ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VIỆN ĐÀO TẠO BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG
---- ----
TIỂU LUẬN GIỮA KÌ
HỌC PHẦN: CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
Giảng viên: TS.Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Thực hiện: Nhóm 6B
Thành viên: 1. Đỗ Linh Chi (23031021)
2. Trần Khánh Linh (23031059)
3. Lã Bích Ngọc (23031075)
4. Nguyễn Thị Minh Nguyệt (23031076)
Mã học phần: HIS1056
Hà Nội, tháng 11 năm 2023
PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
STT HỌ VÀ TÊN CÔNG VIỆC ĐÁNH GIÁ ĐIỂM
1 Đỗ Linh Chi- 23031021
2 Lã Bích Ngọc-23031075
3 Trần Khánh Linh-23031059
4 Nguyễn Thị Minh Nguyệt-
23031076
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................4
B. NỘI DUNG CHÍNH:.........................................................................................4
I. GIỚI THIỆU VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG:.........4
1. Các khái niệm liên quan:............................................................................4
2. Nguồn gốc....................................................................................................4
3. Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng ở vùng châu thổ Bắc Bộ:...................5
II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH
HOÀNG LÀNG:...................................................................................................5
1. Tín ngưỡng thờ thành hoàng trong lịch sử................................................5
2. Tín ngưỡng thờ thành hoàng hiện nay......................................................6
III. PHÂN LOẠI CÁC VỊ THÀNH HOÀNG LÀNG.....................................7
1. Công trạng...................................................................................................7
2. Phân loại......................................................................................................7
IV. LỄ NGHI.....................................................................................................8
1. Nơi thờ tự thành hoàng làng:.....................................................................8
2. Kiến trúc đình làng với ý nghĩa là nơi thờ tự:...........................................8
3. Việc tế tự.................................................Error: Reference source not found
V. So sánh với tín ngưỡng Shinto ở Nhật Bản:............................................11
VI. Ý NGHĨA................................................................................................13
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................14
A. PHẦN MỞ ĐẦU:
Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng là 1 tín ngưỡng thờ cúng còn phổ biến đến ngày
nay. Đề tài này sẽ phản ánh đời sống tâm linh phong phú của người dân Việt Nam,
gần hơn là người dân Bắc Bộ. Từ đó, ta hiểu được các giá trị của phong tục thờ
cúng của người dân vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, sâu hơn là văn hóa tín
ngưỡng của người Việt để có thể bảo vệ, gìn giữ và phát triển hơn nữa những nét
đẹp của bản sắc dân tộc ta.
B. NỘI DUNG CHÍNH:
I. GIỚI THIỆU VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG:
1. Các khái niệm liên quan:
-Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những
lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự
bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.
-Để giải thích tín ngưỡng thành hoàng, theo các sách Trung hoa, từ
thời cổ đại họ đã thờ thành hoàng. Trong đó, “Thành” : là bức tường
bao quanh đô thị, “Hoàng”: là cái hào quanh bức tường và thành
hoàng theo họ là vị thần bảo vệ các quan cai trị và cư dân trong một
thành trì.
2. Nguồn gốc
Thực chất, người Việt từ xưa cũng đã có tín ngưỡng thờ thần, khi mà tất
cả sinh hoạt vẫn phụ thuộc vào tự nhiên và con người tin rằng có các thế
lực siêu nhiên điều khiển tất cả, mãi sau này, phong kiến phương Bắc đô
hộ, tín ngưỡng thờ thành hoàng mới từ Trung quốc du nhập vào nước ta
vào thời Đường. Từ đó, tín ngưỡng thành hoàng làng trở thành “sự kết
hợp đỉnh cao của tín ngưỡng sùng bái con người và tín ngưỡng sùng bái
thần linh”.
Khác với Trung quốc, ở Việt Nam không nhiều thành trì, người Việt thờ
thành hoàng làm thần bảo hộ dân làng. Vì xét cho cùng, văn hóa Việt
Nam có bản chất là văn hóa làng xã. Từ cái thời phong kiến xa xôi đấy,
chúng ta đã có câu “luật vua thua lệ làng”, đó là đủ hiểu tầm quan trọng
của làng xã với mỗi gia đình. Cũng vì thế, thành hoàng làng là vị thần
được cả làng tôn thờ, thường sẽ là ông tổ nghề của làng, hoặc là người có
công với nước mới được tôn làm thành hoàng, đó cũng là biểu tưởng liên
kết cộng đồng với nhau. Thường 1 làng chỉ có 1 Thành Hoàng, cũng có
làng thờ 2, 3 vị hay 2, 3 làng cùng thờ 1 vị, có làng thờ 5, 7 vị tục gọi là
Phúc Thần tức vị thần ban phúc cho dân làng. Mỗi làng có những nét
sinh hoạt văn hóa rất riêng nên mỗi nơi sẽ có cách thờ cúng và lễ hội
khác nhau, nhưng đâu đó ta cũng dễ nhận thấy những yếu tố rất chung
của làng quê Việt nam, đó là cùng hướng đến đạo đức “uống nước nhớ
nguồn”, tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc.
3. Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng ở vùng châu thổ Bắc Bộ:
Lịch sử dân tộc nước ta thời xưa chỉ là 1 vùng đất nhỏ ở miền Bắc
hiện nay, sau này qua các thời vua đã mở rộng lãnh thổ xuống phía
Nam, vì vậy về bản chất thì châu thổ Bắc Bộ mới là cái nôi của văn
hóa Việt Nam, là nơi sinh sống chủ yếu của người Kinh, đây là nơi có
nhiều có nhiều nhân vật lịch sử được công nhận hơn cả, còn ở miền
Nam thì chỉ số ít được phong thành hoàng, phần lớn là các nhân vật
vô danh, chỉ được thờ với 1 chữ “thần” trong chánh điện.
Hệ thống tín ngưỡng ở châu thổ Bắc Bộ rất đa dạng phong phú, trong
quá trình phát triển các loại hình tín ngưỡng đã tiếp biến sao cho phù
hợp với người dân thời bấy giờ và Bắc Bộ lại là vùng đất văn hiến,
quý trọng hiền tài. Từ xưa đến nay, những người học hành đỗ đạt,
những người có công truyền bá kiến thức, mở mang dân trí đều rất
được kính trọng. Sau khi mất, nếu được triều đình công nhận thì họ sẽ
được tôn làm thần và có nghi thức thờ cúng trong đình làng.
II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH
HOÀNG LÀNG:
1. Tín ngưỡng thờ thành hoàng trong lịch sử
-Trong giai đoạn Việt Nam bị nhà Minh xâm lược (1414 – 1427),
theo sách An Nam chí của Cao Hùng Trưng, quan lại phương Bắc
đến trấn trị đã lập miếu Thành hoàng ở phủ, châu, huyện của Việt
Nam theo quy cách nhà Minh
-Sau đó, các triều đại độc lập tiếp tục duy trì và phát triển bằng
nhiều đợt sắc phong:
+Đời Lê (1442) cho lập các đàn thờ các thần thiên nhiên để
cúng tế. Năm 1449, vua Lê Nhân Tông thời Lê Sơ cho dựng
lại miếu Đô đại Thành hoàng ở Thăng Long. Vào năm 1464,
định lệ tế lễ bách thần và phân thần làm ba hạng: Thượng
đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần.
+Cũng trong thời nhà Lý, triều đình rất coi trọng việc lập
miếu thờ thần: “Vua Lý Cao Tông, khi đi thăm thú núi sông,
đến đâu có thần linh, đều cho phong hiệu và cho lập miếu
thờ4”. Điều này có nghĩa là, trong dân gian đã xuất hiện từ
rất sớm miếu thần, mà phần lớn trong số đó tồn tại đến ngày
nay, một số trở thành đình làng
+Vào thời Nguyễn, miếu Thành hoàng bảo vệ kinh đô Huế
được dựng vào cuối thế kỷ XIX và quan niệm chính thống 2
về Thành Hoàng được duy trì và mở rộng ra các trấn, tỉnh.
Dân ta tin rằng: “Đất có Thổ công, sông có Hà bá; cảnh thổ
nào phải có Thần hoàng ấy; vậy phải thờ phụng để thần ủng
hộ cho dân, vì thế mỗi ngày việc thờ thần một thịnh” . Năm 3
Gia Long thứ 8 (1809), năm vua Nguyễn tập trung Thành
hoàng trong cả nước về kinh đô, dựng miếu Đô Thành
hoàng. Sau đó, vào năm 1810, triều đình sai các quan địa
phương tìm sự tích công thần; đến năm 1814, xem xét sắc
phong thần, vị nào có công đức với dân thì phong. Kết quả
là, hàng loạt vị thần được ban sắc phong và điển tự thờ cúng.
Như vậy, việc thờ Thành hoàng xuất hiện ở nước ta ban đầu là ở đô
thị do nhu cầu cần có một vị thần bảo hộ cho một thành trì. Còn ở các
làng quê, nông thôn Việt Nam thì thật khó có thể xác định chính xác
niên đại của các Thành hoàng. Theo các nguồn tư liệu khác nhau thì
có lẽ Thành hoàng du nhập về nông thôn nước ta từ vào khoảng thế kỷ
13 đến thể kỷ 15. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng bắt đầu lan truyền
đến các vùng nông thôn – nơi các tin ngưỡng thờ thần in đậm trong
nét văn hóa của người dân làm nông nghiệp lúa nước. Không lâu sau,
nhân dân đồng lòng suy tôn Thành Hoàng làng là những vị thần bảo
hộ cuộc sống của họ, về sau mới được vua phong tước vương với
danh vị Thành hoàng
-Các sắc phong của vua cho Thành Hoàng làng thường có phần:
+Tên địa phương có vị thần
+Tên vị thần và các mĩ hiệu (nhiều khi không có tên người)
+Chức danh thành hoàng
-Các vương triều khác nhau sẽ các sắc phong thần khác nhau.
Một vị thành hoàng thể nhiều sắc phong khác nhau của các
triều đại khác nhau. Ngay một triều đại cũng thể phong sắc
nhiều lần cho một vị thần, nhưng số tự thì lần sau bao giờ cũng
gia tăng hơn lần trước.
2. Tín ngưỡng thờ thành hoàng hiện nay
Có nhiều nơi thờ thành hoàng làng và hoạt động thờ thành hoàng
làng đã bị gián đoạn một do chiến tranh khiến không ít những đình,
làng, miếu thờ bị phá hủy và các thần tích, sắc phong bị thất lạc,
các hoạt động thờ thần bị lãng quên. Trong những năm gần đây,
nhiều ngôi đình, đền, miếu đã được tu sửa lại và được nhà nước
công nhận, xếp hạng và các lễ hội được mở lại. Các hoạt động như
sợi gắn kết cộng đồng, gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống.
Bên cạnh đó, có các vấn đề xảy ra như hiện tượng "buôn thần, bán
thánh", thương mại hóa văn hóa, xây dựng các khu di tích nhằm
trục lợi với những sự tích sai lệch về thành hoàng làng. Vì vậy,
việc tái tạo các hoạt động này cần có sự tham gia của các cơ quan
văn hóa, các cấp chính quyền quan tâm chặt chẽ và các biện pháp
ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng thờ thành hoàng
làng. Một xu hướng nữa là thanh niên hiện nay giảm dần đức tin
đối với các vị thành hoàng làng. Điều này vừa thể hiện sự phát
triển của khoa học kỹ thuật, nâng cao dân trí và cũng đồng thời thể
hiện sự thờ ơ của thế hệ trẻ đối với các hoạt động tín ngưỡng này
Thờ thành hoàng làng một tín ngưỡng đã từ xa xưa, một nhu
cầu của tâm thức người Việt, tuy nhiên cần phải tuân theo các
nguyên lý cơ bản và cần được đặt trong khuôn khổ của pháp luật.
III. PHÂN LOẠI CÁC VỊ THÀNH HOÀNG LÀNG
1. Công trạng
-Thành Hoàng làng thờ phụng thể những vị vua, tướng
lĩnh công giúp nước, giúp đỡ người dân khai hoang, lập
làng, ấp, vượt qua thiên tai như vị Thành Hoàng đầu tiên
nước ta vị nhân thần tên Lịch nhân vật thật sống
khoảng thế kỉ III - IV. Đời nhà Đường, Lý Nguyên Gia xây La
Thành đã phong thần Tô Lịch làm Thành hoàng, dựng đền thờ.
Đến thế kỷ IX, ông được tôn vinh, từ vị thần của làng Lịch
trở thành vị thần Thành Hoàng đứng đầu các vị thần thành
Đại La, sau đó vị Thành Hoàng của cả kinh thành Thăng
Long.
-Thờ những vị danh nhân văn hóa, tổ sư, tổ nghề hay những
hiền sĩ có công mở mang dân trí.
-Thờ những vị nguồn gốc thiên thần như Thần Mây, Thần
Mưa, Thần Sấm Sét, Ngọc Hoàng, các vị tiên, thần linh trong
đạo giáo, các vị thánh mẫu.
-Thờ những vị nguồn gốc nhiên thần như Sơn Thần, Thủy
Thần, Thổ Thần
2. Phân loại
Theo tục lệ xưa, các đời vua thường phong các vị thành hoàng thành ba
bậc tùy theo sự tích và công trạng của các vị thần với dân, làng xã. Theo
cuốn “Việt Nam phong tục”, Phan Kế Bính chia làm 3 hạng:
- Thượng đẳng thần:
+Những vị có sự tích linh dị, không rõ tung tích ẩn hiện nên
gọi là thiên thần như Chử Đồng Tử, Đổng Thiên Vương,
Liễu Hạnh
+Các vị nhân thần như Lí Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo.
-Trung đẳng thần: những vị dân làng thờ đã lâu, hoặc rõ họ tên
nhưng không rõ công trạng, có quan tước mà không rõ họ tên,
hoặc những thần có chút linh dị.
-Hạ đẳng thần: dân xã thờ phụng mà không rõ sự tình ra sao,
nhưng cũng thuộc về bậc chính thần.
-Ngoài ra còn có những nơi thờ bậy như thờ thần bán lợn, thần
ăn xin, yêu thần thì không được triều đình công nhận.
IV. LỄ NGHI
1. Nơi thờ tự thành hoàng làng
Theo cuốn “Đình đền Nội” của tác giả Nguyễn Thế Long: trước
kia người Việt thờ thần Cây Đa, Hòn Đá, rồi họ lập nên nghè, đền,
miếu làm nơi thờ tự thần thành hoàng. Sau cùng, nhiều vùng, thành
hoàng làng được đưa vào thờ đình làng. Theo quan niệm, đình làng
được coi nơi tụ linh khí, tượng trưng cho sự thịnh vượng sức khỏe
của cả làng, mái nhà chung, nơi thờ tự thành hoàng làng. Vì vậy, đó
công trình quy lớn nhất, được xây dựng khang trang, uy nghi,
mang cốt cách văn hóa của mỗi làng.
2. Kiến trúc đình làng với ý nghĩa là nơi thờ tự:
Đình làng sẽ xây ở hướng nam, thích ứng khí hậu tự nhiên: mát mẻ,
nhiều ánh sáng. Theo thuyết phong thủy, đình làng được đặt trên lưng các
con vật linh thiêng như long, li, quy, phượng với thế đất: gò cao, một doi
đất, trước mặt có dòng nước chảy hay hồ ao hoặc đào giếng để tạo cảnh
non nước. Nhà của dân chỉ ở sau lưng, không được xây ở trước đình làng.
Mặc dù ở đình làng ở mỗi nơi sẽ có những đặc điểm riêng gắn liền với
địa phương và lịch sử xây dựng, tuy nhiên ta vẫn có thể quan sát được
những nét chung của nơi thờ tự thành hoàng. Đình làng có thể là một
công trình độc lập hoặc một quần thể kiến trúc, được xây dựng theo bố
cục đối xứng qua trục chính chạy dài. Đình thường được chia thành 2
phần rõ rệt: đại đình và hậu cung.
Đình làng phần nhiều là không gian mở, nếu có cửa cũng sẽ là bức bàn.
Trong không gian rộng rãi, bề thế, linh thiêng này, dân làng đứng trong
sân đình cũng có thể tham gia cùng người thực hành nghi lễ ở trong. Về
sau, ở một số nơi, để thể hiện sự tôn nghiêm thần thánh, kiến trúc được
xây thêm bao quanh chỉ để cửa mở phía trước, nhất là hậu cung - nơi thần
thành ngự trị, thì được xây bít kín.
Điểm đặc biệt trong kiến trúc đình làng có lẽ nằm ở những mái đình với
góc mái cong đầy sáng tạo. Các đao mái đình thường được đắp hình rồng
cùng với bờ giải được đắp hình tứ linh tạo nên một vẻ đẹp vừa uy nghi,
vừa thanh thoát, uyển chuyển. Thêm vào đó, bên trong đình làng thường
được nghệ nhân điêu khắc, chạm trổ, sơn vẽ những hình rồng, vân mây,
hoa lá, cảnh sinh hoạt đời thường,... với màu sắc đen, đỏ, vàng từ chất
liệu sơn ta. Ngoài ra, không gian còn được điểm xuyết thêm bằng cửa
võng sơn son thếp vàng, những bức hoành phi ca ngợi công đức thần sơn
son thếp vàng hoặc được khảm trai. Tất cả đã tạo nên một vẻ đẹp vừa
lộng lẫy, nguy nga, trang trọng, vừa gần gũi, sinh động, gắn liền với đời
sống văn hóa của nhân dân cho nơi thờ tự thần làng.
Gian chính hay gian lòng thuyền của đại đình thường không có sàn. Nơi
này được sử dụng để tế bái và còn được gọi là lối của thành hoàng. Sàn ở
các gian đối xứng 2 bên sẽ có các mức cốt để phân bậc, cách xếp chỗ
ngồi sẽ phụ thuộc vào phong tục, lễ nghi ở từng nơi.
Cũng giống như đền thờ thần, thánh ở nhiều nơi, hậu cung của đình làng
- nơi ngự trị của thần hoàng sẽ được khóa lại, không cho mọi người đi
vào. Đây được coi là nơi kết nối giữa chốn trần tục và linh thiêng, mang
một vẻ nghiêm trang, kín đáo nhất.
3. Việc tế tự
a. Đồ thờ:
Mỗi vị thần có một bài vị an phụng vào một bộ long ngai, hoặc an
phụng ở trong long khám. Bình nhật để khi có việc hội hè thì phong áo
mũ đai măng đại trào để thờ hoặc để rước.
Vị thần nào có sắc phong thì dùng các chữ mỹ tự sắp làm duệ hiệu của
thần. Phải có hòm sắc để chứa sắc, có kim sách để ghi chép sự tích của
thần.
Còn đồ thờ như đồ tam sự, ngũ sự, đài rượu, quả trầu thì cúng đồ thờ tư
gia.
Ngoại giả thì đại để các đồ nghi trượng, loan giá, lộ bộ như long kiệu,
long đình, cờ quạt, tàn tán, bát bửu, gươm trường, biển tĩnh túc, biển hồi
ty, tay văn, tay võ, dùi đồng phủ việt, chiêng trống v.v...
b. Tự điền trạch
Mỗi làng phải để riêng mấy mẫu ruộng làm tự điền. Hoặc có hồ có đầm
riêng của làng thì để làm tự trạch mỗi năm lấy hoa lợi, ngư lợi ở đó ra
mà cúng vào việc tế tự. Làng nào không có tự điền, tự trạch thì lấy vào
khoản công nho nào hoặc phải đóng góp với nhau.
c. Người thủ từ
“ Mỗi đình miếu làng cắt một người thủ từ. Người thủ từ ấy phải ngày
đêm ở luôn chốn đình miếu, coi việc đèn hương, giữ đồ phúng tự và coi
việc sai táo (quét tước) cho được sạch sẽ. Nhiều nơi bắt người thủ từ
phải chay sạch, không được ở gần đàn bà. Cũng có nơi thì cho người
thủ từ đem cả vợ con đến ở gian ngoài, trông nom trồng trọt những đất
chung quanh mà kiếm ăn. Người thủ từ được hưởng hoa lợi ở chỗ đình
miếu và được phép miễn trừ sưu thuế tạp dịch. Nơi nào lắm linh tích,
thiên hạ khách khứa đến lễ bái đông, thì người thủ từ lại được hưởng
nhiều lộc thánh.” (“Việt Nam phong tục” - Phan Kế Bính)
d. Việc tế tự:
-Lễ sóc vọng: Mỗi ngày mùng một và ngày rằm hàng tháng dân
làng sẽ mang lễ đến để lễ thần. Năm bảy người hoặc mươi
mười lăm bô lão trong làng mặc áo thụng vào lễ, lễ xong còn
được chia một nửa phần để uống rượu.
-Các tuần tiết: Mỗi năm về các tuần tiết như ba ngày chính
đán, ngày Đoan dương, ngày Thượng nguyên, ngày Trùng
thập v.v... và ngày hạ điền là ngày mới bắt đầu bưoc chân
xuống ruộng, ngày thượng điền là ngày mới có gao mới : ngày
thuần húy, ngày thần đản là ngày sinh nhật hóa hật của thần ,
các ngày ấy đều có lễ, tùy từng làng và tùy năm phong khiểm.
-Tế kỳ phúc: Mỗi năm trong tứ thời hoặc hai kỳ Xuân, Thu có
một tuần đại tế gọi là tế kỳ phúc, nghĩa là cầu cho dân được
bình an. Trước một ngày, làm lễ cáo yết, dắt trâu bò ra xem xét
rồi đổ một chén rượu vào đầu trâu bò, gọi là tỉnh sinh. Tỉnh
sinh rồi mới được giết thịt. Trước khi tế phải rước văn. Dân
làng đem long đình, cờ quạt, tài tử đồng văn và cắt một người
viên chức đội mũ, mặc áo thụng đến tại nhà người điển văn
(người coi việc tả văn tế) mà rước bản văn về đình.
V. So sánh với tín ngưỡng Shinto ở Nhật Bản:
-Shinto là tín ngưỡng bản địa của người Nhật.
-Từ Shinto được viết bằng 2 chữ Hán xuất phát từ gốc Nhật,
chữ thứ nhất là Kami: Thần , chữ thứ 2 là Michi: Con đường
-Cụm từ này xuất hiện lần đầu tiên trong Biên niên sử Nhật Bản
vào năm 720 dùng để chỉ các nghi lễ tôn giáo, thờ cúng Thánh
Thần. Từ thế kỷ XII trở đi thì cụm từ này lại mang nội dung
của các tư tưởng tôn giáo.
-Giống nhau trên cả 2 bình diện : tinh thần và vật chất
Giống Nguồn cội Đều xuất phát từ tục sùng bái các hiện tượng của tự nhiên và
tôn thờ sức mạnh tự nhiên.
Các vị thần tự nhiên trong danh sách thần linh đều có mặt ở 2
nước như : Thần Mặt trời, Thần Cây, Thần Sông ,...
Con
đường
phát triển
Từ nền tảng tôn thờ sức mạnh thần bí của tự nhiên, khi xã hội
nông nghiệp trồng lúa ra đời → cả đều có xu hướng tập trung
thờ cúng các vị thần liên quan tới tín ngưỡng nông nghiệp.
Khi sự phân hóa giai cấp trong xã hội xuất hiện, chiến tranh
xung đột, xâm lược → hệ thống thần mới – nhân Thần (đẳng
cấp thống trị trong xã hội, anh hùng có công đóng góp cho làng
xóm, cộng đồng)
Kiến trúc Các Shinto hay ngôi đình cổ nhất : Đều xây theo bố cục đối
xứng qua 1 trục. Các đền ra đời sau cũng được chia làm 2 phần
rõ rệt.
Mặt kết cấu kĩ thuật dùng các cột để chịu lực.
Đều không sơn vẽ, giữ nguyên vẻ mộc mạc của cây rừng.
Khác Shinto Có quan hệ mật thiết với Phật giáo và tôn giáo khác, xác lập
thành 1 tổ chức thống nhất, có hệ thống triết học, các chuẩn
mực đạo đức của riêng, có giáo sĩ và giáo đoàn.
Mang ý nghĩa tôn giáo đơn thuần – nơi thờ Thần
Thành
Hoàng
Con cháu các lãnh chúa không thể tôn vinh cha mẹ lên làm
Thành hoàng của làng, tín ngưỡng không được đồng nhất với
quyền lực của triều đình, không xác lập bất kỳ mối quan hệ
nào với tôn giáo khác (ngoại trừ số ít Khổng tử,…)
Ngôi đình đảm nhiệm 1 vai trò rộng lớn hơn – nó không chỉ
đóng vai trò trung tâm tôn giáo, văn hóa mà còn là trung tâm
chính trị và xã hội của làng quê
VI. Ý NGHĨA:
-Thứ nhất, ý thức về lòng biết ơn những người có công với làng
xã:
Xưa kia, những vị công thần có công giữ nước, giữ làng,
những vị thần thiên nhiên đóng vai trò quan trọng với nền
nông nghiệp lúa nước thường được người dân suy tôn làm
thành hoàng làng. Thêm vào đó, khi những làng nghề thủ công
xuất hiện ở vùng đồng bằng Bắc bộ, đời sống của người dân
khá giả hơn, họ mang ơn những người đã có công tìm và
truyền nghề cho họ nên cũng thờ cúng ông tổ nghề thành thành
hoàng. Chính những tập tục này đã thể hiện nét đẹp văn hóa
của con người Việt Nam đó là lòng biết ơn, sự ghi nhớ công
ơn của người dân với vị thần hộ mệnh đã giúp tập hợp, củng
cố và phát triển cộng đồng của họ.
-Thứ hai, ý thức giữ gìn luật lệ, lề lối gia phong của làng xã:
Trong tâm thức người Việt ở đồng bằng Bắc bộ Thành hoàng
là vị thần tối cao chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng,
bảo hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, khoẻ mạnh. Các thế hệ
dân cứ tiếp tục sinh sôi nhưng thành hoàng thì còn mãi, trở
thành một chứng tích không thể phủ nhận được của một làng
qua những cơn chìm nổi. Thành hoàng chính là vị chỉ huy tối
linh của làng xã không chỉ về mặt tinh thần mà còn một phần
về mặt đời sống sinh hoạt vật chất của dân làng. Tập tục thờ
cúng Thành hoàng nhắc nhở người dân, dù già trẻ, gái trai, dù
có đi xa cũng phải luôn nhớ nguồn cội của mình, để cùng nhau
bảo vệ nét đẹp, cốt cách của làng xã.
-Thứ ba, ý thức đoàn kết cộng đồng làng xã, truyền thống yêu
nước nồng nàn:
+ Nhà nước phong kiến Việt Nam chọn lọc và phong sắc cho
Thành hoàng làng nhằm mục đích đoàn kết và động viên toàn
bộ sức mạnh của cộng đồng làng, xã và dân tộc thành một
khối, đồng thời thực hiện việc quản lý xã hội đến cơ sở xã hội.
Không gian văn hóa chung là đình và linh hồn chung của làng
là Thành hoàng làng.
+ Người dân Việt Nam trải qua suốt chiều dài lịch dựng nước
và giữ nước, phải đoàn kết nhau lại. Ý thức cố kết cộng đồng
được hình thành và phát triển để chống lại thiên tai và giặc giã.
Sau mỗi khó khăn trong cuộc sống mưu sinh và tâm thức khát
khao hòa bình, cuộc sống bình an, tâm lý được che chở, muốn
được bày tỏ sự biết ơn với đấng thiêng đã ban phước lành cho
mình đã ra đời một cách tự nhiên, bình dị. Tín ngưỡng thờ
Thành hoàng làng của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ biểu
hiện lòng yêu nước, sự biết ơn và mong muốn được đền đáp
công ơn của thế hệ sau với thế hệ trước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS.TS Trần Đăng Sinh & Th.S Nguyễn Phương Hà, Giá trị trong tín ngưỡng
thờ Thành hoàng của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, GIÁ TRỊ TRONG TÍN
NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG CỦA NGƯỜI ViỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
(vnu.edu.vn)
2. Nguyễn Bá Tùng, Vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ, Vùng văn hóa đồng bằng Bắc bộ | Văn
hóa - Lịch sử Việt Nam (wordpress.com)
3. Theo báo Quân đội nhân dân,c vị Thành hoàng Thăng Long, https://ct.qdnd.vn/chuyen-
de/cac-vi-thanh-hoang-thang-long-ha-noi-524839
4. Theo báo điện tử Quảng Ninh, Tục thờ Thành hoàngng ở Quảng Ninh,
https://baoquangninh.vn/tuc-tho-thanh-hoang-lang-o-quang-ninh-3176162.html
5. Theo báo điện tử Nam Định, Tục thờ Thành hoàng làng,
https://baonamdinh.vn/channel/5087/202001/tuc-tho-thanh-hoang-lang-2535133/
6. ThS. KTS. Nguyễn Trường Giang, Một số vấn đề về bảo tồn và quản lý di tích
đình làng khu vực Hà Nội, MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO TỒN VÀ QUẢN LÝ DI
TÍCH ĐÌNH LÀNG KHU VỰC HÀ NỘI – BỘ MÔN LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ
KIẾN TRÚC (ltlskt-dhxd.com)
7. ThS Vũ Thị Ngọc Anh, Kiến trúc đình làng Việt, Tạp chí Kiến trúc.
8. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, NXB Văn học.
9. Nguyễn Thế Long, Đình và đền Hà Nội, NXB Văn hóa
10. PGS.TS Trịnh Cao Tưởng, Thành hoàng ở Việt Nam & Shinto ở Nhật Bản, NXB Văn hóa-
Thông tin.
11. Vương Khả (Nguyễn Thanh Hà và Nguyễn Xuân Diên dịch, 1999), “Lược sử
Đạo giáo Việt Nam”, Văn hóa Dân gian, số 2.
12. Vương Vĩnh Khiêm (1994), Thổ địa dữ Thành hoàng tín ngưỡng (tiếng Trung),
Nxb Học Uyển, Bắc Kinh
13. Nguyễn Duy Hinh (1996), Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam, Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội.
14. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 4, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Khoa học xã hội,
Hà Nội, 1968: 353.

Preview text:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VIỆN ĐÀO TẠO BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG
--------
TIỂU LUẬN GIỮA KÌ
HỌC PHẦN: CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
Giảng viên: TS.Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Thực hiện: Nhóm 6B
Thành viên: 1. Đỗ Linh Chi (23031021)
2. Trần Khánh Linh (23031059)
3. Lã Bích Ngọc (23031075)
4. Nguyễn Thị Minh Nguyệt (23031076)
Mã học phần: HIS1056 Hà Nội, tháng 11 năm 2023
PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ STT HỌ VÀ TÊN CÔNG VIỆC ĐÁNH GIÁ ĐIỂM 1 Đỗ Linh Chi- 23031021 2 Lã Bích Ngọc-23031075 3 Trần Khánh Linh-23031059 4 Nguyễn Thị Minh Nguyệt- 23031076 MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................4
B. NỘI DUNG CHÍNH:.........................................................................................4

I. GIỚI THIỆU VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG:.........4
1. Các khái niệm liên quan:............................................................................4
2. Nguồn gốc....................................................................................................4
3. Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng ở vùng châu thổ Bắc Bộ:...................5
II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH
HOÀNG LÀNG:
...................................................................................................5
1. Tín ngưỡng thờ thành hoàng trong lịch sử................................................5
2. Tín ngưỡng thờ thành hoàng hiện nay......................................................6
III. PHÂN LOẠI CÁC VỊ THÀNH HOÀNG LÀNG.....................................7
1. Công trạng...................................................................................................7
2. Phân loại......................................................................................................7
IV. LỄ NGHI.....................................................................................................8
1. Nơi thờ tự thành hoàng làng:.....................................................................8
2. Kiến trúc đình làng với ý nghĩa là nơi thờ tự:...........................................8
3. Việc tế tự.................................................Error: Reference source not found
V. So sánh với tín ngưỡng Shinto ở Nhật Bản:............................................11
VI.
Ý NGHĨA................................................................................................13
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................14 A. PHẦN MỞ ĐẦU:
Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng là 1 tín ngưỡng thờ cúng còn phổ biến đến ngày
nay. Đề tài này sẽ phản ánh đời sống tâm linh phong phú của người dân Việt Nam,
gần hơn là người dân Bắc Bộ. Từ đó, ta hiểu được các giá trị của phong tục thờ
cúng của người dân vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, sâu hơn là văn hóa tín
ngưỡng của người Việt để có thể bảo vệ, gìn giữ và phát triển hơn nữa những nét
đẹp của bản sắc dân tộc ta. B. NỘI DUNG CHÍNH:
I. GIỚI THIỆU VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG:
1. Các khái niệm liên quan:
-Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những
lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự
bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.
-Để giải thích tín ngưỡng thành hoàng, theo các sách Trung hoa, từ
thời cổ đại họ đã thờ thành hoàng. Trong đó, “Thành” : là bức tường
bao quanh đô thị, “Hoàng”: là cái hào quanh bức tường và thành
hoàng theo họ là vị thần bảo vệ các quan cai trị và cư dân trong một thành trì. 2. Nguồn gốc
Thực chất, người Việt từ xưa cũng đã có tín ngưỡng thờ thần, khi mà tất
cả sinh hoạt vẫn phụ thuộc vào tự nhiên và con người tin rằng có các thế
lực siêu nhiên điều khiển tất cả, mãi sau này, phong kiến phương Bắc đô
hộ, tín ngưỡng thờ thành hoàng mới từ Trung quốc du nhập vào nước ta
vào thời Đường. Từ đó, tín ngưỡng thành hoàng làng trở thành “sự kết
hợp đỉnh cao của tín ngưỡng sùng bái con người và tín ngưỡng sùng bái thần linh”.
Khác với Trung quốc, ở Việt Nam không nhiều thành trì, người Việt thờ
thành hoàng làm thần bảo hộ dân làng. Vì xét cho cùng, văn hóa Việt
Nam có bản chất là văn hóa làng xã. Từ cái thời phong kiến xa xôi đấy,
chúng ta đã có câu “luật vua thua lệ làng”, đó là đủ hiểu tầm quan trọng
của làng xã với mỗi gia đình. Cũng vì thế, thành hoàng làng là vị thần
được cả làng tôn thờ, thường sẽ là ông tổ nghề của làng, hoặc là người có
công với nước mới được tôn làm thành hoàng, đó cũng là biểu tưởng liên
kết cộng đồng với nhau. Thường 1 làng chỉ có 1 Thành Hoàng, cũng có
làng thờ 2, 3 vị hay 2, 3 làng cùng thờ 1 vị, có làng thờ 5, 7 vị tục gọi là
Phúc Thần tức vị thần ban phúc cho dân làng. Mỗi làng có những nét
sinh hoạt văn hóa rất riêng nên mỗi nơi sẽ có cách thờ cúng và lễ hội
khác nhau, nhưng đâu đó ta cũng dễ nhận thấy những yếu tố rất chung
của làng quê Việt nam, đó là cùng hướng đến đạo đức “uống nước nhớ
nguồn”, tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc.
3. Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng ở vùng châu thổ Bắc Bộ:
Lịch sử dân tộc nước ta thời xưa chỉ là 1 vùng đất nhỏ ở miền Bắc
hiện nay, sau này qua các thời vua đã mở rộng lãnh thổ xuống phía
Nam, vì vậy về bản chất thì châu thổ Bắc Bộ mới là cái nôi của văn
hóa Việt Nam, là nơi sinh sống chủ yếu của người Kinh, đây là nơi có
nhiều có nhiều nhân vật lịch sử được công nhận hơn cả, còn ở miền
Nam thì chỉ số ít được phong thành hoàng, phần lớn là các nhân vật
vô danh, chỉ được thờ với 1 chữ “thần” trong chánh điện.
Hệ thống tín ngưỡng ở châu thổ Bắc Bộ rất đa dạng phong phú, trong
quá trình phát triển các loại hình tín ngưỡng đã tiếp biến sao cho phù
hợp với người dân thời bấy giờ và Bắc Bộ lại là vùng đất văn hiến,
quý trọng hiền tài. Từ xưa đến nay, những người học hành đỗ đạt,
những người có công truyền bá kiến thức, mở mang dân trí đều rất
được kính trọng. Sau khi mất, nếu được triều đình công nhận thì họ sẽ
được tôn làm thần và có nghi thức thờ cúng trong đình làng.
II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG:
1. Tín ngưỡng thờ thành hoàng trong lịch sử
-Trong giai đoạn Việt Nam bị nhà Minh xâm lược (1414 – 1427),
theo sách An Nam chí của Cao Hùng Trưng, quan lại phương Bắc
đến trấn trị đã lập miếu Thành hoàng ở phủ, châu, huyện của Việt Nam theo quy cách nhà Minh
-Sau đó, các triều đại độc lập tiếp tục duy trì và phát triển bằng nhiều đợt sắc phong:
+Đời Lê (1442) cho lập các đàn thờ các thần thiên nhiên để
cúng tế. Năm 1449, vua Lê Nhân Tông thời Lê Sơ cho dựng
lại miếu Đô đại Thành hoàng ở Thăng Long. Vào năm 1464,
định lệ tế lễ bách thần và phân thần làm ba hạng: Thượng
đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần.
+Cũng trong thời nhà Lý, triều đình rất coi trọng việc lập
miếu thờ thần: “Vua Lý Cao Tông, khi đi thăm thú núi sông,
đến đâu có thần linh, đều cho phong hiệu và cho lập miếu
thờ4”. Điều này có nghĩa là, trong dân gian đã xuất hiện từ
rất sớm miếu thần, mà phần lớn trong số đó tồn tại đến ngày
nay, một số trở thành đình làng
+Vào thời Nguyễn, miếu Thành hoàng bảo vệ kinh đô Huế
được dựng vào cuối thế kỷ XIX2 và quan niệm chính thống
về Thành Hoàng được duy trì và mở rộng ra các trấn, tỉnh.
Dân ta tin rằng: “Đất có Thổ công, sông có Hà bá; cảnh thổ
nào phải có Thần hoàng ấy; vậy phải thờ phụng để thần ủng
hộ cho dân, vì thế mỗi ngày việc thờ thần một thịnh”3. Năm
Gia Long thứ 8 (1809), năm vua Nguyễn tập trung Thành
hoàng trong cả nước về kinh đô, dựng miếu Đô Thành
hoàng. Sau đó, vào năm 1810, triều đình sai các quan địa
phương tìm sự tích công thần; đến năm 1814, xem xét sắc
phong thần, vị nào có công đức với dân thì phong. Kết quả
là, hàng loạt vị thần được ban sắc phong và điển tự thờ cúng.
Như vậy, việc thờ Thành hoàng xuất hiện ở nước ta ban đầu là ở đô
thị do nhu cầu cần có một vị thần bảo hộ cho một thành trì. Còn ở các
làng quê, nông thôn Việt Nam thì thật khó có thể xác định chính xác
niên đại của các Thành hoàng. Theo các nguồn tư liệu khác nhau thì
có lẽ Thành hoàng du nhập về nông thôn nước ta từ vào khoảng thế kỷ
13 đến thể kỷ 15. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng bắt đầu lan truyền
đến các vùng nông thôn – nơi các tin ngưỡng thờ thần in đậm trong
nét văn hóa của người dân làm nông nghiệp lúa nước. Không lâu sau,
nhân dân đồng lòng suy tôn Thành Hoàng làng là những vị thần bảo
hộ cuộc sống của họ, về sau mới được vua phong tước vương với danh vị Thành hoàng
-Các sắc phong của vua cho Thành Hoàng làng thường có phần:
+Tên địa phương có vị thần
+Tên vị thần và các mĩ hiệu (nhiều khi không có tên người) +Chức danh thành hoàng
-Các vương triều khác nhau sẽ có các sắc phong thần khác nhau.
Một vị thành hoàng có thể có nhiều sắc phong khác nhau của các
triều đại khác nhau. Ngay một triều đại cũng có thể phong sắc
nhiều lần cho một vị thần, nhưng số mĩ tự thì lần sau bao giờ cũng gia tăng hơn lần trước.
2. Tín ngưỡng thờ thành hoàng hiện nay
Có nhiều nơi thờ thành hoàng làng và hoạt động thờ thành hoàng
làng đã bị gián đoạn một do chiến tranh khiến không ít những đình,
làng, miếu thờ bị phá hủy và các thần tích, sắc phong bị thất lạc,
các hoạt động thờ thần bị lãng quên. Trong những năm gần đây,
nhiều ngôi đình, đền, miếu đã được tu sửa lại và được nhà nước
công nhận, xếp hạng và các lễ hội được mở lại. Các hoạt động như
sợi gắn kết cộng đồng, gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống.
Bên cạnh đó, có các vấn đề xảy ra như hiện tượng "buôn thần, bán
thánh", thương mại hóa văn hóa, xây dựng các khu di tích nhằm
trục lợi với những sự tích sai lệch về thành hoàng làng. Vì vậy,
việc tái tạo các hoạt động này cần có sự tham gia của các cơ quan
văn hóa, các cấp chính quyền quan tâm chặt chẽ và các biện pháp
ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng thờ thành hoàng
làng. Một xu hướng nữa là thanh niên hiện nay giảm dần đức tin
đối với các vị thành hoàng làng. Điều này vừa thể hiện sự phát
triển của khoa học kỹ thuật, nâng cao dân trí và cũng đồng thời thể
hiện sự thờ ơ của thế hệ trẻ đối với các hoạt động tín ngưỡng này
Thờ thành hoàng làng là một tín ngưỡng đã có từ xa xưa, là một nhu
cầu của tâm thức người Việt, tuy nhiên nó cần phải tuân theo các
nguyên lý cơ bản và cần được đặt trong khuôn khổ của pháp luật.
III. PHÂN LOẠI CÁC VỊ THÀNH HOÀNG LÀNG 1. Công trạng
-Thành Hoàng làng thờ phụng có thể là những vị vua, tướng
lĩnh có công giúp nước, giúp đỡ người dân khai hoang, lập
làng, ấp, vượt qua thiên tai như vị Thành Hoàng đầu tiên ở
nước ta là vị nhân thần tên Tô Lịch – nhân vật có thật sống
khoảng thế kỉ III - IV. Đời nhà Đường, Lý Nguyên Gia xây La
Thành đã phong thần Tô Lịch làm Thành hoàng, dựng đền thờ.
Đến thế kỷ IX, ông được tôn vinh, từ vị thần của làng Tô Lịch
trở thành vị thần Thành Hoàng đứng đầu các vị thần ở thành
Đại La, sau đó là vị Thành Hoàng của cả kinh thành Thăng Long.
-Thờ những vị là danh nhân văn hóa, tổ sư, tổ nghề hay những
hiền sĩ có công mở mang dân trí.
-Thờ những vị có nguồn gốc thiên thần như Thần Mây, Thần
Mưa, Thần Sấm Sét, Ngọc Hoàng, các vị tiên, thần linh trong
đạo giáo, các vị thánh mẫu.
-Thờ những vị có nguồn gốc nhiên thần như Sơn Thần, Thủy Thần, Thổ Thần 2. Phân loại
Theo tục lệ xưa, các đời vua thường phong các vị thành hoàng thành ba
bậc tùy theo sự tích và công trạng của các vị thần với dân, làng xã. Theo
cuốn “Việt Nam phong tục”, Phan Kế Bính chia làm 3 hạng: - Thượng đẳng thần:
+Những vị có sự tích linh dị, không rõ tung tích ẩn hiện nên
gọi là thiên thần như Chử Đồng Tử, Đổng Thiên Vương, Liễu Hạnh
+Các vị nhân thần như Lí Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo.
-Trung đẳng thần: những vị dân làng thờ đã lâu, hoặc rõ họ tên
nhưng không rõ công trạng, có quan tước mà không rõ họ tên,
hoặc những thần có chút linh dị.
-Hạ đẳng thần: dân xã thờ phụng mà không rõ sự tình ra sao,
nhưng cũng thuộc về bậc chính thần.
-Ngoài ra còn có những nơi thờ bậy như thờ thần bán lợn, thần
ăn xin, yêu thần thì không được triều đình công nhận. IV. LỄ NGHI
1. Nơi thờ tự thành hoàng làng
Theo cuốn “Đình và đền Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thế Long: trước
kia người Việt thờ thần ở Cây Đa, Hòn Đá, rồi họ lập nên nghè, đền,
miếu làm nơi thờ tự thần và thành hoàng. Sau cùng, ở nhiều vùng, thành
hoàng làng được đưa vào thờ ở đình làng. Theo quan niệm, đình làng
được coi là nơi tụ linh khí, tượng trưng cho sự thịnh vượng và sức khỏe
của cả làng, là mái nhà chung, nơi thờ tự thành hoàng làng. Vì vậy, đó là
công trình có quy mô lớn nhất, được xây dựng khang trang, uy nghi,
mang cốt cách văn hóa của mỗi làng.
2. Kiến trúc đình làng với ý nghĩa là nơi thờ tự:
Đình làng sẽ xây ở hướng nam, thích ứng khí hậu tự nhiên: mát mẻ,
nhiều ánh sáng. Theo thuyết phong thủy, đình làng được đặt trên lưng các
con vật linh thiêng như long, li, quy, phượng với thế đất: gò cao, một doi
đất, trước mặt có dòng nước chảy hay hồ ao hoặc đào giếng để tạo cảnh
non nước. Nhà của dân chỉ ở sau lưng, không được xây ở trước đình làng.
Mặc dù ở đình làng ở mỗi nơi sẽ có những đặc điểm riêng gắn liền với
địa phương và lịch sử xây dựng, tuy nhiên ta vẫn có thể quan sát được
những nét chung của nơi thờ tự thành hoàng. Đình làng có thể là một
công trình độc lập hoặc một quần thể kiến trúc, được xây dựng theo bố
cục đối xứng qua trục chính chạy dài. Đình thường được chia thành 2
phần rõ rệt: đại đình và hậu cung.
Đình làng phần nhiều là không gian mở, nếu có cửa cũng sẽ là bức bàn.
Trong không gian rộng rãi, bề thế, linh thiêng này, dân làng đứng trong
sân đình cũng có thể tham gia cùng người thực hành nghi lễ ở trong. Về
sau, ở một số nơi, để thể hiện sự tôn nghiêm thần thánh, kiến trúc được
xây thêm bao quanh chỉ để cửa mở phía trước, nhất là hậu cung - nơi thần
thành ngự trị, thì được xây bít kín.
Điểm đặc biệt trong kiến trúc đình làng có lẽ nằm ở những mái đình với
góc mái cong đầy sáng tạo. Các đao mái đình thường được đắp hình rồng
cùng với bờ giải được đắp hình tứ linh tạo nên một vẻ đẹp vừa uy nghi,
vừa thanh thoát, uyển chuyển. Thêm vào đó, bên trong đình làng thường
được nghệ nhân điêu khắc, chạm trổ, sơn vẽ những hình rồng, vân mây,
hoa lá, cảnh sinh hoạt đời thường,... với màu sắc đen, đỏ, vàng từ chất
liệu sơn ta. Ngoài ra, không gian còn được điểm xuyết thêm bằng cửa
võng sơn son thếp vàng, những bức hoành phi ca ngợi công đức thần sơn
son thếp vàng hoặc được khảm trai. Tất cả đã tạo nên một vẻ đẹp vừa
lộng lẫy, nguy nga, trang trọng, vừa gần gũi, sinh động, gắn liền với đời
sống văn hóa của nhân dân cho nơi thờ tự thần làng.
Gian chính hay gian lòng thuyền của đại đình thường không có sàn. Nơi
này được sử dụng để tế bái và còn được gọi là lối của thành hoàng. Sàn ở
các gian đối xứng 2 bên sẽ có các mức cốt để phân bậc, cách xếp chỗ
ngồi sẽ phụ thuộc vào phong tục, lễ nghi ở từng nơi.
Cũng giống như đền thờ thần, thánh ở nhiều nơi, hậu cung của đình làng
- nơi ngự trị của thần hoàng sẽ được khóa lại, không cho mọi người đi
vào. Đây được coi là nơi kết nối giữa chốn trần tục và linh thiêng, mang
một vẻ nghiêm trang, kín đáo nhất. 3. Việc tế tự a. Đồ thờ:
Mỗi vị thần có một bài vị an phụng vào một bộ long ngai, hoặc an
phụng ở trong long khám. Bình nhật để khi có việc hội hè thì phong áo
mũ đai măng đại trào để thờ hoặc để rước.
Vị thần nào có sắc phong thì dùng các chữ mỹ tự sắp làm duệ hiệu của
thần. Phải có hòm sắc để chứa sắc, có kim sách để ghi chép sự tích của thần.
Còn đồ thờ như đồ tam sự, ngũ sự, đài rượu, quả trầu thì cúng đồ thờ tư gia.
Ngoại giả thì đại để các đồ nghi trượng, loan giá, lộ bộ như long kiệu,
long đình, cờ quạt, tàn tán, bát bửu, gươm trường, biển tĩnh túc, biển hồi
ty, tay văn, tay võ, dùi đồng phủ việt, chiêng trống v.v... b. Tự điền trạch
Mỗi làng phải để riêng mấy mẫu ruộng làm tự điền. Hoặc có hồ có đầm
riêng của làng thì để làm tự trạch mỗi năm lấy hoa lợi, ngư lợi ở đó ra
mà cúng vào việc tế tự. Làng nào không có tự điền, tự trạch thì lấy vào
khoản công nho nào hoặc phải đóng góp với nhau. c. Người thủ từ
“ Mỗi đình miếu làng cắt một người thủ từ. Người thủ từ ấy phải ngày
đêm ở luôn chốn đình miếu, coi việc đèn hương, giữ đồ phúng tự và coi
việc sai táo (quét tước) cho được sạch sẽ. Nhiều nơi bắt người thủ từ
phải chay sạch, không được ở gần đàn bà. Cũng có nơi thì cho người
thủ từ đem cả vợ con đến ở gian ngoài, trông nom trồng trọt những đất
chung quanh mà kiếm ăn. Người thủ từ được hưởng hoa lợi ở chỗ đình
miếu và được phép miễn trừ sưu thuế tạp dịch. Nơi nào lắm linh tích,
thiên hạ khách khứa đến lễ bái đông, thì người thủ từ lại được hưởng
nhiều lộc thánh.” (“Việt Nam phong tục” - Phan Kế Bính) d. Việc tế tự:
-Lễ sóc vọng: Mỗi ngày mùng một và ngày rằm hàng tháng dân
làng sẽ mang lễ đến để lễ thần. Năm bảy người hoặc mươi
mười lăm bô lão trong làng mặc áo thụng vào lễ, lễ xong còn
được chia một nửa phần để uống rượu.
-Các tuần tiết: Mỗi năm về các tuần tiết như ba ngày chính
đán, ngày Đoan dương, ngày Thượng nguyên, ngày Trùng
thập v.v... và ngày hạ điền là ngày mới bắt đầu bưoc chân
xuống ruộng, ngày thượng điền là ngày mới có gao mới : ngày
thuần húy, ngày thần đản là ngày sinh nhật hóa hật của thần ,
các ngày ấy đều có lễ, tùy từng làng và tùy năm phong khiểm.
-Tế kỳ phúc: Mỗi năm trong tứ thời hoặc hai kỳ Xuân, Thu có
một tuần đại tế gọi là tế kỳ phúc, nghĩa là cầu cho dân được
bình an. Trước một ngày, làm lễ cáo yết, dắt trâu bò ra xem xét
rồi đổ một chén rượu vào đầu trâu bò, gọi là tỉnh sinh. Tỉnh
sinh rồi mới được giết thịt. Trước khi tế phải rước văn. Dân
làng đem long đình, cờ quạt, tài tử đồng văn và cắt một người
viên chức đội mũ, mặc áo thụng đến tại nhà người điển văn
(người coi việc tả văn tế) mà rước bản văn về đình.
V. So sánh với tín ngưỡng Shinto ở Nhật Bản:
-Shinto là tín ngưỡng bản địa của người Nhật.
-Từ Shinto được viết bằng 2 chữ Hán xuất phát từ gốc Nhật,
chữ thứ nhất là Kami: Thần , chữ thứ 2 là Michi: Con đường
-Cụm từ này xuất hiện lần đầu tiên trong Biên niên sử Nhật Bản
vào năm 720 dùng để chỉ các nghi lễ tôn giáo, thờ cúng Thánh
Thần. Từ thế kỷ XII trở đi thì cụm từ này lại mang nội dung
của các tư tưởng tôn giáo.
-Giống nhau trên cả 2 bình diện : tinh thần và vật chất
Giống Nguồn cội Đều xuất phát từ tục sùng bái các hiện tượng của tự nhiên và
tôn thờ sức mạnh tự nhiên.
Các vị thần tự nhiên trong danh sách thần linh đều có mặt ở 2
nước như : Thần Mặt trời, Thần Cây, Thần Sông ,... Con
Từ nền tảng tôn thờ sức mạnh thần bí của tự nhiên, khi xã hội đường
nông nghiệp trồng lúa ra đời → cả đều có xu hướng tập trung
phát triển thờ cúng các vị thần liên quan tới tín ngưỡng nông nghiệp.
Khi sự phân hóa giai cấp trong xã hội xuất hiện, chiến tranh
xung đột, xâm lược → hệ thống thần mới – nhân Thần (đẳng
cấp thống trị trong xã hội, anh hùng có công đóng góp cho làng xóm, cộng đồng)
Kiến trúc Các Shinto hay ngôi đình cổ nhất : Đều xây theo bố cục đối
xứng qua 1 trục. Các đền ra đời sau cũng được chia làm 2 phần rõ rệt.
Mặt kết cấu kĩ thuật dùng các cột để chịu lực.
Đều không sơn vẽ, giữ nguyên vẻ mộc mạc của cây rừng. Khác Shinto
Có quan hệ mật thiết với Phật giáo và tôn giáo khác, xác lập
thành 1 tổ chức thống nhất, có hệ thống triết học, các chuẩn
mực đạo đức của riêng, có giáo sĩ và giáo đoàn.
Mang ý nghĩa tôn giáo đơn thuần – nơi thờ Thần Thành
Con cháu các lãnh chúa không thể tôn vinh cha mẹ lên làm Hoàng
Thành hoàng của làng, tín ngưỡng không được đồng nhất với
quyền lực của triều đình, không xác lập bất kỳ mối quan hệ
nào với tôn giáo khác (ngoại trừ số ít Khổng tử,…)
Ngôi đình đảm nhiệm 1 vai trò rộng lớn hơn – nó không chỉ
đóng vai trò trung tâm tôn giáo, văn hóa mà còn là trung tâm
chính trị và xã hội của làng quê VI. Ý NGHĨA:
-Thứ nhất, ý thức về lòng biết ơn những người có công với làng xã:
Xưa kia, những vị công thần có công giữ nước, giữ làng,
những vị thần thiên nhiên đóng vai trò quan trọng với nền
nông nghiệp lúa nước thường được người dân suy tôn làm
thành hoàng làng. Thêm vào đó, khi những làng nghề thủ công
xuất hiện ở vùng đồng bằng Bắc bộ, đời sống của người dân
khá giả hơn, họ mang ơn những người đã có công tìm và
truyền nghề cho họ nên cũng thờ cúng ông tổ nghề thành thành
hoàng. Chính những tập tục này đã thể hiện nét đẹp văn hóa
của con người Việt Nam đó là lòng biết ơn, sự ghi nhớ công
ơn của người dân với vị thần hộ mệnh đã giúp tập hợp, củng
cố và phát triển cộng đồng của họ.
-Thứ hai, ý thức giữ gìn luật lệ, lề lối gia phong của làng xã:
Trong tâm thức người Việt ở đồng bằng Bắc bộ Thành hoàng
là vị thần tối cao chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng,
bảo hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, khoẻ mạnh. Các thế hệ
dân cứ tiếp tục sinh sôi nhưng thành hoàng thì còn mãi, trở
thành một chứng tích không thể phủ nhận được của một làng
qua những cơn chìm nổi. Thành hoàng chính là vị chỉ huy tối
linh của làng xã không chỉ về mặt tinh thần mà còn một phần
về mặt đời sống sinh hoạt vật chất của dân làng. Tập tục thờ
cúng Thành hoàng nhắc nhở người dân, dù già trẻ, gái trai, dù
có đi xa cũng phải luôn nhớ nguồn cội của mình, để cùng nhau
bảo vệ nét đẹp, cốt cách của làng xã.
-Thứ ba, ý thức đoàn kết cộng đồng làng xã, truyền thống yêu nước nồng nàn:
+ Nhà nước phong kiến Việt Nam chọn lọc và phong sắc cho
Thành hoàng làng nhằm mục đích đoàn kết và động viên toàn
bộ sức mạnh của cộng đồng làng, xã và dân tộc thành một
khối, đồng thời thực hiện việc quản lý xã hội đến cơ sở xã hội.
Không gian văn hóa chung là đình và linh hồn chung của làng là Thành hoàng làng.
+ Người dân Việt Nam trải qua suốt chiều dài lịch dựng nước
và giữ nước, phải đoàn kết nhau lại. Ý thức cố kết cộng đồng
được hình thành và phát triển để chống lại thiên tai và giặc giã.
Sau mỗi khó khăn trong cuộc sống mưu sinh và tâm thức khát
khao hòa bình, cuộc sống bình an, tâm lý được che chở, muốn
được bày tỏ sự biết ơn với đấng thiêng đã ban phước lành cho
mình đã ra đời một cách tự nhiên, bình dị. Tín ngưỡng thờ
Thành hoàng làng của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ biểu
hiện lòng yêu nước, sự biết ơn và mong muốn được đền đáp
công ơn của thế hệ sau với thế hệ trước. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS.TS Trần Đăng Sinh & Th.S Nguyễn Phương Hà, Giá trị trong tín ngưỡng
thờ Thành hoàng của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, GIÁ TRỊ TRONG TÍN
NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG CỦA NGƯỜI ViỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ (vnu.edu.vn) 2.
Nguyễn Bá Tùng, Vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ, Vùng văn hóa đồng bằng Bắc bộ | Văn
hóa - Lịch sử Việt Nam (wordpress.com)
3. Theo báo Quân đội nhân dân, Các vị Thành hoàng Thăng Long, https://ct.qdnd.vn/chuyen-
de/cac-vi-thanh-hoang-thang-long-ha-noi-524839
4. Theo báo điện tử Quảng Ninh, Tục thờ Thành hoàng làng ở Quảng Ninh,
https://baoquangninh.vn/tuc-tho-thanh-hoang-lang-o-quang-ninh-3176162.html
5. Theo báo điện tử Nam Định, Tục thờ Thành hoàng làng,
https://baonamdinh.vn/channel/5087/202001/tuc-tho-thanh-hoang-lang-2535133/ 6.
ThS. KTS. Nguyễn Trường Giang, Một số vấn đề về bảo tồn và quản lý di tích
đình làng khu vực Hà Nội, MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO TỒN VÀ QUẢN LÝ DI
TÍCH ĐÌNH LÀNG KHU VỰC HÀ NỘI – BỘ MÔN LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ KIẾN TRÚC (ltlskt-dhxd.com) 7.
ThS Vũ Thị Ngọc Anh, Kiến trúc đình làng Việt, Tạp chí Kiến trúc. 8.
Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, NXB Văn học. 9.
Nguyễn Thế Long, Đình và đền Hà Nội, NXB Văn hóa 10.
PGS.TS Trịnh Cao Tưởng, Thành hoàng ở Việt Nam & Shinto ở Nhật Bản, NXB Văn hóa- Thông tin. 11.
Vương Khả (Nguyễn Thanh Hà và Nguyễn Xuân Diên dịch, 1999), “Lược sử
Đạo giáo Việt Nam”, Văn hóa Dân gian, số 2. 12.
Vương Vĩnh Khiêm (1994), Thổ địa dữ Thành hoàng tín ngưỡng (tiếng Trung), Nxb Học Uyển, Bắc Kinh 13.
Nguyễn Duy Hinh (1996), Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 14.
Đại Việt sử ký toàn thư, tập 4, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1968: 353.