MỘT SỐ TÌNH HUỐNG DÂN SỰ 1
Giảng viên: Thị Thu Hằng
I/ GIÁM HỘ, TUYÊN BỐ MẤT TÍCH
1/ Vợ tôi đi khỏi nhà từ năm 2017, đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không thông tin gì. Trong quá
trình chung sống, vợ chồn tôi 1 con tích lũy được 1 số tài sản
Nay tôi muốn bán số tài sản đó tính chuyện kết hon với người khác được không?
LUẬT VẤN
Về quan hệ nhân thân
- Muốn kết hôn, trước hết phải gửi đơn ly hôn với Tòa án
Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toàn án giải quyết
ly hôn( Khoản 2 điều 68)
- Khi thủ tục ly hôn hoàn tất thì mới thể đăng kết hôn với người khác
Về quan hệ tài sản:
- Việc chia tài sản chung khi ly hôn sẽ được thực hiện trên nguyên tắc chia đôi,, nhưng xem
xét hoàn cảnh, tình trạng tàn sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc học tập, duy trì,
phát triển tài sản, đồng thời bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của con( Khoản 2, điều 59
LHNGĐ, 2014)
- Tài sản của người mất tích được giao cho:
+ Con thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản
+ Không những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản
+ Nếu không người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản tài sản( điều 68,
BLDS 2015)
Nếu sau khi tôi kết hôn chia tài sản, vợ tôi trở về thì sao thưa luật sư?
Luật vấn:
- Khoản 1 điều 70
- Khoản 2 điều 70
- Khoản 3 điều 70
2/ Chồng tôi bỏ nhà đi biệt tích 7 năm. Tôi đã thông báo tìm kiếm khắp nơi nhưng không thông
tin xác thực còn sống
Nay tôi muốn kết hôn với người khác được không?
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
Đối với quan hệ nhân thân
- Cần làm thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố chồng đã chết
- Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người đã chết hiệu luật pháp luật thì quan hệ
về hôn nhân, gia đình các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối
với người đã chết( khoản 1, điều 72)
3/ Mẹ em bỏ đi đến nay khoảng 06-07 năm không tin tức xác thực còn sống hay đã chết.
Lúc mẹ em bỏ đi, ba em còn sống, ba trong trưởng ấp trình báo, rồi ba em mất mẹ em cũng
không về.
Em con duy nhất của ba mẹ. Giờ em muốn hưởng thừa kế tài sản của mẹ em được không?
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Sau 5 năm biệt tích, đã nỗ lực tìm kiếm nhưng không tin tức thì thể yêu cầu tòa án
tuyên bố đã chết
- Đứa con thể đưa đơn lên tòa án để yêu cầu tòa án tuyên bố mẹ chết
- Các tài sản của ba mẹ sẽ được chia theo pháp luật về thừa kế
- Đứa con người thừa kế hàng thứ 1 theo quy định pháp luật nên thể thừa kế tài sản đó(
theo khoản 1.a điều 651 bộ luật dân sự 2015)
4/ Khi một người bị tuyên bố đã chết trở về hoặc tin tức xác thực người đó còn sống thì giải
quyết như thế nào?
HƯỚNG GIẢI QUYẾT:
Khi một người bị tuyên bố đã chết trở về hoặc tin tức xác thực người đó còn sống thì theo
yêu cầu của người đó hoặc của người quyền, lợi ích liên quan, Toàn án ra quyết định hủy bỏ
quyết định tuyên bố người đó đã chết( khoản 1 điều 73)
Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố đã chết được khôi phục khi Toàn án ra quyết định hủy
bỏ quyết định tuyên bố người đó đã chết, trừ các TH sau đây:
- Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố đã chết đã được Tòa án cho ly hôn thì quyết định
cho ly hôn vẫn hiệu lực pháp luật
- Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó
vẫn hiệu lực pháp luật( khoản 2 điều 73)
Quan hệ tài sản:
- Người bị tuyên bố đã chết còn sống quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa
kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn
- Trong trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố đã chết biết người này còn sống
cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể
cả hoa lợi, lợi tức, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường( khoản 3 điều 73)
II/ PHÁP NHÂN
1/ Tài sản của PN sẽ độc lập với tài sản của chính thành viên của PN đó
+ A,B,C góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn X
+ số vốn góp của các thành viên: A góp 1 tỷ, B góp 2 tỷ, C góp 3 tỷ
+ vốn điều lệ công ty X 6 tỷ
+ NẾu X phá sản thì công ty chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn điều lệ
+ A,B,C chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp
2/ Trách nhiệm dân sự của pháp nhân
- Vd: Ông A đại diện theo pháp luật của công ty TNHH. Ông A thay mặt công ty hợp
đồng với ông B để mua mía. Hợp đồng này sẽ phát sinh quyền nghĩa vụ đối với công ty X,
không phải quyền nghĩa vụ của ông A
3/ Ông A cổ đông sáng lập của công ty cổ phần X. Trước khi công ty thành lập. A hợp đồng
thuê nhà của C để làm trụ sở cho công ty X
- Sau khi công ty X được thành lập, C yêu cầu công ty thanh toán tiền thuê nhà nhưng công ty
X không trả
- C đã khởi kiện tòa án
- Tại phiên toàn xét xử thẩm, Tòa án tuyên hợp đồng thuê nhà hiệu hợp đồng thuê nhà
được xác lập khi công ty chưa thành lập, chưa đăng kinh doanh nên không quyền giao
dịch
- C kháng cáo
Anh chị cho biết ý kiến của mình?
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Ông A phải chịu trách nhiệm nhân đối với hợp đồng đó.
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 14 của Luật doanh nghiệp quy định về hợp đồng trước đăng
kinh doanh. Trường hợp Ông A hợp đồng theo thoả thuận của các thành viên sáng lập
nhưng sau đó công ty không được thành lập thì Ông A phải chịu trách nhiệm hoặc liên đới
chịu trách nhiệm tài sản về việc thực hiện hợp đồng đó.
III/ GIAO DỊCH DÂN SỰ
1/ Ông M luật sư, bạn A. A đã hỏi vay ông M 30 triệu nhiều lần nhưng ông M không
cho vay
- Một lần , ông M đang ngồi uống café với bạn, A đã tìm đến đe dọa ông M trước mọi
người. Nếu ông M không cho vay tiền, A sẽ tố cáo quan hệ bất chính của ông M A
đến văn phòng luật nơi ông M đang làm việc để thông tin cho mọi người để biết về quan
hệ bất chính giữa A ông M
- Trước lời đe dọa của A, ông M đã miễn cưỡng cho A vay tiền
- Giao dịch dân sự vay tiền nêu trên hiệu do bị đe dọa không?
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Theo tình huống, ông M luật ông am hiểu tất cả về luật biết trong trường hợp này
phải giao dịch dân sự bị đe dọa hay không
- Trong trường hợp này, ông bị A đe dọa ông M quan hệ bất chính đối với A nhưng
lại không phản ứng điều A cho mọi người biết về quan hệ bât chính giữa 2 người
đúng
- vậy giao dịch dân sự trên không bị hiệu hoàn toàn căn cứ pháp
2/ Công ty X công ty Y hợp đồng số 06 mua bán máy móc thiết bị với đồng tiền thanh toán
đồng tiền Việt Nam, giá tạm tính được quy đổi từ đơn giá tính bằng USD
- Khoản 13 điều 1 pháp lệnh ngoại hối năm 2013 quy định cụ thể:
Trên lãnh thổ Việt nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá,
ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận các hình thức tương tự khác ( gồm quy đổi hoặc điều
chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận) không được thực hiện bằng
ngoại hối, trừ trường hợp được phép theo quy định của ngân hàng nhà nước Việt Nam”
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Trong TH này, vẫn được thực hiện giao dịch.
- Theo điều 123, Giao dịch dân sự hiệu khi vi phạm điều cấm của luật, không phải pháp
luật. đây, Pháp lệnh Ngoại hối 2013 chỉ văn bản dưới luật chứ không phải văn bản luật.
vậy không sở pháp để tuyên bố hợp đồng hiệu.
3/ Vợ chồng ông A B một tài sản chung. Sau năm 1975, ông A đi học tập cải tạo, B đã
lập văn bản để thế chấp nhà để vay C một số vàng.
- Sau đó, ông A đi cải tạo về, B vay thêm một số vàng nữa ghi chú: Khi nào điều
kiện trả đủ số vàng thì tôi lấy lại nhà…”
- Năm 2003, C xuất trình giấy viết tay mua nhà do B bán để làm giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà.
- Năm 2007, C bán nhà cho ông D thì ông A đã làm đơn kiện nên chính quyền thu hồi
GCNQSH nhà
Ý kiến của bạn về vụ việc này? Ông D phải người thứ 3 ngay tình?
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Việc bán nhà của B cho ông C hiệu vì:
+ Nhà tài sản chung của ông A B nên việc bán nhà chỉ do B xác lập không đúng
quy định của pháp luật về định đoạt tài sản chung của vợ chồng
+ Hình thức hợp đồng mua bán nhà giấy tay không đúng quy định của pháp luật
- Ông D mua nhà của C trên sở giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà do quan thẩm
quyền cấp nên ông D người thứ 3 ngay tình
- Do ông C D chưa chuyển quyền sở hữu nên ông D phải trả lại nhà, nếu thiệt hại thì
quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
4/ dụ về nhầm lẫn 1
- A B nhờ C xác định niên đại 01 bình cổ. Do ít kinh nghiệm nên C cho rằng chiếc bình cổ
thời nhà Thanh.
- Trên sở đó, A B xác lập giao dịch mua bán chiếc bình cổ với giá 1000 USD
- Sau đó, B định bán cho D ( chuyên gia hàng đầu về đồ cổ) thì mới biết chiếc bình cổ đời nhà
Minh, trị giá 5000 USD
- Biết chuyện, A khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên giao dịch dân sự hiệu
Các bạn cho biết ý kiến về vụ việc?
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Theo bộ luật dân sự 2005 thì GDDS không bị hiệu do sự nhầm lẫn 2 bên, theo điều 131
- Theo bộ luật dân sự 2015 thì GDDS bị hiệu giao dịch không đạt được mục đích khi
sự nhầm lẫn về tính chất của đối tượng của giao dịch xảy ra thì bên A không nhận được số
tiền xứng đáng bên A có.
+ A muốn bán bình đúng giá trị thực, nhưng khi bán thì bị nhầm lẫn từ thời nhà Minh sang
nhà Thanh nên không đúng với giá trị thực.
+ Với yêu cầu đó, Tòa đủ sở pháp để tuyên bố gdds hiệu để đảm bảo quyền lợi
của A
5/ dụ về nhầm lẫn 2
VỤ BELL chống lại Lever Brothers Ltd năm 1932
- Trong quá trình cải tổ công ty, ông Bell- thành viên Ban giám đốc- đồng ý thôi việc nếu công
ty tra khoản tiền trợ cấp 30.000 bảng Anh/ lần.
Công ty Bell đã thỏa thuận.
- Trước đó, Bell đã vi phạm nội quy công ty nhưng cả 2 đều không biết với vi phạm đó nếu
theo hợp đồng lao động thì Bell sẽ bị chấm dứt hợp đồng lao động trước hạn không nhận
được bất cứ khoản trợ cấp nào.
- Sau đó, công ty mới phát hiện ra không trả tiền trợ cấp cho Bell
- Bell đã khởi kiện ra tòa án yêu cầu công ty trả tiền trợ cấp như đã thỏa thuận
- Toàn tuyên hợp đồng hiệu đây sự nhầm lẫn về các yếu tố chung liên quan đến ý chí
chung của các bên ràng quan trọng đến mức nếu các bên biết trước điều đó thì sẽ
không bao giờ thỏa thuận
6/ Ông Hưng Dung vợ chồng. Dung tài sản riêng một ngôi nhà. Năm 2010 Dung
chết, không để lại di chúc. Dung còn mẹ, hai con Hương Huy
- Năm 2011, ông Hưng, ngoại, Hương( 16 tuổi) Huy ( 10 tuổi) cùng nhau đến phòng
công chứng số 1 Thanh Hóa để lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản.
- Theo thỏa thuận, mọi người thống nhất giao toàn bộ căn nhà của Dung cho ông Hưng toàn
quyền sở hữu.
- Sau khi lập văn bản thỏa thuận, ông Hưng làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu rồi
đem thế chấp ngân hàng.
- Năm 2014, Hương khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận hiệu
- Yêu cầu của Hương sở pháp không? sao?
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Đầu tiên, vào năm 2011, khi lập văn bản thoả thuận phân chia tài sản, Hương người chưa
thành niên. Theo khoản 4 Điều 21 BLDS 2015 thì “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ
mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan
đến bất động sản, động sản phải đăng giao dịch dân sự khác theo quy định của luật
phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.” Tức trong thoả thuận phân chia tài sản
này, Hương không quyền tự đứng ra xác lập giao dịch dân sự phải được ông Hưng
đồng ý.
- Như đã nêu trên tình huống, thoả thuận đã được lập tại phòng công chứng số 1 Thanh Hoá
với kết quả “mọi người thống nhất giao toàn bộ căn nhà của Dung cho ông Hưng toàn
quyền sở hữu”, vậy ta thể hiểu rằng ông Hưng đã đồng ý cho Hương xác lập giao dịch
dân sự (cụ thể vào văn bản thoả thuận phân chia tài sản).
- Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 141 BLDS 2015 thì: “Một nhân, pháp nhân
thể đại diện cho nhiều nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh
người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ
ba mình cũng người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật quy định
khác.” Do đó, nếu như trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, ông Hưng sẽ tham
gia đồng thời với hai cách: một chính mình với cách người được hưởng di sản thừa
kế của vợ, hai người đại diện theo pháp luật của 2 con chưa thành niên. Điều này không thể
thực hiện được, người chồng không thể đại diện cho con chưa thành niên để tặng cho phần
di sản của các con cho chính mình.
- vậy văn bản thoả thuận đã được lập ra nhưng thực chất chiếu theo quy định của pháp
luật thì văn bản thoả thuận đó không thể thực hiện. vậy sau khi Hương đã thành niên,
hoàn toàn sở pháp để khởi kiện yêu cầu toà án tuyên bố thoả thuận hiệu.
7/ Nguyên đơn A hợp đồng thuê Bị đơn Công ty B thực hiện dịch vụ vấn pháp ly đòi nợ.
Hợp đồng điều kiện tiền thù lao dịch vụ được trả 60%
Tại thời điểm xác lập giao dịch. Bị đơn B chưa đăng hoạt động hành nghề vấn pháp
theo quy định
Tuy nhiên, B đã thực hiện các hoạt động ván cho ông A đat được một số kết quả nhất định
Sau đó, trong quá trình thực hiện công việc, giữa các bên bất đồng
A yêu cầu tòa án huy bỏ hợp đồng đã kết giữa A B, buộc B phải trả lại toàn bộ tiền thù
lao đã nhận
Hợp đồng nêu trên giá trị pháp không?
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Tại thời điểm xác lập giao dịch với A (kí hợp đồng với A), B chưa đăng hoạt động hành
nghề vấn pháp theo quy định. Theo quy định tại khoản 2 Điều 86 BLDS 2015 thì
“Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được quan nhà nước
thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng hoạt động thì
năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký.” Do đó
việc B chưa đăng hành nghề dẫn đến việc B chưa phải một pháp nhân từ đó cũng
không năng lực pháp luật dân sự.
- Như vậy, B không thoả mãn điều kiện chủ thể để tham gia vào giao dịch dân sự (theo quy
định tại khoản 1 điều 117) hợp đồng giữa A B không giá trị pháp lý.
8/ A ( nguyên đơn- vợ), B(bị đơn- chồng) lập văn bản thỏa thuận li hôn chia tài sản chung
- Trong quá trình làm thủ tục ly hôn, A không đồng ý về phương án chia tài sản nhưng B đã
đánh đập, thúc ép. Để được li hôn, không bị đánh đập để con gái được an tâm thi tốt
nghiệp nên mãi đến 13h30 ngày xét xử thẩm, A mới đồng ý vào giấy thuận tình li hôn
giao nhà cho B sở hữu
- Tại phiên tòa thẩm phúc thẩm, A đều cho bằng bản thân bị B đe dọa, cưỡng ép tinh
thần nên mới thỏa thuận. B phủ nhận
- Đây phải giao dịch dân sự do bị đoe dọa hay không? Nêu ý kiến?
- HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- - Theo điều 127 bộ luật dân sự 2015, A không những bị đánh đập, thúc ép làm ảnh hưởng
đến người con gái; đủ sở để cho B lo sợ cho chính bản thân cho con gái khiến A
phải thỏa thuận li hôn đồng ý giao nhà cho B
Tòa án đủ sở pháp để tuyên bố giao dịch dân sự hiệu
IV/ ĐẠI DIỆN
1/ Công ty X Cyprus(Nguyên đơn) Công ty Việt Nam(Bị đơn) xác lập một hợp đồng. Trong phần
đại diện, Công ty Việt Nam do ông Q Phó tổng giám đốc kí.
- Hợp đồng con dấu của bị đơn
- Đại diện hợp pháp của Bị đơn P chủ tịch hội đồng quản trị
- Hợp đồng không nêu ông Q được ủy quyền của người đại diện hợp pháp của Bị đơn
hay không
- Hợp đồng đã được các bên thực hiện: Nguyên đơn đã chuyển tiền Bị đơn thừa nhận đã
nhận tiền
- P đã từng viết email cho nguyên đơn: Chúng tôi rất trân trọng những nội dung công
việc các bên đã làm việc đã kết
Hãy cho biết ý kiến của bạn về hợp đồng nêu trên?
BÀI LÀM
- Trong vụ việc trên, hợp đồng con dấu của Bị đơn chữ của ông Q với cách Phó
tổng giám đốc của Bị đơn. Hợp đồng không nêu ông Q được ủy quyền của người đại
diện hợp pháp của Bị đơn hay không. Tuy nhiên, ta vẫn sở pháp để khẳng định hợp
đồng này vẫn ràng buộc Bị đơn.
- Khoản 1, Điều 142 BLDS 2015 đã quy định: Giao dịch dân sự do người không quyền đại
diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ
một trong các trường hợp sau đây:
a) Người được đại diện đã công nhận giao dịch;
b) Người được đại diện biết không phản đối trong một thời hạn hợp lý;
c) Người được đại diện lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết
về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không quyền đại diện.”
- Cụ thể, trong nội dung vụ việc trên, Bị đơn đã THỪA NHẬN đã nhận tiền. Việc thừa nhận
nhận tiền từ phía Bị đơn (cụ thể P) đã cho thấy bên Bị đơn công nhận giao dịch này.
Thêm vào đó, P cũng từng viết email cho Nguyên đơn với nội dung: chúng tôi rất trân
trọng những nội dung công việc các bên đã làm việc đã kết, điều này càng cho
thấy sự công nhận của P (hay công ty Việt Nam) đối với bản hợp đồng trên. Từ 02 lẽ
trên, cùng với khoản 1 điều 142 BLDS đã trích trên, ta khẳng định rằng người được đại
diện (cụ thể P người đại diện cho công ty Việt Nam) đã công nhận giao dịch hợp đồng
trên với công ty Cyprus.
thế hợp đồng này vẫn giá trị pháp , vẫn ràng buộc các bên trong việc thực hiện quyền
nghĩa vụ đúng với thoả thuận trong hợp đồng.
2/ Năm 2009, Công ty Đài Loan( Nguyên đơn) Công ty Việt Nam(Bị đơn) xác lập một hợp đồng
mua bán. Ông D đại diện theo pháp luật của bị đơn
Các bên xảy ra tranh chấp:
- Nguyên đơn cho rằng D đại diện theo pháp luật của Bị đơn nên hợp đồng ràng buộc Bị đơn
- Bị đơn cho rằng ông D thành viên góp vốn của công ty, các thông tin Nguyên đơn đưa ra
không chính xác nên hợp đồng không ràng buộc bị đơn
Thông tin cung cấp từ Sở kế hoạch Hồ Chí Minh:
+ Người đại diện theo pháp luật của công ty N.T.T.N
+ Ngày 20/7/2005, Công ty được cấp giấy đăng thay đổi người đại diện theo pháp luật mới
D
+ Ngày 30/3/2011, Công ty được cấp giấy đăng thay đổi người đại diện theo pháp luật mói
N.T.T.N
QUAN ĐIỂM CỦA BẠN VỀ VỤ VIỆC?
BÀI LÀM
- Tồn tại một hợp đồng mua bán được xác lập năm 2009 giữa Công ty Đài Loan, Trung Quốc
(Nguyên đơn - Bên bán) Công ty Việt Nam (Bị đơn - Bên mua). Về phía Bị đơn, hợp đồng
nêu người đại diện ông D. Khi tranh chấp, Bị đơn cho rằng “các thông tin
Nguyên đơn đưa ra không chính xác” để phủ nhận hợp đồng. Tuy nhiên, ta vẫn sở
pháp để khẳng định hợp đồng này vẫn ràng buộc Bị đơn.
- Cụ thể, theo quy định tại điều 135 BLDS 2015 về căn cứ xác lập quyền đại diện: Quyền đại
diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện người đại diện (sau đây gọi
đại diện theo ủy quyền); theo quyết định của quan nhà nước thẩm quyền, theo điều lệ
của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung đại diện theo pháp
luật).” Trong vụ việc trên, vào ngày 20/07/2005, Công ty được Sở kế hoạch Hồ Chí Minh
quan nhà nước thẩm quyền cấp giấy đăng thay đổi người đại diện theo pháp luật mới
D. Như vậy, từ thời điểm này, ông D chính người đại diện theo pháp luật của công ty
Việt Nam. Tiếp đó, vào ngày 30/03/2011, Công ty được cấp giấy đăng thay đổi người đại
diện theo pháp luật mới N.T.T.N, tính từ thời điểm ngày 30/03/2011, N.T.T.N chính thức
thay thế ông D trở thành người đại diện theo pháp luật của bên Bị đơn. Tuy nhiên, hợp đồng
được xác lập giữa hai công ty người đại diện đứng ra xác lập ông D lại được xác lập
vào năm 2009, tức vẫn nằm trong khoảng thời gian ông D người đại diện theo pháp luật
của Công ty Việt Nam. vậy, khẳng định của bên Bị đơn về việc ông D không đủ cách
đại diện hoàn toàn không căn cứ. Việc thay đổi người đại diện hoàn toàn không làm ảnh
hưởng đến giá trị pháp của bản hợp đồng ông D đã xác lập trước đó.
- Thêm vào đó, theo quy định tại khoản 1 điều 139 BLDS 2015, Giao dịch dân sự do người
đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh
quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện.” Như vậy, hợp đồng ông D người đại diện
theo pháp luật cho bên Bị đơn với bên Nguyên đơn hoàn toàn giá trị pháp làm
phát sinh quyền nghĩa vụ đối với đôi bên theo đúng hợp đồng.
- vậy, hợp đồng giữa hai công ty vẫn hiệu lực, vẫn ràng buộc hai bên trong việc
thực hiện quyền nghĩa vụ theo đúng thoả thuận đã đặt ra trong hợp đồng.
V/ THỜI HẠN, THỜI HIỆU
1/ A cho B mượn xe đạp vào thứ 7 ngày 07/03/2020. Thời hạn mượn 2 tuần.
Hãy xác định thời hạn bắt đầu thời hạn kết thúc giao dịch mượn xe đạp
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Thời hạn bắt đầu: ngày 08/03/2020
- Thời hạn kết thúc: 24h ngày 23/03/2020 ( ngày 22/03/2020 chủ nhật)
2/ Tình huống
- Ngày 01/02/2018, ông A buộc phải hợp đồng với ông B bị ông B đe dọa
- Ngày 01/02/2020, ông A quyết định khởi kiện, yêu cầu TAND tuyên bố hợp đồng giữa ông A
ông B hiệu. Trên đường đi khởi kiện, ông A bị tai nạn giao thông nhập viện điều trị
trong thời gian 4 tháng
- Sau khi ra viện, ngày 10/06/2020, ông A đã nộp đơn khởi kiện tới TAND
Hãy cho biết, ông A khởi kiện vào thời điểm như đã nêu đảm bảo quy định về thời
hiệu khởi kiện không?
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Theo tình huống thì ông A buộc hợp đồng với ông B buộc đe dọa
- Chiếu theo điều 127 thì hợp đồng hiệu chủ thể bị đe dọa
- Theo điều 132 từ điều 125 điều128; tuyên bố giao dịch dân sự này hiệu trong thời
hạn 2 năm nhưng khi hợp đồng vào ngày 1/2/2018 thì hợp đồng này sẽ kết thúc vào ngày
1/2/2020
- Trong ngày 1/2/2020 thì ông A bị tai nạn trên đường đi tới tòa án, chiếu theo khoản 1 điều
156 thì thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, ông A phải mất thời gian
điều trị trong vòng 4 tháng thì trong vòng 4 tháng không đươc tính sẽ dời vào ngày
1/6/2020 nhưng tới ngày 10/6/2020 thì ông A đâm đơn khởi kiện lại thì thời gian này quá thời
hiệu quy định
- Nên yêu cầu ông A sẽ không được thực hiện
Ông A khởi kiện vào thời điểm như trên không đảm bảo quy định về thời hiệu
- Nếu 2 bên không yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện thì vẫn giải quyết được vụ án
VI/ TÀI SẢN
1/ Tài sản ảo”có được công nhận một trong các loại tài sản theo quy định của BLDS?
- Tài sản ảo đối tượng “ảo” trong thế giới ảo. Đây những nhân vật, đồ vật trong các trò
chơi trực tuyến người chơi đã kiếm được.
2/ 10 hộ dân bị vây bọc bởi bất động sản của ông A
- Ông A đã để một lối đi trên đất của mình với chiều ngang 1,2m cho 10 hộ dân
- Năm 2017, ông A chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình cho B
- Sau đó, B đã rào chắn một phần lối đi của 10 hộ dân chỉ chừa lại một lối đi nhỏ
- Các hộ dân không đồng ý
Anh chị biết hướng xử vụ việc?
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- 10 hộ dân bị vây bởi đất ông A, theo khoản 1 điều 254 thì chủ sở hữu BĐS bị vây bọc bởi các
BĐS của các chủ sở hữu khác không lối đi ra đường công cộng, quyền yêu cầu chủ
sở hữu BĐS vây bọc dành cho mình một lối đi hợp trên phần đất của họ các hộ dân
quyền yêu cầu B cho mình 1 lối đi hợp trên đất của họ lối đi được mở 1 cách thuận
tiện hợp nhất ít gây ra thiệt hại nhất
- Theo khoản 2, quyền yêu cầu B mở thêm 1 lối đi vị trí, giới hạn chiều dài, chiều
rộng, chiều cao theo thỏa thuận hợp ít gây phiền hà.
3/ Nhà nước thu hồi phần lớn diện tích đất của vợ chồng ông Đinh giao cho Công ty Japa thuê trong
thời hạn 30 năm
- Phần còn lại khoảng 550m2 phía trong đất trồng lúa nhà do ông Đinh xây dựng
trong khi chưa chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất trồng lúa sang đất ở.
- Do không lối đi ra đường công cộng cho phần đất còn lại nên vợ chồng ông Đinh đề nghị
công ty Japa mở lối đi
- Yêu cầu này không được Tòa án chấp nhận với do: đất trồng lúa, nhà xây dựng khi chưa
chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Anh chị cho biết suy nghĩ về hướng giải quyết của Tòa án?
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Quyền về lối đi không phụ thuộc vào mục đích của việc sử dụng đất.
- Ông Đình xây dựng nhà trên đất trồng lúa vi phạm pháp luật về đất đai sẽ bị xử theo
quy định của pháp luật.
- Ông Đình BĐS bị vây bọc nên vẫn quyền bất động sản liền kề( quyền về lối đi qua)
4/ Ông A xây mộ của bố mẹ trên mảnh đất của bố mẹ để lại
- Ông A đã bán mảnh đất đó cho ông B các bên thỏa thuận khi xây nhà, ông B sẽ để
nguyên vị trí các ngôi mộ.
- Sau đó ông B đã xây nhà không chừa lối đi vào các ngôi mộ.
- Ông A được yêu cầu ông B mở lối đi riêng không?
Anh chị hãy cho biết ý kiến về vấn đề này?
VII/ QUYỀN THỪA KẾ
1/ Tình huống xác định di sản 2
- A B vợ chồng
- Anh A 1 khoản tiền sở hữu riêng 5 tỷ đồng
- Trong thời hôn nhân, A đem gửi số tiền tiết kiệm trên
- A chết, số tiền lãi từ sổ tiết kiệm của A 400 triệu đồng
Hãy xác định tài sản của A?
- Tài sản của A:
+ 5 tỷ đồng( tài sản thuộc sở hữu riêng)
+ 200 triệu đồng( lãi tiết kiệm được coi tài sản chung nên chia đôi)
2/ Tình huống về chết cùng thời điểm 1
- A B vợ chồng, hai người con A1 A2. A1 vợ M.
- Ngày 01/07/2017, ông A A1 bị tai nạn giao thông được xác định chết cùng thời điểm.
- Hãy chia thừa kế biết:
+ Tài sản chung của A B 180tr
+ Tài sản chung của A1 M 160tr
( Tình huống được giả định không di chúc)
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
1- Chia di sản thừa kế của A
- Xác định di sản của A 180tr:2=90tr
- Chủ thể được hưởng thừa kế của A gồm B A2 thuộc hàng thừa kế 1( không A1 chết
cùng thời điểm)
Do đó, B=A2=90:2=45tr
2- Chia di sản thừa kế của A1
- Xác định di sản của A1: 160tr:2=80tr
- Chủ thể được hưởng thừa kế của A1 gồm B M ( không A chết cùng thời điểm)
Do đó, B=M=80tr:2=40tr
3/ Ông A vợ B, con C(2004), D(2006), E(2010)
- Năm 2017, ông A lập di chúc để lại toàn bộ tài sản riêng của mình trị giá 480tr đồng cho
M
- Năm 2018, ông A chết
- Năm 2020, M đã yêu cầu B,C,D,E đưa toàn bộ số tài sản riêng của A để hưởng quyền thừa
kế theo di chúc
Hãy xác định phần di sản M được hưởng
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Theo quy định B,C,D,E những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
- Giả sử di sản của A được chia theo pháp luật:
+ Giá trị di sản: 480tr
+ Số người thừa kế hàng thứ nhất: B,C,D,E
Giá trị của một suất thừa kế pháp luật: 480tr:4=120tr
Giá trị của một suất thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:2/3*120=80tr
- Vậy B=C=D=E=80tr
- Số di sản M được hưởng: 480 (80*4)=160tr.
4/ Tình huống
- A B vợ chồng, 2 con A1 A2
- Năm 2017, A lập di chúc để lại toàn bộ tài sản 900tr đồng của A cho vợ các con
- Năm 2018, A1 chết, không di chúc
- Năm 2019, A chết không sửa di chúc
Hỏi phần di sản của A1 theo di chúc của A được giải quyết như thế nào?
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- di chúc nên khi A chết, trước hết di sản của A sẽ được chia theo di chúc:
B=A1=A2=900tr:3=300tr
- Do A1 chết trước A nên phần di sản của A1 theo di chúc của A không hiệu lực nên phần
đó chia theo pháp luật:
B=A2=X+Y=300tr:3=100tr
5/ Tình huống thừa kế 1
- A B vợ chồng, 3 con A1, A2, A3. A1 vợ M sinh được 2 con X Y
- NĂm 2017, B A1 chết cùng thời điểm
- NĂm 2018, A chết không để lại di chúc. Di sản của A 1,2 tỉ
Hãy chia thừa kế di sản của A?
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- A Chết không để lại di chúc nên di sản của A được chia theo pháp luật
- B A1 chết trước A nên những người được hưởng thừa kế của A gồm: A2, A3 X+Y (
thế vị cho A1)
- A2=A3=X+Y=1,2 tỉ:3=400tr
- X=Y=400:2=200tr
6/ Tình huống thừa kế 2
- A B vợ chồng, 3 con A1,A2,A3. A1 vợ M sinh được 2 con X Y
- Năm 2017, A chết không để lại di chúc. Di sản của A 1,2 tỉ
- Năm 2018, A1 chết không để lại di chúc
- Năm 2019, di sản của A được phân chia
Di sản của A sẽ chia cho những người thừa kế nào?
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- A Chết không để lại di chúc nên di sản của A được chia theo pháp luật
- A1 chết sau A nên A1 vẫn được hưởng di sản của A
- Năm 2019, di sản của A được chia như sau:
B=A1=A2=A3=1,2tỉ:4=300tr
- A1 chết không để lại di chúc nên di sản của A1 được phân chia:
B=M=X=Y=300tr:4=75tr
( X,Y hưởng thừa kế trong trường hợp này được gọi thừa kế chuyển tiếp)
7/ Tình huống thừa kế 3
- A B vợ chồng, 3 con A1, A2, A3. A1 vợ M sinh được 2 con X, Y
- Năm 2017, A1 chết
- Năm 2018, A chết để lại di chúc chia toàn bộ di sản 1,2 tỉ cho vợ các con
Hãy phân chia di sản của A
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- A chết để lại di chúc nên trước hết sẽ chia:
B=A1=A2=A3=1,2 TỈ:4=300TR
- Do A1 chết trước A nên phần di sản của A1 theo di chúc sẽ không hiệu lực được phân
chia theo pháp luật cho những người thừa kế của A:
B=A2=A3=X+Y=300tr:4=75tr
Lưu ý: A để lại di chúc nên X+Y không được thừa kế thế vị cho A1

Preview text:

MỘT SỐ TÌNH HUỐNG DÂN SỰ 1
Giảng viên: Lê Thị Thu Hằng
I/ GIÁM HỘ, TUYÊN BỐ MẤT TÍCH
1/ Vợ tôi đi khỏi nhà từ năm 2017, đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có thông tin gì. Trong quá
trình chung sống, vợ chồn tôi có 1 con và tích lũy được 1 số tài sản
● Nay tôi muốn bán số tài sản đó và tính chuyện kết hon với người khác có được không? LUẬT SƯ TƯ VẤN Về quan hệ nhân thân
- Cần làm thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố vợ mất tích
- Muốn kết hôn, trước hết phải gửi đơn ly hôn với Tòa án
Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toàn án giải quyết ly hôn( Khoản 2 điều 68)
- Khi thủ tục ly hôn hoàn tất thì mới có thể đăng kí kết hôn với người khác Về quan hệ tài sản:
- Việc chia tài sản chung khi ly hôn sẽ được thực hiện trên nguyên tắc chia đôi,, nhưng có xem
xét hoàn cảnh, tình trạng tàn sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc học tập, duy trì,
phát triển tài sản, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con( Khoản 2, điều 59 LHNGĐ, 2014)
- Tài sản của người mất tích được giao cho:
+ Con thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lí
+ Không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lí
+ Nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lí tài sản( điều 68, BLDS 2015)
● Nếu sau khi tôi kết hôn và chia tài sản, vợ tôi trở về thì sao thưa luật sư? Luật sư tư vấn: - Khoản 1 điều 70 - Khoản 2 điều 70 - Khoản 3 điều 70
2/ Chồng tôi bỏ nhà đi biệt tích 7 năm. Tôi đã thông báo tìm kiếm khắp nơi nhưng không có thông
tin xác thực là còn sống
Nay tôi muốn kết hôn với người khác được không? HƯỚNG GIẢI QUYẾT
Đối với quan hệ nhân thân
- Cần làm thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố chồng đã chết
- Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu luật pháp luật thì quan hệ
về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối
với người đã chết( khoản 1, điều 72)
3/ Mẹ em bỏ đi đến nay khoảng 06-07 năm mà không có tin tức xác thực là còn sống hay đã chết.
Lúc mẹ em bỏ đi, ba em còn sống, ba có vô trong trưởng ấp trình báo, rồi ba em mất mẹ em cũng không về.
Em là con duy nhất của ba mẹ. Giờ em muốn hưởng thừa kế tài sản của mẹ em có được không? HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Sau 5 năm biệt tích, dù đã nỗ lực tìm kiếm nhưng không có tin tức thì có thể yêu cầu tòa án tuyên bố là đã chết
- Đứa con có thể đưa đơn lên tòa án để yêu cầu tòa án tuyên bố bà mẹ chết
- Các tài sản của ba và mẹ sẽ được chia theo pháp luật về thừa kế
- Đứa con là người thừa kế ở hàng thứ 1 theo quy định pháp luật nên có thể thừa kế tài sản đó(
theo khoản 1.a điều 651 bộ luật dân sự 2015)
4/ Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì giải quyết như thế nào? HƯỚNG GIẢI QUYẾT:
Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo
yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toàn án ra quyết định hủy bỏ
quyết định tuyên bố người đó là đã chết( khoản 1 điều 73)
Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi Toàn án ra quyết định hủy
bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết, trừ các TH sau đây:
- Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Tòa án cho ly hôn thì quyết định
cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật
- Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó
vẫn có hiệu lực pháp luật( khoản 2 điều 73) Quan hệ tài sản:
- Người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa
kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn
- Trong trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này còn sống mà
cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể
cả hoa lợi, lợi tức, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường( khoản 3 điều 73) II/ PHÁP NHÂN
1/ Tài sản của PN sẽ độc lập với tài sản của chính thành viên của PN đó
+ A,B,C góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn X
+ số vốn góp của các thành viên: A góp 1 tỷ, B góp 2 tỷ, C góp 3 tỷ
+ vốn điều lệ công ty X là 6 tỷ
+ NẾu X phá sản thì công ty chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn điều lệ
+ A,B,C chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp
2/ Trách nhiệm dân sự của pháp nhân
- Vd: Ông A là đại diện theo pháp luật của công ty TNHH. Ông A thay mặt công ty kí hợp
đồng với ông B để mua mía. Hợp đồng này sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với công ty X,
không phải là quyền và nghĩa vụ của ông A
3/ Ông A là cổ đông sáng lập của công ty cổ phần X. Trước khi công ty thành lập. A có kí hợp đồng
thuê nhà của C để làm trụ sở cho công ty X
- Sau khi công ty X được thành lập, C yêu cầu công ty thanh toán tiền thuê nhà nhưng công ty X không trả
- C đã khởi kiện tòa án
- Tại phiên toàn xét xử sơ thẩm, Tòa án tuyên hợp đồng thuê nhà vô hiệu vì hợp đồng thuê nhà
được xác lập khi công ty chưa thành lập, chưa đăng kí kinh doanh nên không có quyền giao dịch - C kháng cáo ⇨
Anh chị cho biết ý kiến của mình? HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Ông A phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với hợp đồng đó.
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 14 của Luật doanh nghiệp quy định về hợp đồng trước đăng ký
kinh doanh. Trường hợp Ông A ký hợp đồng theo thoả thuận của các thành viên sáng lập
nhưng sau đó công ty không được thành lập thì Ông A phải chịu trách nhiệm hoặc liên đới
chịu trách nhiệm tài sản về việc thực hiện hợp đồng đó.
III/ GIAO DỊCH DÂN SỰ
1/ Ông M là luật sư, có bạn là bà A. Bà A đã hỏi vay ông M 30 triệu nhiều lần nhưng ông M không cho vay
- Một lần , ông M đang ngồi uống café với bạn, bà A đã tìm đến và đe dọa ông M trước mọi
người. Nếu ông M không cho vay tiền, bà A sẽ tố cáo quan hệ bất chính của ông M và bà A
đến văn phòng luật sư nơi ông M đang làm việc để thông tin cho mọi người để biết về quan
hệ bất chính giữa bà A và ông M
- Trước lời đe dọa của bà A, ông M đã miễn cưỡng cho bà A vay tiền
- Giao dịch dân sự vay tiền nêu trên có vô hiệu do bị đe dọa không? HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Theo tình huống, ông M là luật sư  ông am hiểu tất cả về luật và biết trong trường hợp này
có phải là giao dịch dân sự bị đe dọa hay không
- Trong trường hợp này, ông bị bà A đe dọa là ông M có quan hệ bất chính đối với bà A nhưng
lại không có phản ứng gì  điều bà A cho mọi người biết về quan hệ bât chính giữa 2 người là đúng
- Vì vậy giao dịch dân sự trên không bị vô hiệu và hoàn toàn có căn cứ pháp lí
2/ Công ty X và công ty Y kí hợp đồng số 06 mua bán máy móc thiết bị với đồng tiền thanh toán là
đồng tiền Việt Nam, giá tạm tính được quy đổi từ đơn giá tính bằng USD
- Khoản 13 điều 1 pháp lệnh ngoại hối năm 2013 quy định cụ thể:
“ Trên lãnh thổ Việt nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá,
ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác ( gồm quy đổi hoặc điều
chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận) không được thực hiện bằng
ngoại hối, trừ trường hợp được phép theo quy định của ngân hàng nhà nước Việt Nam” HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Trong TH này, vẫn được thực hiện giao dịch.
- Theo điều 123, Giao dịch dân sự vô hiệu khi vi phạm điều cấm của luật, không phải là pháp
luật. Ở đây, Pháp lệnh Ngoại hối 2013 chỉ là văn bản dưới luật chứ không phải văn bản luật.
Vì vậy không có cơ sở pháp lí để tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
3/ Vợ chồng ông A và bà B có một tài sản chung. Sau năm 1975, ông A đi học tập cải tạo, bà B đã
lập văn bản để thế chấp nhà để vay C một số vàng.
- Sau đó, ông A đi cải tạo về, bà B có vay thêm một số vàng nữa và ghi chú: “ Khi nào có điều
kiện trả đủ số vàng thì tôi lấy lại nhà…”
- Năm 2003, C có xuất trình giấy viết tay mua nhà do bà B kí bán để làm giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà.
- Năm 2007, C bán nhà cho ông D thì ông A đã làm đơn kiện nên chính quyền thu hồi GCNQSH nhà ở ⇨
Ý kiến của bạn về vụ việc này? Ông D có phải là người thứ 3 ngay tình? HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Việc bán nhà của bà B cho ông C vô hiệu vì:
+ Nhà là tài sản chung của ông A và bà B nên việc bán nhà chỉ do bà B xác lập là không đúng
quy định của pháp luật về định đoạt tài sản chung của vợ chồng
+ Hình thức hợp đồng mua bán nhà giấy tay không đúng quy định của pháp luật
- Ông D mua nhà của C trên cơ sở giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà do cơ quan có thẩm
quyền cấp nên ông D là người thứ 3 ngay tình
- Do ông C và D chưa chuyển quyền sở hữu nên ông D phải trả lại nhà, nếu có thiệt hại thì có
quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
4/ Ví dụ về nhầm lẫn 1
- A và B nhờ C xác định niên đại 01 bình cổ. Do ít kinh nghiệm nên C cho rằng chiếc bình cổ thời nhà Thanh.
- Trên cơ sở đó, A và B xác lập giao dịch mua bán chiếc bình cổ với giá 1000 USD
- Sau đó, B định bán cho D ( chuyên gia hàng đầu về đồ cổ) thì mới biết chiếc bình cổ đời nhà Minh, có trị giá 5000 USD
- Biết chuyện, A khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên giao dịch dân sự vô hiệu ⇨
Các bạn cho biết ý kiến về vụ việc? HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Theo bộ luật dân sự 2005 thì GDDS không bị vô hiệu do có sự nhầm lẫn 2 bên, theo điều 131
- Theo bộ luật dân sự 2015 thì GDDS bị vô hiệu vì giao dịch không đạt được mục đích vì khi
sự nhầm lẫn về tính chất của đối tượng của giao dịch xảy ra thì bên A không nhận được số
tiền xứng đáng mà bên A có.
+ A muốn bán bình đúng giá trị thực, nhưng khi bán thì bị nhầm lẫn từ thời nhà Minh sang
nhà Thanh nên không đúng với giá trị thực.
+ Với yêu cầu đó, Tòa có đủ cơ sở pháp lí để tuyên bố gdds vô hiệu để đảm bảo quyền lợi của A
5/ Ví dụ về nhầm lẫn 2
VỤ BELL chống lại Lever Brothers Ltd năm 1932
- Trong quá trình cải tổ công ty, ông Bell- thành viên Ban giám đốc- đồng ý thôi việc nếu công
ty tra khoản tiền trợ cấp 30.000 bảng Anh/ lần.
Công ty và Bell đã kí thỏa thuận.
- Trước đó, Bell đã vi phạm nội quy công ty nhưng cả 2 đều không biết với vi phạm đó nếu
theo hợp đồng lao động thì Bell sẽ bị chấm dứt hợp đồng lao động trước hạn và không nhận
được bất cứ khoản trợ cấp nào.
- Sau đó, công ty mới phát hiện ra và không trả tiền trợ cấp cho Bell
- Bell đã khởi kiện ra tòa án yêu cầu công ty trả tiền trợ cấp như đã thỏa thuận
- Toàn tuyên hợp đồng vô hiệu vì đây là sự nhầm lẫn về các yếu tố chung liên quan đến ý chí
chung của các bên rõ ràng và quan trọng đến mức mà nếu các bên biết trước điều đó thì sẽ
không bao giờ thỏa thuận
6/ Ông Hưng và bà Dung là vợ chồng. Bà Dung có tài sản riêng là một ngôi nhà. Năm 2010 bà Dung
chết, không để lại di chúc. Bà Dung còn mẹ, có hai con là Hương và Huy
- Năm 2011, ông Hưng, bà ngoại, Hương( 16 tuổi) và Huy ( 10 tuổi) cùng nhau đến phòng
công chứng số 1 Thanh Hóa để lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản.
- Theo thỏa thuận, mọi người thống nhất giao toàn bộ căn nhà của bà Dung cho ông Hưng toàn quyền sở hữu.
- Sau khi lập văn bản thỏa thuận, ông Hưng làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu rồi đem thế chấp ngân hàng.
- Năm 2014, Hương khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu
-  Yêu cầu của Hương có cơ sở pháp lí không? Vì sao? HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Đầu tiên, vào năm 2011, khi lập văn bản thoả thuận phân chia tài sản, Hương là người chưa
thành niên. Theo khoản 4 Điều 21 BLDS 2015 thì “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ
mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan
đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật
phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.”
Tức là trong thoả thuận phân chia tài sản
này, Hương không có quyền tự đứng ra xác lập giao dịch dân sự mà phải được ông Hưng đồng ý.
- Như đã nêu trên tình huống, thoả thuận đã được lập tại phòng công chứng số 1 Thanh Hoá
với kết quả là “mọi người thống nhất giao toàn bộ căn nhà của bà Dung cho ông Hưng toàn
quyền sở hữu”, vì vậy ta có thể hiểu rằng ông Hưng đã đồng ý cho Hương xác lập giao dịch
dân sự (cụ thể là kí vào văn bản thoả thuận phân chia tài sản).
- Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 141 BLDS 2015 thì: “Một cá nhân, pháp nhân có
thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh
người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ
ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.”
Do đó, nếu như trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, ông Hưng sẽ tham
gia đồng thời với hai tư cách: một là chính mình với tư cách là người được hưởng di sản thừa
kế của vợ, hai là người đại diện theo pháp luật của 2 con chưa thành niên. Điều này không thể
thực hiện được, vì người chồng không thể đại diện cho con chưa thành niên để tặng cho phần
di sản của các con cho chính mình.
- Vì vậy dù văn bản thoả thuận đã được lập ra nhưng thực chất chiếu theo quy định của pháp
luật thì văn bản thoả thuận đó là không thể thực hiện. Vì vậy sau khi Hương đã thành niên, cô
hoàn toàn có cơ sở pháp lí để khởi kiện yêu cầu toà án tuyên bố thoả thuận vô hiệu.
7/ Nguyên đơn A kí hợp đồng thuê Bị đơn Công ty B thực hiện dịch vụ tư vấn pháp ly và đòi nợ.
Hợp đồng có điều kiện tiền thù lao dịch vụ được trả là 60%
● Tại thời điểm xác lập giao dịch. Bị đơn B chưa đăng kí hoạt động hành nghề tư vấn pháp lý theo quy định
● Tuy nhiên, B đã thực hiện các hoạt động tư ván cho ông A đat được một số kết quả nhất định
● Sau đó, trong quá trình thực hiện công việc, giữa các bên có bất đồng
● A yêu cầu tòa án huy bỏ hợp đồng đã ký kết giữa A và B, buộc B phải trả lại toàn bộ tiền thù lao đã nhận
● Hợp đồng nêu trên có giá trị pháp lý không? HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Tại thời điểm xác lập giao dịch với A (kí hợp đồng với A), B chưa đăng kí hoạt động hành
nghề tư vấn pháp lí theo quy định. Theo quy định tại khoản 2 Điều 86 BLDS 2015 thì
“Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì
năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký.”
Do đó
việc B chưa đăng kí hành nghề dẫn đến việc B chưa phải là một pháp nhân và từ đó cũng
không có năng lực pháp luật dân sự.
- Như vậy, B không thoả mãn điều kiện chủ thể để tham gia vào giao dịch dân sự (theo quy
định tại khoản 1 điều 117) và hợp đồng giữa A và B không có giá trị pháp lý.
8/ A ( nguyên đơn- vợ), B(bị đơn- chồng) lập văn bản thỏa thuận li hôn và chia tài sản chung
- Trong quá trình làm thủ tục ly hôn, A không đồng ý về phương án chia tài sản nhưng B đã
đánh đập, thúc ép. Để được li hôn, không bị đánh đập và để con gái được an tâm thi tốt
nghiệp nên mãi đến 13h30 ngày xét xử sơ thẩm, A mới đồng ý kí vào giấy thuận tình li hôn và giao nhà cho B sở hữu
- Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, A đều cho bằng bản thân bị B đe dọa, cưỡng ép tinh
thần nên mới kí thỏa thuận. B phủ nhận
- Đây có phải giao dịch dân sự do bị đoe dọa hay không? Nêu ý kiến? - HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- - Theo điều 127 bộ luật dân sự 2015, bà A không những bị đánh đập, thúc ép làm ảnh hưởng
đến người con gái; đủ cơ sở để cho bà B lo sợ cho chính bản thân và cho con gái khiến bà A
phải kí thỏa thuận li hôn và đồng ý giao nhà cho B ⇨
Tòa án đủ cơ sở pháp lí để tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu IV/ ĐẠI DIỆN
1/ Công ty X Cyprus(Nguyên đơn) và Công ty Việt Nam(Bị đơn) xác lập một hợp đồng. Trong phần
đại diện, Công ty Việt Nam do ông Q Phó tổng giám đốc kí.
- Hợp đồng có con dấu của bị đơn
- Đại diện hợp pháp của Bị đơn là bà P chủ tịch hội đồng quản trị
- Hợp đồng không nêu rõ ông Q có được ủy quyền của người đại diện hợp pháp của Bị đơn hay không
- Hợp đồng đã được các bên thực hiện: Nguyên đơn đã chuyển tiền và Bị đơn thừa nhận đã nhận tiền
- Bà P đã từng viết email cho nguyên đơn: Chúng tôi rất trân trọng những nội dung và công
việc mà các bên đã làm việc và đã ký kết
Hãy cho biết ý kiến của bạn về hợp đồng nêu trên? BÀI LÀM
- Trong vụ việc trên, hợp đồng có con dấu của Bị đơn và chữ ký của ông Q với tư cách Phó
tổng giám đốc của Bị đơn. Hợp đồng không nêu rõ ông Q có được ủy quyền của người đại
diện hợp pháp của Bị đơn hay không. Tuy nhiên, ta vẫn có cơ sở pháp lý để khẳng định hợp
đồng này vẫn ràng buộc Bị đơn.

- Khoản 1, Điều 142 BLDS 2015 đã quy định: Giao dịch dân sự do người không có quyền đại
diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ
một trong các trường hợp sau đây:
a) Người được đại diện đã công nhận giao dịch;
b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;
c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết
về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện.”
- Cụ thể, trong nội dung vụ việc trên, Bị đơn đã THỪA NHẬN đã nhận tiền. Việc thừa nhận
nhận tiền từ phía Bị đơn (cụ thể là bà P) đã cho thấy bên Bị đơn công nhận giao dịch này.
Thêm vào đó, bà P cũng từng viết email cho Nguyên đơn với nội dung: chúng tôi rất trân
trọng những nội dung và công việc mà các bên đã làm việc và đã kí kết, điều này càng cho
thấy rõ sự công nhận của bà P (hay công ty Việt Nam) đối với bản hợp đồng trên. Từ 02 lý lẽ
trên, cùng với khoản 1 điều 142 BLDS đã trích ở trên, ta khẳng định rằng người được đại
diện (cụ thể là bà P – người đại diện cho công ty Việt Nam) đã công nhận giao dịch hợp đồng trên với công ty Cyprus.
Vì thế hợp đồng này vẫn có giá trị pháp lý, vẫn ràng buộc các bên trong việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ đúng với thoả thuận trong hợp đồng.
2/ Năm 2009, Công ty Đài Loan( Nguyên đơn) và Công ty Việt Nam(Bị đơn) xác lập một hợp đồng
mua bán. Ông D là đại diện theo pháp luật của bị đơn
Các bên xảy ra tranh chấp:
- Nguyên đơn cho rằng D là đại diện theo pháp luật của Bị đơn nên hợp đồng ràng buộc Bị đơn
- Bị đơn cho rằng ông D là thành viên góp vốn của công ty, các thông tin Nguyên đơn đưa ra là
không chính xác nên hợp đồng không ràng buộc bị đơn
● Thông tin cung cấp từ Sở kế hoạch Hồ Chí Minh:
+ Người đại diện theo pháp luật của công ty là N.T.T.N
+ Ngày 20/7/2005, Công ty được cấp giấy đăng kí thay đổi người đại diện theo pháp luật mới là D
+ Ngày 30/3/2011, Công ty được cấp giấy đăng kí thay đổi người đại diện theo pháp luật mói là N.T.T.N
QUAN ĐIỂM CỦA BẠN VỀ VỤ VIỆC? BÀI LÀM
- Tồn tại một hợp đồng mua bán được xác lập năm 2009 giữa Công ty Đài Loan, Trung Quốc
(Nguyên đơn - Bên bán) và Công ty Việt Nam (Bị đơn - Bên mua). Về phía Bị đơn, hợp đồng
có nêu người đại diện là ông D. Khi có tranh chấp, Bị đơn cho rằng “các thông tin mà
Nguyên đơn đưa ra là không chính xác” để phủ nhận hợp đồng. Tuy nhiên, ta vẫn có cơ sở
pháp lý để khẳng định hợp đồng này vẫn ràng buộc Bị đơn.
- Cụ thể, theo quy định tại điều 135 BLDS 2015 về căn cứ xác lập quyền đại diện: “Quyền đại
diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (sau đây gọi là
đại diện theo ủy quyền); theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ
của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp
luật)
.” Trong vụ việc trên, vào ngày 20/07/2005, Công ty được Sở kế hoạch Hồ Chí Minh –
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy đăng kí thay đổi người đại diện theo pháp luật mới
là D. Như vậy, từ thời điểm này, ông D chính là người đại diện theo pháp luật của công ty
Việt Nam.
Tiếp đó, vào ngày 30/03/2011, Công ty được cấp giấy đăng kí thay đổi người đại
diện theo pháp luật mới là N.T.T.N, tính từ thời điểm ngày 30/03/2011, N.T.T.N chính thức
thay thế ông D trở thành người đại diện theo pháp luật của bên Bị đơn. Tuy nhiên, hợp đồng
được xác lập giữa hai công ty mà người đại diện đứng ra xác lập là ông D lại được xác lập
vào năm 2009, tức là vẫn nằm trong khoảng thời gian ông D là người đại diện theo pháp luật
của Công ty Việt Nam. Vì vậy, khẳng định của bên Bị đơn về việc ông D không đủ tư cách
đại diện là hoàn toàn không có căn cứ. Việc thay đổi người đại diện hoàn toàn không làm ảnh
hưởng đến giá trị pháp lý của bản hợp đồng mà ông D đã xác lập trước đó.
- Thêm vào đó, theo quy định tại khoản 1 điều 139 BLDS 2015, “Giao dịch dân sự do người
đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh
quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện
.” Như vậy, hợp đồng mà ông D – người đại diện
theo pháp luật cho bên Bị đơn kí với bên Nguyên đơn hoàn toàn có giá trị pháp lý và làm
phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với đôi bên theo đúng hợp đồng. -
Vì vậy, và hợp đồng giữa hai công ty vẫn có hiệu lực, vẫn ràng buộc hai bên trong việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng thoả thuận đã đặt ra trong hợp đồng.

V/ THỜI HẠN, THỜI HIỆU
1/ A cho B mượn xe đạp vào thứ 7 ngày 07/03/2020. Thời hạn mượn là 2 tuần. ⇨
Hãy xác định thời hạn bắt đầu và thời hạn kết thúc giao dịch mượn xe đạp HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Thời hạn bắt đầu: ngày 08/03/2020
- Thời hạn kết thúc: 24h ngày 23/03/2020 ( vì ngày 22/03/2020 là chủ nhật) 2/ Tình huống
- Ngày 01/02/2018, ông A buộc phải kí hợp đồng với ông B vì bị ông B đe dọa
- Ngày 01/02/2020, ông A quyết định khởi kiện, yêu cầu TAND tuyên bố hợp đồng giữa ông A
và ông B vô hiệu. Trên đường đi khởi kiện, ông A bị tai nạn giao thông và nhập viện điều trị trong thời gian 4 tháng
- Sau khi ra viện, ngày 10/06/2020, ông A đã nộp đơn khởi kiện tới TAND ⇨
Hãy cho biết, ông A khởi kiện vào thời điểm như đã nêu có đảm bảo quy định về thời hiệu khởi kiện không? HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Theo tình huống thì ông A buộc kí hợp đồng với ông B vì buộc đe dọa
- Chiếu theo điều 127 thì hợp đồng vô hiệu vì chủ thể bị đe dọa
- Theo điều 132 và từ điều 125  điều128; tuyên bố giao dịch dân sự này vô hiệu trong thời
hạn 2 năm nhưng khi kí hợp đồng vào ngày 1/2/2018 thì hợp đồng này sẽ kết thúc vào ngày 1/2/2020
- Trong ngày 1/2/2020 thì ông A bị tai nạn trên đường đi tới tòa án, chiếu theo khoản 1 điều
156 thì thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, ông A phải mất thời gian
điều trị trong vòng 4 tháng thì trong vòng 4 tháng không đươc tính và sẽ dời vào ngày
1/6/2020 nhưng tới ngày 10/6/2020 thì ông A đâm đơn khởi kiện lại thì thời gian này quá thời hiệu quy định
- Nên yêu cầu ông A sẽ không được thực hiện ⇨
Ông A khởi kiện vào thời điểm như trên là không đảm bảo quy định về thời hiệu
- Nếu 2 bên không có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện thì vẫn giải quyết được vụ án VI/ TÀI SẢN
1/ Tài sản “ ảo”có được công nhận là một trong các loại tài sản theo quy định của BLDS?
- Tài sản ảo là đối tượng “ảo” trong thế giới ảo. Đây là những nhân vật, đồ vật trong các trò
chơi trực tuyến mà người chơi đã kiếm được.
2/ 10 hộ dân bị vây bọc bởi bất động sản của ông A
- Ông A đã để một lối đi trên đất của mình với chiều ngang là 1,2m cho 10 hộ dân
- Năm 2017, ông A chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình cho bà B
- Sau đó, bà B đã rào chắn một phần lối đi của 10 hộ dân và chỉ chừa lại một lối đi nhỏ
- Các hộ dân không đồng ý ⇨
Anh chị có biết hướng xử lí vụ việc? HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- 10 hộ dân bị vây bởi đất ông A, theo khoản 1 điều 254 thì chủ sở hữu BĐS bị vây bọc bởi các
BĐS của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ
sở hữu BĐS vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lí trên phần đất của họ  các hộ dân có
quyền yêu cầu bà B cho mình 1 lối đi hợp lí trên đất của họ và lối đi được mở 1 cách thuận
tiện và hợp lí nhất và ít gây ra thiệt hại nhất
- Theo khoản 2, có quyền yêu cầu bà B mở thêm 1 lối đi có vị trí, giới hạn chiều dài, chiều
rộng, chiều cao theo thỏa thuận hợp lí và ít gây phiền hà.
3/ Nhà nước thu hồi phần lớn diện tích đất của vợ chồng ông Đinh giao cho Công ty Japa thuê trong thời hạn 30 năm
- Phần còn lại khoảng 550m2 ở phía trong là đất trồng lúa có nhà ở do ông Đinh xây dựng
trong khi chưa chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất trồng lúa sang đất ở.
- Do không có lối đi ra đường công cộng cho phần đất còn lại nên vợ chồng ông Đinh đề nghị công ty Japa mở lối đi
- Yêu cầu này không được Tòa án chấp nhận với lí do: đất trồng lúa, nhà xây dựng khi chưa
chuyển đổi mục đích sử dụng đất. ⇨
Anh chị cho biết suy nghĩ về hướng giải quyết của Tòa án? HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Quyền về lối đi không phụ thuộc vào mục đích của việc sử dụng đất.
- Ông Đình xây dựng nhà trên đất trồng lúa là vi phạm pháp luật về đất đai và sẽ bị xử lí theo
quy định của pháp luật.
- Ông Đình có BĐS bị vây bọc nên vẫn có quyền bất động sản liền kề( quyền về lối đi qua)
4/ Ông A xây mộ của bố mẹ trên mảnh đất của bố mẹ để lại
- Ông A đã bán mảnh đất đó cho ông B và các bên có thỏa thuận khi xây nhà, ông B sẽ để
nguyên vị trí các ngôi mộ.
- Sau đó ông B đã xây nhà ở mà không chừa lối đi vào các ngôi mộ.
- Ông A có được yêu cầu ông B mở lối đi riêng không? ⇨
Anh chị hãy cho biết ý kiến về vấn đề này?
VII/ QUYỀN THỪA KẾ
1/ Tình huống xác định di sản 2 - A và B là vợ chồng
- Anh A có 1 khoản tiền sở hữu riêng là 5 tỷ đồng
- Trong thời kì hôn nhân, A đem gửi số tiền tiết kiệm trên
- A chết, số tiền lãi từ sổ tiết kiệm của A là 400 triệu đồng ⇨
Hãy xác định tài sản của A? - Tài sản của A:
+ 5 tỷ đồng( tài sản thuộc sở hữu riêng)
+ 200 triệu đồng( lãi tiết kiệm được coi là tài sản chung nên chia đôi)
2/ Tình huống về chết cùng thời điểm 1
- A và B là vợ chồng, có hai người con là A1 và A2. A1 có vợ là M.
- Ngày 01/07/2017, ông A và A1 bị tai nạn giao thông và được xác định chết cùng thời điểm.
- Hãy chia thừa kế biết:
+ Tài sản chung của A và B là 180tr
+ Tài sản chung của A1 và M là 160tr
( Tình huống được giả định không có di chúc) HƯỚNG GIẢI QUYẾT
1- Chia di sản thừa kế của A
- Xác định di sản của A là 180tr:2=90tr
- Chủ thể được hưởng thừa kế của A gồm B và A2 thuộc hàng thừa kế 1( không có A1 vì chết cùng thời điểm) Do đó, B=A2=90:2=45tr
2- Chia di sản thừa kế của A1
- Xác định di sản của A1: 160tr:2=80tr
- Chủ thể được hưởng thừa kế của A1 gồm B và M ( không có A vì chết cùng thời điểm) Do đó, B=M=80tr:2=40tr
3/ Ông A có vợ là B, có con là C(2004), D(2006), E(2010)
- Năm 2017, ông A có lập di chúc để lại toàn bộ tài sản riêng của mình trị giá 480tr đồng cho bà M - Năm 2018, ông A chết
- Năm 2020, bà M đã yêu cầu B,C,D,E đưa toàn bộ số tài sản riêng của A để hưởng quyền thừa kế theo di chúc ⇨
Hãy xác định phần di sản bà M được hưởng HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Theo quy định B,C,D,E là những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
- Giả sử di sản của A được chia theo pháp luật: + Giá trị di sản: 480tr
+ Số người thừa kế hàng thứ nhất: B,C,D,E ⇨
Giá trị của một suất thừa kế pháp luật: 480tr:4=120tr ⇨
Giá trị của một suất thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:2/3*120=80tr - Vậy B=C=D=E=80tr
- Số di sản M được hưởng: 480 – (80*4)=160tr. 4/ Tình huống
- A và B là vợ chồng, có 2 con là A1 và A2
- Năm 2017, A lập di chúc để lại toàn bộ tài sản 900tr đồng của A cho vợ và các con
- Năm 2018, A1 chết, không có di chúc
- Năm 2019, A chết và không sửa di chúc ⇨
Hỏi phần di sản của A1 theo di chúc của A được giải quyết như thế nào? HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- Vì có di chúc nên khi A chết, trước hết di sản của A sẽ được chia theo di chúc: B=A1=A2=900tr:3=300tr
- Do A1 chết trước A nên phần di sản của A1 theo di chúc của A không có hiệu lực nên phần đó chia theo pháp luật: B=A2=X+Y=300tr:3=100tr
5/ Tình huống thừa kế 1
- A và B là vợ chồng, có 3 con là A1, A2, A3. A1 có vợ mà M và sinh được 2 con là X và Y
- NĂm 2017, B và A1 chết cùng thời điểm
- NĂm 2018, A chết không để lại di chúc. Di sản của A là 1,2 tỉ ⇨
Hãy chia thừa kế di sản của A? HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- A Chết không để lại di chúc nên di sản của A được chia theo pháp luật
- Vì B và A1 chết trước A nên những người được hưởng thừa kế của A gồm: A2, A3 và X+Y ( thế vị cho A1) - A2=A3=X+Y=1,2 tỉ:3=400tr - X=Y=400:2=200tr
6/ Tình huống thừa kế 2
- A và B là vợ chồng, có 3 con là A1,A2,A3. A1 có vợ là M và sinh được 2 con là X và Y
- Năm 2017, A chết không để lại di chúc. Di sản của A là 1,2 tỉ
- Năm 2018, A1 chết không để lại di chúc
- Năm 2019, di sản của A được phân chia ⇨
Di sản của A sẽ chia cho những người thừa kế nào? HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- A Chết không để lại di chúc nên di sản của A được chia theo pháp luật
- A1 chết sau A nên A1 vẫn được hưởng di sản của A
- Năm 2019, di sản của A được chia như sau: B=A1=A2=A3=1,2tỉ:4=300tr
- A1 chết không để lại di chúc nên di sản của A1 được phân chia: B=M=X=Y=300tr:4=75tr
( X,Y hưởng thừa kế trong trường hợp này được gọi là thừa kế chuyển tiếp)
7/ Tình huống thừa kế 3
- A và B là vợ chồng, có 3 con là A1, A2, A3. A1 có vợ là M và sinh được 2 con là X, Y - Năm 2017, A1 chết
- Năm 2018, A chết để lại di chúc chia toàn bộ di sản 1,2 tỉ cho vợ và các con ⇨
Hãy phân chia di sản của A HƯỚNG GIẢI QUYẾT
- A chết để lại di chúc nên trước hết sẽ chia: B=A1=A2=A3=1,2 TỈ:4=300TR
- Do A1 chết trước A nên phần di sản của A1 theo di chúc sẽ không có hiệu lực và được phân
chia theo pháp luật cho những người thừa kế của A: B=A2=A3=X+Y=300tr:4=75tr
Lưu ý: vì A để lại di chúc nên X+Y không được thừa kế thế vị cho A1