Lời cảm ơn
Lời mở đàu
Phần 1: sở thuyết
1.1. Khái niệm về lạm phát
1.2. Phân loại lạm phát
1.3. Nguyên nhân dẫn đến lạm phát
1.4. Tác động của lạm phát
1.4.1. Tác động tích cực
1.4.2. Tác động tiêu cực
1.5.1. Kích thích tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu áp dụng hình VECM từ dữ liệu chỉ số lạm phát tăng
trưởng kinh tế theo thời gian với tần suất năm, được thu thập trong giai đoạn từ
1989 đến 2016 để kiểm định tính dừng, đồng liên kết kiểm định nhân quả
Granger, qua đó đánh giá mối quan hệ giữa lạm phát với tăng trưởng kinh tế dự
báo ngưỡng lạm phát mục tiêu các nhà kinh tế học đã phát hiện ra mối tương quan
mật thiết giữa 2 yếu tố này.
Nếu tốc độ phát triển kinh tế phù hợp với lượng cung tiền, hiện tượng
người người nhà nhà “đổ xô” đầu sẽ không diễn ra, lượng tiền trên thị trường
được giữ ổn định nhờ đó thể tránh được tình trạng lạm phát nếu các yếu tố cố
liên quan đến lạm phát không tác động lên nền kinh tế.
1.5.2. Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ hay chính sách quản lưu thông tiền tệ phương tiện
của các quan quản tiền tệ nhà nước ( ngân hàng trung ương) nhằm quản
lượng cung tiền nhằm hướng đến một lãi suất nhờ đó đạt được mức ổn định
tăng trưởng kinh tế phù hợp,… Các công cụ để đạt được mục tiêu này gồm: thay
đổi lãi suất chiết khẩu, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, các nghiệp vụ thị trường
mở. Với mục tiêu chủ chốt lượng cung tiền lãi suất thì lạm phát chính một
trong những đối tượng được quan quản tiền tệ nhà nước quan tâm hàng đầu.
Việc kiểm soát lạm phát cũng một trong những ưu tiên lớn của các nhà kinh tế.
1.5.3. Tỷ giá hối đoái cố định
Tỷ giá hối đoái tỷ giá trao đổi ngoại tệ tỷ giá Forex tỷ (còn được gọi , ,
giá FX hoặc Agio) giữa hai tiền tệ tỷ giá tại đó một đồng tiền này sẽ được
trao đổi cho một đồng tiền khác. cũng được coi giá cả đồng tiền của một
quốc gia được biểu hiện bởi một tiền tệ khác
Dưới một chế độ tỷ giá hối đoái cố định, đồng tiền của một quốc gia được
gắn về giá trị với một đồng tiền khác hoặc một rổ tiền tệ khác (hoặc đôi khi đến
một thước đo giá trị, chẳng hạn như vàng). Một tỷ giá hối đoái cố định thường
được sử dụng để ổn định giá trị đồng tiền, đối diện đồng tiền cố định vào.
cũng thể được sử dụng như một phương tiện để kiểm soát lạm phát. Tuy
nhiên, giá trị của đồng tiền tham chiếu tăng lên hạ xuống, do đó, đồng tiền
không ổn định so với nó. Điều này về bản nghĩa tỷ lệ lạm phát của ớc
chế độ tỷ giá hối đoái cố định bị xác định bởi tỷ lệ lạm phát của nước đồng
tiền này cố định vào. Ngoài ra, tỷ giá hối đoái cố định ngăn chặn chính phủ trong
việc sử dụng chính sách tiền tệ trong nước để đạt được sự ổn định kinh tế mô.
1.5.4. Bản vị vàng
Bản vị vàng một hệ thống tiền tệ trong đó phương tiện trao đổi phổ biến
của một vùng tiền giấy thường thể chuyển đổi tự do với một lượng cố
định được đặt ra từ trước của vàng. Bản vị này quy định cụ thể cách sự ủng hộ
vàng sẽ được thực hiện, bao gồm cả số lượng tiền vàng trên một đơn vị tiền tệ.
Loại tiền tệ chính không giá trị , nhưng được chấp nhận bởi các bẩm sinh
thương nhân thể được hoàn trả lại cho tiền vàng tương đương. Một
Mỹ chứng nhận bạc, dụ, thể được hoàn trả cho một phần bạc thực tế.
1.5.5. Kiểm soát tiền lương giá cả
Một phương pháp khác đã được thử trong quá khứ kiểm soát tiền lương giá
cả (chính sách thu nhập). Việc kiểm soát tiền lương giá cả kết hợp với phân phối
đã thành công trong môi trường chiến tranh. Tuy nhiên, việc sử dụng chúng trong các
bối cảnh khác hỗn hợp hơn rất nhiều. Thất bại đáng chú ý của việc sử dụng bao
gồm áp đặt kiểm soát tiền lương giá cả năm 1972 bởi Richard Nixon. dụ thành
công hơn bao gồm Hòa ước giá cả thu nhập tại Úc Thỏa hiệp Wassenaar tại
Lan.
Nói chung, kiểm soát tiền lương giá cả được coi một biện pháp tạm thời
đặc biệt, chỉ hiệu quả khi kết hợp với các chính sách được thiết kế để làm giảm
những nguyên nhân bản của lạm phát trong chế độ kiểm soát tiền lương giá cả,
dụ, chiến thắng cuộc chiến đang chiến đấu. Chúng thường tác dụng hỏng, do
các tín hiệu méo chúng gửi cho thị trường. Giá thấp giả tạo thường gây ra
phân phối sự thiếu hụt khuyến khích đầu trong tương lai, dẫn đến tình trạng
thiếu nhưng xa hơn. Phân tích kinh tế thông thường bất kỳ sản phẩm hoặc dịch vụ
dưới giá đều được tiêu thụ quá nhiều. dụ, nếu giá chính thức của bánh
quá thấp, sẽ quá ít bánh với giá chính thức, quá ít đầu trong việc làm
bánh của thị trường để đáp ứng nhu cầu trong tương lai, do đó làm trầm trọng thêm
các vấn đề trong lâu dài.
1.5.6. Kiểm soát giá
Chính phủ thể áp dụng các biện pháp kiểm soát giá cả đối với một số mặt hàng
thiết yếu, dụ như xăng dầu, lương thực.
Tuy nhiên, việc kiểm soát giá cả cần được thực hiện một cách thận trọng để tránh gây
ra những tác động tiêu cực đến thị trường.
1.5.7. Nâng cao năng suất lao động
Việc nâng cao năng suất lao động sẽ giúp tăng cung hàng hóa dịch vụ, từ đó giúp
giảm bớt áp lực lên giá cả. Chính phủ thể hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc nâng
cao năng suất lao động bằng cách cung cấp các chương trình đào tạo, nghiên cứu và
phát triển.
1.5.8. Trợ cấp chi phí sinh hoạt
Sức mua thực tế của các khoản thanh toán cố định đang bị xói mòn bởi lạm
phát trừ khi chúng được điều chỉnh lạm phát để giữ giá trị thực sự không đổi.
nhiều nước, hợp đồng lao động, trợ cấp hưu trí, các quyền lợi của chính phủ (ví
dụ như an sinh hội) được gắn với một chỉ số chi phí sinh hoạt, thường đến chỉ
số giá tiêu dùng. Một (COLA) điều chỉnh lương dựa trên trợ cấp chi phí sinh hoạt
những thay đổi trong chỉ số chi phí sinh hoạt. Tiền lương thường được điều chỉnh
hàng năm trong nền kinh tế lạm phát thấp. Trong khi lạm phát phi được
điều chỉnh thường xuyên hơn. Chúng cũng thể được gắn với một chỉ số giá sinh
hoạt thay đổi theo vị trí địa khi di chuyển nhân viên.
Phần 2: Tình trạng lạm phát Mỹ
2.1. Tình hình lạm phát trên thế giới hiện nay
Năm 2024, lạm phát bình quân toàn cầu được dự báo sẽ giảm xuống 5,8%, từ mức
6,8% của năm 2023...
Trên toàn cầu, tình hình lạm phát đang xu hướng hạ nhiệt. Tuy nhiên, các nhà phân
tích nhận định vẫn nguy xảy ra một làn sóng lạm phát tăng mạnh do xung đột địa
chính trị gián đoạn chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, thị trường lao động mạnh hơn dự
báo cũng thể thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng, từ đó đẩy giá cả leo thang.
Năm 2024, lạm phát bình quân toàn cầu được dự báo sẽ giảm xuống 5,8%, từ mức 6,8%
của năm 2023. IMF nhận định áp lực giá cả trên thế giới sẽ giảm bớt khi các quốc gia duy
trì chính sách tiền tệ thắt chặt, giá năng lượng giảm, cùng với thị trường lao động mạnh.
2.2. Tình tình lạm phát Mỹ vừa qua hiện nay
2.2.1. Tình hình lạm phát của Mỹ vừa qua
2.2.2. Tình hình lạm phát của Mỹ hiện nay (2024)
Biểu đồ thể hiện CPI của nước Mỹ cuối năm 2023 đầu năm 2024
Theo hãng tin CNBC, báo cáo ra ngày 12/3/2024 của Cục Thống Lao động Mỹ (BLS)
cho thấy chỉ số giá tại Mỹ, thước đo phổ biến về giá cả hàng hóa dịch vụ, tiêu dùng
tăng 0,4% trong tháng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng của tháng 2 đúng
như kỳ vọng trước đó, nhưng tỷ lệ lạm phát tính theo năm thì cao hơn một chút so với
mức dự báo 3,1% từ một cuộc thăm ý kiến của Dow Jones.
Loại trừ giá thực phẩm năng lượng thì CPI bản tăng 0,4% trong tháng 2 tăng
3,8% theo năm. Cả hai đều cao hơn 1/10 điểm phần trăm so với dự báo.
Chi phí năng lượng tăng 2,3% đã làm gia tăng mức lạm phát toàn phần. Chi phí thực
phẩm không đổi trong tháng, trong khi chi phí về nhà tăng thêm 0,4%.
Báo cáo của BLS chỉ ra, mức tăng giá của năng lượng nhà chiếm hơn 60% tổng mức
tăng. Xăng tăng 3,8% trong tháng 2 trong khi giá thuê nhà tăng 0,4%.
Tại Mỹ, tăng trưởng kinh tế chậm lại được nhận định sẽ nguyên nhân giúp giảm lạm
phát về mức 2,6% năm 2024. Con số này gần với mức mục tiêu lạm phát 2% của Cục Dự
trữ Liên bang Mỹ (Fed) khi liên tục tăng lãi suất trong năm qua. Fed đã phát tín hiệu
rằng những điều tồi tệ nhất đã qua, nhưng nền kinh tế lớn nhất thế giới vẫn tiềm ẩn những
nguy thể đẩy lạm phát tăng lên. Tính tới tháng 11/2023, lượng tiền tiết kiệm
thừa (excess savings) cộng dồn của các hộ gia đình Mỹ 290 tỷ USD số tiền này
thể tiếp tục đẩy nhu cầu tiêu dùng từ đó kéo lạm phát đi lên.
2.3. Nguyên nhân lạm phát Mỹ
Lạm phát Mỹ đang mức cao nhất trong 40 năm qua, với tỷ lệ tăng 7,5% so với
cùng kỳ năm ngoái vào tháng 1 năm 2023. nhiều yếu tố góp phần vào tình trạng này,
bao gồm:
1. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao:
Sau đại dịch COVID-19, người dân Mỹ xu hướng bắt đầu chi tiêu nhiều hơn cho
hàng hóa dịch vụ, dẫn đến nhu cầu tăng cao. Sự tăng lên của cầu nhưng lại không
sự thay đổi của cung làm cho thiếu hụt hàng hóa từ đó đẩy giá của các sản phẩm hàng
hóa, dịch vụ. Không chỉ dừng lại đó, ngày 13/2, Quốc hội Mỹ đã chính thức thông qua
lần cuối kế hoạch kích thích kinh tế trị giá 787 tỷ USD, nhằm đưa kinh tế nước này thoát
khỏi cuộc khủng hoảng tồi tệ hiện nay, các gói kích thích kinh tế này cũng góp phần gia
tăng nhu cầu tiêu dùng.
2. Gián đoạn chuỗi cung ứng:
Trong những năm gần đây, ta đã chứng kiến hai sự kiến lớn ảnh hưởng mạnh mẽ
đến nền kinh tế của thế giới nói chung nước Mỹ nói riêng đó đại dịch COVID-19 và
chiến tranh Nga-Ukraine. Hai biến cố nói trên gây ra nhiều gián đoạn cho chuỗi cung ứng
toàn cầu, khiến cho việc vận chuyển hàng hóa trở nên khó khăn đắt đỏ hơn. Việc đứt
gãy của chuỗi cung ứng sẽ làm cả một quy trình bị chậm lại làm cho thời gian sản xuất
một đơn vị hàng hóa tăng lên cộng hưởng với việc thiếu hụt nguồn cung làm giá các
sản phẩm hàng hóa, dịch vụ bị “thổi phồng”.
3. Giá năng lượng tăng:
Trong quý đầu của năm 2024 tại Mỹ, theo trang tin trực tuyến Vaultelectricity,
nhiều bang mức giá tăng cao, trong đó bang tăng hơn 27,47 USD/kWh
(tương đương 6.810 đồng/kWh). Người tiêu dùng Mỹ đối mặt với hóa đơn tiền
điện tăng do giá khí đốt tự nhiên biến động, thời tiết khắc nghiệt. Một trong
những nguyên nhân chính dẫn đến sự tăng giá của năng lượng vật liệu thô
chính do cuộc chiến giữa Nga Ukraine. Giá dầu mỏ khí đốt tự nhiên tăng cao
do nhiều yếu tố, bao gồm nhu cầu tăng cao, gián đoạn chuỗi cung ứng căng thẳng địa
chính trị. Ngoài ra, việc giá xăng tăng cao cũng “đẩy” chi phí sản xuất do vậy ảnh ởng
đến giá cả của nhiều hàng hóa dịch vụ khác.
4. Mức lương tăng:
Với tình trạng khủng hoảng kéo dài, nguồn nhân lực khan hiếm, để cung cấp nguồn
nhân lực cho bộ máy sản xuất buộc các doanh nghiệp phải tăng mức lương để thu hút
thêm nhân lực. Việc tăng mức lương lên đồng nghĩa với việc người lao động sẽ nhiều
tiền hơn để chi tiêu cho hàng hóa dịch vụ. Với nhu cầu tăng cao, việc tăng giá hàng
hóa dịch vụ điều khó tránh khỏi nếu tình trạng này tiếp diễn trong thời gian dài tình
trạng lạm phát sẽ ngày càng trở nên “trầm kha”
5. Kỳ vọng lạm phát:
Kỳ vọng lạm phát cao thể khiến người tiêu dùng doanh nghiệp dự đoán giá
cả sẽ tiếp tục tăng trong tương lai, dẫn đến việc họ tăng chi tiêu đầu ngay bây giờ,
càng làm cho lạm phát tăng cao hơn.
Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng thể góp phần vào lạm phát Mỹ, bao gồm:
Giá nhà đất tăng cao
Giá thực phẩm tăng cao
Chính sách tiền tệ nới lỏng của Cục Dự trữ Liên bang (Fed)
Phần 3: Các giải pháp kiềm chế phạm phát
3.1. Những thuận lợi khó khăn
3.1.1. Thuận lợi:
Nền kinh tế Mỹ sức phục hồi mạnh mẽ: Nền kinh tế Mỹ nền kinh tế lớn nhất thế
giới với sức phục hồi mạnh mẽ. Điều này giúp cho Mỹ nhiều địa để thực hiện các
chính sách kiềm chế lạm phát không ảnh hưởng quá nhiều đến tăng trưởng kinh tế.
Hệ thống tài chính Mỹ phát triển: Hệ thống tài chính Mỹ phát triển hiệu quả giúp
cho việc truyền tải chính sách tiền tệ đến nền kinh tế diễn ra nhanh chóng hiệu quả.
Sự tin tưởng của công chúng vào chính phủ: Người dân Mỹ niềm tin cao vào chính
phủ các tổ chức tài chính. Điều này giúp cho việc thực hiện các chính sách kiềm chế
lạm phát dễ dàng hơn.
3.1.2. Khó khăn:
Lạm phát nhiều nguyên nhân:
Để giải quyết vấn đề lạm phát, các nhà hoạch định cần xác định nguyên nhân chính và
chủ đạo gây ra lạm phát để đưa ra những biện pháp khắc Lạm phát Mỹ hiện nay
nhiều nguyên nhân, bao gồm nhu cầu tiêu dùng tăng cao, gián đoạn chuỗi cung ứng, giá
năng lượng tăng cao, mức lương tăng. Việc giải quyết tất cả các nguyên nhân này
một thách thức lớn.
Tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế: Việc thực hiện các chính sách kiềm chế
lạm phát, đặc biệt việc tăng lãi suất, thể ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.
Rủi ro suy thoái kinh tế: Nếu các chính sách kiềm chế lạm phát được thực hiện quá
mạnh tay, thể dẫn đến nguy suy thoái kinh tế.
Sự phản đối của các nhóm lợi ích: Các nhóm lợi ích, dụ như các doanh nghiệp
người lao động, thể phản đối các chính sách kiềm chế lạm phát những chính sách
này thể ảnh hưởng đến lợi ích của họ.
Ngoài ra, còn một số khó khăn khác như:
Khó khăn trong việc dự đoán xu hướng lạm phát: Việc dự đoán xu hướng lạm phát
một việc khó khăn, do đó, việc thực hiện các chính sách kiềm chế lạm phát cũng thể
gặp nhiều rủi ro.
Sự bất đồng giữa các nhà hoạch định chính sách: thể sự bất đồng giữa các nhà
hoạch định chính sách về cách thức kiềm chế lạm phát. Điều này thể làm chậm quá
trình thực hiện các chính sách.
3.2. Các giải pháp chính sách của Mỹ
Chính phủ Mỹ Fed đang thực hiện một số biện pháp để kiềm chế lạm phát, bao
gồm:
Tăng lãi suất
Giảm chi tiêu ngân sách
Giải quyết các gián đoạn chuỗi cung ứng
Kết luận
Tài liệu tham khảo
https://tapchitaichinh.vn/quan-he-giua-tang-truong-kinh-te-voi-lam-phat-va-du-bao-
nguong-lam-phat-phu-hop-cho-viet-nam.html
https://www.uef.edu.vn/newsimg/tap-chi-uef/2015-03-04-21/4-so-21.pdf
https://vnexpress.net/lam-phat-my-tiep-tuc-tang-toc-4721539.html

Preview text:

Lời cảm ơn Lời mở đàu
Phần 1: Cơ sở lý thuyết 1.1. Khái niệm về lạm phát 1.2. Phân loại lạm phát 1.3.
Nguyên nhân dẫn đến lạm phát 1.4.
Tác động của lạm phát
1.4.1. Tác động tích cực
1.4.2. Tác động tiêu cực 1.5.
Các giải pháp kiềm thế lạm phát
1.5.1. Kích thích tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu áp dụng mô hình VECM từ dữ liệu chỉ số lạm phát và tăng
trưởng kinh tế theo thời gian với tần suất năm, được thu thập trong giai đoạn từ
1989 đến 2016 để kiểm định tính dừng, đồng liên kết và kiểm định nhân quả
Granger, qua đó đánh giá mối quan hệ giữa lạm phát với tăng trưởng kinh tế và dự
báo ngưỡng lạm phát mục tiêu các nhà kinh tế học đã phát hiện ra mối tương quan
mật thiết giữa 2 yếu tố này.
Nếu tốc độ phát triển kinh tế phù hợp với lượng cung tiền, hiện tượng
người người nhà nhà “đổ xô” đầu tư sẽ không diễn ra, lượng tiền trên thị trường
được giữ ổn định nhờ đó có thể tránh được tình trạng lạm phát nếu các yếu tố cố
liên quan đến lạm phát không tác động lên nền kinh tế.
1.5.2. Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ hay chính sách quản lý lưu thông tiền tệ là phương tiện
của các cơ quan quản lý tiền tệ nhà nước ( ngân hàng trung ương) nhằm quản lý
lượng cung tiền nhằm hướng đến một lãi suất nhờ đó đạt được mức ổn định và
tăng trưởng kinh tế phù hợp,… Các công cụ để đạt được mục tiêu này gồm: thay
đổi lãi suất chiết khẩu, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, và các nghiệp vụ thị trường
mở. Với mục tiêu chủ chốt là lượng cung tiền và lãi suất thì lạm phát chính là một
trong những đối tượng được cơ quan quản lý tiền tệ nhà nước quan tâm hàng đầu.
Việc kiểm soát lạm phát cũng là một trong những ưu tiên lớn của các nhà kinh tế.
1.5.3. Tỷ giá hối đoái cố định
Tỷ giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ tỷ giá Forex , tỷ ,
giá FX hoặc Agio) giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được
trao đổi cho một đồng tiền khác. Nó cũng được coi là giá cả đồng tiền của một
quốc gia được biểu hiện bởi một tiền tệ khác
Dưới một chế độ tỷ giá hối đoái cố định, đồng tiền của một quốc gia được
gắn về giá trị với một đồng tiền khác hoặc một rổ tiền tệ khác (hoặc đôi khi đến
một thước đo giá trị, chẳng hạn như vàng). Một tỷ giá hối đoái cố định thường
được sử dụng để ổn định giá trị đồng tiền, đối diện đồng tiền mà nó cố định vào.
Nó cũng có thể được sử dụng như một phương tiện để kiểm soát lạm phát. Tuy
nhiên, vì giá trị của đồng tiền tham chiếu tăng lên và hạ xuống, do đó, đồng tiền
không ổn định so với nó. Điều này về cơ bản có nghĩa là tỷ lệ lạm phát của nước
có chế độ tỷ giá hối đoái cố định bị xác định bởi tỷ lệ lạm phát của nước mà đồng
tiền này cố định vào. Ngoài ra, tỷ giá hối đoái cố định ngăn chặn chính phủ trong
việc sử dụng chính sách tiền tệ trong nước để đạt được sự ổn định kinh tế vĩ mô. 1.5.4. Bản vị vàng
Bản vị vàng là một hệ thống tiền tệ trong đó phương tiện trao đổi phổ biến
của một vùng là tiền giấy mà thường có thể chuyển đổi tự do với một lượng cố
định được đặt ra từ trước của vàng. Bản vị này quy định cụ thể cách mà sự ủng hộ
vàng sẽ được thực hiện, bao gồm cả số lượng tiền vàng trên một đơn vị tiền tệ.
Loại tiền tệ chính nó không có giá trị bẩm sinh, nhưng được chấp nhận bởi các
thương nhân vì nó có thể được hoàn trả lại cho tiền vàng tương đương. Một
Mỹ chứng nhận bạc, ví dụ, có thể được hoàn trả cho một phần bạc thực tế.
1.5.5. Kiểm soát tiền lương và giá cả
Một phương pháp khác đã được thử trong quá khứ là kiểm soát tiền lương và giá
cả (chính sách thu nhập). Việc kiểm soát tiền lương và giá cả kết hợp với phân phối
đã thành công trong môi trường chiến tranh. Tuy nhiên, việc sử dụng chúng trong các
bối cảnh khác là hỗn hợp hơn rất nhiều. Thất bại đáng chú ý của việc sử dụng bao
gồm áp đặt kiểm soát tiền lương và giá cả năm 1972 bởi Richard Nixon. Ví dụ thành
công hơn bao gồm Hòa ước giá cả và thu nhập tại Úc và Thỏa hiệp Wassenaar tại Hà Lan.
Nói chung, kiểm soát tiền lương và giá cả được coi là một biện pháp tạm thời và
đặc biệt, chỉ có hiệu quả khi kết hợp với các chính sách được thiết kế để làm giảm
những nguyên nhân cơ bản của lạm phát trong chế độ kiểm soát tiền lương và giá cả,
ví dụ, chiến thắng cuộc chiến đang chiến đấu. Chúng thường có tác dụng hư hỏng, do
các tín hiệu méo mó mà chúng gửi cho thị trường. Giá thấp giả tạo thường gây ra
phân phối và sự thiếu hụt và khuyến khích đầu tư trong tương lai, dẫn đến tình trạng
thiếu nhưng xa hơn. Phân tích kinh tế thông thường là bất kỳ sản phẩm hoặc dịch vụ
mà dưới giá đều được tiêu thụ quá nhiều. Ví dụ, nếu giá chính thức của bánh mì là
quá thấp, sẽ có quá ít bánh mì với giá chính thức, và có quá ít đầu tư trong việc làm
bánh mì của thị trường để đáp ứng nhu cầu trong tương lai, do đó làm trầm trọng thêm
các vấn đề trong lâu dài. 1.5.6. Kiểm soát giá
Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp kiểm soát giá cả đối với một số mặt hàng
thiết yếu, ví dụ như xăng dầu, lương thực.
Tuy nhiên, việc kiểm soát giá cả cần được thực hiện một cách thận trọng để tránh gây
ra những tác động tiêu cực đến thị trường.
1.5.7. Nâng cao năng suất lao động
Việc nâng cao năng suất lao động sẽ giúp tăng cung hàng hóa và dịch vụ, từ đó giúp
giảm bớt áp lực lên giá cả. Chính phủ có thể hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc nâng
cao năng suất lao động bằng cách cung cấp các chương trình đào tạo, nghiên cứu và phát triển.
1.5.8. Trợ cấp chi phí sinh hoạt
Sức mua thực tế của các khoản thanh toán cố định đang bị xói mòn bởi lạm
phát trừ khi chúng được điều chỉnh lạm phát để giữ giá trị thực sự không đổi. Ở
nhiều nước, hợp đồng lao động, trợ cấp hưu trí, và các quyền lợi của chính phủ (ví
dụ như an sinh xã hội) được gắn với một chỉ số chi phí sinh hoạt, thường đến chỉ
số giá tiêu dùng. Một trợ cấp chi phí sinh hoạt (COLA) điều chỉnh lương dựa trên
những thay đổi trong chỉ số chi phí sinh hoạt. Tiền lương thường được điều chỉnh
hàng năm trong nền kinh tế lạm phát thấp. Trong khi lạm phát phi mã nó được
điều chỉnh thường xuyên hơn. Chúng cũng có thể được gắn với một chỉ số giá sinh
hoạt mà thay đổi theo vị trí địa lý khi di chuyển nhân viên.
Phần 2: Tình trạng lạm phát ở Mỹ
2.1. Tình hình lạm phát trên thế giới hiện nay
Năm 2024, lạm phát bình quân toàn cầu được dự báo sẽ giảm xuống 5,8%, từ mức 6,8% của năm 2023...
Trên toàn cầu, tình hình lạm phát đang có xu hướng hạ nhiệt. Tuy nhiên, các nhà phân
tích nhận định vẫn có nguy cơ xảy ra một làn sóng lạm phát tăng mạnh do xung đột địa
chính trị và gián đoạn chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, thị trường lao động mạnh hơn dự
báo cũng có thể thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng, từ đó đẩy giá cả leo thang.
Năm 2024, lạm phát bình quân toàn cầu được dự báo sẽ giảm xuống 5,8%, từ mức 6,8%
của năm 2023. IMF nhận định áp lực giá cả trên thế giới sẽ giảm bớt khi các quốc gia duy
trì chính sách tiền tệ thắt chặt, giá năng lượng giảm, cùng với thị trường lao động mạnh.
2.2. Tình tình lạm phát ở Mỹ vừa qua và hiện nay
2.2.1. Tình hình lạm phát của Mỹ vừa qua
2.2.2. Tình hình lạm phát của Mỹ hiện nay (2024)
Biểu đồ thể hiện CPI của nước Mỹ cuối năm 2023 đầu năm 2024
Theo hãng tin CNBC, báo cáo ra ngày 12/3/2024 của Cục Thống kê Lao động Mỹ (BLS)
cho thấy chỉ số giá tiêu dùng tại Mỹ, thước đo phổ biến về giá cả hàng hóa và dịch vụ,
tăng 0,4% trong tháng và 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng của tháng 2 đúng
như kỳ vọng trước đó, nhưng tỷ lệ lạm phát tính theo năm thì cao hơn một chút so với
mức dự báo 3,1% từ một cuộc thăm dò ý kiến của Dow Jones.
Loại trừ giá thực phẩm và năng lượng thì CPI cơ bản tăng 0,4% trong tháng 2 và tăng
3,8% theo năm. Cả hai đều cao hơn 1/10 điểm phần trăm so với dự báo.
Chi phí năng lượng tăng 2,3% đã làm gia tăng mức lạm phát toàn phần. Chi phí thực
phẩm không đổi trong tháng, trong khi chi phí về nhà ở tăng thêm 0,4%.
Báo cáo của BLS chỉ ra, mức tăng giá của năng lượng và nhà ở chiếm hơn 60% tổng mức
tăng. Xăng tăng 3,8% trong tháng 2 trong khi giá thuê nhà tăng 0,4%.
Tại Mỹ, tăng trưởng kinh tế chậm lại được nhận định sẽ là nguyên nhân giúp giảm lạm
phát về mức 2,6% năm 2024. Con số này gần với mức mục tiêu lạm phát 2% của Cục Dự
trữ Liên bang Mỹ (Fed) khi liên tục tăng lãi suất trong năm qua. Dù Fed đã phát tín hiệu
rằng những điều tồi tệ nhất đã qua, nhưng nền kinh tế lớn nhất thế giới vẫn tiềm ẩn những
nguy cơ có thể đẩy lạm phát tăng lên. Tính tới tháng 11/2023, lượng tiền tiết kiệm dư
thừa (excess savings) cộng dồn của các hộ gia đình Mỹ là 290 tỷ USD và số tiền này có
thể tiếp tục đẩy nhu cầu tiêu dùng và từ đó kéo lạm phát đi lên.
2.3. Nguyên nhân lạm phát ở Mỹ
Lạm phát ở Mỹ đang ở mức cao nhất trong 40 năm qua, với tỷ lệ tăng 7,5% so với
cùng kỳ năm ngoái vào tháng 1 năm 2023. Có nhiều yếu tố góp phần vào tình trạng này, bao gồm:
1. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao:
Sau đại dịch COVID-19, người dân Mỹ có xu hướng bắt đầu chi tiêu nhiều hơn cho
hàng hóa và dịch vụ, dẫn đến nhu cầu tăng cao. Sự tăng lên của cầu nhưng lại không có
sự thay đổi của cung làm cho thiếu hụt hàng hóa từ đó đẩy giá của các sản phẩm hàng
hóa, dịch vụ. Không chỉ dừng lại ở đó, ngày 13/2, Quốc hội Mỹ đã chính thức thông qua
lần cuối kế hoạch kích thích kinh tế trị giá 787 tỷ USD, nhằm đưa kinh tế nước này thoát
khỏi cuộc khủng hoảng tồi tệ hiện nay, các gói kích thích kinh tế này cũng góp phần gia tăng nhu cầu tiêu dùng.
2. Gián đoạn chuỗi cung ứng:
Trong những năm gần đây, ta đã chứng kiến hai sự kiến lớn có ảnh hưởng mạnh mẽ
đến nền kinh tế của thế giới nói chung và nước Mỹ nói riêng đó là đại dịch COVID-19 và
chiến tranh Nga-Ukraine. Hai biến cố nói trên gây ra nhiều gián đoạn cho chuỗi cung ứng
toàn cầu, khiến cho việc vận chuyển hàng hóa trở nên khó khăn và đắt đỏ hơn. Việc đứt
gãy của chuỗi cung ứng sẽ làm cả một quy trình bị chậm lại làm cho thời gian sản xuất
một đơn vị hàng hóa tăng lên cộng hưởng với việc thiếu hụt nguồn cung làm có giá các
sản phẩm hàng hóa, dịch vụ bị “thổi phồng”. 3. Giá năng lượng tăng:
Trong quý đầu của năm 2024 tại Mỹ, theo trang tin trực tuyến Vaultelectricity,
nhiều bang có mức giá tăng cao, trong đó có bang tăng hơn 27,47 USD/kWh
(tương đương 6.810 đồng/kWh). Người tiêu dùng Mỹ đối mặt với hóa đơn tiền
điện tăng là do giá khí đốt tự nhiên biến động, thời tiết khắc nghiệt. Một trong
những nguyên nhân chính dẫn đến sự tăng giá của năng lượng và vật liệu thô
chính là do cuộc chiến giữa Nga và Ukraine. Giá dầu mỏ và khí đốt tự nhiên tăng cao
do nhiều yếu tố, bao gồm nhu cầu tăng cao, gián đoạn chuỗi cung ứng và căng thẳng địa
chính trị. Ngoài ra, việc giá xăng tăng cao cũng “đẩy” chi phí sản xuất do vậy ảnh hưởng
đến giá cả của nhiều hàng hóa và dịch vụ khác. 4. Mức lương tăng:
Với tình trạng khủng hoảng kéo dài, nguồn nhân lực khan hiếm, để cung cấp nguồn
nhân lực cho bộ máy sản xuất buộc các doanh nghiệp phải tăng mức lương để thu hút
thêm nhân lực. Việc tăng mức lương lên đồng nghĩa với việc người lao động sẽ có nhiều
tiền hơn để chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ. Với nhu cầu tăng cao, việc tăng giá hàng
hóa dịch vụ là điều khó tránh khỏi và nếu tình trạng này tiếp diễn trong thời gian dài tình
trạng lạm phát sẽ ngày càng trở nên “trầm kha” 5. Kỳ vọng lạm phát:
Kỳ vọng lạm phát cao có thể khiến người tiêu dùng và doanh nghiệp dự đoán giá
cả sẽ tiếp tục tăng trong tương lai, dẫn đến việc họ tăng chi tiêu và đầu tư ngay bây giờ,
càng làm cho lạm phát tăng cao hơn.
Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng có thể góp phần vào lạm phát ở Mỹ, bao gồm: Giá nhà đất tăng cao Giá thực phẩm tăng cao
Chính sách tiền tệ nới lỏng của Cục Dự trữ Liên bang (Fed)
Phần 3: Các giải pháp kiềm chế phạm phát
3.1. Những thuận lợi và khó khăn 3.1.1. Thuận lợi:
Nền kinh tế Mỹ có sức phục hồi mạnh mẽ: Nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế
giới với sức phục hồi mạnh mẽ. Điều này giúp cho Mỹ có nhiều dư địa để thực hiện các
chính sách kiềm chế lạm phát mà không ảnh hưởng quá nhiều đến tăng trưởng kinh tế.
Hệ thống tài chính Mỹ phát triển: Hệ thống tài chính Mỹ phát triển và hiệu quả giúp
cho việc truyền tải chính sách tiền tệ đến nền kinh tế diễn ra nhanh chóng và hiệu quả.
Sự tin tưởng của công chúng vào chính phủ: Người dân Mỹ có niềm tin cao vào chính
phủ và các tổ chức tài chính. Điều này giúp cho việc thực hiện các chính sách kiềm chế lạm phát dễ dàng hơn. 3.1.2. Khó khăn:
Lạm phát có nhiều nguyên nhân:
Để giải quyết vấn đề lạm phát, các nhà hoạch định cần xác định rõ nguyên nhân chính và
chủ đạo gây ra lạm phát để đưa ra những biện pháp khắc Lạm phát ở Mỹ hiện nay có
nhiều nguyên nhân, bao gồm nhu cầu tiêu dùng tăng cao, gián đoạn chuỗi cung ứng, giá
năng lượng tăng cao, và mức lương tăng. Việc giải quyết tất cả các nguyên nhân này là một thách thức lớn.
Tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế: Việc thực hiện các chính sách kiềm chế
lạm phát, đặc biệt là việc tăng lãi suất, có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.
Rủi ro suy thoái kinh tế: Nếu các chính sách kiềm chế lạm phát được thực hiện quá
mạnh tay, có thể dẫn đến nguy cơ suy thoái kinh tế.
Sự phản đối của các nhóm lợi ích: Các nhóm lợi ích, ví dụ như các doanh nghiệp và
người lao động, có thể phản đối các chính sách kiềm chế lạm phát vì những chính sách
này có thể ảnh hưởng đến lợi ích của họ.
Ngoài ra, còn có một số khó khăn khác như:
Khó khăn trong việc dự đoán xu hướng lạm phát: Việc dự đoán xu hướng lạm phát là
một việc khó khăn, do đó, việc thực hiện các chính sách kiềm chế lạm phát cũng có thể gặp nhiều rủi ro.
Sự bất đồng giữa các nhà hoạch định chính sách: Có thể có sự bất đồng giữa các nhà
hoạch định chính sách về cách thức kiềm chế lạm phát. Điều này có thể làm chậm quá
trình thực hiện các chính sách.
3.2. Các giải pháp chính sách của Mỹ
Chính phủ Mỹ và Fed đang thực hiện một số biện pháp để kiềm chế lạm phát, bao gồm: Tăng lãi suất Giảm chi tiêu ngân sách
Giải quyết các gián đoạn chuỗi cung ứng Kết luận Tài liệu tham khảo
https://tapchitaichinh.vn/quan-he-giua-tang-truong-kinh-te-voi-lam-phat-va-du-bao-
nguong-lam-phat-phu-hop-cho-viet-nam.html
https://www.uef.edu.vn/newsimg/tap-chi-uef/2015-03-04-21/4-so-21.pdf
https://vnexpress.net/lam-phat-my-tiep-tuc-tang-toc-4721539.html