

















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
----------------------------------
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: PHƯƠNG PHÁP HỌC ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA COVID-19 Sinh viên thực hiện: 1. HỒ HOÀNG LÂM NHƯ
2. ĐẶNG NGUYỄN HUYỀN TRÂN 3. PHAN THỊ BÍCH LIÊN 4. LÊ CÔNG LỊNH 5. VŨ QUANG HUY
GVHD: TS.LÊ DƯƠNG KHẮC MINH
TP. HỒ CHÍ MINH, tháng 11, năm2023
DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA STT MSSV Họ Và Tên Công Việc Hoàn Thành 1 231A100203 Hồ Hoàng Lâm Như Tổng hợp và 100% chỉnh sửa,phần A 2
231A100180 Phan Thị Bích Liên Phần B,C 100% 3 231A100189 Lê Công Lịnh Phần B 100% 4
231A100195 Đặng Nguyễn Huyền Phần A,B 100% Trân 5 231A100190 Vũ Quang Huy Phần B 100%
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….
…………….…………….….…………….….…………….….…………….…. …………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….…………
….…………….….…………….….…………….….…………….….………… LỜI CÁM ƠN
Trong suốt quá trình từ khi bắt đầu học tập từ đầu đến nay tại trường Đại học
Văn Hiến. Chúng em nhận được rất nhiều niềm vui, sự giúp đỡ, quan tâm của
tất cả các giảng viên, bạn bè, các nhân viên của của nhà trường. Chúng em xin
chân thành gửi lời cám ơn và xin lỗi đến với các giảng viên, bạn bè.các nhân
viên của trường. Xin lỗi vì có nhiều lúc chúng em có hơi ngỗ nghịch , quậy phá
để mọi người phiền lòng. Còn cám ơn là vì những hi sinh mà mọi người đã
dành cho chúng em để chúng em trưởng thành hơn mỗi ngày khi bước vào ngôi
trường Đại học Văn Hiến này. Và đặc biệt hơn hết, chúng em xin gửi lời cám
ơn sâu sắc đến giảng viên TS. Lê Dương Khắc Minh. Thầy đã dạy bảo, hướng
dẫn rất tâm huyết, nhiệt tình, hết mình để chúng em có thể hoàn thành bài tiểu luận của chúng em.
Do đây là lần đầu tiên chúng em làm tiểu luận nên có nhiều sai sót, hạn chế về
nhiều mặt. Chúng em rất mong thầy sẽ có ý kiến đóng góp về những hạn chế về
bài của chúng em để chúng em tiếp nhận những lời góp ý để bài tiểu luận của
chúng em được hoàn thành một cách tốt hơn.
Lời cuối cùng xin chúc thầy cô, bạn bè, nhân viên của trường Văn Hiến được
nhiều sức khỏe, thành công, đạt được những điều mình mong muốn.
Chúng em xin chân thành cám ơn! MỤC LỤC A.MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài… ................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu… ........................................................................... 1
3. Nhiệm vụ nghiên cứu… ........................................................................... 1
4. Đối tượng nghiên cứu… ........................................................................... 1
5. Phạm vi nghiên cứu… ............................................................................... 1 B.NỘI DUNG
1. Tác động Covid-19 là gì… ....................................................................... 2
2. Đại dịch Covid-19 là gì… ....................................................................... 3
3. Nguồn gốc của 2019-nCoV… .................................................................... 3
4. Cơ chế lây lan của 2019-nCoV như thế nào… ........................................ 4
5. 2019-nCoV có giống virus MERS-CoV hoặc SARS không… ............. 5
6. Diễn biến của Đại dịch Covid-19 ở Việt Nam… ...................................... 5
7. Phân tích các tác động của Covid-19 đến nền kinh tế Việt Nam ............. 7
8. Tác động của đại dịch đến nền kinh tế VN… ........................................... 9
9. Giải pháp của các quốc gia trước đại dịch Covid-19… ........................... 10
10. Một số ngành bị dịch bệnh tác động… ................................................... 10
10.1. Ngành y tế… ........................................................................................ 10
10.2. Ngành nông nhiệp ................................................................................. 11
10.3. Ngành du lịch và hàng không… ......................................................... 11
C.KẾT LUẬN ................................................................................................ 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 14 A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài Vì:
Đại dịch Covid-19 có một tên gọi khác là dịch viêm đường hô hấp cấp có
virus SARS-Cov-2 gây ra. Ca nhễm đầu tiên được ghi nhận tại Vũ Hán, Trung
Quốc vào 8/12/2019. Sau khi Trung Quốc thông báo với Tổ chức y tế thế giới
(WHO) thì không lâu sau đó dịch bệnh đã lây lan ra nhiều nơi và được xem là đại dịch toàn cầu.
Vào ngày 23 tháng 1 năm 2020, đã phát hiện trường hợp đầu tiên nhiễm
Covid-19 do SARS-Cov-2 gây ra tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các hoạt động
xã hội, kinh tến đã bị tác động mạnh mẽ do giãn cách xã hội để hạn chế lây lan
dịch bệnh. Tính đến hết ngày 31 tháng 10 năm 2023, Việt Nam đã ghi nhận
được 11.624.114 trường hợp nhiễm bệnh và hơn 43.206 trường hợp tử vong.
Điều đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Việt Nam một cách nặng
nề. Đặc biệt sau 4 lần bùng dịch đã làm cho nhiều doanh nghiệp bị phá sản, rất
nhiều người trong tình trạng không có việc làm.
Nắm bắt được vấn đề này, chúng em quyết định chọn đề tào để nghiên cứu,
để mọi người có thể hiểu rõ và đưa ra cách giải quyết hợp lý nhất về kinh tế
Việt Nam sau cơn đại dịch Coivd-19.
2. Mục đích nghiên cứu
Để tìm hiểu về những tác động của đại dịch đến nền kinh tế Việt Nam. Vì
Covid-19 đã ảnh hưởng về mọi mặt trực tiếp đến gián tiếp, vậy nên cần phải
làm rõ những ảnh đến các doanh nghiệp, công ty, những việc kinh doanh của
mọi người như thế nào để tìm cách giải quyết tốt nhất để khôi phục và phát
triển kinh tế một cách nhanh nhất cho đất nước sau đại dịch.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiếu về các tác động của đại dịch Covid-19 đến Việt Nam. Tìm hiểu
những ảnh hưởng tiêu cực và tích cực của Covid-19 đến xã hội, chính trị,các
ngành nghề như thế nào? Và đưa ra được các giải pháp cục thể cho quá trình
khôi phục kinh tế sau thời kì khủng hoảng kinh tế vì đại dịch bùng phát.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài này là kinh tế Việt Nam trong đại dịch covid 2019- 2021.
5. Phạm vi nghiên cứu
-Phạm vi thời gian: Trong giai đoạn 2019-2021.
-Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu ở Việt Nam.
-Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu đến nền kinh tế Việt Nam trong đại dịch COVID - 19. 1 B. NỘI DUNG
1. Tác động của Covid-19 là gì
Đại dịch COVID - 19 là một cú sốc về y tế, nó tác động đến mọi mặt lên nền
kinh tế thế giới. Tăng trưởng toàn cầu của nhiều quốc gia, khu vực ở mức âm; đầu
tư và thương mại toàn cầu suy giảm; người lao động mất việc làm, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.
●Tác động đến kinh tế-xã hội:
Theo các chuyên gia kinh tế nhận định, dịch bệnh COVID-19 có tác động rất
mạnh, thậm chí là nghiêm trọng đến kinh tế - xã hội Việt Nam bởi tác động của
nó có nhiều chiều đè nặng lên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế - xã hội; với 3
tác động chính vào tăng cường, đầu tư vào thương mại, gián đoạn các chuỗi giá
trị sản xuất quan trọng; suy giảm tiêu dùng,tác động lớn đến dịch vụ và du lịch.
●Tác động đến tình hình tư tưởng:
Khi những ca nhiễm Covid-19 đầu tiên ở Việt Nam có kết quả xét nghiệm
dương tính khiến cả nước lo lắng, bất an. Tuy nhiên, thông qua các phương tiện
truyền thông và qua hoạt động tuyên truyền của các cấp ủy đảng, chính quyền,
tổ chức chính trị - xã hội các cấp, nhận thức của người dân về sự nguy hiểm của
dịch bệnh và các biện pháp phòng, chống dịch bệnh ngày càng được nâng lên,
mỗi người dân đều nêu cao ý thức tự phòng, chống dịch bệnh cho bản thân, gia
đình và cộng đồng; cơ bản thực hiện khai bảo y tế đầy đủ, trung thực. Với tinh
thần “Chống dịch như chống giặc”, đại đa số nhân dân tỉn tưởng vào sự lãnh đạo,
chỉ đạo quyết liệt của các cấp ủy đảng, chính quyền; không hoang mang, dao
động trước những thông tin trái chiều, không chính xác, xác thực.
Bên cạnh sự căng thẳng, lo âu của toàn người dân trước mối nguy hại, thì
trong “tâm bão” của dịch bệnh, đã có rất nhiều các cơ quan, đoàn thể, doanh
nghiệp và cả người dân đã có nhiều hành động đẹp và quyên góp ủng hộ đất
nước trong công tác phòng chống dịch Covid-19. Đặc biệt phải kể đến hình ảnh
những người dân bình dị sẵn sàng bỏ tiền của, công sức để sản xuất, chế tạo và
phát miễn phí khẩu trang, nước khử trùng cho người dân. Những hành động nhỏ
nhưng có ý nghĩa lớn, đầy ắp tình nghĩa của không ít người, từ trẻ em đến người
lớn đã không chỉ đóng góp một phần công sức bé nhỏ, chia sẻ cùng đồng bào,
đồng loại, mà còn tạo ra hiệu ứng tích cực - thắp cháy lên ngọn lửa yêu thương
trong cộng đồng, vì mục đích: “Cùng chung tay đẩy lùi dịch bệnh”. Mỗi hình
ảnh, hành động đẹp được nhân lên từng ngày, được truyền tải qua các phương
tiện truyền thông, gửi đi những thông điệp nhân văn, nghĩa tình. 2
Cuộc chiến chống Covid-19 của Việt Nam đã truyền cảm hứng cho nhiều tầng
lớp trong xã hội. (Nguồn: Báo tuổi trẻ)
2. Đại dịch Covid-19 là gì
COVID-19 (từ tiếng Anh: coronavirus disease 2019 nghĩa là bệnh virus
corona 2019) là một bệnh đường hô hấp cấp tính truyền nhiễm gây ra bởi virus
corona SARS-CoV-2 và các biến thể của nó. Đây là một loại virus được phát
hiện từ khu chợ lớn chuyên bán hải sản và động vật ở Trung Quốc. Ngoài
chủng virus mới phát hiện này, đã có 6 chủng virus khác được biết tới, ngày
nay có khả năng lây nhiễm ở người sang người. Bệnh được phát hiện lần đầu
tiên trong đại dịch COVID-19 cuối năm 2019 và đầu năm 2020.
Hình ảnh minh họa virus corona do CDC Mỹ công bố (Nguồn: Báo nhân dân)
3. Nguồn gốc của 2019-nCoV
Coronavirus 2019 (2019-nCoV) bắt đầu từ Vũ Hán, Trung Quốc. Virus
corona là một betacorona virus, giống như MERS và SARS, tất cả đều có
nguồn gốc từ vật chủ là loài dơi. Virus corona là một họ virus lớn, phổ biến ở
nhiều loài động vật khác nhau bao gồm lạc đà, mèo và dơi. Phân tích cây di
truyền của virus: SARS, một loại virus corona khác xuất hiện lây nhiễm cho
người, bắt nguồn từ loài cầy hương, trong khi MERS, một loại virus corona
khác lây nhiễm cho người, bắt nguồn từ lạc đà. Và hiện nay nhiều người cho 3
rằng nguồn gốc của con virus này đến từ 1 phòng thí nghiệm ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc.
4. Cơ chế lay lan của covid19
Việc lây lan của COVID-19 chủ yếu thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián
tiếp với dịch tiết từ người nhiễm bệnh. Giọt bắn từ hơi thở, hoặc dịch tiết từ
miệng và mũi của người nhiễm bệnh khi họ ho, hắt hơi, nói chuyện hoặc thậm
chí hát có thể chứa virus và lây nhiễm cho người khác nếu tiếp xúc trực tiếp
hoặc qua các bề mặt bị nhiễm bệnh.
Để giảm nguy cơ lây lan, việc duy trì khoảng cách an toàn từ người khác ít
nhất là 1 mét, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn,
và che miệng khi ho hoặc hắt hơi bằng khăn giấy hoặc khuỷu tay là những
biện pháp quan trọng. Đeo khẩu trang cũng được khuyến nghị, đặc biệt khi
không thể duy trì khoảng cách an toàn với người khác.
Những biện pháp này không chỉ giúp bảo vệ bản thân mà còn giúp ngăn chặn
sự lây lan của virus đối với người xung quanh, đặc biệt là trong các khu vực có
nguy cơ cao lây nhiễm hoặc khi tiếp xúc với người mắc bệnh.
COVID-19 chủ yếu lây truyền từ những người đã có triệu chứng, và cũng
có thể xảy ra ngay trước khi họ xuất hiện triệu chứng, khi họ tiếp xúc gần với
những người khác trong thời gian dài. Những trường hợp không có triệu
chứng có thể lây virus sang cho người khác, tuy vậy vẫn chưa rõ mức độ lây
nhiễm, và cần có thêm nghiên cứu về lĩnh vực này.
Hạn chế tiếp xúc với người nhiễm COVID-19, rửa tay kĩ, thường xuyên đồng
thời đeo khẩu trang khi không thể đảm bảo khoảng cách tiếp xúc ít nhất 1 mét
giúp ngăn chặn đường lây nhiễm.
Những người không có triệu chứng cũng có thể bị nhiễm bệnh. Do đó, cần
xác định những người nhiễm bệnh bằng xét nghiệm, cách ly, và chăm sóc y tế,
tùy thuộc vào mức độ nặng của bệnh. Thậm chí người đã được xác định mắc
COVID-19 nhưng không có triệu chứng cũng cần được cách ly để hạn chế tiếp
xúc với những người khác. Các biện pháp này nhằm mục đích ngăn chặn sự lây lan của bệnh.
Luôn giữ khoảng cách tiếp xúc ít nhất 1 mét với những người xung quanh, cần
che miệng bằng mặt trong của khuỷu tay hoặc khăn giấy khi ho hoặc hắt hơi,
rửa tay thường xuyên và hãy ở nhà nếu bạn thấy người không khỏe hoặc khi
được yêu cầu ở nhà. Tại các khu vực dịch bệnh lây lan rộng, người dân cần
đeo khẩu trang vải khi không thể áp dụng các biện pháp giãn cách vật lý và
các biện pháp kiểm soát khác.
Bạn có thể tham khảo thêm thông tin về việc sử dụng khẩu trang ở đây. 4
5. Covid19 có giống virus MERS- Cov hoặc SARS không
Không. virus Corona thuộc một họ virus lớn, và không phải tất cả đều gây
bệnh ở người. Một số loại chỉ tồn tại ở động vật như lạc đà, mèo và dơi.
Không giống với chủng virus gây MERS (từ lạc đà) và SARS (từ cầy hương),
2019-nCoV không phải là chủng virus đã gây ra hai loại bệnh này. Tuy nhiên,
các nghiên cứu di truyền cho thấy 2019-nCoV có thể có quan hệ họ hàng với
virus gây SARS. Các nhà nghiên cứu hiện đang tiếp tục làm việc để xác định
nguồn gốc cụ thể của 2019-nCoV.
6. Diễn biến của đại dịch Covid-19 ở Việt Nam 2020
Trong tháng 3, có sự lan rộng của dịch bệnh trong cộng đồng. Vào ngày 20
tháng 3, Bộ Y tế thông báo về hai trường hợp mới là hai điều dưỡng tại Bệnh
viện Bạch Mai (Hà Nội) với tiền sử không liên quan đến các ca nhiễm trước
đó. Điều này đã thúc đẩy việc tạm dừng nhập cảnh và thực hiện cách ly tập
trung đối với người nhập cảnh vào ngày 22 tháng 3. Việt Nam sau đó áp dụng
giãn cách xã hội từ ngày 1 tháng 4 trong vòng 15 ngày. Nhờ các biện pháp
kiểm soát này, Việt Nam đã duy trì 99 ngày không có ca lây nhiễm trong cộng đồng.
Tuy nhiên, vào tháng 7, một số trường hợp mới xuất hiện tại Đà Nẵng mà
không xác định được nguồn lây. Điều này dẫn đến việc áp dụng giãn cách xã
hội tại thành phố này từ ngày 28 tháng 7. Việt Nam cũng ghi nhận các ca tử
vong đầu tiên từ ngày 31 tháng 7. Các hoạt động vận chuyển công cộng sau đó
được phục hồi từ ngày 7 tháng 9, và Đà Nẵng cũng mở rộng các biện pháp
giãn cách xã hội từ ngày 11 tháng 9. Đến cuối năm, đã có tổng cộng 35 người
tử vong, đa số trong đợt bùng phát thứ hai của dịch 2021
Vào ngày 27 tháng 1, Bộ Y tế Việt Nam nhận thông tin về một công nhân nữ
Việt Nam dương tính với COVID-19 khi nhập cảnh Nhật Bản, được xác định
mắc biến thể Alpha. Sáng ngày 28 tháng 1, bệnh nhân 1552 tại Hải Dương tiếp
xúc với người này, gây lo ngại về nguy cơ lây lan mới. Trong cùng ngày, bệnh
nhân 1553 ở Quảng Ninh cũng xác nhận lây nhiễm trong cộng đồng. Hai tỉnh
này đã nâng cảnh báo, với Chí Linh (Hải Dương) áp dụng giãn cách xã hội sau
khi ghi nhận 72 ca cộng đồng, chấm dứt chuỗi 55 ngày không có lây nhiễm
trong cộng đồng ở Việt Nam. 5
Hải Dương thực hiện cách ly xã hội toàn tỉnh từ sáng ngày 16 tháng 2 đến
hết ngày 2 tháng 3, sau đó chuyển sang giãn cách xã hội theo chỉ thị 15 từ
ngày 3 tháng 3. Bộ Y tế cũng đồng ý nhập khẩu 204.000 liều vaccine phòng
COVID-19 để sử dụng cho nhu cầu cấp bách trong phòng chống dịch, và chiến
dịch tiêm vaccine bắt đầu từ ngày 8 tháng 3. Từ ngày 18 tháng 3 đến 31 tháng
3, Hải Dương đã nới lỏng các biện pháp chống dịch, thực hiện giãn cách xã
hội theo chỉ thị số 19.
Vào cuối tháng 4, Việt Nam phải đối mặt với các chuỗi lây nhiễm COVID-
19 từ người cách ly, khiến chính phủ phải tăng cường mức độ phòng chống
dịch bệnh. Trải qua tháng 5, Việt Nam ghi nhận những đợt bùng phát cao độ
hơn. Ở phía Bắc, các khu công nghiệp ở Bắc Giang, Bắc Ninh ghi nhận các ổ
lây nhiễm. Tại TP.HCM, các ổ dịch liên quan đến Hội Thánh Truyền giáo
Phục Hưng đã buộc thành phố này áp dụng giãn cách xã hội từ ngày 31 tháng
5. Các tỉnh miền Trung và miền Nam cũng ghi nhận các ổ dịch và áp dụng
biện pháp "khẩn cấp" để kiểm soát số ca nhiễm có thể gây quá tải cho hệ thống
y tế. Chính phủ Việt Nam cũng mở cửa nhập thêm một số loại vaccine khác
nhau. Ngày 7 tháng 7, TP.HCM quyết định tăng cường mức độ giãn cách xã
hội bằng việc áp dụng chỉ thị 16 từ 0h ngày 9 tháng 7. Sau hơn 3 tháng áp
dụng chỉ thị 16, gần 20.000 người dân TP.HCM đã tử vong vì COVID-19,
cùng hàng chục nghìn ca nhiễm vẫn chưa được kiểm soát. Tuy nhiên, việc
tiêm vaccine đã có hiệu quả tích cực và tăng cường miễn dịch cộng đồng. Từ
ngày 1 tháng 10, TP.HCM mở cửa trở lại nhiều hoạt động (ngoại trừ các dịch
vụ như quán bar, karaoke, vũ trường, bán vé số, nghi lễ tôn giáo,...) và áp dụng
chỉ thị 18 của thành uỷ TP.HCM. Ngày 11 tháng 10, Chính phủ ban hành Nghị
quyết 128/NQ-CP nhằm "Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả
dịch COVID-19", thay thế cho các chỉ thị trước đó. Tác động Xã hội
Hoạt động xem phim tại rạp cũng bị tạm dừng, một số chương trình truyền
hình buộc phải thay đổi mô hình sản xuất hoặc tạm ngưng phát sóng. Trong
bối cảnh đại dịch COVID-19, đã có những sáng tác nghệ thuật và âm nhạc
nhằm nâng cao ý thức cộng đồng về phòng chống dịch bệnh.
Kỳ thị đã diễn ra trong thời gian này với các đối tượng bị chú ý kỳ thị bao gồm
người Trung Quốc, du khách nước ngoài, và cả người trong nước từ những
vùng có dịch. Có các trường hợp đăng tin giả liên quan đến COVID-19 và việc
cố tình trốn tránh cách ly, thậm chí gian lận và lừa đảo trong thời gian này.
Ngày 22 tháng 4 năm 2020, thông tấn xã Reuters của Vương quốc Liên hiệp
Anh và Bắc Ireland dẫn lời công ty an ninh mạng FireEye cáo buộc nhóm tin
tặc APT32, được cho là do chính phủ Việt Nam hậu thuẫn, đã tấn công vào
các tổ chức thuộc chính quyền Trung Quốc. Tuy nhiên, người phát ngôn Bộ
Ngoại giao Việt Nam đã phủ nhận thông tin này.
Năm 2021, việc phanh phui các vụ tham nhũng liên quan đến việc đấu thầu
bộ kit xét nghiệm của công ty Việt Á đã làm nổi bật vấn đề tham nhũng và sai
phạm trong quản lý đại dịch.
7. Phân tích các tác động của Covid-19 đến nền kinh tế Việt Nam
Sự bùng phát dịch COVID-19 đã mang lại những thách thức chưa từng có,
được dự báo sẽ có những tác động đáng kể đến sự phát triển nền kinh tế Việt
Nam trong năm nay. Dựa trên tình hình hiện tại, chúng tôi tìm hiểu các tác
động tiềm ẩn của đợt bùng phát đại dịch COVID-19 đối với kinh tế Việt Nam.
Nghiên cứu này đi đôi với một mức độ đáng kể các yếu tố không chắc
chắn. Cụ thể là, khi xảy ra đại dịch COVID-19, các dự đoán được kiểm tra lại
và điều chỉnh lại mỗi tuần kể từ khi bắt đầu xảy ra đợt bùng phát đại dịch.
Hơn nữa, nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào các nền kinh tế khác. Do
vậy, các kịch bản và dự đoán liên quan đến các tác động đối với kinh tế Việt
Nam cũng tương quan với các tác động đối với kinh tế của các nước khác sau
đợt bùng phát đại dịch COVID-19.
Chúng tôi hy vọng ấn phẩm này có thể giúp các doanh nghiệp chuẩn bị, đối
phó và vượt qua môi trường đầy rủi ro và biến động.
Việt Nam được cho là một trong số ít quốc gia sẽ tiếp tục tăng trưởng trong
năm 2020, mặc dù những quốc gia khác trên thế giới được dự báo rơi vào suy
thoái. Tuy nhiên, có những dao động đáng kể trong các dự báo hiện tại, nhấn
mạnh những yếu tố không chắc chắn đáng kể vẫn có khả năng xảy ra trong tháng 5/2020. 7
Sau khi gia nhập WTO vào tháng 1 năm 2007, một đặc điểm đáng chú ý của
nền kinh tế Việt Nam trong thập kỷ qua là mối liên kết lớn mạnh và ngày càng
tăng với các nền kinh tế khác, thông qua thương mại và đầu tư. Hai trong số
những động lực quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế trước đó
là: (1) mức độ đầu tư trực tiếp nước ngoài và (2) khả năng xuất khẩu của cả
nước. Hơn 50% giá trị hàng xuất khẩu của Việt Nam nhắm vào các thị trường:
Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên minh châu Âu và Vương quốc Anh.
Kết quả Quý 1 cho đến nay đã hiển thị kết quả hỗn hợp. Việt Nam dường
như có khả năng duy trì tổng mức xuất khẩu đến các thị trường xuất khẩu
trọng yếu. Tuy nhiên, chúng ta có thể hy vọng sẽ thấy tác động mạnh mẽ hơn
trong Quý 2 và Quý 3, vì những số liệu Quý 1 này chưa phản ánh bất kỳ sự
suy thoái nào trong nền kinh tế nói chung hoặc tiêu dùng ở Hoa Kỳ và ở Châu Âu.
Các dự báo gần đây nhất từ WTO, tháng 4 năm 2020, dự báo sự sụt giảm
chưa từng thấy trong thương mại toàn cầu, theo đó giá trị nhập khẩu của Hoa
Kỳ và Châu Âu dự kiến sẽ bị ảnh hưởng đáng kể.
Các báo cáo ngành gần đây dự báo sự sụt giảm chưa từng thấy trong tiêu
dùng: (1) giày dép và may mặc; và (2) điện thoại / thiết bị điện tử tiêu dùng
liên quan khác vào năm 2020. Hầu hết các kịch bản cho hai ngành này hiện dự
kiến sẽ còn giảm trong Quý 2 và Quý 3 của năm 2020, với sự phục hồi dần
đến mức nhu cầu trước khủng hoảng COVID-19 vào cuối năm 2020 và vào Quý 1 năm 2021.
Mặc dù Quý 1 của năm 2020 chỉ cho thấy một tác động nhỏ và hạn chế đối
với nền kinh tế Việt Nam, nhưng điều tồi tệ nhất có thể ở phía trước trong Quý
2 và Quý 3, vì: (1) nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường xuất khẩu chính dự
kiến sẽ phải đối mặt với sự sụt giảm chưa từng thấy; và (2) sẽ có sự cạnh tranh
tăng cường từ Trung Quốc, với việc Trung Quốc sẽ dần trở lại kinh doanh
bình thường trong quý 2. Cả hai yếu tố này đều đặt ra những mối đe dọa đáng
kể đối với cán cân và thặng dư thương mại của Việt Nam cho năm 2020, và
trên lộ trình dần trở lại tình hình trước khi bùng phát COVID 19.
8. Tác động của đại dịch đến nền kinh tế Việt Nam
Sự bùng phát dịch COVID-19 đã mang lại những thách thức lớn và dự báo
sẽ ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế Việt Nam trong năm này. Tuy nhiên,
những dự đoán này thường phải được kiểm tra và điều chỉnh thường xuyên do
tính không chắc chắn của tình hình. Nền kinh tế Việt Nam, tương quan mật
thiết với các nền kinh tế khác, đặc biệt phụ thuộc vào thương mại và đầu tư với các quốc gia khác.
Sau khi gia nhập WTO vào 2007, Việt Nam đã chứng kiến mối liên kết
mạnh mẽ với các nền kinh tế khác thông qua thương mại và đầu tư. Đầu tư 8
trực tiếp nước ngoài và xuất khẩu là hai động lực chính cho sự tăng trưởng
kinh tế. Hơn 50% giá trị hàng xuất khẩu của Việt Nam nhắm vào thị trường
Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên minh châu Âu và Vương quốc Anh.
Mặc dù Quý 1 gần đây cho thấy một sự ổn định tương đối, nhưng Quý 2 và
Quý 3 có thể chứng kiến sự suy thoái do giảm mạnh của nền kinh tế và tiêu
dùng ở Hoa Kỳ và châu Âu, nhất là khi dự báo từ WTO năm 2020 cho thấy sự
suy giảm nghiêm trọng trong thương mại toàn cầu và giá trị nhập khẩu của Hoa Kỳ và châu Âu.
Các ngành như giày dép, may mặc, điện thoại và các sản phẩm điện tử tiêu
dùng dự báo sẽ gặp khó khăn lớn trong năm 2020, với việc suy giảm tiêu dùng
có thể kéo dài đến Quý 2 và Quý 3. Tuy nhiên, dự kiến sẽ có dấu hiệu hồi
phục vào cuối năm 2020 và Quý 1 năm 2021.
Điều tồi tệ nhất có thể đến từ sự giảm sút trong tiêu dùng của các thị trường
xuất khẩu chính và sự tăng cường cạnh tranh từ Trung Quốc, khi họ dần trở lại
kinh doanh bình thường trong Quý 2. Cả hai yếu tố này đều gây ra đe dọa lớn
đối với cán cân thương mại của Việt Nam trong năm 2020 và việc nền kinh tế
trở lại trạng thái bình thường trước khi dịch COVID-19 bùng phát.
9. Giải pháp của các quốc gia trước đại dịch
Các quốc gia đóng của các cửa khẩu hạn chế vận chuyển hàng hóa ra vào để
kiểm soát tình hình dịch bệnh trong và ngoài nước, thực hiện các chỉ thị ở toàn
cầu hạn chế cho người dân ra ngoài đường nếu như không cần thiết. Hỗ trợ
dân và lao động mất nguồn thu nhập theo tháng cải thiện đời sống khó khăn trong dịch.
Trong nước, hỗ trợ nhau trong việc phòng ngừa đẩy lùi dịch bệnh, đồng thời
hỗ trợ quần chúng nhân dân bằng những “ATM gạo, ATM oxy, xe cứu thương
miễn phí ,…” nhanh chóng đưa những liểu vaccine đến người dân nhanh chóng.
Ở mặt trận quốc tế các quốc gia sẵn sàng tiếp ứng lương thực, trang thiết bị
y tế, các y bác sĩ đến những quốc gia bị đại dịch tàn phá trầm trọng, hỗ trợ
nhau nghiên cứu vaccine đẩy lùi dịch bệnh, xây dựng nhiều địa điểm cách ly
những người bệnh, hạn chế con số thương vong.
10. một số ngành bị dịch bệnh tác động
Do tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, cùng việc giãn cách để có thể
phòng chống dịch bệnh hầu hết tất cả cách ngành nghề đều chịu ảnh hưởng khá lớn.
Một số ngành chịu tác động lớn của đại dịch như: du lịch, vận tải,công
nghiệp, công nhiệp chế biến bị tác động mạnh và chịu ảnh hưởng lớn cho
những chỉ thị và những biện pháp phòng ngừa đại dịch hạn chế hoạt động điển
hình như ngành du lịch chịu ảnh hưởng lớn vì không được hoạt dộng 1
khoảng thời gian dài kéo theo những doanh nghiệp hoạt đồng cầm chừng. 9
Về nền cồng nghiệp, xuất khẩu, vận tải do tình hình dịch diễn biến phức tạp
khiến những ngành này không thể hoạt động tối đa, đồng thời dẫn đến vật giá
gia tăng, lượng hàng tồn kho tăng, nguồn lao động không lương hoặc nghỉ
việc khiến năng suất giảm nặng nề.
Về nền công nghiệp chế biến, chế tạo: chế biến thủy sản 70% doanh nghiệp
đóng cửa do thiếu hụt nguồn lao động do không thể đi làm, dịch lần 4 bùng
phát khiến 35% doanh nghiệp của ngành dệt may đóng cửa, hơn 40 ngàn lao
động phía nam làm việc trong điều kiện giản cách. 10.1. Nghành Y Tế :
Trong 4 lần bùng dịch với quy mô lớn nhỏ khác nhau , đưa ra những thử
thách và bài toán khó cho những y bác sĩ , nhưng vì lòng quyết tâm của những
đội ngũ y tế và những người tình nguyện đã góp phần đẩy lùi dịch bệnh và
mang lại những hơi thở cho nhân dân . Có thể nói họ là những người hùng đi
tuyến đầu trong những tháng đấu tranh với dịch bệnh .
Với tình trạng luôn làm việc trong tình trạng quá tải vì số ca nhiễm tăng liên
tục , nhưng vì sự hy sinh và nổ lực thì những người tình nguyện những y bác
sĩ vẫn hoạt động hết công suất để góp phần giúp nước nhà hạn chế tối đa
những rủi ro mà dịch bệnh ảnh hưởng đến nền kinh tế và nhân dân .
Đây cũng là ngành chịu rất nhiều nhũng ảnh hưởng do dịch vì phải đấu tranh
ngày đêm đưa ra những biện pháp vệ sinh phòng ngừa dịch bệnh liên , dù đang
trong hoàn cảnh những nơi cách ly quá tải , trang thiết bị y tế thiếu thốn nhưng
nhờ sự chung tay của toàn thể nhân dân đồng thời những hồ trợ của những
quốc gia khác đã góp phần đẩy lùi và kiểm soát dịch bệnh .
Với tình trạng luôn làm việc trong tình trạng quá tải vì số ca nhiễm tăng liên
tục , nhưng vì sự hy sinh và nổ lực thì những người tình nguyện những y bác
sĩ vẫn hoạt động hết công suất để góp phần giúp nước nhà hạn chế tối đa
những rủi ro mà dịch bệnh ảnh hưởng đến nền kinh tế và nhân dân. 10.2. Ngành nông nghiệp:
Trong những tháng đầu của năm 2020, do ảnh hưởng bệnh dịch tả lợn châu
Phi, mặn xâm nhập, dịch bệnh trên cây trồng cùng với tình hình dịch bệnh
Covid-19 diễn biến phức tạp đã tác động tiêu cực đến ngành nông nghiệp, theo
dự báo tổng giá trị thiệt hại của ngành nông nghiệp trên 1.050 tỷ đồng. Trong
đó , giá trị ngành trồng trọt thiệt hại lên đến 1.002,04 tỷ đồng (sản lượng lúa
mất trắng và gieo sạ không đạt theo kế hoạch giảm 208.495 tấn, tương đương
948,84 tỷ đồng; sản lượng mía giảm 76.000 tấn, tương đương 53,2 tỷ đồng);
giá trị sản xuất ngành thủy sản thiệt hại 48,9 tỷ đồng do diện tích nuôi cá tra
không đạt (giảm 15ha so với kế hoạch dự kiến, giảm sản lượng 3.000 tấn).
Khó khăn trong xuất khẩu hàng hóa và nhập khẩu phụ trợ nông nghiệp. Nhiều
mặt hàng nông nghiệp, chủ yếu là nông - thủy sản xuất khẩu gặp khó khăn 10
trong quý 1/2020 vì đại dịch Covid-19, đầu tiên là thị trường Trung Quốc, sau
đó là thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản và từ đầu tháng 3 là thị trường Mỹ, EU
và ASEAN. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông-lâm sản phẩm 4,5%
thủy sản giảm 11,2%, trong đó có nhiều mặt hàng giảm mạnh như cao su
(-26,1%), rau quả (-11,5%), cà phê (-6,4%) so với năm trước. (nguồn:FPT Digital)
Ngành phụ trợ nông nghiệp chịu ảnh hưởng gián tiếp, thể hiện qua sản
lượng của ngành hóa chất, phân bón, thiết bị nông nghiệp giảm 5% và giá cổ
phiếu ngành hóa chất giảm mạnh 13,8% so với đầu năm.Mặc khác, các doanh
nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp không phải là những doanh nghiệp phát
triển mạnh, bền vững. Do vậy, khi khó khăn xảy ra như dịch bệnh cùng với
hạn hán của đồng bằng sông Cửu Long đã khiến cho 274 doanh nghiệp buộc
phải tạm ngừng hoạt động có thời hạn trong 1/2020, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2019.
10.3. Ngành du lịch và hàng không:
Lĩnh vực dịch vụ chịu tác động mạnh do tổng cầu giảm (cả trong và ngoài
nước). Báo cáo đánh giá, lĩnh vực dịch vụ chịu tác động mạnh do tổng cầu
giảm (cả trong và ngoài nước). Ảnh hưởng trực tiếp và rõ nét nhất là ngành du
lịch ( dịch vụ du lịch, lưu trú, ăn uống và lữ hành). Theo Tổng cục Thống kê,
khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 3/2020 giảm mạnh chỉ đạt gần
450.000 lượt khách, giảm 68,1% so với cùng kỳ năm 2019 và giảm 63,8% so
với tháng 2. Tổng lượt khách của 1/2020 đạt 3,7 triệu lượt khách, giảm 18% so
với cùng kỳ năm 2019. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống trong kỳ dự định
đạt 126.00 tỷ đồng, tương đương 10% tổng doanh thu hoạt động thương mại,
dịch vụ cả nước, giảm 9,6% so với 1/2019; doanh thu du lịch lữ hành 1/2020
ước đạt 7.800 tỷ đồng, chiếm 0,6% tổng mức và giảm 27,8% 11
Lĩnh vực hàng không : Việt Nam là một trong những thị trường hàng không
có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, cao hơn tốc độ trung bình của khu
vực châu Á - Thái Bình Dương theo đánh giá của IATA. Trước Covid-19, thị
trường hàng không Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 16%/năm giai
đoạn 2016 - 2019, trong đó riêng giai đoạn 2016 - 2017 đạt trên 20%/năm.
Theo Hội đồng Sân bay Quốc tế, Việt Nam sẽ là quốc gia tăng trưởng hành
khách nhanh nhất trong giai đoạn 2018-2040, xếp trên Ấn Độ, Trung Quốc và
các quốc gia Đông Nam Á khác như Philippines, Indonesia và Malaysia.Tuy
nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, hoạt động của ngành hàng không bị
ảnh hưởng nặng nề từ năm 2020 đến nay. Tại thị trường quốc tế, từ cuối tháng
3/2020, hoạt động chở khách thường lệ hoàn toàn bị ngưng trệ, các đường bay
quốc tế gần như bị tê liệt, ngoại trừ số lượng ít các chuyến bay chở hàng hóa,
đưa đồng bào hồi hương và chở khách chuyên gia đến làm việc tại Việt Nam.
Tại thị trường nội địa, năm 2020 là giai đoạn khó khăn chưa từng có trước
đó, song năm 2021 lại là một năm khó khăn hơn khi liên tiếp nhiều đợt dịch
bùng phát khiến nhu cầu đi lại sụt giảm, đặc biệt trong các dịp cao điểm của
ngành hàng không là Tết Nguyên đán và hè làm doanh thu của các hãng hàng
không giảm mạnh. Nghiêm trọng nhất là đợt bùng phát từ cuối tháng 4/2021
khiến các hãng hàng không chưa thể khôi phục hoàn toàn hoạt động vận tải
hành khách nội địa. Năm 2020, tổng thị trường hàng không Việt Nam sụt giảm
gần 56% so với năm 2019. Theo tính toán của Vietnam Airlines, dự báo con
số này của năm 2021 sẽ chỉ bằng 40% năm 2020 và 20% năm 2019. Cụ thể,
tổng thị trường ước đạt gần 15 triệu lượt khách, trong đó thị trường quốc tế là
hơn 400 nghìn lượt khách, bằng 1,3% năm 2019, và thị trường nội địa là 14,4
triệu lượt khách, xấp xỉ 39% năm 2019. 12 C. Kết luận
Có thể thấy rằng trong những năm qua, Việt Nam của chúng ta đã phải chịu
nhiều ảnh hưởng của dịch bệnh Covid 19 để lại. Có biết bao đau thương, mất
mát. Đại dịch covid đã và đang ảnh hưởng đến nền kinh tế của cả nước, thậm
trí chúng còn cướp đi hàng ngàn người dân vô tội để lại những tổn thất về mặt
tinh thần cho những người ở lại.
Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 ấy, ta có thể thấy trên các
bài báo hay trên các trang mạng xã hội về “những tấm lòng nhân ái” về sự nổ
lực, chủ động, quyết liệt trong công tác phòng chống dịch, của hệ thống chính
trị, nhiều tổ chức từ thiện trong tỉnh đã góp phần san sẻ , hỗ trợ cho những
hoàn cảnh khó khăn,tạo nên tinh thần đoàn kết toàn dân trong cuộc đẩy lùi
dịch bệnh. Có thể nói sau cơn đại dịch này mọi người đã biết trân trọng những
gì mà mình có được và cố gắng tạo ra nhiều giá trị hơn cho cuộc sống và xã hội.
Đại dịch đã lấy đi của chúng ta quá nhiều nhưng chúng ta vẫn phải cố gắng
nổ lực từng ngày để lấy lại những thứ mà đại dịch đã lấy đi trong suốt vài năm
nó bùng nổ. Và nó cũng đã cho chúng ta thấy được những yếu kém, khuyết
điểm để giờ đây chúng ta có thể khắc phục. 13