Tp chí Khoa hc Trường TĐại hc Cn Thơ p 54, S 4D (2018): 159-167
159
DOI:10.22144/ctu.jvn.2018.081
TRÁNH NÉ QUẢNG CÁO VÀ NHẬN THỨC NHÃN HIỆU - MỘT NGHIÊN CỨU
VỀ HÌNH THỨC VIDEO QUẢNG CÁO TRÊN CÁC TRANG MẠNG XÃ HỘI
CỦA GIỚI TRẺ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hồ Trúc Vi
*
, Phan Trọng Nhân
và Phan Thị Song Thương
Khoa Qun Tr Kinh Doanh, Trường Đại hc Công nghip Thành ph H Chí Minh
*Người chu trách nhim v bài viết: H Trúc Vi (email: hotrucvi@iuh.edu.vn)
Thông tin chung:
Ngày nhn bài: 23/09/2017
Ngày nh n bài s a: 28/12/2017
Ngày duyt đăng: 21/06/2018
Title:
Advertising avoidance and
brand awareness - A research
about video ads form on social
network sites of the youth in
Ho Chi Minh city
T khóa:
Gii tr, mng xã hi, nhn
thc nhãn hiu, tránh né
qung cáo, video qung cáo
Keywords:
Advertising avoidance, brand
awareness, sites video ads,
social networking, the youth
ABSTRACT
The research is aimed to discover and confirm the factors that affect the
advertising avoidance and the relationship between advertising and
brand awareness in video ads form on social network sites. The data was
collected from 435 young clients aged 18 to 35 who are living and
working in Ho Chi Minh City. Research models and scales are
constructed from the advertising avoidance theory by Ducoffe (1995),
Edwards et al. (2002), Cho and Cheon (2004) as well as reviewed basis
on its relationship to brand awareness from the theory of Rafi et al.
(2011), Bellman et al. (2009). The results showed that the advertising
value (including entertainment value and information value) is the most
adverse and strong impact to avoid. In addition, there is a positive
correlation between negative experiences and advertising avoidance
behavior. This research also pioneered and confirmed the negative
relationship between advertising avoidance and consumer perception o f
the company brand name.
TÓM TẮT
Nghiên cu này nhm khám phá và khng định các yếu t tác động n đế
tránh né qung cáo cũng như mi quan h đến nhn thc ca khách hàng
v nhãn hiu sn phm dưới hình thc video qung cáo trên mng xã hi.
D liu được thu thp t 435 khách hàng là gii tr tu i t 18 đến 35
đang sinh sng và làm vic t i thành ph H Chí Minh. Mô hình nghiên
cu và các thang đo được xây dng t các cơ s lý thuyết v tránh né
qung cáo t các tác gi Ducoffe (1995), Edwards et al. (2002), Cho và
Cheon (2004) cũng như nghiên cu v m ci quan h a nó đến nhn thc
nhãn hiu trên cơ s n n ca Rafi et al. (2011), Bellman et al. (2009). Mô
hình n được thc hin vi phương pháp phân tích mô hình cu trúc tuyế
tính SEM. Kết qu nghiên cu cho thy giá tr qung cáo (bao gm giá
tr gii trí và giá tr thông tin) tác t động ngh nh nhch chiu và m
đến tránh né qung cáo. Bên cnh t a đó, có s ương quan thun chiu gi
tri nghim tiêu cc và hành vi tránh né này. Ngoài ra, bài nghiên cu
còn tiên phong khám phá và khng m a định v i quan h nghch biến gi
tránh né qung cáo và nhn thc ca khách hàng v nhãn hiu sn phm
ca doanh nghip.
Trích dẫn: Hồ Trúc Vi, Phan Trọng Nhân và Phan Thị Song Thương, 2018. Tránh quảng cáo và nhận thức
nhãn hiệu - một nghiên cứu về hình thức video quảng cáo trên các trang mạng xã hội của giới trẻ tại thành
ph HC Minh. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 54(4D): 159-167.
Tp chí Khoa hc Trường TĐại hc Cn Thơ p 54, S 4D (2018): 159-167
160
1 GIỚI THIỆU
Do sự phát triển của công nghệ điện thoại thông
minh giá rẻ cùng chính sách phát triển mạng viễn
thông di động 3G 4G đã thu hút một số lượng
lớn người dùng, tạo ra một thị trường cực hấp
dẫn cho các công ty trong việc sử dụng những công
cụ số để quảng sản phẩm và tăng mức độ nhận
biết về nhãn hiệu. Cũng vậy quảng cáo trực
tuyến ngày càng sôi động hơn, đặc biệt là xu hướng
quảng cáo dưới hình thức video một loại hình
quảng cáo với hình ảnh bắt mắt âm thanh sống
động rất dễ dàng để truyền tải thông điệp nhưng lại
xâm hại nhiều đến thời gian chi phối hoạt động
của người dùng. Theo đó, vấn đề tránh quảng
cáo đang trthành yếu tố can thiệp vào việc thực
hiện mục tiêu tiếp thị mong muốn của các doanh
nghiệp. Tránh quảng cáo thể hiện việc người
dùng hạn chế sự hiển thị của quảng cáo hoặc sử
dụng những phần mềm hỗ trợ để hạn chế ngăn
chặn thông tin quảng cáo trực tuyến (Duff
Faber, 2011). Bên cạnh đó, các phương tiện truyền
thông internet ngày nay cho phép nhà tiếp thị chủ
động đăng tải quảng cáo một cách dễ dàng. Kết quả
là trong cùng một khu vực có quá nhiều mẫu quảng
cáo dẫn đến người tiêu dùng có thể bị mất sự chú ý
hoặc bỏ qua sự hiển thị của quảng cáo (Duff
Faber, 2011). Điều này không những khiến doanh
nghiệp không truyền tải được thông điệp còn
tiêu tốn của họ một khoảng chi phí cùng lớn,
chưa kể đến những hậu quả tiêu cực về nhận thức
nhãn hiệu trong tâm trí khách hàng.
Hiện nay, ở Việt Nam, các bài nghiên cứu liên
quan đến khía cạnh hành vi tránh chưa tìm thấy
trên những phương tiện truyền thông tivi,
facebook, internet, mobile, cũng như nghiên cứu
dưới khía cạnh hình thức quảng cáo banner, quảng
cáo ngoài tri, video, forum. Trên thế gii tuy có
khá nhiều nghiên cứu về tránh né quảng cáo nhưng
đa phần chỉ nghiên cứu liên quan đến khía cạnh giá
trị nội tại của quảng cáo mà chưa có nghiên cứu v
mối quan hệ giữa hành vi tránh quảng cáo và
nhận thức về nhãn hiệu.
Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm khám
phá và khẳng định mối quan hệ giữa hành vi tránh
quảng cáo nhận thức nhãn hiệu, trong đó
tránh né quảng cáo được kiểm định dưới góc độ về
giá trnội tại của quảng cáo cũng như những tác
động khác như tính xâm hại của quảng cáo và kinh
nghiệm thực tế từ quá khứ. Nghiên cứu được thực
hiện với mục đích đưa ra một khung thuyết mới
toàn diện hơn, chi tiết hơn về hành vi tránh
quảng cáo mức độ nhận thức về nhãn hiệu sản
phẩm, giúp doanh nghiệp vừa thể truyền tải
thông tin đến khách hàng, vừa tránh những rủi ro
liên quan đến nhận thức của khách hàng đối với
sản phẩm của doanh nghiệp.
2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH
NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Hình thc video qung cáo tr ếc tuy n
Video quảng cáo trực tuyến dạng quảng cáo
truyền tải thông qua mạng internet để khách hàng
xem hay tải vmáy tính hoặc điện thoại. Theo tác
giả Wang et al. (2008), video quảng cáo trực tuyến
được nêu bật qua nhiều cách thức được phân
chia làm 2 cách thức sau:
Quảng cáo video tuyến tính: Đây hình
thức bản khoảng 15-30 giây chạy đầu, giữa,
hoặc cuối của đoạn video.
Quảng cáo video tương tác: Loại này cho
phép nhiều sự tương tác với người xem. Người
xem thể click vào các thông tin khác, định vị
cửa hàng, tìm hiểu chi tiết hợp đồng, hoặc đăng
việc nhận thư quảng cáo sản phẩm thông qua
những quảng cáo này. Loại quảng cáo tương tác
này thường chèn nội dung video với hình động,
hình tĩnh, chữ và các yếu tố tương tác khác.
2.1.2 M ng xã hi
Khái niệm mạng xã hội (Social network sites)
được hình thành trong thập niên cuối thế kỷ XX,
bắt đầu bằng sự ra đời của Classmates.com (1995),
SixDegrees (1997), sau đó sự nở rộ của
Friendster (2002), MySpace, Facebook (2004),
Instagram (2010). Tại Việt Nam, Zing me (2009),
Zalo (2012) là những dụ điển hình cho mạng xã
hội. Theo nhiều hướng tiếp cận, mạng hội
những cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên, một cách
chung nhất, có thể hiểu mạng xã hội một tập hợp
các cá nhân với các mối quan hệ về một hay nhiều
mặt được gắn kết với nhau (Trần Hữu Luyến
ctv., 2015).
2.1.3 Tránh né trong qung cáo
Tránh quảng cáo tất cả mọi hành động
khác nhau người sử dụng các phương tiện
truyền thông cắt giảm sự xuất hiện của quảng cáo.
Pagendarm Schaumburg (2001) cho rằng mọi
người tránh quảng cáo do vị trí mẫu quảng
cáo không thuận tiện không tạo được sự thu hút
để khách hàng phải click vào xem. Một do nữa
là giá trị của quảng cáo không chứa đựng thông tin
hữu ích hay giá trị cảm xúc cho khách hàng
(Benway, 1999). Còn theo Cho Cheon (2004)
khẳng định tránh né quảng cáo là do quảng cáo cản
trở mục tiêu nhận thức và từ kinh nghiệm tiêu cực
của khách hàng cũng như sự xáo trộn của quảng
cáo. Trong đó, Cho và Cheon (2004) đã khám phá
Tp chí Khoa hc Trường TĐại hc Cn Thơ p 54, S 4D (2018): 159-167
161
thang đo tránh được phân làm ba khía cạnh:
tránh về mặt nhận thức, cảm xúc hành vi.
Nhận thức tránh liên quan đến suy nghĩ cũng
như niềm tin của khách hàng đối với quảng cáo và
được tác giả nghiên cứu với khuynh hướng lờ
quảng cáo đi, không để mắt tới, không chú ý đến,
không click vào quảng cáo mặc hấp dẫn. Cảm
xúc tránh bao gồm việc ghét quảng cáo cho
rằng nếu không quảng cáo trên website thì tốt
hơn. Ứng dụng lý thuyết của Cho và Cheon (2004),
Li và Huang (2016) đã phát triển nghiên cứu thông
qua các khía cạnh cố tình bỏ qua quảng cáo, tắt
quảng cáo, sử dụng các biện pháp can thiệp để hạn
chế quảng cáo hay xóa bỏ, hủy theo dõi các quảng
cáo. đây, bài nghiên cu này da trên lý thuyết
của Li Huang (2016) để tiếp tục đo lường
nghiên cứu về tránh né quảng cáo.
2.1.4 Giá tr ca qung cáo
Giá trị của quảng cáo được định nghĩa đánh
giá chủ quan về giá trị quan trọng hoặc ích lợi của
việc quảng cáo của người dùng, một công cụ
hữu ích để đánh giá tính hiệu quả của quảng cáo
(Ducoffe, 1995). Trong đó, tác giả đã xác định hai
tiền đề quan trọng thông tin và giải trí góp phần
tạo ra giá trị quảng cáo trên các phương tiện. Giá
trị thông tin thu được khi người xem thu thập thông
tin hữu ích, quan trọng, đa dạng và đúng, trong khi
giá trị giải trí đạt được thông qua sự vui vẻ, tạo sự
hứng thú, thư giãn hay tính hài hước mà quảng cáo
mang lại. Nghiên cứu về nhận thức của mọi người
về giá trị quảng cáo trên web của Edward et al.
(2002) cũng chỉ ra rằng cả hai phương diện giá trị
thông tin giá trị giải trí đều tương quan
nghịch với tránh quảng cáo. Theo Lee
Lumpkin (1992), hành vi tránh quảng cáo truyền
hình sẽ được điều chỉnh khi những quảng cáo
mọi người xem chứa đựng thông tin hữu ích. Do
đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
H1: Giá trị quảng cáo mối quan hệ nghịch
chiều với tránh video quảng cáo trên mạng
hội.
2.1.5 Tính xâm hi ca qung cáo
Tính xâm hại của quảng cáo được xem xét khi
các quảng cáo can thiệp vào mục đích của con
người. Nhận thức về tính xâm hại đã được gợi ý
một trong những yếu tố ảnh hưởng nhất dẫn tới
sự tức giận tránh quảng cáo (Edwards et al.
2002). Cũng theo tác giả, sự xâm nhập được sử
dụng để mô tả cách mà cảm xúc tiêu cực phát sinh
từ quảng cáo liên quan đến cảm giác tức giận, dẫn
đến hành vi tránh. Edwards et al. (2002) nhận thấy
rằng cường độ nhận thức cao dưới các góc độ như
làm sao nhãng, gây nhiễu loạn thông tin nhận thức,
xuất hiện bừa bãi trên các trang mạng xã hội hay ép
buộc, quấy rối đến mục tiêu nhận thức… dẫn đến
tính xâm hại của quảng cáo cao hơn. Mức xâm hại
khác nhau tùy thuộc vào nội dung, cách thực hiện
hoặc vị trí của quảng cáo. Theo Ha (1996), để thu
hút sự chú ý của người dùng, các quảng cáo làm
gián đoạn nội dung bằng cách giới hạn số lượng
hành động liên quan đến mục tiêu của người dùng.
Một số người dùng th điều chỉnh hành động
hoặc mục tiêu của họ để xem xét về quảng cáo.
Tuy nhiên, một số khác có thể tạo ra các hành động
ngược lại đối với quảng cáo, đó tránh quảng
cáo (Edwards et al., 2002). Tuy nhiên, khi quảng
cáo làm gián đoạn mục tiêu của người dùng,
thể tạo ra các kết quả không mong muốn như thái
độ tiêu cực (Herbert, 1983), (Ha, 1996). Mọi người
cảm thấy phát cáu với quảng cáo khi hbị choáng
ngợp bởi sự tác động quá mức, kết quả mọi
người tránh quảng cáo (Aaker Bruzzone,1985).
Từ đó, giả thuyết được đặt ra:
H2: Nhận thức về tính xâm hại quảng cáo
mối quan hệ cùng chiều với tránh video quảng
cáo trên mạng xã hội.
2.1.6 Tr i nghim tiêu cc
Khách hàng khuynh hướng dựa vào những
kết luận họ rút ra được từ những trải nghiệm
thc tế ca bn thân bởi họ thường đánh giá qua
tiêu chuẩn cá nhân của mình (Stephen và Deighton,
1989). Theo nghiên cứu của Russell Zanna
(1981), thông tin thu thập được từ kinh nghiệm quá
khứ có ảnh hưởng mạnh và trực tiếp đến thái độ và
hành vi của khách hàng. Cho Cheon (2004) đã
xác định thang đo trải nghiệm tiêu cực một yếu
tnh hưng đến hành vi tránh né qung cáo trên
internet. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng thang đo
trải nghiệm tiêu cực biểu hiện bởi sự thất vọng,
không nhận được lợi ích và động lực, những điều
này gây ra những trải nghiệm tiêu cực dẫn đến
hành vi tránh quảng cáo trên internet. Những
biến quan sát của thang đo này tiếp tục được củng
cố thông qua nghiên cứu của Kelly et al. (2010).
Từ đó, giả thuyết nghiên cứu đặt ra:
H3: Kinh nghiệm tiêu cực từ những trải nghiệm
trước đó mối quan hệ cùng chiều với tránh
video quảng cáo trên mạng xã hội.
2.1.7 Nh n thc v nhãn hiu
Nhận thức về nhãn hiệu là việc người tiêu dùng
biết quen thuộc với hình ảnh cũng như sự hiện
diện của sản phẩm. Đó mức độ người tiêu
dùng liên kết nhãn hiệu với sản phẩm cụ thể.
Quảng cáo rất quan trọng vì chúng hỗ trợ phát triển
hình ảnh về nhãn hiệu của tổ chức. Các doanh
nghiệp lợi dụng tính lặp lại của quảng cáo để tạo ra
ấn tượng về nhãn hiệu hoặc sản phẩm trong tâm trí
khách hàng (Duff và Faber, 2011). Theo Srinivasan
Tp chí Khoa hc Trường TĐại hc Cn Thơ p 54, S 4D (2018): 159-167
162
et al. (2005), có hai cách để đo lường nhận thức về
nhãn hiệu: nhận thức được hỗ trợ nhận thức
không được hỗ trợ tùy thuộc vào bối cảnh. Nhận
thức được hỗ trợ được xem xét trong bối cảnh
khách hàng nhìn thấy nhiều nhãn hiệu hiển thị tại
thời điểm mua hàng. Nhận thức không được hỗ trợ
khi khách hàng buộc phải nhập tên của trang
web hoặc nhãn hiệu khi nhu cầu về sản phẩm.
Rafi et al.(2011) đã chỉ ra rằng nhận thức về nhãn
hiệu sản phẩm đi kèm với những thông tin
khách hàng thu nhận được thông qua các hoạt động
truyền thông tiếp thị mà doanh nghiệp thực hiện.
Để đo lường nhận thức về nhãn hiệu trong môi
trường số, nhận thức nhãn hiệu được hỗ trợ sẽ thích
hợp nhất quảng cáo sẽ tạo ra một tình huống
tương tự như thị trường, trong đó nhân sẽ được
giới thiệu nhiều loại hàng hóa dịch vụ khác
nhau. Theo Bellman et al. (2009), mức độ nhận
thức nhãn hiệu sẽ tăng cao khi quảng cáo được gợi
nhớ lặp lại và nó tác động đến ý định mua sắm của
khách hàng. Mark et al. (2008) đã tìm thấy rằng
quảng cáo một cách hiệu quả để nâng cao nhận
thức về nhãn hiệu. Ngoài ra, Mark et al. (2008)
nhận thấy rằng tránh quảng cáo trong tương quan
vấn đề nhãn hiệu, hệ quả ảnh ởng
trực tiếp đến nhận thức về thương hiệu. Vì thế, giả
thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
H4: Tránh quảng cáo mối quan hệ trái
chiều với nhận thức về nhãn hiệu sản phẩm
2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Ở Việt Nam hiện nay, nghiên cứu liên quan đến
vấn đề tránh quảng cáo chưa nhưng trên thế
giới đã rất nhiều nghiên cứu về việc tránh
quảng cáo của khách hàng với nhiều hướng khác
nhau về nội dung, phương tiện cũng như loại hình
quảng cáo. Nghiên cứu của Choi et al. (2013) đã đi
tìm những yếu tố tác động đến thái độ tránh
quảng cáo dưới hình thức video quảng cáo trực
tuyến. Với đối tượng nghiên cứu sinh viên đại
học, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: sự xâm
phạm và thái độ đối với quảng cáo là hai yếu tố ảnh
hưởng lớn nhất đến hành vi bỏ qua các mẫu quảng
cáo trên video trực tuyến. Nếu nhân nhận thấy
rằng quảng cáo đang xâm phạm hay tác động tiêu
cực đến họ thì họ sẽ tìm cách tránh quảng cáo trên
các trang video trực tuyến. Nghiên cứu khác của
tác giả Hussain Lasage (2014) lựa chọn tiền đề
lý thuyết của Edwards et al. (2002), Cho và Cheon
(2004) để đề xuất kiểm định hành vi tránh né video
quảng cáo trực tuyến bằng phương pháp sử dụng
phần mềm khóa ứng dụng thông qua các yếu tố nội
dung quảng cáo thiếu chân thật, thiếu phù hợp
tính tương tác trong quảng cáo. Kết quả cho thấy
rằng hành vi tránh video quảng cáo do nội
dung thiếu chân thật, thiếu phù hợp tính tương
tác thấp. Hạn chế của đề tài tác giả chỉ nghiên
cứu hành vi tránh né bằng cách sử dụng phần mềm
chặn quảng cáo.
Xét dưi góc đ thc tin, vi s phát trin
ngày càng mạnh của công nghệ thông tin, các nhà
marketing Việt Nam cũng như thế giới đã có nhiều
hội hơn trong việc tạo ra những quảng cáo đạt
giá trị về nội dung và tính giải trí cao. Tuy nhiên,
với những mẫu quảng cáo giá trị cao, khách
hàng tại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí
Minh nói riêng thực sự quan tâm hay không?
Chính vậy, nghiên cứu này đề xuất khám phá
khía cạnh giá trị quảng cáo bao gồm giá trị về
thông tin và giá trị về giải trí trong mối quan hệ với
hành vi tránh quảng cáo n cạnh các thang đo
được khám phá là tính xâm phạm của quảng cáo và
trải nghiệm tiêu cực từ người dùng (Choi et al.,
2013).
Trong nghiên cứu này, bài nghiên cứu cũng đề
xuất mở rộng về mối tương quan giữa hành vi
tránh quảng cáo khả ng nhận biết về nhãn
hiệu sản phẩm quảng cáo. Nếu kiểm định tác động
này được chấp nhận thì khám phá sẽ góp phần bổ
sung về mặt thuyết trong mối liên hệ giữa hành
vi tránh quảng cáo nhận thức về nhãn hiệu,
đồng thời giúp doanh nghiệp hiểu được những hệ
lụy tiêu cực từ quảng cáo. Với những do trên,
mô hình nghiên cứu được đề xuất như sau:
Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất
Tránh né
quảng cáo
Nhận thức về
nhãn hiệu
Trải nghiệm
tiêu cực
Tính xâm hại
của quảng cáo
Giá trị của
quảng cáo
Giá trị thông tin
Giá trị giải trí
Tp chí Khoa hc Trường TĐại hc Cn Thơ p 54, S 4D (2018): 159-167
163
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Nghiên cu này bao gm hai bưc chính là
nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức.
Nghiên cứu bộ được thực hiện thông qua
nghiên cứu bộ định tính để hiệu chỉnh hình
thang đo sao cho phù hợp với môi trường mạng
hội, tại Việt Nam.
Nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp
định lượng, phỏng vấn 435 người dùng mạng
hội thông qua Google Forms. Mục đích của nghiên
cứu này là kiểm định mô hình nghiên cứu cùng các
giả thuyết bằng phương pháp phân tích nhân tố
khẳng định CFA hình cấu trúc tuyến tính
SEM sau khi thực hiện kiểm định Cronbach’s
Alpha và EFA để khẳng định lại các thành phần
cũng như giá trị và độ tin cậy của thang đo.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật phỏng vấn
bằng bảng câu hỏi được thiết kế trên Form Google
Docs với khách hàng thuộc cả hai nhóm giới tính
nam và nữ, nằm trong độ tuổi từ 18-35 trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh. Mẫu được chọn theo
phương pháp phi xác suất thuận tiện với kích thước
n = 435. Kích thước mẫu dự kiến là 400. Tn thực
tế, số phiếu được gửi đi 450, nhận về 435 phiếu
đều hợp lệ, còn lại 15 phiếu không nhận được phản
hồi từ tài khoản của người dùng mạng hội. Cỡ
mẫu 435 hoàn toàn phù hợp cho các kiểm định của
nghiên cứu. 18 đến 35 độ tuổi được lựa chọn
tham gia khảo sát để mang tính chất đại diện cho
gii tr vi đy đ năng lc v hành vi dân s và
chu trách nhim v hình s vi mc đ tiếp cn
mạng xã hội có tỷ lệ cao hơn các nhóm tuổi còn lại.
Sau khi thu thập, ta có thành phần mẫu như sau: từ
18-25 tuổi chiếm 59% 25-35 chiếm 41%, giới
tính nam chiếm 44% và nữ chiếm 56%.
4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ
4.1 Đánh giá sơ bộ thang đo bằng hệ số
Cronbach’s Alpha và phân tích EFA
4.1.1 K ết qu Cronbach’s Alpha
Kết quả phân tích cho thấy tất cả các thang đo
đều có hệ số Cronbach’s Alpha > 0,06 (cụ thể hệ số
Cronbach’s Alpha dao động từ 0,813 0,921),
đồng thời hệ số tương quan biến tổng khi loại
biến của các biến quan sát cho từng thang đo đều
lớn hơn 0,3. vậy, tất cả các biến quan sát
thang đo đều đạt yêu cầu để đưa vào tiếp tục phân
tích nhân tố khám phá EFA.
4.1.2 Đánh giá thang đo b ếng phân tích y u t
khám phá EFA
Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp trích
trong phân tích nhân tố chính (Principal Axis
Analysis) cùng phép xoay Promax. Kết quả EFA
cho thấy giá trị KMO đạt đưc là 0,824 > 0,05 và
giá trị Sig = 0,000 (chứng tỏ các biến quan sát
tương quan với nhau trong tổng thể). Đồng thời kết
quả cho thấy sáu nhân tố tại Eigen value lớn
hơn 1 và tổng phương sai trích tích lũy 75,878. Kết
quả phân tích nhân tố khám phá EFA ta thấy có sáu
nhân tố trích được với các biến quan sát không bị
xáo trộn trong từng thang nên thang đo được giữ
lại như cũ.
4.2 Kiểm định thang đo bằng CFA
4.2.1 Thang đo giá tr qung cáo
Kết quả CFA của mô hình này cho thấy có Chi-
bình phương 12,0691 19 bậc tự do (p =
0,854). Các chỉ tiêu đo lường độ phù hợp khác đều
đạt yêu cầu: TLI=1,020; CFI=1,000; CMIN/df =
0,668 và RMSEA = 0,000. Theo Nguyễn Đình Thọ
Nguyễn Thị Mai Trang (2008) thì TLI, CFI
0,9; CMIN/df 0,2; RMSEA 0,08 thì hình
đạt độ phù hợp cao với dữ liệu thị trường. Đồng
thời, theo Brown (2015), chỉ số CFI dao động từ 0
đến 1 là kém phù hợp, 1 là phù hợp tốt. Chỉ số TLI
với ý nghĩa tương tự nhưng khoảng dao động vượt
qua 1. Như vậy, với những căn cứ vừa nêu, ta
thể kết luận hình được xem phù hợp với dữ
liệu thị trường. Hơn nữa các trọng số của hai thành
phần này đều cao (trung bình trọng số của GTTT là
0,80 GTGT 0,78). vậy các biến quan sát
dùng để đo lường hai thành phần GTTT GTGT
của khái niệm giá trị quảng cáo đạt được giá trị
hội tụ.
Độ tin cậy tổng hợp của thành phần GTTT
0,882 với phương sai trích được 65,4%, của
thành phần GTGT 0,860 với phương sai trích
được 60,8%. Kết quả này cho thấy hai thành
phần GTTT GTGT đều đạt tiêu chuẩn về độ tin
cậy và phương sai trích được.
Tp chí Khoa hc Trường TĐại hc Cn Thơ p 54, S 4D (2018): 159-167
164
Hình 2: Kiểm định thang đo giá trị quảng cáo bằng CFA
4.2.2 Mô hình đo lường ti hn
Theo kết quả thống kê cho thấy mô hình tới hạn
218 bậc tự do. Kết quả CFA cho thấy χ2 =
309,387; p = 0,000; χ2/df = 1,419 (< 3); TLI =
0,930; CFI = 0,940 (đều > 0,9); RMSEA = 0,061
(< 0,08) nên hình phù hợp với dữ liệu thị
trường. Đồng thời kết quả cũng cho thấy trọng số
CFA của tất cả các biến quan sát đều lớn hơn 0,50
(nhỏ nhất 0,65) khẳng định tính đơn hướng
giá trị hội tụ của các thang đo được sử dụng trong
mô hình nghiên cứu.
Hình 3: Kết quả mô hình đo lường tới hạn CFA
Kết qu phân tích CFA cũng cho ta thy tt c
các hệ số tương quan kèm sai lệch chuẩn cho thấy
chúng đều khác với 1, các khái niệm nghiên cứu
đạt được giá trị phân biệt (Nguyễn Đình Thọ
Nguyễn Thị Mai Trang, 2011)
Tp chí Khoa hc Trường TĐại hc Cn Thơ p 54, S 4D (2018): 159-167
165
Bảng 1: Bảng kết quả kiểm định giá trị phân biệt giữa các biến
Mối quan hệ p r cr se
XHQC <--> TNQC 0,178 0,063 1,705 0,088
XHQC <--> NTNH -0,015 -0,139 0,049 0,889
XHQC <--> TNTC 0,050 0,057 0,466 0,642
TNQC <--> NTNH -0,221 -1,974 0,041 0,048
XHQC <--> GTQC -0,126 -0,981 0,049 0,327
TNTC <--> GTQC -0,739 -4,144 0,049 ***
TNQC <--> GTQC -0,774 -4,451 0,054 ***
NTNH <--> GTQC 0,453 0,036 2,947 0,003
TNQC <--> TNTC 0,489 0,053 4,037 ***
NTNH <--> TNTC -0,513 -3,912 0,043 ***
Bên cạnh đó, độ tin cậy tổng hợp pc và phương
sai trích pvc được tính dựa trên trọng số nhân tố ước
lượng trong hình CFA đều lớn hơn 0,50 nên ta
có thể kết luận các thang đo đều đạt yêu cầu.
Bảng 2: Bảng tóm tắt kết quả kiểm định độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích
Khái
niệm
Số thành
phần
Số biến quan
sát
Độ tin cậy Cronbach’s
Alpha
Độ tin cậy
tổng hợp
Phương sai
trích (%)
Giá trị
XHQC 1 5 0,921 0,956 81,4
Chấp
nhận
TNTC 1 3 0,838 0,819 60,2
TNQC 1 4 0,867 0,899 69,1
NTNH 1 3 0,813 0,789 55,5
GTQC 2 GTTT
GTGT
3 0,877
0,857
0,882
0,860
65,4
60,8
4.2.3 Ki m định mô hình lý thuyết và gi
thuyết nghiên cu bng SEM
Kim t định mô hình lý thuyế
Kết quả phân tích SEM cho thấy hình
Chi-bình phương = 360,059 với 224 bậc tự do và p
= 0,000. Các hệ số khác như Chi-bình phương/df =
1.607 (< 3), TLI = 0,899, CFI = 0,911 (đều > 0,9)
RMSEA = 0,074 (< 0,08) đều đạt chỉ tiêu. Như
vậy, hình này phù hợp với các dữ liệu thị
trường.
Hình 4: Kết quả SEM của mô hình lý thuyết (chuẩn hóa)
Tp chí Khoa hc Trường TĐại hc Cn Thơ p 54, S 4D (2018): 159-167
166
Kim t định gi thuyế
Kết quả ước lượng chuẩn hóa của các tham số
chính trong hình thuyết cho thấy các giả
thuyết H , H1 3, H4 được chấp nhận ý nghĩa
thống với p < 0,05. Cụ thể hành vi tránh né
quảng cáo chịu sự tác động mạnh nhất từ thang đo
giá trị quảng cáo (với 𝛽 0,62), tiếp đến trải
nghiệm tiêu cực tác động mạnh thứ hai (với 𝛽
0,27 󰇜. Bên cạnh đó, hành vi tránh né quảng cáo có
tác động nghịch chiều đến sự nhận biết nhãn hiệu
sản phẩm của người tiêu dùng (với mức 𝛽
0,24). Riêng giả thuyết H2 không được chấp nhận
(với 𝛽0,11 p > 0,05), điều này nghĩa
tính xâm hại của quảng cáo không yếu tố quan
trọng ảnh hưởng đến hành vi tránh quảng cáo
của người dùng.
Bảng 3: Quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình nghiên cứu (chuẩn hóa)
Giả thuyết Mối quan hệ Ước lượng ML se cr p
H1 TNQC<--- GTQC -0,62 0,488 0,011 ***
H2 TNQC <--- XHQC 0,11 0,084 0,002 0,088
H3 TNQC <--- TNTC 0,27 0,147 0,003 ***
H4 NTNH <--- TNQC -0,24 0,122 0,003 0,048
5 HÀM Ý CỦA NGHIÊN CỨU VÀ KIẾN
NGHỊ CHO NHÀ QUẢN TRỊ
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tránh quảng
cáo chịu sự tác động nghịch chiều mạnh mẽ
nhất bởi giá trị nội tại của quảng cáo bao gồm: giá
trị thông tin giá trị giải trí, kết quả này sự
tương đồng và khẳng định lại khám phá của tác giả
Ducoffee (1995), Edwards et al. (2002). Bên cạnh
đó tác động từ trải nghiệm tiêu cực trong quá khứ
của khách hàng cũng ảnh hưởng đến hành vi tránh
né. Kết quả này một lần nữa mang lại sự đồng
thuận với tác giả Cho Cheon (2004). Kết quả
nghiên cứu đã khám phá rằng tính xâm hại không
ảnh hưởng đến hành vi né tránh quảng cáo, kết quả
này nghịch với khám phá của Edwards et al. (2002)
về tính xâm hại trong quảng cáo. Đây là điểm khác
biệt trong nghiên cứu này, doanh nghiệp thể
xem xét khi thực hiện hoạt động quảng cáo.
Xét về phương diện đóng góp khoa học, bài báo
đã tiên phong trong việc nghiên cứu về hành vi
tránh né quảng cáo và mối quan hệ của nó tới nhận
thức nhãn hiệu của người dùng tại thị trường thành
phố Hồ Chí Minh cũng như góp phần củng cố hệ
thống thang đo về tránh né quảng cáo trên thế giới.
Điều này giúp cho các nhà nghiên cứu hàn lâm
ứng dụng trong lĩnh vực quảng cáo được hệ
thống thang đo đlàm sở thực hiện nghiên cứu
của mình cho những hướng phát triển tiếp theo.
Xét dưới góc độ thực tiễn, thông qua kết quả
nghiên cứu của tác giả, khám phá mới trong mối
quan hệ nghịch chiều giữa hành vi tránh quảng
cáo khả năng nhận biết nhãn hiệu của các sản
phẩm quảng cáo. Đây một những khám phá
các doanh nghiệp khi làm hoạt động quảng cáo
truyn thông nên lưu tâm bi đng cơ cui cùng
của các công ty vẫn thông qua quảng cáo để
khách hàng thể nhận biết, hiểu thể phát
sinh ý định cũng như hành vi mua sắm sản phẩm.
Nếu các doanh nghiệp làm quảng cáo không tốt, thì
ràng rằng họ vừa tốn kém chi phí ích nhưng
lại không mang lại kết quả như mong đợi. Chính
vậy, để khách hàng không hành vi tránh
quảng cáo của mình, công ty nên quan tâm đầu
tư nhiều trong giá trị của quảng cáo bao gồm cả hai
góc độ giải trí lẫn nội dung. Các chủ đề hài hước,
những câu chuyện nội dung sâu sắc hay những
mẫu đời thường gần gũi… sẽ những lựa chọn
hợp để tác động vào nhận thức sự quan tâm
của người xem với những nội dung thông điệp
được thể hiện sau những mẫu quảng cáo đó. Ngoài
ra, các doanh nghiệp cũng cần tạo dựng niềm tin,
sự thích thú trong khách hàng để họ một cái
nhìn thiện cảm đối với doanh nghiệp.
6 MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG
NGHIÊN CỨU TƯƠNG LAI
Vấn đề tránh quảng cáo nhận thức nhãn
hiệu được tiếp cận thông qua công cụ mạng hội
nói chung, bao gồm facebook, instagram, zalo…
Tuy nhiên, nghiên cứu đang dừng lại hình thức
video quảng cáo trực tuyến chưa thực nghiệm
trên những dạng thức quảng cáo khác như pop-up,
game tương tác… còn hạn chế về địa bàn khảo
sát tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh, ng như
chưa phân tích sự khác biệt thông qua các đặc điểm
nhân khẩu của người dùng. Theo đó, hướng nghiên
cứu trong ơng lai thtiếp tục khai thác khía
cạnh này nhiều dạng thức quảng cáo, đồng thời
kiểm định sự khác biệt về tránh quảng cáo và
nhận thức nhãn hiệu của người dùng thông qua các
đặc trưng về tuổi, giới tính… giữa các khu vực,
vùng miền tại Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Aaker, D.A. and Bruzzone, D.E.,1985. Causes of
irritation in advertising. Journal of marketing.
49(2): 47-57.
Bellman, S., Schweda, A. and Varan, D., 2009. A
comparison of three interactive television ad
Tp chí Khoa hc Trường TĐại hc Cn Thơ p 54, S 4D (2018): 159-167
167
formats. Journal of Interactive Advertising.
10(1): 14-34.
Benway, J.P., 1999. Banner Blindness: What
Searching Users Notice and Do Not Notice on
the World Wide Web. Accessed on 01 December
2017. Available from
https://scholarship.rice.edu/bitstream/handle/1911/19
353/9928505.PDF?sequence=1&isAllowed=y
Bollen, K.A., 1989. Structural Equation with Laten
Variable. Wiley. New York, 514 pages.
Brown, A.T., 2015. Confirmatory Factor Analysis
for Applied Research, Second Edition. Guilford
Publications. NewYork, 475 pages.
Cho, C.H. and Cheon, H.J., 2004. Why do people
avoid advertising on the internet?. Journal of
Advertising. 33(4): 89–97.
Choi, S.M., Kim, E., Kim, S. and Yeh, Y.H., 2013.
Factors Affecting Advertising Avoidance on
Online Video Sites. The Journal of Advertising
and Promotion Research. 2(1): 87-121.
Ducoffe, R.H., 1995. How Consumers Assess the
Value of Advertising. Journal of Current Issues
and Research in Advertising. 17(1): 1-18.
Duff, B.R.L. and Faber, R.J., 2011. Missing the
Mark. Journal of Advertising. 40(2): 51-62.
Edwards, S.M., Li, H. and Lee, J.H., 2002. Forced
exposure and psychological reactance:
Antecedents and consequences of the perceived
intrusiveness of pup‐up ads. Journal of
Advertising. 31(3): 83‐95.
Ha, L., 1996. Observations. Advertising Clutter in
Consumer Magazines: Dimensions and Effects.
Journal of Advertising Research. 36: 76-84.
Hair, Jr .J.F., Anderson, R.E., Tatham, R.L. and
Black, W.C., 1988. Mutivariate Data Analysis,
Fifth Edition. Prentice Hall. New Jersey, 816
pages.
Herbert, E.K., 1983. Television Program Interest and
Commercial Interruption: Are Commercials on
Interesting Programs Less Effective?. Joumai of
Advertising Research. 23: 21-23.
Hoelter, J.W., 1983. The analysis of covariance
structure: goodness of fit indices. Sociological
Methods and Research. 11: 325 – 334.
Hussain, D. and Lasage, H., 2014. Online Video
Advertisement Avoidance: Can Interactivity
Help?. Journal of Applied Business Research.
30(1): 43-49.
Kelly, L., Kelly, J. and Kerr, G., 2010. Avoidance of
Advertising in Social Networking Sites.
Journal of Interactive Advertising. 10(2): 16‐27.
Lee, S. and Lumpkin, J.R., 1992. Differences in
Attitude Toward TV Advertising: VCR Usage as
a Moderator. International Journal of
Advertising. 11(4): 333‐342.
Li, W. and Huang, Z., 2016. The Research of
Influence Factors of Online Behavioral
Advertising Avoidance. American Journal of
Industrial and Business Management. 6: 947-957.
Mark, L., Eichholz, M. and Hagger, M., 2008.
Exploring the Effectiveness of Advertising in the
ABC.com Full Episode Player. Journal of
Advertising Research. 48: 320-328.
Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2011.
Nghiên cứu khoa học trong Marketing ứng dụng
mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, xuất bản lần 2.
Nhà xuất bản Lao Động. Hà Nội, 481 trang.
Pagendarm, M. and Schaumburg, H., 2001. Why Are
Users Banner-Blind? The Impact of Navigation
Style on the Perception of Web Banners.
Accessed on 01 December 2017. Available from
https://journals.tdl.org/jodi/index.php/jodi/article
/view/36/38.
Rafi, A., Ali, A., Waris, S. and Kashif-ur-Rehman.,
2011. Knowledge metrics of brandequity; critical
measures of brand attachment. Far East Journal
of Psychology and Business. 3(1): 41-50.
Raykov, T. and Widaman, K.F., 1995. Issues in
applied structural equation modelling research.
Structural Equation Modelling. 2(4): 289-318.
Russell, H.F. and Zanna, P.M., 1981. Direct
Experience and Attitude-Behavior Consistency,
in Proceedings of AJpances in Experimental
Sociai Psychology, Leonard Berkowitz, ed. New
York Academic Press. 14: 161-202.
Srinivasan, V., Park, C.S. and Chang, D.R., 2005.
An approach to the measurement analysis and
prediction of brand equity and its sources.
Management Science. 51(9): 1433-1448.
Stephen, J.H. and Deighton, J., 1989. Managing
What Consumers Learn from Experience.
Journal of Marketing. 53: 1-20.
Wang, J., Fang, Y. and Lu, H., 2008. Online video
advertising based on user’s attention relavancy
computing. In: Ostermann, J. and Ebrahimi, T.,
(Editors). Personalized media processing for
attention service applications. 2008 IEEE
International Conference on Multimedia and
Expo, 23 June to 26 June 2008, Hannover,
Germany. Conference Management Services Inc.
Berlin, 1161-1164.

Preview text:

Tp chí Khoa hc Trường Đại hc Cn Thơ
Tp 54, S 4D (2018): 159-167
DOI:10.22144/ctu.jvn.2018.081
TRÁNH NÉ QUẢNG CÁO VÀ NHẬN THỨC NHÃN HIỆU - MỘT NGHIÊN CỨU
VỀ HÌNH THỨC VIDEO QUẢNG CÁO TRÊN CÁC TRANG MẠNG XÃ HỘI
CỦA GIỚI TRẺ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hồ Trúc Vi , Phan Trọng Nhân và Phan Thị Song Thương *
Khoa Qun Tr Kinh Doanh, Trường Đại hc Công nghip Thành ph H Chí Minh
*Người chu trách nhim v bài viết: H Trúc Vi (email: hotrucvi@iuh.edu.vn) ABSTRACT
Thông tin chung:
Ngày nhn bài: 23/09/2017
The research is aimed to discover and confirm the factors that affect the
Ngày nhn bài sa: 28/12/2017
advertising avoidance and the relationship between advertising and
Ngày duyt đăng: 21/06/2018
brand awareness in video ads form on social network sites. The data was
collected from 435 young clients aged 18 to 35 who are living and Title:
working in Ho Chi Minh City. Research models and scales are
Advertising avoidance and
constructed from the advertising avoidance theory by Ducoffe (1995),
brand awareness - A research
Edwards et al. (2002), Cho and Cheon (2004) as well as reviewed basis
about video ads form on social
on its relationship to brand awareness from the theory of Rafi et al.
network sites of the youth in
(2011), Bellman et al. (2009). The results showed that the advertising Ho Chi Minh city
value (including entertainment value and information value) is the most
adverse and strong impact to avoid. In addition, there is a positive

T khóa:
Gii tr, mng xã hi, nhn
correlation between negative experiences and advertising avoidance
thc nhãn hiu, tránh né
behavior. This research also pioneered and confirmed the negative
qung cáo, video qung cáo
relationship between advertising avoidance and consumer perception o f the company brand name. TÓM TẮT Keywords:
Nghiên cu này nhm khám phá và khng định các yếu t tác động đến
Advertising avoidance, brand
tránh né qung cáo cũng như mi quan h đến nhn thc ca khách hàng
awareness, sites video ads,
v nhãn hiu sn phm dưới hình thc video qung cáo trên mng xã hi.
social networking, the youth
D liu được thu thp t 435 khách hàng là gii tr tui t 18 đến 35
đang sinh sng và làm vic ti thành ph H Chí Minh. Mô hình nghiên
c
u và các thang đo được xây dng t các cơ s lý thuyết v tránh né
qu
ng cáo t các tác gi Ducoffe (1995), Edwards et al. (2002), Cho và
Cheon (2004) c
ũng như nghiên cu v mi quan h ca nó đến nhn thc
nhãn hi
u trên cơ s nn ca Rafi et al. (2011), Bellman et al. (2009). Mô
hình
được thc hin vi phương pháp phân tích mô hình cu trúc tuyến
tính SEM. K
ết qu nghiên cu cho thy giá tr qung cáo (bao gm giá
tr
gii trí và giá tr thông tin) có tác động nghch chiu và mnh nht
đến tránh né qung cáo. Bên cnh đó, có s tương quan thun chiu gia
tr
i nghim tiêu cc và hành vi tránh né này. Ngoài ra, bài nghiên cu
còn tiên phong khám phá và kh
ng định v mi quan h nghch biến gia
tránh né qu
ng cáo và nhn thc ca khách hàng v nhãn hiu sn phm
c
a doanh nghip.
Trích dẫn: Hồ Trúc Vi, Phan Trọng Nhân và Phan Thị Song Thương, 2018. Tránh né quảng cáo và nhận thức
nhãn hiệu - một nghiên cứu về hình thức video quảng cáo trên các trang mạng xã hội của giới trẻ tại thành
phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 54(4D): 159-167. 159
Tp chí Khoa hc Trường Đại hc Cn Thơ
Tp 54, S 4D (2018): 159-167
liên quan đến nhận thức của khách hàng đối với 1 GIỚI THIỆU
sản phẩm của doanh nghiệp.
Do sự phát triển của công nghệ điện thoại thông 2
minh giá rẻ cùng chính sách phát triển mạng viễn
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
thông di động 3G và 4G đã thu hút một số lượng
lớn người dùng, tạo ra một thị trường cực kì hấp 2.1 Cơ sở lý thuyết
dẫn cho các công ty trong việc sử dụng những công
2.1.1 Hình thc video qung cáo trc tuyến
cụ số để quảng bá sản phẩm và tăng mức độ nhận
biết về nhãn hiệu. Cũng vì vậy mà quảng cáo trực
Video quảng cáo trực tuyến là dạng quảng cáo
truyền tải thông qua mạng internet để khách hàng
tuyến ngày càng sôi động hơn, đặc biệt là xu hướng
quảng cáo dưới hình thức video – một loại hình
xem hay tải về máy tính hoặc điện thoại. Theo tác giả Wang
quảng cáo với hình ảnh bắt mắt và âm thanh sống
et al. (2008), video quảng cáo trực tuyến
động rất dễ dàng để truyền tải thông điệp nhưng lại
được nêu bật qua nhiều cách thức và được phân chia làm 2 cách thức sau:
xâm hại nhiều đến thời gian và chi phối hoạt động
của người dùng. Theo đó, vấn đề tránh né quảng
 Quảng cáo video tuyến tính: Đây là hình
cáo đang trở thành yếu tố can thiệp vào việc thực
thức cơ bản khoảng 15-30 giây chạy ở đầu, giữa,
hiện mục tiêu tiếp thị mong muốn của các doanh
hoặc cuối của đoạn video.
nghiệp. Tránh quảng cáo thể hiện ở việc người
 Quảng cáo video tương tác: Loại này cho
dùng hạn chế sự hiển thị của quảng cáo hoặc sử
phép nhiều sự tương tác với người xem. Người
dụng những phần mềm hỗ trợ để hạn chế và ngăn
xem có thể click vào các thông tin khác, định vị
chặn thông tin quảng cáo trực tuyến (Duff và
cửa hàng, tìm hiểu chi tiết hợp đồng, hoặc đăng kí
Faber, 2011). Bên cạnh đó, các phương tiện truyền
việc nhận thư quảng cáo sản phẩm thông qua
thông internet ngày nay cho phép nhà tiếp thị chủ
những quảng cáo này. Loại quảng cáo tương tác
động đăng tải quảng cáo một cách dễ dàng. Kết quả
này thường chèn nội dung video với hình động,
là trong cùng một khu vực có quá nhiều mẫu quảng
hình tĩnh, chữ và các yếu tố tương tác khác.
cáo dẫn đến người tiêu dùng có thể bị mất sự chú ý
2.1.2 Mng xã hi
hoặc bỏ qua sự hiển thị của quảng cáo (Duff và
Faber, 2011). Điều này không những khiến doanh
Khái niệm mạng xã hội (Social network sites)
nghiệp không truyền tải được thông điệp mà còn
được hình thành trong thập niên cuối thế kỷ XX,
tiêu tốn của họ một khoảng chi phí vô cùng lớn,
bắt đầu bằng sự ra đời của Classmates.com (1995),
chưa kể đến những hậu quả tiêu cực về nhận thức
SixDegrees (1997), sau đó là sự nở rộ của
nhãn hiệu trong tâm trí khách hàng.
Friendster (2002), MySpace, Facebook (2004),
Instagram (2010). Tại Việt Nam, Zing me (2009),
Hiện nay, ở Việt Nam, các bài nghiên cứu liên
Zalo (2012) là những ví dụ điển hình cho mạng xã
quan đến khía cạnh hành vi tránh né chưa tìm thấy
hội. Theo nhiều hướng tiếp cận, mạng xã hội có
trên những phương tiện truyền thông tivi,
những cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên, một cách
facebook, internet, mobile, cũng như nghiên cứu
chung nhất, có thể hiểu mạng xã hội là một tập hợp
dưới khía cạnh hình thức quảng cáo banner, quảng
các cá nhân với các mối quan hệ về một hay nhiều
cáo ngoài trời, video, forum. Trên thế giới tuy có
mặt được gắn kết với nhau (Trần Hữu Luyến
khá nhiều nghiên cứu về tránh né quảng cáo nhưng ctv., 2015).
đa phần chỉ nghiên cứu liên quan đến khía cạnh giá
trị nội tại của quảng cáo mà chưa có nghiên cứu về
2.1.3 Tránh né trong qung cáo
mối quan hệ giữa hành vi tránh né quảng cáo và
Tránh né quảng cáo là tất cả mọi hành động
nhận thức về nhãn hiệu.
khác nhau mà người sử dụng các phương tiện
Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm khám
truyền thông cắt giảm sự xuất hiện của quảng cáo.
phá và khẳng định mối quan hệ giữa hành vi tránh
Pagendarm và Schaumburg (2001) cho rằng mọi
né quảng cáo và nhận thức nhãn hiệu, trong đó
người tránh né quảng cáo là do vị trí mẫu quảng
tránh né quảng cáo được kiểm định dưới góc độ về
cáo không thuận tiện và không tạo được sự thu hút
giá trị nội tại của quảng cáo cũng như những tác
để khách hàng phải click vào xem. Một lý do nữa
động khác như tính xâm hại của quảng cáo và kinh
là giá trị của quảng cáo không chứa đựng thông tin
nghiệm thực tế từ quá khứ. Nghiên cứu được thực
hữu ích hay giá trị cảm xúc cho khách hàng
hiện với mục đích đưa ra một khung lý thuyết mới
(Benway, 1999). Còn theo Cho và Cheon (2004)
toàn diện hơn, chi tiết hơn về hành vi tránh né
khẳng định tránh né quảng cáo là do quảng cáo cản
quảng cáo và mức độ nhận thức về nhãn hiệu sản
trở mục tiêu nhận thức và từ kinh nghiệm tiêu cực
phẩm, giúp doanh nghiệp vừa có thể truyền tải
của khách hàng cũng như sự xáo trộn của quảng
thông tin đến khách hàng, vừa tránh những rủi ro
cáo. Trong đó, Cho và Cheon (2004) đã khám phá 160
Tp chí Khoa hc Trường Đại hc Cn Thơ
Tp 54, S 4D (2018): 159-167
thang đo tránh né được phân làm ba khía cạnh:
buộc, quấy rối đến mục tiêu nhận thức… dẫn đến
tránh né về mặt nhận thức, cảm xúc và hành vi.
tính xâm hại của quảng cáo cao hơn. Mức xâm hại
Nhận thức tránh né liên quan đến suy nghĩ cũng
khác nhau tùy thuộc vào nội dung, cách thực hiện
như niềm tin của khách hàng đối với quảng cáo và
hoặc vị trí của quảng cáo. Theo Ha (1996), để thu
được tác giả nghiên cứu với khuynh hướng lờ
hút sự chú ý của người dùng, các quảng cáo làm
quảng cáo đi, không để mắt tới, không chú ý đến,
gián đoạn nội dung bằng cách giới hạn số lượng
không click vào quảng cáo mặc dù hấp dẫn. Cảm
hành động liên quan đến mục tiêu của người dùng.
xúc tránh né bao gồm việc ghét quảng cáo và cho
Một số người dùng có thể điều chỉnh hành động
rằng nếu không có quảng cáo trên website thì tốt
hoặc mục tiêu của họ để xem xét về quảng cáo.
hơn. Ứng dụng lý thuyết của Cho và Cheon (2004),
Tuy nhiên, một số khác có thể tạo ra các hành động
Li và Huang (2016) đã phát triển nghiên cứu thông
ngược lại đối với quảng cáo, đó là né tránh quảng
qua các khía cạnh là cố tình bỏ qua quảng cáo, tắt
cáo (Edwards et al., 2002). Tuy nhiên, khi quảng
quảng cáo, sử dụng các biện pháp can thiệp để hạn
cáo làm gián đoạn mục tiêu của người dùng, nó có
chế quảng cáo hay xóa bỏ, hủy theo dõi các quảng
thể tạo ra các kết quả không mong muốn như thái
cáo. Ở đây, bài nghiên cứu này dựa trên lý thuyết
độ tiêu cực (Herbert, 1983), (Ha, 1996). Mọi người
của Li và Huang (2016) để tiếp tục đo lường và
cảm thấy phát cáu với quảng cáo khi họ bị choáng
nghiên cứu về tránh né quảng cáo.
ngợp bởi sự tác động quá mức, kết quả là mọi
2.1.4 Giá tr ca qung cáo
người tránh quảng cáo (Aaker và Bruzzone,1985).
Từ đó, giả thuyết được đặt ra:
Giá trị của quảng cáo được định nghĩa là đánh
giá chủ quan về giá trị quan trọng hoặc ích lợi của
H2: Nhận thức về tính xâm hại quảng cáo có
việc quảng cáo của người dùng, là một công cụ
mối quan hệ cùng chiều với tránh né video quảng
hữu ích để đánh giá tính hiệu quả của quảng cáo cáo trên mạng xã hội.
(Ducoffe, 1995). Trong đó, tác giả đã xác định hai
2.1.6 Tri nghim tiêu cc
tiền đề quan trọng là thông tin và giải trí góp phần
Khách hàng có khuynh hướng dựa vào những
tạo ra giá trị quảng cáo trên các phương tiện. Giá
trị thông tin thu được khi người xem thu thập thông
kết luận mà họ rút ra được từ những trải nghiệm
thực tế của bản thân bởi vì họ thường đánh giá qua
tin hữu ích, quan trọng, đa dạng và đúng, trong khi
giá trị giải trí đạt được thông qua sự vui vẻ, tạo sự
tiêu chuẩn cá nhân của mình (Stephen và Deighton,
1989). Theo nghiên cứu của Russell và Zanna
hứng thú, thư giãn hay tính hài hước mà quảng cáo
mang lại. Nghiên cứu về nhận thức của mọi người
(1981), thông tin thu thập được từ kinh nghiệm quá
khứ có ảnh hưởng mạnh và trực tiếp đến thái độ và
về giá trị quảng cáo trên web của Edward et al.
(2002) cũng chỉ ra rằng cả hai phương diện giá trị
hành vi của khách hàng. Cho và Cheon (2004) đã
xác định thang đo trải nghiệm tiêu cực là một yếu
thông tin và giá trị giải trí đều có tương quan
nghịch với tránh né quảng cáo. Theo Lee và
tố ảnh hưởng đến hành vi tránh né quảng cáo trên
internet. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng thang đo
Lumpkin (1992), hành vi tránh quảng cáo truyền
hình sẽ được điều chỉnh khi những quảng cáo mà
trải nghiệm tiêu cực biểu hiện bởi sự thất vọng,
không nhận được lợi ích và động lực, những điều
mọi người xem chứa đựng thông tin hữu ích. Do
đó, giả thuyết được đưa ra như sau:
này gây ra những trải nghiệm tiêu cực dẫn đến
hành vi tránh né quảng cáo trên internet. Những
H1: Giá trị quảng cáo có mối quan hệ nghịch
biến quan sát của thang đo này tiếp tục được củng
chiều với tránh né video quảng cáo trên mạng xã
cố thông qua nghiên cứu của Kelly et al. (2010). hội.
Từ đó, giả thuyết nghiên cứu đặt ra:
2.1.5 Tính xâm hi ca qung cáo
H3: Kinh nghiệm tiêu cực từ những trải nghiệm
Tính xâm hại của quảng cáo được xem xét khi
trước đó có mối quan hệ cùng chiều với tránh né
các quảng cáo can thiệp vào mục đích của con
video quảng cáo trên mạng xã hội.
người. Nhận thức về tính xâm hại đã được gợi ý là
2.1.7 Nhn thc v nhãn hiu
một trong những yếu tố có ảnh hưởng nhất dẫn tới
Nhận thức về nhãn hiệu là việc người tiêu dùng
sự tức giận và tránh né quảng cáo (Edwards et al.
2002). Cũng theo tác giả, sự xâm nhập được sử
biết và quen thuộc với hình ảnh cũng như sự hiện
diện của sản phẩm. Đó là mức độ mà người tiêu
dụng để mô tả cách mà cảm xúc tiêu cực phát sinh
từ quảng cáo liên quan đến cảm giác tức giận, dẫn
dùng liên kết nhãn hiệu với sản phẩm cụ thể.
Quảng cáo rất quan trọng vì chúng hỗ trợ phát triển
đến hành vi tránh. Edwards et al. (2002) nhận thấy
rằng cường độ nhận thức cao dưới các góc độ như
hình ảnh về nhãn hiệu của tổ chức. Các doanh
nghiệp lợi dụng tính lặp lại của quảng cáo để tạo ra
làm sao nhãng, gây nhiễu loạn thông tin nhận thức,
xuất hiện bừa bãi trên các trang mạng xã hội hay ép
ấn tượng về nhãn hiệu hoặc sản phẩm trong tâm trí
khách hàng (Duff và Faber, 2011). Theo Srinivasan 161
Tp chí Khoa hc Trường Đại hc Cn Thơ
Tp 54, S 4D (2018): 159-167
et al. (2005), có hai cách để đo lường nhận thức về
hưởng lớn nhất đến hành vi bỏ qua các mẫu quảng
nhãn hiệu: nhận thức được hỗ trợ và nhận thức
cáo trên video trực tuyến. Nếu cá nhân nhận thấy
không được hỗ trợ tùy thuộc vào bối cảnh. Nhận
rằng quảng cáo đang xâm phạm hay tác động tiêu
thức được hỗ trợ được xem xét trong bối cảnh
cực đến họ thì họ sẽ tìm cách tránh quảng cáo trên
khách hàng nhìn thấy nhiều nhãn hiệu hiển thị tại
các trang video trực tuyến. Nghiên cứu khác của
thời điểm mua hàng. Nhận thức không được hỗ trợ
tác giả Hussain và Lasage (2014) lựa chọn tiền đề
là khi khách hàng buộc phải nhập tên của trang
lý thuyết của Edwards et al. (2002), Cho và Cheon
web hoặc nhãn hiệu khi có nhu cầu về sản phẩm.
(2004) để đề xuất kiểm định hành vi tránh né video
Rafi et al.(2011) đã chỉ ra rằng nhận thức về nhãn
quảng cáo trực tuyến bằng phương pháp sử dụng
hiệu sản phẩm đi kèm với những thông tin mà
phần mềm khóa ứng dụng thông qua các yếu tố nội
khách hàng thu nhận được thông qua các hoạt động
dung quảng cáo thiếu chân thật, thiếu phù hợp và
truyền thông tiếp thị mà doanh nghiệp thực hiện.
tính tương tác trong quảng cáo. Kết quả cho thấy
rằng hành vi tránh né video quảng cáo là do nội
Để đo lường nhận thức về nhãn hiệu trong môi
dung thiếu chân thật, thiếu phù hợp và tính tương
trường số, nhận thức nhãn hiệu được hỗ trợ sẽ thích
tác thấp. Hạn chế của đề tài là tác giả chỉ nghiên
hợp nhất vì quảng cáo sẽ tạo ra một tình huống
cứu hành vi tránh né bằng cách sử dụng phần mềm
tương tự như thị trường, trong đó cá nhân sẽ được chặn quảng cáo.
giới thiệu nhiều loại hàng hóa và dịch vụ khác
nhau. Theo Bellman et al. (2009), mức độ nhận
Xét dưới góc độ thực tiễn, với sự phát triển
thức nhãn hiệu sẽ tăng cao khi quảng cáo được gợi
ngày càng mạnh của công nghệ thông tin, các nhà
nhớ lặp lại và nó tác động đến ý định mua sắm của
marketing Việt Nam cũng như thế giới đã có nhiều
khách hàng. Mark et al. (2008) đã tìm thấy rằng
cơ hội hơn trong việc tạo ra những quảng cáo đạt
quảng cáo là một cách hiệu quả để nâng cao nhận
giá trị về nội dung và tính giải trí cao. Tuy nhiên,
thức về nhãn hiệu. Ngoài ra, Mark et al. (2008)
với những mẫu quảng cáo có giá trị cao, khách
nhận thấy rằng tránh quảng cáo trong tương quan
hàng tại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí
vấn đề mù nhãn hiệu, hệ quả là nó có ảnh hưởng
Minh nói riêng có thực sự quan tâm hay không?
trực tiếp đến nhận thức về thương hiệu. Vì thế, giả
Chính vì vậy, nghiên cứu này đề xuất khám phá
thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
khía cạnh giá trị quảng cáo bao gồm giá trị về
thông tin và giá trị về giải trí trong mối quan hệ với
H4: Tránh né quảng cáo có mối quan hệ trái
hành vi tránh né quảng cáo bên cạnh các thang đo
chiều với nhận thức về nhãn hiệu sản phẩm
được khám phá là tính xâm phạm của quảng cáo và
2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
trải nghiệm tiêu cực từ người dùng (Choi et al.,
Ở Việt Nam hiện nay, nghiên cứu liên quan đến 2013).
vấn đề tránh né quảng cáo chưa có nhưng trên thế
Trong nghiên cứu này, bài nghiên cứu cũng đề
giới đã có rất nhiều nghiên cứu về việc tránh né
xuất mở rộng về mối tương quan giữa hành vi
quảng cáo của khách hàng với nhiều hướng khác
tránh né quảng cáo và khả năng nhận biết về nhãn
nhau về nội dung, phương tiện cũng như loại hình
hiệu sản phẩm quảng cáo. Nếu kiểm định tác động
quảng cáo. Nghiên cứu của Choi et al. (2013) đã đi
này được chấp nhận thì khám phá sẽ góp phần bổ
tìm những yếu tố tác động đến thái độ tránh né
sung về mặt lý thuyết trong mối liên hệ giữa hành
quảng cáo dưới hình thức video quảng cáo trực
vi tránh né quảng cáo và nhận thức về nhãn hiệu,
tuyến. Với đối tượng nghiên cứu là sinh viên đại
đồng thời giúp doanh nghiệp hiểu được những hệ
học, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: sự xâm
lụy tiêu cực từ quảng cáo. Với những lý do trên,
phạm và thái độ đối với quảng cáo là hai yếu tố ảnh
mô hình nghiên cứu được đề xuất như sau: Giá trị của Giá trị thông tin quảng cáo Giá trị giải trí Tính xâm hại Tránh né Nhận thức về của quảng cáo quảng cáo nhãn hiệu Trải nghiệm tiêu cực
Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất 162
Tp chí Khoa hc Trường Đại hc Cn Thơ
Tp 54, S 4D (2018): 159-167
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
đồng thời hệ số tương quan biến – tổng khi loại 3.1 Quy trình nghiên cứu
biến của các biến quan sát cho từng thang đo đều
lớn hơn 0,3. Vì vậy, tất cả các biến quan sát và
Nghiên cứu này bao gồm hai bước chính là
thang đo đều đạt yêu cầu để đưa vào tiếp tục phân
nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức.
tích nhân tố khám phá EFA.
Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua
4.1.2 Đánh giá thang đo bng phân tích yếu t
nghiên cứu sơ bộ định tính để hiệu chỉnh mô hình khám phá EFA
thang đo sao cho phù hợp với môi trường mạng xã
Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp trích hội, tại Việt Nam.
trong phân tích nhân tố chính (Principal Axis
Nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp
Analysis) cùng phép xoay Promax. Kết quả EFA
định lượng, phỏng vấn 435 người dùng mạng xã
cho thấy giá trị KMO đạt được là 0,824 > 0,05 và
hội thông qua Google Forms. Mục đích của nghiên
giá trị Sig = 0,000 (chứng tỏ các biến quan sát có
cứu này là kiểm định mô hình nghiên cứu cùng các
tương quan với nhau trong tổng thể). Đồng thời kết
giả thuyết bằng phương pháp phân tích nhân tố
quả cho thấy có sáu nhân tố tại Eigen value lớn
khẳng định CFA và mô hình cấu trúc tuyến tính
hơn 1 và tổng phương sai trích tích lũy 75,878. Kết
SEM sau khi thực hiện kiểm định Cronbach’s
quả phân tích nhân tố khám phá EFA ta thấy có sáu
Alpha và EFA để khẳng định lại các thành phần
nhân tố trích được với các biến quan sát không bị
cũng như giá trị và độ tin cậy của thang đo.
xáo trộn trong từng thang nên thang đo được giữ
3.2 Đối tượng nghiên cứu lại như cũ. 4.2
Nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật phỏng vấn
Kiểm định thang đo bằng CFA
bằng bảng câu hỏi được thiết kế trên Form Google
4.2.1 Thang đo giá tr qung cáo
Docs với khách hàng thuộc cả hai nhóm giới tính
Kết quả CFA của mô hình này cho thấy có Chi-
nam và nữ, nằm trong độ tuổi từ 18-35 trên địa bàn
bình phương là 12,0691 và 19 bậc tự do (p =
thành phố Hồ Chí Minh. Mẫu được chọn theo
0,854). Các chỉ tiêu đo lường độ phù hợp khác đều
phương pháp phi xác suất thuận tiện với kích thước
đạt yêu cầu: TLI=1,020; CFI=1,000; CMIN/df =
n = 435. Kích thước mẫu dự kiến là 400. Trên thực
0,668 và RMSEA = 0,000. Theo Nguyễn Đình Thọ
tế, số phiếu được gửi đi là 450, nhận về 435 phiếu
và Nguyễn Thị Mai Trang (2008) thì TLI, CFI 
đều hợp lệ, còn lại 15 phiếu không nhận được phản
0,9; CMIN/df  0,2; RMSEA 0,08 thì mô hình
hồi từ tài khoản của người dùng mạng xã hội. Cỡ
đạt độ phù hợp cao với dữ liệu thị trường. Đồng
mẫu 435 hoàn toàn phù hợp cho các kiểm định của
thời, theo Brown (2015), chỉ số CFI dao động từ 0
nghiên cứu. 18 đến 35 là độ tuổi được lựa chọn
đến 1 là kém phù hợp, 1 là phù hợp tốt. Chỉ số TLI
tham gia khảo sát để mang tính chất đại diện cho
với ý nghĩa tương tự nhưng khoảng dao động vượt
giới trẻ với đầy đủ năng lực về hành vi dân sự và
qua 1. Như vậy, với những căn cứ vừa nêu, ta có
chịu trách nhiệm về hình sự với mức độ tiếp cận
thể kết luận mô hình được xem là phù hợp với dữ
mạng xã hội có tỷ lệ cao hơn các nhóm tuổi còn lại.
liệu thị trường. Hơn nữa các trọng số của hai thành
Sau khi thu thập, ta có thành phần mẫu như sau: từ
phần này đều cao (trung bình trọng số của GTTT là
18-25 tuổi chiếm 59% và 25-35 chiếm 41%, giới
0,80 và GTGT là 0,78). Vì vậy các biến quan sát
tính nam chiếm 44% và nữ chiếm 56%.
dùng để đo lường hai thành phần GTTT và GTGT
4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ
của khái niệm giá trị quảng cáo đạt được giá trị hội tụ.
4.1 Đánh giá sơ bộ thang đo bằng hệ số
Cronbach’s Alpha và phân tích EFA
Độ tin cậy tổng hợp của thành phần GTTT là
0,882 với phương sai trích được là 65,4%, của
4.1.1 Kết qu Cronbach’s Alpha
thành phần GTGT là 0,860 với phương sai trích
Kết quả phân tích cho thấy tất cả các thang đo
được là 60,8%. Kết quả này cho thấy hai thành
đều có hệ số Cronbach’s Alpha > 0,06 (cụ thể hệ số
phần GTTT và GTGT đều đạt tiêu chuẩn về độ tin
Cronbach’s Alpha dao động từ 0,813 – 0,921),
cậy và phương sai trích được. 163
Tp chí Khoa hc Trường Đại hc Cn Thơ
Tp 54, S 4D (2018): 159-167
Hình 2: Kiểm định thang đo giá trị quảng cáo bằng CFA
4.2.2 Mô hình đo lường ti hn
(< 0,08) nên mô hình phù hợp với dữ liệu thị
trường. Đồng thời kết quả cũng cho thấy trọng số
Theo kết quả thống kê cho thấy mô hình tới hạn
CFA của tất cả các biến quan sát đều lớn hơn 0,50
có 218 bậc tự do. Kết quả CFA cho thấy χ2 =
(nhỏ nhất là 0,65) khẳng định tính đơn hướng và
309,387; p = 0,000; χ2/df = 1,419 (< 3); TLI =
giá trị hội tụ của các thang đo được sử dụng trong
0,930; CFI = 0,940 (đều > 0,9); RMSEA = 0,061 mô hình nghiên cứu.
Hình 3: Kết quả mô hình đo lường tới hạn CFA
Kết quả phân tích CFA cũng cho ta thấy tất cả
đạt được giá trị phân biệt (Nguyễn Đình Thọ và
các hệ số tương quan kèm sai lệch chuẩn cho thấy
Nguyễn Thị Mai Trang, 2011)
chúng đều khác với 1, các khái niệm nghiên cứu 164
Tp chí Khoa hc Trường Đại hc Cn Thơ
Tp 54, S 4D (2018): 159-167
Bảng 1: Bảng kết quả kiểm định giá trị phân biệt giữa các biến Mối quan hệ r se cr p XHQC <--> TNQC 0,178 0,063 1,705 0,088 XHQC <--> NTNH -0,015 0,049 -0,139 0,889 XHQC <--> TNTC 0,050 0,057 0,466 0,642 TNQC <--> NTNH -0,221 0,041 -1,974 0,048 XHQC <--> GTQC -0,126 0,049 -0,981 0,327 TNTC <--> GTQC -0,739 0,049 -4,144 *** TNQC <--> GTQC -0,774 0,054 -4,451 *** NTNH <--> GTQC 0,453 0,036 2,947 0,003 TNQC <--> TNTC 0,489 0,053 4,037 *** NTNH <--> TNTC -0,513 0,043 -3,912 ***
lượng trong mô hình CFA đều lớn hơn 0,50 nên ta
Bên cạnh đó, độ tin cậy tổng hợp pc và phương
có thể kết luận các thang đo đều đạt yêu cầu.
sai trích pvc được tính dựa trên trọng số nhân tố ước
Bảng 2: Bảng tóm tắt kết quả kiểm định độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích Khái Số thành
Số biến quan Độ tin cậy Cronbach’s Độ tin cậy Phương sai Giá trị niệm phần sát Alpha tổng hợp trích (%) XHQC 1 5 0,921 0,956 81,4 TNTC 1 3 0,838 0,819 60,2 TNQC 1 4 0,867 0,899 69,1 Chấp NTNH 1 3 0,813 0,789 55,5 nhận GTQC 2 GTTT 3 0,877 0,882 65,4 GTGT 0,857 0,860 60,8
4.2.3 Kim định mô hình lý thuyết và gi
= 0,000. Các hệ số khác như Chi-bình phương/df =
thuyết nghiên cu bng SEM
1.607 (< 3), TLI = 0,899, CFI = 0,911 (đều > 0,9)
và RMSEA = 0,074 (< 0,08) đều đạt chỉ tiêu. Như
Kim định mô hình lý thuyết
vậy, mô hình này phù hợp với các dữ liệu thị
Kết quả phân tích SEM cho thấy mô hình có trường.
Chi-bình phương = 360,059 với 224 bậc tự do và p
Hình 4: Kết quả SEM của mô hình lý thuyết (chuẩn hóa) 165
Tp chí Khoa hc Trường Đại hc Cn Thơ
Tp 54, S 4D (2018): 159-167
0,27 󰇜. Bên cạnh đó, hành vi tránh né quảng cáo có
Kim định gi thuyết
tác động nghịch chiều đến sự nhận biết nhãn hiệu
Kết quả ước lượng chuẩn hóa của các tham số
sản phẩm của người tiêu dùng (với mức 𝛽 
chính trong mô hình lý thuyết cho thấy các giả
0,24). Riêng giả thuyết H2 không được chấp nhận
thuyết H1, H3, H4 được chấp nhận vì có ý nghĩa
(với 𝛽0,11 và p > 0,05), điều này có nghĩa là
thống kê với p < 0,05. Cụ thể hành vi tránh né
tính xâm hại của quảng cáo không là yếu tố quan
quảng cáo chịu sự tác động mạnh nhất từ thang đo
trọng ảnh hưởng đến hành vi tránh né quảng cáo
giá trị quảng cáo (với 𝛽  0,62), tiếp đến là trải của người dùng.
nghiệm tiêu cực tác động mạnh thứ hai (với 𝛽 
Bảng 3: Quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình nghiên cứu (chuẩn hóa)
Giả thuyết Mối quan hệ Ước lượng ML se cr p H1 TNQC<--- GTQC -0,62 0,488 0,011 *** H2 TNQC <--- XHQC 0,11 0,084 0,002 0,088 H3 TNQC <--- TNTC 0,27 0,147 0,003 *** H4 NTNH <--- TNQC -0,24 0,122 0,003 0,048
5 HÀM Ý CỦA NGHIÊN CỨU VÀ KIẾN
rõ ràng rằng họ vừa tốn kém chi phí vô ích nhưng NGHỊ CHO NHÀ QUẢN TRỊ
lại không mang lại kết quả như mong đợi. Chính vì
vậy, để khách hàng không có hành vi tránh né
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tránh né quảng
quảng cáo của mình, công ty nên quan tâm và đầu
cáo chịu sự tác động nghịch chiều và mạnh mẽ
tư nhiều trong giá trị của quảng cáo bao gồm cả hai
nhất bởi giá trị nội tại của quảng cáo bao gồm: giá
góc độ giải trí lẫn nội dung. Các chủ đề hài hước,
trị thông tin và giá trị giải trí, kết quả này có sự
những câu chuyện có nội dung sâu sắc hay những
tương đồng và khẳng định lại khám phá của tác giả
mẫu đời thường gần gũi… sẽ là những lựa chọn
Ducoffee (1995), Edwards et al. (2002). Bên cạnh
hợp lý để tác động vào nhận thức và sự quan tâm
đó tác động từ trải nghiệm tiêu cực trong quá khứ
của người xem với những nội dung thông điệp
của khách hàng cũng ảnh hưởng đến hành vi tránh
được thể hiện sau những mẫu quảng cáo đó. Ngoài
né. Kết quả này một lần nữa mang lại sự đồng
ra, các doanh nghiệp cũng cần tạo dựng niềm tin,
thuận với tác giả Cho và Cheon (2004). Kết quả
sự thích thú trong khách hàng để họ có một cái
nghiên cứu đã khám phá rằng tính xâm hại không
nhìn thiện cảm đối với doanh nghiệp.
ảnh hưởng đến hành vi né tránh quảng cáo, kết quả
này nghịch với khám phá của Edwards et al. (2002)
6 MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG
về tính xâm hại trong quảng cáo. Đây là điểm khác NGHIÊN CỨU TƯƠNG LAI
biệt trong nghiên cứu này, doanh nghiệp có thể
Vấn đề tránh né quảng cáo và nhận thức nhãn
xem xét khi thực hiện hoạt động quảng cáo.
hiệu được tiếp cận thông qua công cụ mạng xã hội
Xét về phương diện đóng góp khoa học, bài báo
nói chung, bao gồm facebook, instagram, zalo…
đã tiên phong trong việc nghiên cứu về hành vi
Tuy nhiên, nghiên cứu đang dừng lại ở hình thức
tránh né quảng cáo và mối quan hệ của nó tới nhận
video quảng cáo trực tuyến mà chưa thực nghiệm
thức nhãn hiệu của người dùng tại thị trường thành
trên những dạng thức quảng cáo khác như pop-up,
phố Hồ Chí Minh cũng như góp phần củng cố hệ
game tương tác… và còn hạn chế về địa bàn khảo
thống thang đo về tránh né quảng cáo trên thế giới.
sát tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh, cũng như
Điều này giúp cho các nhà nghiên cứu hàn lâm và
chưa phân tích sự khác biệt thông qua các đặc điểm
ứng dụng trong lĩnh vực quảng cáo có được hệ
nhân khẩu của người dùng. Theo đó, hướng nghiên
thống thang đo để làm cơ sở thực hiện nghiên cứu
cứu trong tương lai có thể tiếp tục khai thác khía
của mình cho những hướng phát triển tiếp theo.
cạnh này ở nhiều dạng thức quảng cáo, đồng thời
kiểm định sự khác biệt về tránh né quảng cáo và
Xét dưới góc độ thực tiễn, thông qua kết quả
nhận thức nhãn hiệu của người dùng thông qua các
nghiên cứu của tác giả, khám phá mới trong mối
đặc trưng về tuổi, giới tính… giữa các khu vực,
quan hệ nghịch chiều giữa hành vi tránh né quảng
vùng miền tại Việt Nam.
cáo và khả năng nhận biết nhãn hiệu của các sản
phẩm quảng cáo. Đây là một những khám phá mà TÀI LIỆU THAM KHẢO
các doanh nghiệp khi làm hoạt động quảng cáo và
Aaker, D.A. and Bruzzone, D.E.,1985. Causes of
truyền thông nên lưu tâm bởi động cơ cuối cùng
irritation in advertising. Journal of marketing.
của các công ty vẫn là thông qua quảng cáo để 49(2): 47-57.
khách hàng có thể nhận biết, hiểu và có thể phát
Bellman, S., Schweda, A. and Varan, D., 2009. A
sinh ý định cũng như hành vi mua sắm sản phẩm.
comparison of three interactive television ad
Nếu các doanh nghiệp làm quảng cáo không tốt, thì 166
Tp chí Khoa hc Trường Đại hc Cn Thơ
Tp 54, S 4D (2018): 159-167
formats. Journal of Interactive Advertising.
Lee, S. and Lumpkin, J.R., 1992. Differences in 10(1): 14-34.
Attitude Toward TV Advertising: VCR Usage as
Benway, J.P., 1999. Banner Blindness: What
a Moderator. International Journal of
Searching Users Notice and Do Not Notice on
Advertising. 11(4): 333‐342.
the World Wide Web. Accessed on 01 December
Li, W. and Huang, Z., 2016. The Research of 2017. Available from
Influence Factors of Online Behavioral
https://scholarship.rice.edu/bitstream/handle/1911/19
Advertising Avoidance. American Journal of
353/9928505.PDF?sequence=1&isAllowed=y
Industrial and Business Management. 6: 947-957.
Bollen, K.A., 1989. Structural Equation with Laten
Mark, L., Eichholz, M. and Hagger, M., 2008.
Variable. Wiley. New York, 514 pages.
Exploring the Effectiveness of Advertising in the
ABC.com Full Episode Player. Journal of
Brown, A.T., 2015. Confirmatory Factor Analysis
Advertising Research. 48: 320-328.
for Applied Research, Second Edition. Guilford
Publications. NewYork, 475 pages.
Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2011.
Nghiên cứu khoa học trong Marketing ứng dụng
Cho, C.H. and Cheon, H.J., 2004. Why do people
mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, xuất bản lần 2.
avoid advertising on the internet?. Journal of
Nhà xuất bản Lao Động. Hà Nội, 481 trang. Advertising. 33(4): 89–97.
Pagendarm, M. and Schaumburg, H., 2001. Why Are
Choi, S.M., Kim, E., Kim, S. and Yeh, Y.H., 2013.
Users Banner-Blind? The Impact of Navigation
Factors Affecting Advertising Avoidance on
Style on the Perception of Web Banners.
Online Video Sites. The Journal of Advertising
Accessed on 01 December 2017. Available from
and Promotion Research. 2(1): 87-121.
https://journals.tdl.org/jodi/index.php/jodi/article
Ducoffe, R.H., 1995. How Consumers Assess the /view/36/38.
Value of Advertising. Journal of Current Issues
Rafi, A., Ali, A., Waris, S. and Kashif-ur-Rehman.,
and Research in Advertising. 17(1): 1-18.
2011. Knowledge metrics of brandequity; critical
Duff, B.R.L. and Faber, R.J., 2011. Missing the
measures of brand attachment. Far East Journal
Mark. Journal of Advertising. 40(2): 51-62.
of Psychology and Business. 3(1): 41-50.
Edwards, S.M., Li, H. and Lee, J.H., 2002. Forced
Raykov, T. and Widaman, K.F., 1995. Issues in
exposure and psychological reactance:
applied structural equation modelling research.
Antecedents and consequences of the perceived
Structural Equation Modelling. 2(4): 289-318.
intrusiveness of pup‐up ads. Journal of
Russell, H.F. and Zanna, P.M., 1981. Direct Advertising. 31(3): 83‐95.
Experience and Attitude-Behavior Consistency,
Ha, L., 1996. Observations. Advertising Clutter in
in Proceedings of AJpances in Experimental
Consumer Magazines: Dimensions and Effects.
Sociai Psychology, Leonard Berkowitz, ed. New
Journal of Advertising Research. 36: 76-84.
York Academic Press. 14: 161-202.
Hair, Jr .J.F., Anderson, R.E., Tatham, R.L. and
Srinivasan, V., Park, C.S. and Chang, D.R., 2005.
Black, W.C., 1988. Mutivariate Data Analysis,
An approach to the measurement analysis and
Fifth Edition. Prentice Hall. New Jersey, 816
prediction of brand equity and its sources. pages.
Management Science. 51(9): 1433-1448.
Herbert, E.K., 1983. Television Program Interest and
Stephen, J.H. and Deighton, J., 1989. Managing
Commercial Interruption: Are Commercials on
What Consumers Learn from Experience.
Interesting Programs Less Effective?. Joumai of
Journal of Marketing. 53: 1-20.
Advertising Research. 23: 21-23.
Wang, J., Fang, Y. and Lu, H., 2008. Online video
Hoelter, J.W., 1983. The analysis of covariance
advertising based on user’s attention relavancy
structure: goodness of fit indices. Sociological
computing. In: Ostermann, J. and Ebrahimi, T.,
Methods and Research. 11: 325 – 334.
(Editors). Personalized media processing for
Hussain, D. and Lasage, H., 2014. Online Video
attention service applications. 2008 IEEE
Advertisement Avoidance: Can Interactivity
International Conference on Multimedia and
Help?. Journal of Applied Business Research.
Expo, 23 June to 26 June 2008, Hannover, 30(1): 43-49.
Germany. Conference Management Services Inc.
Kelly, L., Kelly, J. and Kerr, G., 2010. Avoidance of Berlin, 1161-1164.
Advertising in Social Networking Sites.
Journal of Interactive Advertising. 10(2): 16‐27. 167