc tưới tiêu được
thuận tiện. Ô nhiễm nguồn nước đang trở thành một vấn nạn tại Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận.
Thành phố Hồ Chí Minh với hơn 2.000 con kênh rạch trong địa bàn thành phố nay đã
trở thành nỗi ám ảnh của người dân, vì nước tại các con kênh này bị ô nhiễm trầm trọng
với các chất thải rắn, nước thải làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân ven các con
kênh. Các nguồn nước thải từ khu dân cư, nước thải từ các cơ sở chế biến, các khu công
nghiệp đổ thẳng vào lòng sông, hồ, kênh rạch khiến dòng nước ở đây đổi màu, bốc mùi và ô nhiễm trầm trọng.
Hệ thống kênh rạch trong khu vực nội thành có chiều dài khoảng 76km với 5 tiểu lưu
vực chính gồm kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè. Tân Hóa - Lò Gốm, Tàu Hủ - Kênh Đôi,
Kênh Tẻ - Bến Nghé, Bến Cát - Vàm Thuật. Theo tính toán, mật độ kênh rạch khu vực
các quận nội thành hiện đang ở mức rất thấp và không có lợi cho việc thoát nước. Đáng
lưu ý một số kênh do nạo vét quá sâu nhưng bề rộng mặt cắt bị thu hẹp đến 50%. Theo
thống kê hiện nay có đến 60% - 70% chiều dài của các tuyến kênh trong nội thành bị ô
nhiễm nặng, vấn đề ô nhiễm chủ yếu là ô nhiễm chất hữu cơ và coliform.
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung
là rất lớn. Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị
nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày
từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt.
Lưu vực sông Sài Gòn chẳng những là một vùng đông dân cư như Hà Nội, với diện tích
14.500 km2 và dân số khoảng 17,5 triệu, và cũng là một vùng tập trung phát triển công
nghiệp lớn nhất và cũng là một vùng được đô thị hóa nhanh nhất nước: Hàng năm sông
ngòi trong lưu vực này tiếp nhận khoảng 40 triệu m3 nước thải công nghiệp, không kể
một số lượng không nhỏ của trên 30 ngàn cơ sở sản xuất hóa chất rải rác trong thành phố
Hồ Chí Minh. Nước thải sinh hoạt ước tính khoảng 360 triệu m3. Ngoài những chất thải
công nghiệp như hợp chất hữu cơ, kim loại độc hại như: đồng, chì, sắt, kẽm, thủy ngân,
cadmium, mangan, các loại thuốc bảo vệ thực vật. Nơi đây còn xảy ra hiện tượng nước
sông bị acid hóa như đoạn sông từ cầu Bình Long đến Bến Than, nhiều khi độ pH xuống 13
đến 4,0 (độ pH trung hòa là 7,0), và trọng điểm là sông Rạch Tra, nơi tất cả nước rỉ từ các
bãi rác thành phố và hệ thống nhà máy dệt nhuộm ở khu Tham Lương đổ vào.
Lưu vực này hiện đang bị khai thác quá tải, nước sông hoàn toàn bị ô nhiễm và hệ sinh
thái của vùng nầy bị tàn phá kinh khủng, và đây cũng là một yếu tố sống còn cho sự sống
còn của các nước, chiếm 30% tổng sản lượng quốc dân.
Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, khoảng 30 tấn nilong được sử dụng tại các chợ,
trung tâm thương mại và siêu thị, chưa kể tại các hộ dân. Ngay cả ở những nơi như siêu
thị, trung tâm thương mại cũng chỉ dùng túi ni-lông tự hủy gói gọn trong việc thí điểm
một số mô hình, chưa áp dụng đại trà.
Túi ni lông vứt xuống ao, hồ, sông ngòi sẽ làm tắc nghẽn cống, rãnh, kênh, rạch, gây ứ
đọng nước thải và ngập úng dẫn đến tình trạng nguồn nước bị ô nhiễm, thiếu nước sạch
sinh hoạt. Đốt túi ni lông sinh nhiều khí độc hại như CO2, gây ô nhiễm không khí, ảnh
hưởng đến sức khỏe người dân. Nếu túi ni lông bị chôn vùi trong lòng đất sẽ phá hủy
nguồn nước ngầm, vi sinh vật, kéo theo tác động tới hệ sinh thái, ảnh hưởng tới sự phát
triển của cây cối, gây nên tình trạng sạt lở đất, xói mòn vào mùa mưa lũ.
Rất dễ để bắt gặp những dòng kênh, con sông ngập trần rác thải, nước đen bốc mùi hôi
thối. Chính điều này đã làm ô nhiễm nguồn nước ngầm và đây cũng chính là lí do ảnh
hưởng đến cuộc sống con người khi sử dụng nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm hằng ngày.
Các bãi rác là nơi chứa đựng sự ô nhiễm rất cao, nếu không được thu dọn, xử lý triệt để
thì nước từ các bãi rác theo nước mưa, chảy vào các ao hồ gần khu dân cư, hoặc thấm
vào nguồn nước ngầm gây ô nhiễm.
Theo báo cáo mới nhất của Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Thành phố Hồ Chí
Minh (22/10/2002) trung bình mỗi ngày sông Sài Gòn phải hứng chịu trên 852.000 m3
lượng ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt với hàm lượng DO thấp và COD quá cao (tiêu
chuẩn sau này để ước tính nồng độ hữu cơ trong nước. Còn tại các khu đô thị, trung bình
mỗi ngày thải ra 20.000 tấn chất thải rắn nhưng chỉ thu gom và đưa ra các bãi rác được
trên 60% tổng lượng chất thải nên đã gây ô nhiễm nguồn nước.
Theo thống kê các nguồn thải công nghiệp trên địa bàn thành phố từ năm 2010 đến 2012
được thực hiện trên 24 quận/ huyện với 826 nguồn thải, chỉ có khoảng 60% nguồn thải có
hệ thống xử lý nước thải, các nguồn thải còn lại chỉ xử lý qua sơ bộ (bể tự hoại) trước khi
xả thải ra môi trường. Các chất thải công nghiệp làm cho nhiều con sông, kênh rạch tại
thành phố đã chết, sức khỏe người dân khu vực lân cận bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Nguồn nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư cũng là nguyên nhân làm cho tình trạng ô
nhiễm nguồn nước tại thành phố trở nên nghiêm trọng hơn. Theo ước tính, phải đến 70%
tổng số nước thải từ các khu công nghiệp vẫn xả thẳng trực tiếp ra ngoài môi trường,
không qua xử lý. Đây là một trong những nguồn gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng. 14
Một bộ phận không nhỏ cộng đồng dân cư không quan tâm đến vấn đề này mà thải trực
tiếp các chất thải sinh hoạt vào các con kênh quanh khu vực mình ở một cách vô ý thức.
Theo như nghiên cứu điều tra của Tổng cục môi trường: Hàm lượng oxy hòa tan (DO)
tại tất cả các điểm quan trắc đều xấp xỉ hoặc thấp hơn so với QCVN 08:2008, cô ‘t B1.
Đặc biê ‘t, tại các điểm quan trắc ở kênh rạch nô ‘i và ngoại ô đều khá thấp, nhất là ở khu
vực cầu Xáng (0,19 mg/l – nước lớn).
Con kênh Gò Công đã thành kênh nước đen từ nhiều năm nay. Kênh Tân Hóa - Lò Gốm
đang được kè, nạo vét hết sức ì ạch, là nỗi bức xúc của người dân các Quận 6, Quận 11,
Quận Bình Tân,… . Nhiều năm nay, con kênh ô nhiễm này chủ yếu do nước thải và rác
thải sinh hoạt của chính người dân hai bên bờ xả ra.
Theo thống kê thì những con kênh, rạch bị ô nhiễm nặng nề nhất phải kể đến là rạch
Phan Văn Hân (Quận Bình Thạnh), rạch Xuyên Tâm (Quận Bình Thạnh), kênh Tẻ (Quận
7),... . Đi dọc các tuyến kênh rạch đó, không khó khăn gì để ghi nhận hình ảnh rác thải,
bao bì tràn ngập hai bờ, dưới chân cầu và miệng cống. Sau những trận mưa lớn mùi rác
thải bốc lên hôi thối, nồng nặc ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân nơi đây. Bao bì,
ni lông chất thành từng đống là môi trường sống thuận lợi cho ruồi muỗi, sâu bọ và nguy
cơ bùng phát hàng loạt dịch bệnh.
Những con kênh, rạch đang ngày càng chết dần chết mòn vì rác thải, những tuyến phố
ngập tràn bao bì, ni lông đang là bài toán nhức nhối cho chính quyền và người dân Thành
phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây.
Theo kết quả quan trắc mới đây tại Thành phố Hồ Chí Minh, ở các đoạn sông chính, các
nhiều chất ô nhiễm trong nước đã có nồng đô ‘ vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 – 3
lần. Các con số đo đặc cho biết, tình trạng nước ô nhiễm chủ yếu là ô nhiễm hữu cơ và
coliforms. Điều này cho thấy nước bị ô nhiễm chính là từ rác thải sinh hoạt của con
người và rác thải từ các khu công nghiệp mà nên.
Cơ quan điều tra các nguồn nước thải công nghiệp hiện nay cho biết, chỉ có khoảng
60% nguồn thải có hệ thống xử lý nước thải trước khi xả thải ra môi trường, các nguồn
thải còn lại thì chỉ xử lý qua hệ thống sơ bộ, thậm chí là đổ thải trực tiếp ra môi trường.
Chính điều này đã đóng góp đến 80% làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngày càng
xấu đi. Trong khi đó, nguồn thải từ các khu dân cư cũng không được xử lý triệt để, từ đó
góp thêm tải lượng ô nhiễm nước ngày càng tăng cao.
Theo số liệu từ cuộc khảo sát của Sở Tài Nguyên và Môi Trường Thành phố Hồ Chí
Minh, hiện nay, mỗi ngày hệ thống kênh rạch, sông ngòi trên địa bàn thành phố phải
hứng chịu 40 tấn rác thải sinh hoạt và 70.000m nước thải từ hoạt động sinh hoạt, sản xuất
chưa qua xử lý (vài năm trước số liệu này là 200.000m3). Không những các kênh trong
nội thành Thành phố bị ô nhiễm mà các con sông lớn – nơi cung cấp nước sinh hoạt cho
cả thành phố cũng đang trong tình trạng báo động. 15