














Preview text:
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................2
NỘI DUNG. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .3
I/ LÝ LUẬN CHUNG. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1. Khái niệm về tri thức. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
2. Vai trò của tri thức trong chính trị, văn hoá-giáo dục.............................4
2.1. Vai trò tri thức đối với chính trị....................................................... . . . . . 5
2.2 Vai trò tri thức đối với văn hoá-giáo dục.. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .5
2.3 Vai trò của tri thức trong lĩnh vực khoa học công nghệ................. . . . . . . 5
3. Tri thức trong Kinh tế - Kinh tế tri thức.. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
3.1. Khái niệm về kinh tế tri thức........................................................... . . . . . 6
3.2.Vai trò của tri thức trong nền kinh tế tri thức................................ . . . . . . .6
3.2.1 Tri thức khoa học và công nghệ thúc đẩy đổi mới nền kinh
tế.. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .6
3.2.2 Tri thức nâng cao tính cạnh tranh trong kinh tế.. . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
3.2.3 Tri thức công nghệ, khoa học và thông tin thúc đẩy năng suất, chất
lượng và hiệu quả kinh tế.. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .8
3.2.4 Tri thức chính là nguồn lao động sản xuất trực tiếp.. . . . . . . . . . . . . . . . 9
II/ VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC.................................9
1.Thực trạng xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam
trong thời gian qua. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9 1
2. Những giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở việt nam trong giai đoạn
hiện nay.. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
2.1 Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.. . . . . . . . . . . . . . 11
2.2 Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin.. . . . . . . 12
2.3 Hoàn thiện các thể chế kinh tế, hệ thống pháp luật.. . . . . . . . . . . . . . 12
2.4 Sử dụng có hiệu quả thành tựu của kinh tế tri thức.. . . . . . . . . . . . . 13
3. Nhiệm vụ và trách nhiệm của học sinh, sinh viên trong công cuộc phát
triển kinh tế tri thức.. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .13
KẾT LUẬN............................................................................................................14
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................15 2
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay,kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang bước vào một
thời đại mới, một trình độ mới. Đó là trình độ mà nhân tố quan trọng nhất là việc
chiếm hữu, phân phối nguồn trí lực và việc sáng tạo, phân phối và sử dụng tri thức
trong các ngành kĩ thuật cao. Tiêu chí chủ yếu của nó là lấy tri thức, trí óc làm yếu
tố then chốt để phát triển kinh tế và tồn tại trực tiếp giống như các yếu tố sức lao
động và tài nguyên. Đó là thời đại mà tri thức đã trở thành động lực chủ yếu của sự
phát triển xã hội; tri thức là tài nguyên là tư bản; tri thức là tâm điểm của cạnh
tranh và là nguồn lực dẫn dắt cho sự tăng trưởng dài hạn dẫn tới những thay đổi
lớn trong cách tổ chức sản xuất, cấu trúc thị trường, lựa chọn nghề nghiệp…Tri
thức đã trở thành một tài sản đặc biệt, một nhân tố mang tính quyết định sự phát
triển của kinh tế. Sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức đã thu hút sự quan tâm
của nhiều nhà lãnh đạo và các giới khoa học trên thế giới. Đại hội XI của Đảng
Cộng sản Việt Nam cũng đã khẳng định: “...Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn
với phát triển kinh tế tri thức” và vạch ra lộ trình rõ nét hơn “...Phát huy và sử
dụng có hiệu quả nhất nguồn tri thức của con người Việt Nam và khai thác nhiều
nhất tri thức của nhân loại. Xây dựng và triển khai lộ trình phát triển kinh tế”. [
Văn kiện Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam]
Trong bài tiểu luận này, em xin trình bày khái niệm về tri thức, vai trò của tri
thức trong hoạt động thực tiễn phát triển kinh tế thực trạng kinh tế tri thức ở Việt
Nam và đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng nhằm phát triển kinh tế tri
thức ở Việt Nam hiện nay. 3 NỘI DUNG I/ LÝ LUẬN CHUNG
1.Khái niệm về tri thức.
Tri thức là kết quả quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực,
làm tái hiện trong tư tưởng những thuộc tính, quy luật của thế giới ấy và diễn đạt
chúng dưới hình thức ngôn ngữ hoặc các hệ thống ký hiệu khác.Tri thức là toàn bộ
hiểu biết của con người về hiện thực khách quan ( trong đó còn có thể bao gồm cả
sự hiểu biết của con người về chính những hiểu biết đó – tức là khi đạt tới sự tự ý thức ).
Căn cứ vào lĩnh vực nhận thức, tri thức có thể chia thành nhiều loại như tri
thức về tự nhiên, tri thức về con người và xã hội.
Căn cứ vào trình độ phát triển của nhận thức, tri thức có thể chia thành tri
thức đời thường và tri thức khoa học, tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận, tri
thức cảm tính và tri thức lý tính,…
▪ Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống
hàng ngày trong mối quan hệ vận động giữa con người với thế giới xung
quanh. Tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học.
▪ Tri thức khoa học: là sự hiểu biết được tích lũy có hệ thống nhờ hoạt động
nghiên cứu khoa học một cách tự giác tích cực, theo một mục đích định
trước và được tiến hành bằng các phương pháp khoa học. Tri thức khoa học
là sự khái quát những sự kiện đã được kiểm chứng, được xác lập trên căn
cứ chính xác đã được kiểm nghiệm và có tính ứng dụng cao nhằm tìm ra cái
tất yếu quy luật và bản chất ẩn dấu đằng sau cái ngẫu nhiên và hiện tượng bề
mặt, cái chung nằm sau cái cá biệt và cái riêng. Tri thức khoa học là yếu tố
cơ bản cốt lõi nhất để tạo ra bức tranh chung về thế giới tự nhiên- xã hội và
tư duy trong thức loài người giúp chúng ta chinh phục thế giới theo mục
đích của mình một cách có hiệu quả nhất
2. Vai trò của tri thức trong chính trị, văn hoá-giáo dục. 4
2.1. Vai trò tri thức đối với chính trị
Để điều hành công việc chính trị của một đất nước-quyết định đến vận mệnh
của một quốc gia, ta cần những người có khả năng tư duy lý luận, khả năng phân
tích tiếp cận vấn đề một cách sát thực,đúng đắn. Những người như thế là người có
tri thức vì tri thức đem lại cho con người những sự hiểu biết và kiến thức. Nhờ có
tri thức ta tạo ra các chính sách và quyết định có lợi cho cộng đồng. Các quyết định
này được đưa ra dựa trên việc nghiên cứu và phân tích tri thức có sẵn, từ đó đưa ra
những quyết định đúng đắn và có lợi cho toàn xã hội.
Đại hội VI của Đảng đã khẳng định chiến lược phát triển con người đang là
chiến lược cấp bách và nhấn mạnh: ”Phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ
con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động.” [ Văn kiện Đại hội VI của
Đảng Cộng Sản Việt Nam]
2.2 Vai trò tri thức đối với văn hoá-giáo dục.
Con người hiểu được thế giới xung quanh nhờ những tri thức, kiến thức mà
họ có được. Người có tri thức biết sống theo chuẩn mực đạo đức, biết giữ gìn và
phát huy tinh hoa văn hóa của tổ tiên để lại. Tri thức này được hình thành trên cơ
sở lĩnh hội kiến thức, kĩ năng. Khi một xã hội thiếu những con người am hiểu tri
thức, đạo đức và văn hóa thì xã hội đó bị coi là lạc hậu và không thể phát triển. Tri
thức mang lại một xã hội hội nhập toàn cầu hơn, hiểu biết đa văn hóa và truyền
thống tích cực từ các quốc gia khác, mà con người là một phần thiết yếu trong nỗ
lực tổng thể tốt hơn cho sự phát triển của đất nước.
2.3 Vai trò của tri thức trong lĩnh vực khoa học công nghệ
Tri thức đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra các đột phá khoa học và
công nghệ mới. Tri thức giúp cho con người có thể nghiên cứu, phát triển và ứng
dụng các kỹ thuật mới, từ đó giúp cho sự phát triển của khoa học công nghệ. Nó
cũng giúp cho con người có thể hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan đến khoa học
công nghệ, từ đó giúp cho việc áp dụng các kỹ thuật mới vào cuộc sống trở nên dễ
dàng hơn. Tri thức còn giúp cho con người có thể đưa ra các giải pháp mới, sáng 5
tạo và hiệu quả hơn giải quyết những vấn đề phức tạp và mang lại sự phát triển cho xã hội.
3. Tri thức trong Kinh tế - Kinh tế tri thức.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tri thức là yếu tố quan trọng giúp cho kinh tế
ngày một phát triển, các quốc gia đang cố gắng vận dụng kinh tế tri thức để khẳng
định vị thế của mình. “Kinh tế tri thức nói lên vai trò quyết định của tri thức và
công nghệ đối với phát triển kinh tế, là lực lượng sản xuất trực tiếp.” [ Nguyễn Kế
Tuấn (2004), Phát triển kinh tế tri thức đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 12]
3.1. Khái niệm về kinh tế tri thức
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD định nghĩa: "Nền kinh tế tri thức
là nền kinh tế ngày càng phụ thuộc trực tiếp vào việc sản xuất phân phối và sử
dụng tri thức và thông tin" [ Báo OECD 1996 ]. Theo GS. Đặng Hữu, “Kinh tế tri
thức là nền kinh tế trong đó sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò
quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc
sống” [Đặng Hữu (2004), Kinh tế tri thức, Thời cơ và thách thức đối với sự phát
triển của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 153].
Vậy, có thể nói kinh tế tri thức là nền kinh tế, trong đó khoa học công nghệ
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tố quyết định hàng đầu việc sản xuất
ra của cải, sức cạnh tranh và triển vọng phát triển; Nhân tố quan trọng nhất trong
nền kinh tế kinh thức là việc chiếm hữu, phân phối nguồn trí lực, sáng tạo và sử
dụng tri thức trong những ngành sản xuất có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao.
3.2.Vai trò của tri thức trong nền kinh tế tri thức
3.2.1 Tri thức khoa học và công nghệ t húc đẩy đổi mới nền kinh tế.
Trước đây, con người chủ yếu dựa vào kinh nghiệm tích lũy được thì ngày
nay chủ yếu dựa vào những tri thức khoa học mới. Tri thức của con người đã phát
triển và trở thành những nguyên nhân trực tiếp của sự thay đổi không ngừng về
công nghệ, đổi mới sản phẩm. Tri thức khoa học và công nghệ là l ực lượng sản 6
xuất quan trọng hàng đầu, không tách rời của cả hệ thống kinh tế, hầu như tất cả
các ngành kinh tế đều phải dựa vào tri thức, vào những thành tựu mới nhất của
khoa học công nghệ để phát triển, đ
óng góp lớn cho tăng trưởng GDP, thúc đẩy đổi mới nền kinh tế.
Tốc độ áp dụng và phổ biến các thành tựu khoa học - kỹ thuật và công nghệ
ngày càng cao. Cụ thể như cước phí vận tải biển và phí cảng biển mất đi sáu mươi
năm mới giảm đi một nửa thì cũng trong thời gian ấy cước hàng không giảm đi đến
sáu lần và giá dịch vụ điện thoại giảm đi đến những tám mươi hai lần. Và chỉ trong
vòng ba mươi năm từ năm 1960 đến năm 1990, giá máy tính cũng đã giảm đi một trăm hai mươi lăm lần. K
inh tế mạng trở thành đặc trưng của thị trường mới,
thương mại điện tử đóng vai trò quan trọng, trực tiếp trong quan hệ giữa sản xuất
và tiêu dùng. Tốc độ luân chuyển hàng hóa và tiền tệ tăng lên rất cao. Tổ chức sản
xuất trong nền kinh tế tri thức trở nên linh hoạt hơn và làm biến đổi thị trường
truyền thống. Thuộc tính tốc độ biến đổi nói lên khả năng bắt kịp các nước đi trước
cũng lớn như khả năng bị tụt hậu xa hơn. Vì vậy, việc tiếp cận và trao đổi tri thức ở
phạm vi toàn cầu trong nền kinh tế tri thức có ý nghĩa sống còn, một số quốc gia đã
lựa chọn mô hình “đi tắt” để đổi mới nền kinh tế- chuyển sang nền kinh tế tri thức.
3.2.2 Tri thức nâng cao tính cạnh tranh trong kinh tế.
Tri thức được sản sinh theo cấp số nhân, cứ ba năm tăng gấp đôi. Công nghệ
đổi mới với tốc độ nhanh Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và
truyền thông rút ngắn càng nhanh thời gian chọn lọc, đánh giá, sử dụng và sáng tạo
thông tin, khiến vòng đời của một công nghệ rút ngắn lại và chúng nhanh chóng
trở nên lạc hậu.. Các sản phẩm càng hiện đại thì tốc độ biến đổi giá càng lớn.. Vì
vậy, cạnh tranh trong kinh tế tri thức là cạnh tranh với thời gian và cái quyết định
ra năng lực cạnh tranh đó chính là sự sáng tạo ra cái mới có chất lượng cao hơn,
thời gian đi tới người tiêu dùng nhanh hơn V
. ới nền tảng tri thức to lớn và phong
phú, con người có thể sáng tạo, sáng chế những phát minh những sản phẩm, quy
trình, công nghệ mới, do đó tiềm lực kinh tế tăng lên gấp bội và quyền sở hữu trí
tuệ trở nên quan trọng nhất, hơn cả vốn tài chính, tài nguyên, đất đai. Trong điều
kiện cạnh tranh gay gắt của kinh tế thị trường, sự đổi mới công nghệ, sự năng động 7
nhạy bén với sự thay đổi chính là yếu tố cơ bản tạo nên năng lực cạnh tranh của
mỗi chủ thể, đảm bảo nền tảng cho sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi chủ
thể. “Sáng tạo là linh hồn của sự đổi mới” [GS.TS. Nguyễn Kế Tuấn (2004), Phát
triển kinh tế tri thức đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.15]. Điều này có nghĩa tri thức là
yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc
gia, được coi là động lực của sự phát triển và đầu tư vào nghiên cứu phát minh
ngày càng được xem trọng hơn.
3.2.3 Tri thức công nghệ, khoa học và thông tin thúc đẩy năng suất, chất
lượng và hiệu quả kinh tế.
Mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình, mỗi doanh nghiệp và tổ chức ở các quốc gia có
nhu cầu truy cập thông tin một cách dễ dàng, khai thác, sử dụng thông tin trong các
hoạt động của mình một cách tự nhiên. Chính Internet đã làm thay đổi cách suy
nghĩ, học tập, làm việc, sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý, giao tiếp. Mạng
thông tin trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng nhất của xã hội và nền kinh tế. Nhiều
quốc gia trên thế giới, các nước phát triển và cả những nước đang phát triển đã
xem phát triển công nghệ thông tin là kinh tế mũi nhọn thúc đẩy sự phát triển.
Công nghệ thông tin trực tiếp và nhanh chóng làm thay đổi cơ cấu sản xuất, tạo ra
hàng hóa mới, thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, góp phần tăng trưởng
kinh tế, phục vụ cho nhu cầu học tập, nghiên cứu, giải trí, đồng thời còn là công cụ
hữu hiệu của các tổ chức nhằm phân tích, đưa ra các quyết định điều hành sản xuất
và thương mại. Công nghệ thông tin không nhữnglàm giảm chi phí tài chính, chi
phí thời gian trong việc tìm kiếm thông tin mới, cần thiết mà còn kích thích, tạo
điều kiện cho các phát minh mới về khoa học - công nghệ. Chính những yếu tố trên
sẽ thúc đẩy năng suất, chất lượng và hiệu quả .
3.2.4 Tri thức chính là nguồn lao động sản xuất trực tiếp.
Con người với sức lao động, kinh nghiệm, thói quen, tri thức khoa học và
công nghệ của mình sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để
tạo ra của cải vật chất. Trong quá trình đó, con người cải tạo ra các công cụ hiện 8
có, sáng tạo ra những công cụ mới nhằm đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao hơn. N
guồn lao động tri thức sẽ tạo ra được nhiều sản phẩm mang
giá trị cao, dựa trên ứng dụng khoa học công nghệ. Lao động tri thức đang chiếm tỉ
lệ cao trong quá trình sản xuất. Số lượng nhân viên văn phòng tăng lên sẽ khiến
cho số lượng nông dân, công dân giảm đi, sự cạnh tranh trong thị trường lao động
cũng ngày một tăng cao. Có
thể hiểu tri thức chính là nguồn vốn vô hạn, không bị
hao mòn, mất đi mà còn được nâng cao, tích lũy trong quá trình làm việc. Vì vậy,
tri thức chính là nguồn lao động sản xuất trực tiếp trong kinh tế.
II/ VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC
1.cThực trạng xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong thời gian qua.
Kinh tế tri thức là vận hội để chúng ta đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa .Nước ta không thể chần chừ, bỏ lỡ cơ hội lớn đó, mà phải đi nhanh vào kinh tế
tri thức để rút ngắn khoảng cách với các nước khác. Chúng ta phải nắm bắt, khai
thác, sử dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật, công nghệ hiện đại và những yếu
tố của nền kinh tế tri thức, với phương châm tăng tốc, đi tắt đón đầu, bỏ qua lối
mòn mà các nước đi trước đã vượt qua. “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải thực
hiện đồng thời hai nhiệm vụ: chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công
nghiệp và từ một nền kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức”[ Đảng Cộng sản
Việt Nam (2001), Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IX. Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.64].
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới về chỉ số kinh tế tri thức của Việt
Nam, năm 2012 Việt Nam đứng thứ 104 tăng 9 bậc trong bảng xếp hạng KEI (kinh
tế tri thức)so với thứ hạng 113 ở năm 2000 nhờ có những tiến bộ trong tiêu chí cải
tiến kỹ thuật và công nghệ thông tin (ICT), nhưng lại sụt mất 4 hạng so với thứ hạng 100 vào năm 2010.
Về Giáo dục và đào tạo: So với Châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam hầu
như đứng thấp hơn ở tất cả khía cạnh: từ chất lượng quản lý các trường, đào tạo
cán bộ và giáo dục trung học mặc dù số công nhân có tay nghề nhìn chung có 9
chuyển biến tăng trong vài năm gần đây. Tất cả các tỉnh thành trong cả nước được
công nhận chuẩn quốc gia về xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo
dục trung học sơ sở. Tuy nhiên, khoảng cách phát triển giáo dục và đào tạo giữa
các vùng trong nước chưa được thu hẹp, giáo dục ở những vùng sâu, vùng xa còn
nhiều khó khăn và khoảng cách khá lớn với thành thị. Một bộ phận học sinh, sinh
viên còn học tập một cách thụ động, chưa tư duy độc lập, sáng tạo và thiếu vận
dụng kiến thức vào cuộc sống. Chương trình đào tạo còn nặng lý thuyết, nhẹ ứng
dụng, thực hành; phương tiện giảng dạy một số nơi nhất là vùng sâu, vùng xa còn thiếu thốn.
Về sáng tạo: Khi Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, số viện
nghiên cứu tăng đáng kể. Bài báo khoa học có tăng, nhưng đa số được công bố trên
các ấn bản Việt Nam mà rất ít ấn phẩm quốc tế. Mặt khác, sự gia tăng con số nhà
khoa học lại không dẫn tới nhiều phát minh như năng lực có thể.
Về công nghệ thông tin, truyền thông: Hạ tầng viễn thông Việt Nam đã đạt
chuẩn quốc tế. Số thuê bao điện thoại và internet tăng rộng trong phạm vi cả nước.
Thương mại điện tử được đại đa số các doanh nghiệp khu vực thành thị ứng dụng.
Lao động và năng suất lao động trong ngành công nghiệp – công nghệ thông tin
tăng mạnh trong những năm gần đây.
Về Môi trường kinh doanh và thể chế: Từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt
Nam , đã chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
với nhiều thành phần kinh tế và hình thức sở hữu. Hiện nay, với chính sách đổi
mới, cải cách các thủ tục hành chính trở lên đơn giản hóa và cụ thể,... đã thu hút
nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước vào nền kinh tế Việt Nam, bổ sung nguồn
vốn lớn vào ngân sách nhà nước, góp phần điều tiết vĩ mô, tăng trưởng kinh tế.
Việt Nam gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO) góp phần nâng cao vị
thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tu
y nhiên, Việt Nam vẫn chỉ được xếp hạng
thấp trên các tiêu chí về quản trị, nhất là về nạn tham nhũng, thực thi luật pháp.
WB đánh giá Việt Nam đã phát triển nhanh chóng bằng cách tận dụng toàn cầu hóa
và đã thành công trong việc tìm kiếm, lĩnh hội và vận dụng kiến thức toàn cầu cho
nhu cầu đất nước. “Tuy nhiên, đa số tăng trưởng này có được qua đầu tư hơn là 10
qua sáng tạo, và nhiều chỉ số kinh tế tri thức vẫn còn thấp so với trung bình cả ở
mức khu vực lẫn thế giới. Việt Nam vẫn đứng trước nhiều thách thức trong xây
dựng nền kinh tế tri thức” [ Báo cáo của WBI ]
2. Những giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở việt nam trong giai đoạn hiện nay.
2.1 Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
“Phát triển nguồn nhân lực chính là phát huy nhân tố con người, gia tăng
toàn diện giá trị con người trên các mặt trí tuệ, đ
ạo đức, thể lực, năng lực lao
động, sáng tạo và bản lĩnh chính trị, năng lực làm chủ những tiến bộ về công nghệ
và tri thức khoa học tiên tiến.” [GS,TS. Nguyễn Trọng Chuẩn (2002), Công nghiệp
hóa hiện đại hóa ở Việt Nam, Lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.4]. Tr
ước yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế,
để đi tắt đón đầu, phát triển kinh tế tri thức ở nước ta, trong lĩnh vực giáo dục và
đào tạo, phát triển nguồn nhân lực của chúng ta còn một số bất cập yếu kém so với
các nước trong khu vực và thế giới như đã phân tích trên. Vì vậy, trong lĩnh vực này chúng ta cần:
• Xây dựng nền giáo dục theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội hóa”
• Hiện đại hóa phương pháp đào tạo, phương pháp giảng dạy, tránh nhồi
nhét, học vẹt, đào tạo tư duy sáng tạo và năng lực sáng tạo của con người.
• Gắn chặt giáo dục - đào tạo với thực tiễn sản xuất và đời sống: Ứng
dụng, nghiên cứu khoa học trong nhà trường, học sinh sinh viên. Tổ
chức cho sinh viên đi thực tế, thực tập, thực hành tại các doanh nghiệp.
• Cơ sở vật chất, trường lớp, trang thiết bị đảm bảo cho các cấp học,
bậc học: Hiện đại hóa phương tiện dạy và học, cần có c hính sách đầu tư
cơ sở vật chất, ngân sách cho giáo dục ở các vùng nông thôn, vùng núi.
• Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo. 11
• Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, chăm sóc, phát triển năng khiếu, tài năng 2.2 X
ây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin.
• Huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế.
• Thực hiện tốt bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp.
• Chính phủ có chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ(CNHT).
• Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, động lực mạnh mẽ
thúc đẩy đổi mới mọi lĩnh vực đi nhanh vào kinh tế tri thức.
• Phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, mạng viễn thông và internet, nâng
cao nhanh mức độ sẵn sàng kết nối mạng.
• Các doanh nghiệp phát triển, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin,
thương mại điện tử trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hải quan, hàng không,. .
• Ứng dụng công nghệ thông tin cho phát triển nông thôn. Cần đưa tri thức và
thông tin về cơ sở, cho dân vùng sâu, vùng xa, các vùng khó khăn.
• Ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong các cơ quan Đảng, nhà
nước,phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới nâng cao năng suất lao
động, giảm chi phí hoạt động.
2.3 Hoàn thiện các thể chế kinh tế, hệ thống pháp luật.
• Hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa và xử lý triệt để hành vi vi
phạm pháp luật trong kinh doanh, tài chính. Nhấn mạnh các vấn đề về sở
hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, bản quyền. Có chính sách thuế phù hợp
để khuyến khích đầu tư, thúc đẩy kinh tế phát triển.
• Có chính sách phát triển và trọng dụng nhân tài, tránh chảy máu chất xám.
• Hiện đại hóa hành chính, cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy
trình, thực hiện tốt cơ chế một cửa và rút gọn thời gian giải quyết các công việc 12
2.4 Sử dụng có hiệu quả thành tựu của kinh tế tri thức.
• Sử dụng tri thức mới, công nghệ mới đẩy nhanh dịch chuyển cơ cấu và tốc độ tăng trưởng.
• Sử dụng tri thức để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn, thúc đẩy hình thành và phát triển nền nông nghiệp tri
thức. Đưa thông tin và tri thức về nông thôn để nâng cao dân trí, giúp người
dân nắm bắt những tri thức mới cần thiết cho sản xuất, cho đời sống.
• Sử dụng tri thức để cải tạo và đổi mới các ngành công nghiệp, dịch vụ truyền thống.
3. Nhiệm vụ và trách nhiệm của học sinh, sinh viên trong công cuộc phát triển kinh tế tri thức.
Con người trong nền kinh tế tri thức là con người sáng tạo, không là một bộ
phận của hệ thống máy móc trên dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp. Vì vậy,
học tập trở thành nghĩa vụ của mỗi người. Mỗi người đều phải tự học tập, tiếp thu
tri thức mới, có thể biến tri thức chung của nhân loại thành cái của mình. Mỗi
người phải chuyển hóa tri thức thành kỹ năng. Để không ngừng trau dồi kỹ năng,
phát triển trí sáng tạo, mọi người có nghĩa vụ và tự giác học tập, học thường xuyên,
học ở trường, học trên mạng và cả xã hội học tập, học tập suốt đời. Tổ chức giáo
dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã nêu lên bốn trụ cột
của giáo dục, xem đó như một trong bốn chìa khóa để bước vào thế kỷ XXI: học để
biết, học để lao động, học cách chung sống và học cách tồn tại. 13 KẾT LUẬN
Trong hơn nửa thế kỉ qua, tri thức nước ta phát triển rất nhanh cả về số lượng
lẫn chất lượng. Ngay nay tri thức có mặt trong hầu hết các lĩnh vực hoạt động xã
hội. Tri thức không những trong các ngành giáo dục, văn hoá,khoa học mà còn
tham gia vào nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong lĩnh vực kinh tế quốc doanh.
Kinh tế tri thức đã bắt đầu xuất hiện từ hai thập kỷ qua, trong các nền kinh tế
phát triển trên thế giới đang diễn ra rất nhiều chuyển biến rất đáng quý. Các hoạt
động kinh doanh, thương mại, cách tổ chức sản xuất, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao
động, vị trí con người trong sản xuất… đều có những thay đổi to lớn. Tri thức và
công nghệ đã trở thành yếu tố quyết định nhất của sản xuất quan trọng hơn so với
vốn, tài nguyên và lao động. Nền kinh tế tri thức tạo ra nhiều cơ hội mới, nhưng
đồng thời cũng đặt ra nhiều thử thách với các nước đang phát triển : đó là nền kinh
tế dựa trên nền khoa học công nghệ tiên tiến và xa lộ thông tin hiện đại, có năng
suất chất lượng hiệu quả, tốc độ tăng trưởng cao, dịch chuyển cơ cấu nhanh và
không ngừng đổi mới. Song, đây là nền kinh tế mang nhiều tính rủi ro, linh hoạt,
biến động. Do đó không có năng lực sáng tạo, trì trệ, không đổi mới thì sẽ bị thất
bại, bị đè bẹp trong cuộc cạnh tranh Với tiềm năng trí tuệ, tinh thần sáng tạo, ý chí
và bản lĩnh kiên cường của dân tộc Việt Nam, phát huy tính ưu việt của chế độ
XHCN, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, tiếp tục công cuộc đổi mới, chúng ta
nhất định sẽ thực hiện thành công nhiệm vụ từng bước phát triển nền kinh tế dựa
vào tri thức, rút ngắn khoảng cách CNH & HĐH, đạt mục tiêu dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phát triển kinh tế tri thức đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Kinh tế tri thức, Thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam, Lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Tạp chí kinh tế và phát triển - Số chuyên đề của kinh tế Mac-Lênin (Tháng 11/2001).
5. Tạp chí Kinh tế và Phát triển - Số 48/2001.
6. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng Sản Việt Nam.
7. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng Sản Việt Nam.
8. Tạp chí Khoa học Trường Đại Học Mở TP.HCM - SỐ 8 (3) 2013. 9. OECD 1996. 15