TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA MARKETING
BÀI THẢO LUẬN
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
ĐỀ TÀI
VẬN DỤNG MÔ HÌNH CÁC LỰC LƯỢNG ĐIỀU TIẾT CẠNH TRANH CỦA
PORTER, HÃY PHÂN TÍCH CƯỜNG ĐỘ CẠNH TRANH TRONG NGÀNH
BÁN LẺ DƯỢC PHẨM HIỆN NAY.
Giảng viên hướng dẫn
Lớp học phần
Nhóm thực hiện
:
:
:
TS. Nguyễn Thị Vân
232_SMGM0111_10
Nhóm 5
Hà Nội, 2024
1
BẢNG ĐIỂM THẢO LUẬN NHÓM 5
Lớp học phần: 232_SMGM0111_10
Nhóm trưởng: Hà An Na
Điểm trung bình nhóm:
Điểm tổng nhóm:
STT Họ và tên Mã SV Điểm thảo luận SV ký tên
41 Nguyễn Phương Linh 23D220102
42 Nguyễn Phương Linh 23D220141
43 Nguyễn Thùy Linh 23D220103
44 Ngô Đức Lộc 23D220143
45 Trần Thị Khánh Ly 23D220104
46 Dương Ngọc Mai 23D220144
47 Mai Xuân Công Minh 23D220145
48 An Na 23D220105
49 Đào Phương Nam 23D220146
Hà Nội, ngày tháng năm 2024
Nhóm trưởng
(Ký và ghi rõ họ tên)
2
MỤC LỤC
MỤC LỤC......................................................................................................................3
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................................4
PHẦN II: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÀNH BÁN LẺ DƯỢC PHẨM VIỆT NAM6
1. Giới thiệu về ngành bán lẻ dược phẩm hiện nay.....................................................6
2. Ngành dược phẩm bán lẻ ở Việt Nam.....................................................................6
a) Tình hình ngành dược phẩm bán lẻ ở Việt Nam........................................................6
b) Chính sách quản lý ngành dược phẩm bán lẻ của Việt Nam hiện nay..................7
PHẦN III: CƯỜNG ĐỘ CẠNH TRANH NGÀNH TÂN DƯỢC VIỆT NAM............9
1. Đe dọa gia nhập mới:..............................................................................................9
2. Đe dọa từ các sản phẩm/ dịch vụ thay thế:...........................................................14
3. Quyền lực thương lượng:......................................................................................16
3.1. Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng:..........................................................16
3.2. Quyền lực thương lượng của khách hàng:..............................................................20
4. Cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh trong ngành:...........................................21
5. Quyền lực tương ứng của các bên liên quan khác:...............................................24
PHẦN III: LỜI CẢM ƠN............................................................................................28
3
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh ngành bán lẻ dược phẩm hiện nay Việt Nam ngày càng trở nên
phức tạp cạnh tranh, việc áp dụng hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của
Michael Porter một chiến lược không thể phớt lờ. hình này giúp phân tích cấu
trúc ngành định hình chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên năm lực
lượng chủ yếu: sức mạnh của người cung ứng, sức mạnh của người mua, sự đe dọa từ
sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế, đe dọa từ người cạnh tranh hiện tại, và sức mạnh đàm
phán của người cạnh tranh mới.
Một trong những thách thức lớn nhất ngành bán lẻ dược phẩm đang đối mặt
sự gia tăng của các chuỗi cung ứng nhà phân phối, đặt ra áp lực lớn đối với giá
cả chất lượng sản phẩm. Lực ợng đàm phán của những đối tác này thể ảnh
hưởng đáng kể đến cả chiến lược giá cả và quy trình cung ứng của doanh nghiệp.
Ngoài ra, sự xuất hiện phát triển của thị trường dược phẩm trực tuyến cũng
tăng ờng sức mạnh của người mua. Khả năng so sánh giá, đánh giá sản phẩm
dịch vụ trực tuyến giúp người tiêu dùng nhiều lựa chọn hơn, đặt ra thách thức đối
với các doanh nghiệp bán lẻ truyền thống và buộc họ phải tối ưu hóa trải nghiệm mua
sắm và cung ứng để giữ chân khách hàng.
Sự đa dạng ngày càng tăng về sản phẩm dịch vụ thay thế cũng một yếu tố
quan trọng cần xem xét. Việc cung cấp các sản phẩm chất lượng cao, dịch vụ tận tâm
những ưu đãi đặc biệt thể giúp doanh nghiệp giữ chân khách hàng đối phó
hiệu quả với sự đe dọa từ những sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế trên thị trường.
Đặc biệt, sự cạnh tranh từ người cạnh tranh hiện tại mới cũng đang ngày càng
khó khăn. Các doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến chiến lược tiếp thị, đổi mới sản
phẩm, khả năng đáp ứng linh hoạt để không chỉ duy trì vị thế còn tăng cường
sức mạnh cạnh tranh.
4
Tóm lại, với sự phát triển nhanh chóng của ngành bán lẻ dược phẩm, việc áp
dụng mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của Porter giúp doanh nghiệp hiểu
hơn về độ cạnh tranh trong ngành xây dựng chiến lược cạnh tranh thông minh
bền vững. Điều này không chỉ giúp họ vượt qua những thách thức hiện tại còn tạo
ra cơ hội mới trong một thị trường đầy triển vọng.
5
PHẦN II: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÀNH BÁN LẺ
DƯỢC PHẨM VIỆT NAM
1. Giới thiệu về ngành bán lẻ dược phẩm hiện nay.
Ngành dược phẩm bán lẻ một phần trong ngành dược phẩm tổng thể, tập
trung vào việc cung cấp phân phối các sản phẩm dược phẩm trực tiếp tới
người tiêu dùng cuối cùng thông qua các kênh bán lẻ như nhà thuốc, cửa hàng
dược phẩm hoặc trực tuyến. Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành dược
phẩm bán lẻ thường chuyên về việc bán lẻ các loại thuốc, sản phẩm chăm sóc
sức khỏe và các sản phẩm liên quan khác.
Thuốc đang lưu hành trên thị trường gồm 15 nhóm gồm, trong đó 5 nhóm
chính đã chiếm tới khoảng 70% giá trị thị trường gồm kháng sinh, chuyển hóa
dinh dưỡng, tim mạch, thần kinhhấp. Trong đó thuốc kháng sinh thuốc
chuyển hoá dinh dưỡng phổ biến nhất, chiếm lần lượt 21,4% và 21,7%.
2. Ngành dược phẩm bán lẻ ở Việt Nam.
a) Tình hình ngành dược phẩm bán lẻ ở Việt Nam.
Trong những năm gần đây ngành Dược phẩm bán lẻ Việt Nam sự thay
đổi mạnh mẽ nhờ vào nhu cầu chăm sóc sức khỏe của con người đồng thời
các nguồn đầu tư lớn từ các doanh nghiệp nội và ngoại. Ngành Dược bán lẻ đang
những hội, thách thức chiến lược phát triển giai đoạn mới đầy hi vọng.
Sau đại dịch Covid-19, vấn đề chăm sóc sức khỏe của người tiêu dùng được đặt
lên hàng đầu cũng thị trường tiềm năng cho bán lẻ thực phẩm phát triển. Theo
đó, các ngành chăm sóc sức khỏe bán lẻ dược phẩm sẽ tăng trưởng nhanh
chóng và ngày càng cạnh tranh,…
Với quy 6-7 tỉ USD thị trường bán lẻ dược phẩm rất tiềm năng đang
thu hút các nhà bán lẻ vào cuộc đua m chuỗi. Tại Việt Nam , thị trường bán lẻ
dược phẩm có tính phân mảnh rất cao, với hơn 50.000 nhà thuốc hầu hết là cơ sở
kinh doanh nhỏ lẻ. Theo hãng nghiên cứu thị trường BMI , doanh số thị trường
này sẽ tăng từ 7,7 tỉ USD vào năm 2021 lên 16,1 tỉ USD vào năm 2026. Ngành
6
dược tốc độ tăng trưởng kép lên tới 11% tính theo tiền đồng Việt Nam. Các
chuỗi bán lẻ dược phẩm lớn như Pharmacity, Long Châu, An Khang sớm
nhận diện hội này đang tăng tốc độ m rộng quy mô, với tham vọng hợp
nhất thị phần .
b) Chính sách quản lý ngành dược phẩm bán lẻ của Việt Nam hiện nay.
Hiện nay, tại Việt Nam có khoảng hơn 200 doanh nghiệp sản xuất thuốc. Tuy
nhiên, hầu hết các doanh nghiệp đều tập trung sản xuất các loại thuốc phổ biến
trên thị trường, trong khi đó các loại thuốc chuyên khoa, đặc trị, yêu cầu kỹ thuật
bào chế hiện đại lại không được quan tâm. Từ đó gây nên tình trạng sản xuất
chồng chéo, tranh giành phân khúc thị trường nhỏ giữa hầu hết các doanh nghiệp
trong nước.
Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1165/QĐ-TTg
ngày 9-10-2023 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển ngành dược Việt Nam
giai đoạn đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045. Chiến lược này đề ra các
giải pháp nhằm quản lý và phát triển ngành dược trong giai đoạn tới, bao gồm tất
lĩnh vực từ sản xuất, phân phối, lưu thông, bảo đảm chất lượng thuốc, sử dụng
thuốc hợp lý, an toàn…
Sự quan tâm của Chính phủ đối với ngành y dược ngày càng nhiều đã đóng
góp rất nhiều tới sự phát triển của y dược như ngày nay
7
Để đạt được những mục tiêu, định hướng phát triển ngành dược trong thời
gian tới, Bộ Y tế luôn coi hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dược phẩm, trong đó
chia sẻ về bản quyền công nghệ giải pháp mũi nhọn nhằm tạo môi trường,
điều kiện thuận lợi để ngành công nghiệp dược trong nước phát triển và tham gia
các chuỗi giá trị dược phẩm toàn cầu.
Việt Nam được đánh giá một trong những nước tỉ l thuốc giả thấp
nhất trong khu vực. Trước đây, tiền mua thuốc bình quân đầu người của nước ta
chưa đến 5 USD thì đến nay ngành dược đã bản đáp ứng nhu cầu thuốc trong
nước, tiền thuốc bình quân đầu người tăng lên 70 USD.
Gần 90% nguyên liệu sản xuất thuốc nhập khẩu. Tỉ lệ thuốc được đánh
giá tương đương sinh học thấp, chỉ khoảng 10%. Về sản xuất, Việt Nam đã phát
triển số lượng các doanh nghiệpợc, tuy nhiên thuốc sản xuất trong nước chưa
tính cạnh tranh cao. Hơn 200 doanh nghiệp chủ yếu sản xuất thuốc generic.
Trên thị trường trong ớc hơn 800 dược chất lưu hành, song số lượng dược
chất được doanh nghiệp trong nước sản xuất chưa quá 50%.
nhiều phương pháp đưa ra. Trong đó, cần tiếp tục hoàn thiện về thể chế,
pháp luật về sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, cung ứng, phân phối. Đặc
biệt, ưu đãi cao nhất cho nghiên cứu chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc phát
minh, vaccine, sinh phẩm.
Bên cạnh đó, cần có quy hoạch, bố trí, dành quỹ đất cho phát triển các cơ sở
nghiên cứu, sản xuất thuốc; quy hoạch phát triển vùng trồng, vùng khai thác, chế
biến dược liệu của Việt Nam. Đẩy mạnh nghiên cứu tham gia phối hợp quốc
tế nhằm phát triển thuốc biệt dược gốc, thuốc chuyên khoa đặc trị. định
hướng lộ trình cụ thể để chuẩn hóa các hoạt động đào tạo cơ bản, đào tạo liên
tục và đào tạo nâng cao cho đội ngũ nhân lực dược…
8
PHẦN III: CƯỜNG ĐỘ CẠNH TRANH NGÀNH TÂN
DƯỢC VIỆT NAM
1. Đe dọa gia nhập mới:
Các rào cản gia nhập:
+ Tính quy mô kinh tế ngành bán lẻ dược phẩm
MBS đánh giá thị trường bán lẻ thuốc vẫn còn tiềm năng tăng trưởng lớn
bởi do chưa có đơn vị dẫn đầu thị trường về thị phần. Thứ hai, cấu già hóa
dân số ngày càng gia tăng, nhu cầu quan tâm về sức khỏe tăng mạnh sau đại dịch
COVID-19. thứ ba, Việt Nam nằm trong top 30 quốc gia nồng độ PM2.5
trung bình cao nhất thế giới (μg/m³), thấy được môi trường sinh hoạt ngày càng ô
nhiễm, thúc đẩy nhu cầu sử dụng thực phẩm chức năng, hỗ trợ sức khỏe.
Ngoài ra, chuỗi nhà thuốc Trung Sơn Pharma vừa được Tập đoàn
Dongwha Pharm mua lại với tổng giá trị khoảng 30 triệu USD, tương đương
51% cổ phần. Điều này cho thấy thị trường bán lẻ thuốc tại Việt Nam vẫn đang
tiếp tục nhận được sự quan tâm lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài.
Về quy mô các chuỗi, thực tế đang chứng kiến sự tranh đua quyết liệt giữa
Pharmacity và Long Châu.
Sau thời gian tăng trưởng nóng, chuỗi Pharmacity liên tục đổi “ghế nóng”
sau khi nhà sáng lập Chris Blank rời đi vào năm 2022 (vì do sức khỏe). Đây
cũng năm Pharmacity thể hiện dấu hiệu chậm lại, Công ty cũng công bố
đã và đang lên phương án tái cấu trúc.
9
Số liệu đến hết tháng 8/2022, Pharmacity vẫn chuỗi nhiều nhà thuốc
nhất, với khoảng 1.100 sở. Nhưng sau đó, Pharmacity đóng cửa nhiều sở
sau khi những thay đổi thượng tầng hiện đã mất vị trí đứng đầu thị trường
về quy vào tay Long Châu. Tại tháng 2/2023, Long Châu vươn lên dẫn đầu
với 1.009 cửa hàng, Pharmacity giảm chỉ còn 936 cửa hàng. Hiện, con số cụ thể
về số cửa hàng từng chuỗi không được công khai, theo MBS chưa “người
dẫn đầu” về quy mô.
Chỉ sau 2 năm về với FPT Retail, Long Châu đã ghi nhận tốc độ mở cửa
hàng mạnh mẽ, trở thành chuỗi dược phẩm số lượng cửa hàng lớn nhất với
gần 1.600 cửa hàng, doanh thu tăng trưởng trung bình 174,7% trong giai đoạn
2020-2022.
10
Tính từ năm 2020 đến tháng 12/2023, Long Châu đạt tốc độ tăng trưởng
23,4%/quý, bỏ xa các đối thủ cùng phân khúc. Với thế mạnh về công nghệ và mô
hình kinh doanh, MBS kỳ vọng đến hết 2023, Long Châu đạt 1.617 cửa hàng,
tăng 72% so với cùng kỳ.
+ Chuyên biệt hóa sản phẩm
Theo kết quả nghiên cứu, hệ thống phân phối tân dược Việt Nam đặc biệt
phức tạp. Hiện cả nước khoảng 39.000 điểm bán lẻ dược phẩm, đảm bảo đưa
thuốc đến tận tay người tiêu dùng. Như vậy, cứ trên 2.000 dân thì một điểm
bán lẻ dược phẩm. 2 loại DN phân phối dược phẩm tại thị trường Việt Nam ,
gồm: DN tiền thân của Nhà nước chuyên làm chức năng NK hưởng phần trăm
hoa hồng làm thêm các chức năng dịch vụ kho bãi, giao nhận; DN tập trung
vào hoạt động tiếp thị xây dựng hệ thống phân phối. Các DN này làm dịch vụ
NK uỷ thác nên doanh số báo cáo thường rất lớn, doanh thu trên sổ sách từ vài
trăm tỷ đến vài nghìn tỷ đồng mỗi năm. Trong số đó, các DN chuyên về phân
phối tiếp thị lớn cho một hay nhiều nhà sản xuất. Đây những DN thực sự
nắm giữ thị trường phân phối cả nước, với hệ thống đại lý, khách hàng trình
dược viên đông đảo, doanh số đạt từ 100 đến hơn 1.000 tỷ đồng/năm… Thực tế
thì những DN này mới người nắm giữ quyền điều khiển đối với phần lớn
11
nguồn thuốc trên thị trường, gây khó khăn cho các công ty muốn gia nhập ngành
này với quy mô lớn.
+ Nhu cầu vốn đầu tư ban đầu của thị trường bán lẻ dược phẩm
Theo luật kinh doanh nhà thuốc thì diện tích tối thiểu để mở nhà thuốc tư nhân
15m2.
• Ở tỉnh lẻ: Giá thuê khoảng từ 3.000.000 – 5.000.000 đồng
• Ở thành phố: Giá thuê khoảng từ 5.000.000 – 10.000.000 đồng
trung tâm thành phố lớn: Giá thuê khoảng 10.000.000 15.000.000 đồng
thậm chí còn hơn rất nhiều.
thể lúc đầu bạn cần bỏ ra một số vốn để tu sửa lại thành nhà thuốc nhưng sẽ
tiết kiệm được rất nhiều chi phí thuê mặt bằng về lâu dài.
Đối với một nhà thuốc mới mở thì với danh mục nhập hàng khoảng 1.000
đến 1.500 sản phẩm từ thuốc nội, thuốc ngoại cả thực phẩm chức năng đã
rất ổn rồi. Lúc này t vốn nhập thuốc sẽ giao động từ 100.000.000
300.000.000 đồng.
Đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất để mở nhà thuốc thông thường sẽ có tủ
kệ, biển hiệu, máy nh, điều hòa, nhiệt ẩm kế, phần mềm, bàn vấn, nơi rửa
tay,…Thông thường chi phí đầu trang thiết bị, sở vật chất tiết kiệm sẽ mất
khoảng 40.000.000 – 60.000.000 đồng.
Ngoài 3 loại chi phí chính trên thì bạn cũng nên chuẩn bị thêm một ít vốn
để trang trải các loại chi phí phát sinh khác. thể kể đến như tiền thuế, chi phí
phần mềm quản bán hàng, chi phí thuê nhân viên Trung bình thuê người bán
thuốc cả ngày làm 2 ca lương 6.000.000 – 8.000.000 đồng., nhập thêm các ngành
hàng khác bán cùng,….
Vậy câu trả lời cho câu hỏi cần bao nhiêu vốn để kinh doanh nhà thuốc thì
sẽ cần khoảng 200 400 triệu. Đây được xem rào cản lớn cho các doanh
nghiệp mới muốn gia nhập.
+ Gia nhập vào hệ thống phân phối
12
• Ở nhóm bán sỉ:
Hiện tại, tồn tại 2 hình thức: công ty phân phối sỉ chợ sỉ. Trong số các doanh
nghiệp phân phối sỉ, nổi nên 3 công ty phân phối sỉ nước ngoài tại Việt Nam
Zuellig Pharma, Mega Products, Diethelm Vietnam đã chiếm đến hơn 50% thị
trường (với doanh thu > 1000 tỷ mỗi công ty) phần còn lại được chia cho
khoảng 1.200 công ty phân phối nước ngoài trong nước khác. Chợ sỉ giống
như một kênh trung gian, nơi tập trung hầu hết các chủng loại mặt hàng thuốc để
cung ứng tới các cửa hàng thuốc bán lẻ quyền lực tương đối lớn nhờ hình
thành từ lâu đời, mối quan hệ lợi ích lớn với các nhà sản xuất cũng như các
hãng dược. Do đó, để gia nhập vào hệ thống phân phối nhóm bán sỉ các nhà
đầu sản xuất cần phải bứt phá nổi bật để vượt qua được những nhóm sỉ
đã tạo được lòng tin trung thành từ lâu của khách hàng.
• Ở nhóm bán lẻ:
Hiện tại, nhóm này vẫn chưa thủ lĩnh thực sự. Cục diện thể được chia ra
thành 3 nhóm: nhà sản xuất thực hiện phân phối, chuỗi nhà thuốc các nhà
thuốc lẻ tư nhân. Lợi nhuận giao động của hình thức phân phối này ~ 20% doanh
thu. Doanh thu dược phẩm Việt Nam phụ thuộc nhiều vào doanh thu từ quầy bán
thuốc lẻ. Đây được xem là một cơ hội gia nhập của các doanh nghiệp mới.
+ Chính sách của chính phủ
Chính sách của chính phủ: sự quan tâm của Chính phủ đối với ngành y
dược ngày càng nhiều đã đóng góp rất nhiều tới sự phát triển của y dược như
ngày nay. Vai trò và thái độ của Chính phủ đóng góp phần quan trọng đối với sự
phát triển của ngành dược Việt Nam. Chính phủ luôn tạo điều kiện sẵn sàng
hợp tác để mở rộng kinh doanh về lĩnh vực này. Chính phủ ban hành nhiều văn
bản pháp để quản ngành dược bao gồm các văn bản liên quan đến các vấn
đề như Chính sách của Nhà nước về lĩnh vực dược. Các kế hoạch chính sách
quốc gia hướng đến chăm sóc sức khỏe toàn dân.
13
Luôn tạo điều kiện, hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất thuốc, đẩy mạnh
những loại thuốc quý hiếm. Ngoài ra còn hỗ trợ 1 khoản phí không hề nhỏ từ các
nguồn vốn nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp trong việc nghiên cứu phát triển
y dược.
Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp để quản ngành dược bao
gồm các văn bản liên quan đến vấn đề như Chính sách của nhà nước về lĩnh vực
Dược, quản của nhà nước về giá thuốc, điều kiện kinh doanh thuốc, quản
thuốc thuộc danh mục phải kiểm soát đặc biệt, tiêu chuẩn chất lượng thuốc,
sở kiểm nghiệm thuốc ( Ngày 19/04/2007. bộ y tế ban hành Quyết định số
27/2007/QĐ-BYT về lộ trình triển khai nguyên tắc “Thực hành tốt sản xuất
thuốc’ (GMP).
Mặc được Chính phủ quan tâm hỗ trợ sát sao cho những doanh
nghiệp cũ và mới nhưng với những yêu cầu mà chính phủ đưa ra cũng gây ra cho
các doanh nghiệp muốn du nhập vào ngành một mối lo ngại lớn bởi tiêu chuẩn
và chất lượng của sản phẩm.
2. Đe dọa từ các sản phẩm/ dịch vụ thay thế:
Thị trường ngành Dược Việt Nam hiện nay đang trên đà phát triển mạnh mẽ
và có lợi nhuận cao, cùng với sự gia tăng ấn tượng trong những năm gần đây của
ngành dược đã biến lĩnh vực kinh doanh này trở thành mảnh đất màu mỡ cho các
nhà sản xuất cả trong nước lẫn ngoài nước, do đó áp lực từ sản phẩm thay thế
cao. Bởi bản chất của ngành dược đã rất khác biệt, hầu hết các doanh nghiệp sản
xuất thuốc trong ngành đều sản phẩm không mấy khác biệt nên áp lực tạo ra
cho các doanh nghiệp là phải làm cho sản phẩm của mình luôn tốt hơn, hiệu quả,
an toàn hơn và chiếm càng nhiều ưu thế càng tốt.
- Xu hướng sử dụng hàng thay thế của khách hàng: Xu hướng sử dụng hàng thay
thế của khách hàng cao ngành dược trong nước chỉ mới đáp ứng được
14
khoảng 47% nhu cầu thị trường vì vậy tạo điều kiện cho các dịch vị và sản phẩm
thay thế xâm lấn vào thị trường.
+ Dịch vụ thay thế chính của ngành dược chủ yếu đến từ những dịch vụ y học
thay thế như y học cổ truyền, châm cứu và các phương pháp điều trị tự nhiên như
thảo dược hay yoga và mát xa, ….
+ Ngoài ra các thương hiệu thuốc ngoại nổi tiếng như Sanofi, GSK,
Astrazeneca cũng mối đe dọa đến các sản phẩm trong nước. Hơn nữa thuốc
trong nước vẫn chưa được ưu tiên sử dụng vì thường bị mang tiếng là chất lượng
kém, thuốc giả, lại càng khiến khách hàng thiên về sử dụng thuốc ngoại nhiều
hơn so với tin dung thuốc nội.
+ Thuốc dược vai trò quan trọng trong công tác phòng chữa bệnh nhưng
thuốc không phải là phương tiện duy nhất để giải quyết bệnh tật. Trên thực tế, có
không ít bệnh không cần thuốc hoặc sử dụng các biện pháp điều trị đơn giản, an
toàn cũng thể giải quyết được bệnh tật. vậy, các ngành sản phẩm thực
phẩm chức năng (omega-3, dầu cá, ) hay các ngành thuốc đặc trị cũng
những sản phẩm cạnh tranh với thuốc tân dược.
 Ngày càng nhiều các sản phẩm thay thế nhằm thỏa mãn nhu cầu thỏa mãn của
khách hàng. Do đó đe dọa về sản phẩm thay thế đối với ngành tân ợc khá
cao.
- Đối với tương quan giá cả và chất lượng của các mặt hàng thay thế:
+ Các doanh nghiệp thuốc trong nước chiến lược tiếp thị, xây dựng thương
hiệu bị hạn chế do liên quan đến các quy định về tiếp thị, khuyến mại khai
thuế chi phí tiếp thị của các doanh nghiệp nước ngoài không bị giới hạn
vậy các doanh nghiệp nước ngoài chiếm ưu thế về việc xây dựng thương hiệu
lòng tin với khách hàng. Hơn nữa thuốc trong nước vẫn chưa được ưu tiên sử
dụng vì thường bị mang tiếng là chất lượng kém, thuốc giả, lại càng khiến khách
hàng thiên về sử dụng thuốc ngoại nhiều hơn so với tin dung thuốc nội.
15
Hiện nay, các công ty dược trong nước mới chỉ sản xuất được 40% giá trị
thuốc sử dụng trong nước, còn lại dành 60% sân nhà cho sản phẩm của nước
ngoài.
Tuy nhiên, sản xuất trong nước đang cho thấy một sự tăng trưởng khá ấn tượng
trong những năm gần đây, tăng trung bình 20% cho giai đoạn 2000-20073.
+ Theo Khảo sát người tiêu dùng Việt Nam của Deloitte năm 2021, ới tác
động của đại dịch Covid-19, hành vi người tiêu dùng đã sự thay đổi lớn đó
gia tăng chi tiêu hàng tháng vào các sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên,
hầu hết những loại thuốc nội chung công dụng đều mang chất lượng giá cả
tương đồng nhau, chínhvậy thách thức cũng đến từ thói quen của người Việt.
Trong việc mua sắm các loại thuốc, họ thường đến các cửa hàng quen thuộc
chịu ảnh hưởng đáng kể của phương thức truyền miệng. Sự thay đổi từ nhà thuốc
truyền thống sang chuỗi bán lẻ hoặc sự chuyển đổi từ thói quen sử dụng thuốc
ngoại sang các loại thuốc nội địa mới không phải lúc nào cũng được chào đón
một cách dễ dàng.
+ Các chi phí chuyển đổi trong sử dụng sản phầm dược:
Bán lẻ dược phẩm ngành dễ bị đối thủ học hỏi, bắt chước rồi bán với giá
tương đương ra thị trường vậy tân dược ngành chi phí chuyển đổi thấp.
Bởi lẽ sản phẩm dược rất dễ mua, nên người tiêu dung không mất nhiều thời gian
mới thể mua được sản phẩm tương tự cả về giá cả lẫn chất lượng. Thậm chí
còn nhiều người tiêu dung còn không phân biệt được thương hiệu hay sản phẩm
tiêu dùng. Chính vậy việc chuyển đổi trong sử dụng sản phẩm dược không
mấy làm thay đổi thói quan của người tiêu dùng.
3. Quyền lực thương lượng:
3.1. Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng:
a) Lý thuyết:
16
Các nhà cung ứng thể gây áp lực thương lượng lên các bên tham gia
trong một ngành bằng cách đe dọa tăng giá hoặc giảm chất lượng hàng hóa, dịch
vụ được mua. Do đó, các nhà cung ứng mạnh thể hạn chế lợi nhuận của một
ngành do không thể đắp được chi phí tăng trong giá bán sản phẩm của chính
mình. dụ, việc các công ty hóa chất tăng giá đã góp phần làm giảm lợi nhuận
của các nhà đóng gói bình xịt theo hợp đồng do họ phải đối mặt với sự cạnh
tranh gay gắt từ việc tự sản xuất của người mua, do đó khả năng tăng giá của họ
bị hạn chế.Quyền lực này phụ thuộc vào 1 số yếu tố sau:
+ : Biểu hiện bằng sự phân bổ thị phần trên số lượngMức độ tập trung
nhiều hoặc ít các công ty trong ngành.Một số ngành có mật độ tập trung dày đặc,
từ 2 đến 3 công ty kiểm soát đến hơn 70% thị trường ( ngành sản xuất kinh
doanh máy bay với 2 tên tuổi lớn Boeing Airbus ), ngược lại một số ngành
lại rất phân tán (nhà hàng ăn uống).Mức độ tập trung càng lớn thì các công ty sẽ
quyền lực thương lượng càng mạnh, khả năng tạo áp lực lớn lên các công ty
khác càng lớn.
+ : Giá trị của hàng hóa/dịch vụ được sản xuấtĐặc điểm hàng hóa/dịch vụ
phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của các bộ phận được mua từ các nhà cung ứng
và do đó các nhà cung ứng này sẽquyền lực thương lượng đáng kể. Đó là các
trường hợp của nhà sản xuất chíp điều khiển điện tử với các công ty sản xuất
máy tính cá nhân có quyền lực gần như tuyệt đối của Intel.
+ Chuyên biệt hóa sản phẩm/ dịch vụ: Nhấn mạnh đến khả năng thay thế
một sản phẩm bằng một sản phẩm khác càng khó thì quyền lực của các nhà cung
ứng càng lớn.Quyền lực của ngay cả những nhà cung ứng lớn, mạnh cũng thể
bị kiềm chế nếu họ phải cạnh tranh với các sản phẩm thay thế.Ví dụ, các hãng
sản xuất chất làm ngọt thay thế cạnh tranh rất mạnh trong nhiều ứng dụng mặc
dù mỗi hãng đều khá lớn so với khách hàng.
+ : Mức chi phí này càng cao thì quyền lựcChi phí chuyển đổi nhà cung ứng
tương ứng của nhà cung ứng càng lớn.
17
+ : Với chi phí hợp sẽ cho phép cácKhả năng tích hợp hợp về phía sau
nhà cung ứng tăng cường quyền lực thương lượng của mình đối với khách hàng
ngược lại.Ví dụ: các công ty thời trang may mặc, giày dép đầu xây dựng
các hệ thống phân phối sản phẩm độc quyền.
b) Vận dụng:
+ Mức độ tập trung:
Tại Việt Nam, thị trường bán lẻ dược phẩm tính phân mảnh rất cao, với
hơn 50.000 nhà thuốc hầu hết sở kinh doanh nhỏ lẻ.Trong đó, 3 thương
hiệu dẫn đầu chuỗi nhà thuốc là những cái tên quen thuộc như: Long Châu của
FPT Retail, Pharmacity, hay An Khang của Thế Giới Di Động đang trong một
giai đoạn cạnh tranh cực kỳ gay gắt. Bên cạnh đó, sự góp mặt của các tân binh
ngành bán lẻ dược phẩm cũng khiến cho cuộc cạnh tranh này càng thêm khốc
liệt hơn.Hiện số lượng nhà thuốc thuộc các chuỗi bán lẻ dược phẩm chỉ chiếm tỉ
trọng rất nhỏ trên toàn thị trường, cụ thể có gần 3.000 nhà thuốc thuộc chuỗi trên
tổng 50.000 nhà thuốc tư nhân.
Theo thống của cục quản dược, nhà thuốc quầy thuốc mật độ phân
bố không đều tập trung mật độ cao các quận thuộc thành phố lớn, tốc độ tăng
trưởng khá nên áp lực cạnh tranh lớn giữa các nhà thuốc (bán kính cạnh tranh
khoảng 1 2km), đặc biệt khu vực các quận nội thành các thành phố lớn như
Hà Nội, TP HCM.
 Cho thấy ngành có mức độ tập trung không cao
+ : Đặc điểm hàng hóa/dịch vụ
Chất lượng của nguyên liệu, dược liệu, thiết bị y tế, v.v. đóng vai trò quan
trọng trong việc quyết định chất lượng của sản phẩm/dịch vụ dược phẩm.Nguyên
liệu, dược liệu chất lượng cao sẽ giúp tạo ra sản phẩm/dịch vụ tốt hơn, an toàn
hơn và hiệu quả hơn trong việc điều trị bệnh.Ngược lại, nếu sử dụng nguyên liệu,
dược liệu kém chất lượng, sản phẩm/dịch vụ thể gây nguy hiểm cho sức khỏe
người sử dụng và ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp.
18
• Do tầm quan trọng của chất lượng đầu vào, các nhà cung cấp dược liệu chất
lượng cao sẽ vị thế mạnh trong việc thương lượng với doanh nghiệp bán lẻ
dược phẩm. Họ thể yêu cầu mức giá cao hơn, đòi hỏi các điều khoản hợp
đồng thuận lợi hơn và thậm chíthể chi phối doanh nghiệp trong việc lựa chọn
nhà cung cấp.Ngược lại, các nhà cung cấp sản phẩm/dịch vụ chất lượng thấp
sẽ có ít quyền lực thương lượng hơn và có thể buộc phải chấp nhận mức giá thấp
hơn và các điều khoản hợp đồng không thuận lợi.
+ : Chi phí chuyển đổi nhà cung ứng
Tìm kiếm đánh giá nhà cung cấp mới:Chi phí đi lại, thu thập thông tin,
thuê chuyên gia tư vấn,...
• Thương lượng hợp đồng: Chi phí luật sư, dịch thuật hợp đồng,...
• Chuyển đổi hệ thống: Chi phí phần mềm, đào tạo nhân viên,...
Dự trữ hàng hóa: Chi phí mua hàng từ nhà cung cấp mới để đảm bảo nguồn
cung trong quá trình chuyển đổi.
• Mất doanh thu: Doanh thu có thể bị ảnh hưởng do gián đoạn nguồn cung.
Việc chuyển đổi từ nhà cung cấp này sang nhà cung cấp khác trong ngành
dược phẩm thường tốn kém phức tạp. Các doanh nghiệp bán lẻ cần đầu
thời gian và chi phí để đánh giá, kiểm tra chất lượng, xây dựng mối quan hệ mới,
v.v. Do đó, họ sẽ xu hướng duy trì hợp tác với nhà cung cấp hiện tại, phải
chịu mức giá cao hơn hoặc các điều khoản không thuận lợi.
+ : Ngành bán lẻ dược phẩm khả năng tíchKhả năng tích hợp về phía sau
hợp phía sau cao do:
• Nhu cầu kiểm soát chất lượng:
Trong ngành bán lẻ dược phẩm, chất lượng đóng vai trò cốt lõi, ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe tính mạng của người sử dụng. Do đó, kiểm soát chất
lượng một nhu cầu cấp thiết không thể bỏ qua của các doanh nghiệp trong
ngành này.
19
Việc kiểm soát chất lượng cần được thực hiện trong suốt quá trình phân
phối, từ khâu lựa chọn nguyên liệu, sản xuất, bảo quản đến phân phối sản phẩm
đến tay người tiêu dùng.
Kiểm soát chất lượng hiệu quả giúp đảm bảo sản phẩm an toàn, hiệu quả
phù hợp với nhu cầu của người sử dụng.
• Nhu cầu đáp ứng nhu cầu thị trường:
//Tính cạnh tranh cao:
Ngành bán lẻ dược phẩm ngày càng phát triển với sự tham gia của nhiều doanh
nghiệp lớn, dẫn đến tính cạnh tranh cao. Nhu cầu về các sản phẩm dược phẩm
ngày càng cao đa dạng, đòi hỏi doanh nghiệp phải thích ứng nhanh chóng
đáp ứng hiệu quả.
//Khả năng thích ứng:
Để thành công trong ngành bán lẻ ợc phẩm, doanh nghiệp cần nắm bắt nhu
cầu thị trường, phân tích xu hướng phát triển sản phẩm phù hợp. Doanh
nghiệp cần khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường một cách nhanh chóng, linh
hoạt và hiệu quả.
3.2. Quyền lực thương lượng của khách hàng:
- Sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất: Sự cạnh tranh giữa các công ty bán lẻ
dược phẩm thể tạo ra sức ép cạnh tranh, đặc biệt khi nhiều sản phẩm
tương tự trên thị trường. Điều này thể làm tăng quyền lực thương lượng của
khách hàng, họ nhiều lựa chọn thể đòi hỏi điều kiện tốt hơn từ các
nhà sản xuất.
- : Với sự phát triển của internet Thông tin công khai tiếp cận dễ dàng
các phương tiện truyền thông, khách hàng thể dễ dàng tiếp cận thông tin về
các loại thuốc, bao gồm thông tin về giá cả, hiệu quả, tác dụng phụ. Điều này
có thể tăng cường quyền lực thương lượng của họ bằng cách so sánh và đánh giá
các sản phẩm.
20

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING BÀI THẢO LUẬN QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC ĐỀ TÀI
VẬN DỤNG MÔ HÌNH CÁC LỰC LƯỢNG ĐIỀU TIẾT CẠNH TRANH CỦA
PORTER, HÃY PHÂN TÍCH CƯỜNG ĐỘ CẠNH TRANH TRONG NGÀNH
BÁN LẺ DƯỢC PHẨM HIỆN NAY. Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Thị Vân Lớp học phần : 232_SMGM0111_10 Nhóm thực hiện : Nhóm 5 Hà Nội, 2024 1
BẢNG ĐIỂM THẢO LUẬN NHÓM 5
Lớp học phần: 232_SMGM0111_10 Nhóm trưởng: Hà An Na Điểm trung bình nhóm: Điểm tổng nhóm: STT Họ và tên Mã SV Điểm thảo luận SV ký tên 41 Nguyễn Phương Linh 23D220102 42 Nguyễn Phương Linh 23D220141 43 Nguyễn Thùy Linh 23D220103 44 Ngô Đức Lộc 23D220143 45 Trần Thị Khánh Ly 23D220104 46 Dương Ngọc Mai 23D220144 47 Mai Xuân Công Minh 23D220145 48 Hà An Na 23D220105 49 Đào Phương Nam 23D220146
Hà Nội, ngày tháng năm 2024 Nhóm trưởng (Ký và ghi rõ họ tên) 2 MỤC LỤC
MỤC LỤC......................................................................................................................3
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................................4
PHẦN II: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÀNH BÁN LẺ DƯỢC PHẨM VIỆT NAM6
1. Giới thiệu về ngành bán lẻ dược phẩm hiện nay.....................................................6
2. Ngành dược phẩm bán lẻ ở Việt Nam.....................................................................6
a) Tình hình ngành dược phẩm bán lẻ ở Việt Nam........................................................6
b) Chính sách quản lý ngành dược phẩm bán lẻ của Việt Nam hiện nay..................7
PHẦN III: CƯỜNG ĐỘ CẠNH TRANH NGÀNH TÂN DƯỢC VIỆT NAM............9
1. Đe dọa gia nhập mới:..............................................................................................9
2. Đe dọa từ các sản phẩm/ dịch vụ thay thế:...........................................................14
3. Quyền lực thương lượng:......................................................................................16
3.1. Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng:..........................................................16
3.2. Quyền lực thương lượng của khách hàng:..............................................................20
4. Cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh trong ngành:...........................................21
5. Quyền lực tương ứng của các bên liên quan khác:...............................................24
PHẦN III: LỜI CẢM ƠN............................................................................................28 3 PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh ngành bán lẻ dược phẩm hiện nay ở Việt Nam ngày càng trở nên
phức tạp và cạnh tranh, việc áp dụng mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của
Michael Porter là một chiến lược không thể phớt lờ. Mô hình này giúp phân tích cấu
trúc ngành và định hình chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên năm lực
lượng chủ yếu: sức mạnh của người cung ứng, sức mạnh của người mua, sự đe dọa từ
sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế, đe dọa từ người cạnh tranh hiện tại, và sức mạnh đàm
phán của người cạnh tranh mới.
Một trong những thách thức lớn nhất mà ngành bán lẻ dược phẩm đang đối mặt
là sự gia tăng của các chuỗi cung ứng và nhà phân phối, đặt ra áp lực lớn đối với giá
cả và chất lượng sản phẩm. Lực lượng đàm phán của những đối tác này có thể ảnh
hưởng đáng kể đến cả chiến lược giá cả và quy trình cung ứng của doanh nghiệp.
Ngoài ra, sự xuất hiện và phát triển của thị trường dược phẩm trực tuyến cũng
tăng cường sức mạnh của người mua. Khả năng so sánh giá, đánh giá sản phẩm và
dịch vụ trực tuyến giúp người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn, đặt ra thách thức đối
với các doanh nghiệp bán lẻ truyền thống và buộc họ phải tối ưu hóa trải nghiệm mua
sắm và cung ứng để giữ chân khách hàng.
Sự đa dạng ngày càng tăng về sản phẩm và dịch vụ thay thế cũng là một yếu tố
quan trọng cần xem xét. Việc cung cấp các sản phẩm chất lượng cao, dịch vụ tận tâm
và những ưu đãi đặc biệt có thể giúp doanh nghiệp giữ chân khách hàng và đối phó
hiệu quả với sự đe dọa từ những sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế trên thị trường.
Đặc biệt, sự cạnh tranh từ người cạnh tranh hiện tại và mới cũng đang ngày càng
khó khăn. Các doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến chiến lược tiếp thị, đổi mới sản
phẩm, và khả năng đáp ứng linh hoạt để không chỉ duy trì vị thế mà còn tăng cường sức mạnh cạnh tranh. 4
Tóm lại, với sự phát triển nhanh chóng của ngành bán lẻ dược phẩm, việc áp
dụng mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của Porter giúp doanh nghiệp hiểu rõ
hơn về độ cạnh tranh trong ngành và xây dựng chiến lược cạnh tranh thông minh và
bền vững. Điều này không chỉ giúp họ vượt qua những thách thức hiện tại mà còn tạo
ra cơ hội mới trong một thị trường đầy triển vọng. 5
PHẦN II: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÀNH BÁN LẺ DƯỢC PHẨM VIỆT NAM
1. Giới thiệu về ngành bán lẻ dược phẩm hiện nay.
Ngành dược phẩm bán lẻ là một phần trong ngành dược phẩm tổng thể, tập
trung vào việc cung cấp và phân phối các sản phẩm dược phẩm trực tiếp tới
người tiêu dùng cuối cùng thông qua các kênh bán lẻ như nhà thuốc, cửa hàng
dược phẩm hoặc trực tuyến. Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành dược
phẩm bán lẻ thường chuyên về việc bán lẻ các loại thuốc, sản phẩm chăm sóc
sức khỏe và các sản phẩm liên quan khác.
Thuốc đang lưu hành trên thị trường gồm 15 nhóm gồm, trong đó 5 nhóm
chính đã chiếm tới khoảng 70% giá trị thị trường gồm kháng sinh, chuyển hóa
dinh dưỡng, tim mạch, thần kinh và hô hấp. Trong đó thuốc kháng sinh và thuốc
chuyển hoá dinh dưỡng phổ biến nhất, chiếm lần lượt 21,4% và 21,7%.
2. Ngành dược phẩm bán lẻ ở Việt Nam.
a) Tình hình ngành dược phẩm bán lẻ ở Việt Nam.
Trong những năm gần đây ngành Dược phẩm bán lẻ ở Việt Nam có sự thay
đổi mạnh mẽ nhờ vào nhu cầu chăm sóc sức khỏe của con người và đồng thời là
các nguồn đầu tư lớn từ các doanh nghiệp nội và ngoại. Ngành Dược bán lẻ đang
có những cơ hội, thách thức và chiến lược phát triển giai đoạn mới đầy hi vọng.
Sau đại dịch Covid-19, vấn đề chăm sóc sức khỏe của người tiêu dùng được đặt
lên hàng đầu cũng là thị trường tiềm năng cho bán lẻ thực phẩm phát triển. Theo
đó, các ngành chăm sóc sức khỏe và bán lẻ dược phẩm sẽ tăng trưởng nhanh
chóng và ngày càng cạnh tranh,…
Với quy mô 6-7 tỉ USD thị trường bán lẻ dược phẩm rất tiềm năng và đang
thu hút các nhà bán lẻ vào cuộc đua mở chuỗi. Tại Việt Nam , thị trường bán lẻ
dược phẩm có tính phân mảnh rất cao, với hơn 50.000 nhà thuốc hầu hết là cơ sở
kinh doanh nhỏ lẻ. Theo hãng nghiên cứu thị trường BMI , doanh số thị trường
này sẽ tăng từ 7,7 tỉ USD vào năm 2021 lên 16,1 tỉ USD vào năm 2026. Ngành 6
dược có tốc độ tăng trưởng kép lên tới 11% tính theo tiền đồng Việt Nam. Các
chuỗi bán lẻ dược phẩm lớn như Pharmacity, Long Châu, và An Khang sớm
nhận diện cơ hội này và đang tăng tốc độ mở rộng quy mô, với tham vọng hợp nhất thị phần .
b) Chính sách quản lý ngành dược phẩm bán lẻ của Việt Nam hiện nay.
Hiện nay, tại Việt Nam có khoảng hơn 200 doanh nghiệp sản xuất thuốc. Tuy
nhiên, hầu hết các doanh nghiệp đều tập trung sản xuất các loại thuốc phổ biến
trên thị trường, trong khi đó các loại thuốc chuyên khoa, đặc trị, yêu cầu kỹ thuật
bào chế hiện đại lại không được quan tâm. Từ đó gây nên tình trạng sản xuất
chồng chéo, tranh giành phân khúc thị trường nhỏ giữa hầu hết các doanh nghiệp trong nước.
Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1165/QĐ-TTg
ngày 9-10-2023 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển ngành dược Việt Nam
giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Chiến lược này đề ra các
giải pháp nhằm quản lý và phát triển ngành dược trong giai đoạn tới, bao gồm tất
lĩnh vực từ sản xuất, phân phối, lưu thông, bảo đảm chất lượng thuốc, sử dụng thuốc hợp lý, an toàn…
Sự quan tâm của Chính phủ đối với ngành y dược ngày càng nhiều đã đóng
góp rất nhiều tới sự phát triển của y dược như ngày nay 7
Để đạt được những mục tiêu, định hướng phát triển ngành dược trong thời
gian tới, Bộ Y tế luôn coi hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dược phẩm, trong đó có
chia sẻ về bản quyền và công nghệ là giải pháp mũi nhọn nhằm tạo môi trường,
điều kiện thuận lợi để ngành công nghiệp dược trong nước phát triển và tham gia
các chuỗi giá trị dược phẩm toàn cầu.
Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có tỉ lệ thuốc giả thấp
nhất trong khu vực. Trước đây, tiền mua thuốc bình quân đầu người của nước ta
chưa đến 5 USD thì đến nay ngành dược đã cơ bản đáp ứng nhu cầu thuốc trong
nước, tiền thuốc bình quân đầu người tăng lên 70 USD.
Gần 90% nguyên liệu sản xuất thuốc là nhập khẩu. Tỉ lệ thuốc được đánh
giá tương đương sinh học thấp, chỉ khoảng 10%. Về sản xuất, Việt Nam đã phát
triển số lượng các doanh nghiệp dược, tuy nhiên thuốc sản xuất trong nước chưa
có tính cạnh tranh cao. Hơn 200 doanh nghiệp chủ yếu sản xuất thuốc generic.
Trên thị trường trong nước có hơn 800 dược chất lưu hành, song số lượng dược
chất được doanh nghiệp trong nước sản xuất chưa quá 50%.
Có nhiều phương pháp đưa ra. Trong đó, cần tiếp tục hoàn thiện về thể chế,
pháp luật về sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, cung ứng, phân phối. Đặc
biệt, ưu đãi cao nhất cho nghiên cứu chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc phát minh, vaccine, sinh phẩm.
Bên cạnh đó, cần có quy hoạch, bố trí, dành quỹ đất cho phát triển các cơ sở
nghiên cứu, sản xuất thuốc; quy hoạch phát triển vùng trồng, vùng khai thác, chế
biến dược liệu của Việt Nam. Đẩy mạnh nghiên cứu và tham gia phối hợp quốc
tế nhằm phát triển thuốc biệt dược gốc, thuốc chuyên khoa đặc trị. Có định
hướng và lộ trình cụ thể để chuẩn hóa các hoạt động đào tạo cơ bản, đào tạo liên
tục và đào tạo nâng cao cho đội ngũ nhân lực dược… 8
PHẦN III: CƯỜNG ĐỘ CẠNH TRANH NGÀNH TÂN DƯỢC VIỆT NAM
1. Đe dọa gia nhập mới: Các rào cản gia nhập:
+ Tính quy mô kinh tế ngành bán lẻ dược phẩm
MBS đánh giá thị trường bán lẻ thuốc vẫn còn tiềm năng tăng trưởng lớn
bởi lý do chưa có đơn vị dẫn đầu thị trường về thị phần. Thứ hai, cơ cấu già hóa
dân số ngày càng gia tăng, nhu cầu quan tâm về sức khỏe tăng mạnh sau đại dịch
COVID-19. Và thứ ba, Việt Nam nằm trong top 30 quốc gia có nồng độ PM2.5
trung bình cao nhất thế giới (μg/m³), thấy được môi trường sinh hoạt ngày càng ô
nhiễm, thúc đẩy nhu cầu sử dụng thực phẩm chức năng, hỗ trợ sức khỏe.
Ngoài ra, chuỗi nhà thuốc Trung Sơn Pharma vừa được Tập đoàn
Dongwha Pharm mua lại với tổng giá trị khoảng 30 triệu USD, tương đương
51% cổ phần. Điều này cho thấy thị trường bán lẻ thuốc tại Việt Nam vẫn đang
tiếp tục nhận được sự quan tâm lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài.
Về quy mô các chuỗi, thực tế đang chứng kiến sự tranh đua quyết liệt giữa Pharmacity và Long Châu.
Sau thời gian tăng trưởng nóng, chuỗi Pharmacity liên tục đổi “ghế nóng”
sau khi nhà sáng lập Chris Blank rời đi vào năm 2022 (vì lý do sức khỏe). Đây
cũng là năm Pharmacity thể hiện rõ có dấu hiệu chậm lại, Công ty cũng công bố
đã và đang lên phương án tái cấu trúc. 9
Số liệu đến hết tháng 8/2022, Pharmacity vẫn là chuỗi có nhiều nhà thuốc
nhất, với khoảng 1.100 cơ sở. Nhưng sau đó, Pharmacity đóng cửa nhiều cơ sở
sau khi có những thay đổi thượng tầng và hiện đã mất vị trí đứng đầu thị trường
về quy mô vào tay Long Châu. Tại tháng 2/2023, Long Châu vươn lên dẫn đầu
với 1.009 cửa hàng, Pharmacity giảm chỉ còn 936 cửa hàng. Hiện, con số cụ thể
về số cửa hàng từng chuỗi không được công khai, và theo MBS chưa có “người dẫn đầu” về quy mô.
Chỉ sau 2 năm về với FPT Retail, Long Châu đã ghi nhận tốc độ mở cửa
hàng mạnh mẽ, trở thành chuỗi dược phẩm có số lượng cửa hàng lớn nhất với
gần 1.600 cửa hàng, doanh thu tăng trưởng trung bình 174,7% trong giai đoạn 2020-2022. 10
Tính từ năm 2020 đến tháng 12/2023, Long Châu đạt tốc độ tăng trưởng
23,4%/quý, bỏ xa các đối thủ cùng phân khúc. Với thế mạnh về công nghệ và mô
hình kinh doanh, MBS kỳ vọng đến hết 2023, Long Châu đạt 1.617 cửa hàng, tăng 72% so với cùng kỳ.
+ Chuyên biệt hóa sản phẩm
Theo kết quả nghiên cứu, hệ thống phân phối tân dược Việt Nam đặc biệt
phức tạp. Hiện cả nước có khoảng 39.000 điểm bán lẻ dược phẩm, đảm bảo đưa
thuốc đến tận tay người tiêu dùng. Như vậy, cứ trên 2.000 dân thì có một điểm
bán lẻ dược phẩm. Có 2 loại DN phân phối dược phẩm tại thị trường Việt Nam ,
gồm: DN tiền thân của Nhà nước chuyên làm chức năng NK hưởng phần trăm
hoa hồng và làm thêm các chức năng dịch vụ kho bãi, giao nhận; DN tập trung
vào hoạt động tiếp thị và xây dựng hệ thống phân phối. Các DN này làm dịch vụ
NK uỷ thác nên doanh số báo cáo thường rất lớn, doanh thu trên sổ sách từ vài
trăm tỷ đến vài nghìn tỷ đồng mỗi năm. Trong số đó, các DN chuyên về phân
phối và tiếp thị lớn cho một hay nhiều nhà sản xuất. Đây là những DN thực sự
nắm giữ thị trường phân phối cả nước, với hệ thống đại lý, khách hàng và trình
dược viên đông đảo, doanh số đạt từ 100 đến hơn 1.000 tỷ đồng/năm… Thực tế
thì những DN này mới là người nắm giữ quyền điều khiển đối với phần lớn 11
nguồn thuốc trên thị trường, gây khó khăn cho các công ty muốn gia nhập ngành này với quy mô lớn.
+ Nhu cầu vốn đầu tư ban đầu của thị trường bán lẻ dược phẩm
Theo luật kinh doanh nhà thuốc thì diện tích tối thiểu để mở nhà thuốc tư nhân là 15m2.
• Ở tỉnh lẻ: Giá thuê khoảng từ 3.000.000 – 5.000.000 đồng
• Ở thành phố: Giá thuê khoảng từ 5.000.000 – 10.000.000 đồng
• Ở trung tâm thành phố lớn: Giá thuê khoảng 10.000.000 – 15.000.000 đồng
thậm chí còn hơn rất nhiều.
Có thể lúc đầu bạn cần bỏ ra một số vốn để tu sửa lại thành nhà thuốc nhưng sẽ
tiết kiệm được rất nhiều chi phí thuê mặt bằng về lâu dài.
Đối với một nhà thuốc mới mở thì với danh mục nhập hàng khoảng 1.000
đến 1.500 sản phẩm từ thuốc nội, thuốc ngoại và cả thực phẩm chức năng là đã
rất ổn rồi. Lúc này thì vốn nhập thuốc sẽ giao động từ 100.000.000 – 300.000.000 đồng.
Đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất để mở nhà thuốc thông thường sẽ có tủ
kệ, biển hiệu, máy tính, điều hòa, nhiệt ẩm kế, phần mềm, bàn tư vấn, nơi rửa
tay,…Thông thường chi phí đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất tiết kiệm sẽ mất
khoảng 40.000.000 – 60.000.000 đồng.
Ngoài 3 loại chi phí chính trên thì bạn cũng nên chuẩn bị thêm một ít vốn
để trang trải các loại chi phí phát sinh khác. Có thể kể đến như tiền thuế, chi phí
phần mềm quản lý bán hàng, chi phí thuê nhân viên Trung bình thuê người bán
thuốc cả ngày làm 2 ca lương 6.000.000 – 8.000.000 đồng., nhập thêm các ngành hàng khác bán cùng,….
Vậy câu trả lời cho câu hỏi cần bao nhiêu vốn để kinh doanh nhà thuốc thì
sẽ cần khoảng 200 – 400 triệu. Đây được xem là rào cản lớn cho các doanh
nghiệp mới muốn gia nhập.
+ Gia nhập vào hệ thống phân phối 12 • Ở nhóm bán sỉ:
Hiện tại, tồn tại 2 hình thức: công ty phân phối sỉ và chợ sỉ. Trong số các doanh
nghiệp phân phối sỉ, nổi nên 3 công ty phân phối sỉ nước ngoài tại Việt Nam là
Zuellig Pharma, Mega Products, Diethelm Vietnam đã chiếm đến hơn 50% thị
trường (với doanh thu > 1000 tỷ mỗi công ty) và phần còn lại được chia cho
khoảng 1.200 công ty phân phối nước ngoài và trong nước khác. Chợ sỉ giống
như một kênh trung gian, nơi tập trung hầu hết các chủng loại mặt hàng thuốc để
cung ứng tới các cửa hàng thuốc bán lẻ và có quyền lực tương đối lớn nhờ hình
thành từ lâu đời, có mối quan hệ lợi ích lớn với các nhà sản xuất cũng như các
hãng dược. Do đó, để gia nhập vào hệ thống phân phối ở nhóm bán sỉ các nhà
đầu tư và sản xuất cần phải bứt phá và nổi bật để vượt qua được những nhóm sỉ
đã tạo được lòng tin trung thành từ lâu của khách hàng. • Ở nhóm bán lẻ:
Hiện tại, nhóm này vẫn chưa có thủ lĩnh thực sự. Cục diện có thể được chia ra
thành 3 nhóm: nhà sản xuất có thực hiện phân phối, chuỗi nhà thuốc và các nhà
thuốc lẻ tư nhân. Lợi nhuận giao động của hình thức phân phối này ~ 20% doanh
thu. Doanh thu dược phẩm Việt Nam phụ thuộc nhiều vào doanh thu từ quầy bán
thuốc lẻ. Đây được xem là một cơ hội gia nhập của các doanh nghiệp mới.
+ Chính sách của chính phủ
Chính sách của chính phủ: sự quan tâm của Chính phủ đối với ngành y
dược ngày càng nhiều đã đóng góp rất nhiều tới sự phát triển của y dược như
ngày nay. Vai trò và thái độ của Chính phủ đóng góp phần quan trọng đối với sự
phát triển của ngành dược Việt Nam. Chính phủ luôn tạo điều kiện và sẵn sàng
hợp tác để mở rộng kinh doanh về lĩnh vực này. Chính phủ ban hành nhiều văn
bản pháp lý để quản lý ngành dược bao gồm các văn bản liên quan đến các vấn
đề như Chính sách của Nhà nước về lĩnh vực dược. Các kế hoạch và chính sách
quốc gia hướng đến chăm sóc sức khỏe toàn dân. 13
Luôn tạo điều kiện, hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất thuốc, đẩy mạnh
những loại thuốc quý hiếm. Ngoài ra còn hỗ trợ 1 khoản phí không hề nhỏ từ các
nguồn vốn nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp trong việc nghiên cứu và phát triển y dược.
Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp lý để quản lý ngành dược bao
gồm các văn bản liên quan đến vấn đề như Chính sách của nhà nước về lĩnh vực
Dược, quản lý của nhà nước về giá thuốc, điều kiện kinh doanh thuốc, quản lý
thuốc thuộc danh mục phải kiểm soát đặc biệt, tiêu chuẩn chất lượng thuốc, cơ
sở kiểm nghiệm thuốc ( Ngày 19/04/2007. bộ y tế ban hành Quyết định số
27/2007/QĐ-BYT về lộ trình triển khai nguyên tắc “Thực hành tốt sản xuất thuốc’’ (GMP).
Mặc dù được Chính phủ quan tâm và hỗ trợ sát sao cho những doanh
nghiệp cũ và mới nhưng với những yêu cầu mà chính phủ đưa ra cũng gây ra cho
các doanh nghiệp muốn du nhập vào ngành một mối lo ngại lớn bởi tiêu chuẩn
và chất lượng của sản phẩm.
2. Đe dọa từ các sản phẩm/ dịch vụ thay thế:
Thị trường ngành Dược Việt Nam hiện nay đang trên đà phát triển mạnh mẽ
và có lợi nhuận cao, cùng với sự gia tăng ấn tượng trong những năm gần đây của
ngành dược đã biến lĩnh vực kinh doanh này trở thành mảnh đất màu mỡ cho các
nhà sản xuất cả trong nước lẫn ngoài nước, do đó áp lực từ sản phẩm thay thế
cao. Bởi bản chất của ngành dược đã rất khác biệt, hầu hết các doanh nghiệp sản
xuất thuốc trong ngành đều có sản phẩm không mấy khác biệt nên áp lực tạo ra
cho các doanh nghiệp là phải làm cho sản phẩm của mình luôn tốt hơn, hiệu quả,
an toàn hơn và chiếm càng nhiều ưu thế càng tốt.
- Xu hướng sử dụng hàng thay thế của khách hàng: Xu hướng sử dụng hàng thay
thế của khách hàng là cao vì ngành dược trong nước chỉ mới đáp ứng được 14
khoảng 47% nhu cầu thị trường vì vậy tạo điều kiện cho các dịch vị và sản phẩm
thay thế xâm lấn vào thị trường.
+ Dịch vụ thay thế chính của ngành dược chủ yếu đến từ những dịch vụ y học
thay thế như y học cổ truyền, châm cứu và các phương pháp điều trị tự nhiên như
thảo dược hay yoga và mát xa, ….
+ Ngoài ra các thương hiệu thuốc ngoại nổi tiếng như Sanofi, GSK,
Astrazeneca cũng là mối đe dọa đến các sản phẩm trong nước. Hơn nữa thuốc
trong nước vẫn chưa được ưu tiên sử dụng vì thường bị mang tiếng là chất lượng
kém, thuốc giả, lại càng khiến khách hàng thiên về sử dụng thuốc ngoại nhiều
hơn so với tin dung thuốc nội.
+ Thuốc dược có vai trò quan trọng trong công tác phòng và chữa bệnh nhưng
thuốc không phải là phương tiện duy nhất để giải quyết bệnh tật. Trên thực tế, có
không ít bệnh không cần thuốc hoặc sử dụng các biện pháp điều trị đơn giản, an
toàn cũng có thể giải quyết được bệnh tật. Vì vậy, các ngành sản phẩm thực
phẩm chức năng (omega-3, dầu cá, … ) hay các ngành thuốc đặc trị cũng là
những sản phẩm cạnh tranh với thuốc tân dược.
Ngày càng nhiều các sản phẩm thay thế nhằm thỏa mãn nhu cầu thỏa mãn của
khách hàng. Do đó đe dọa về sản phẩm thay thế đối với ngành tân dược khá là cao.
- Đối với tương quan giá cả và chất lượng của các mặt hàng thay thế:
+ Các doanh nghiệp thuốc trong nước có chiến lược tiếp thị, xây dựng thương
hiệu bị hạn chế do liên quan đến các quy định về tiếp thị, khuyến mại và khai
thuế mà chi phí tiếp thị của các doanh nghiệp nước ngoài không bị giới hạn vì
vậy các doanh nghiệp nước ngoài chiếm ưu thế về việc xây dựng thương hiệu và
lòng tin với khách hàng. Hơn nữa thuốc trong nước vẫn chưa được ưu tiên sử
dụng vì thường bị mang tiếng là chất lượng kém, thuốc giả, lại càng khiến khách
hàng thiên về sử dụng thuốc ngoại nhiều hơn so với tin dung thuốc nội. 15
Hiện nay, các công ty dược trong nước mới chỉ sản xuất được 40% giá trị
thuốc sử dụng trong nước, còn lại dành 60% sân nhà cho sản phẩm của nước ngoài.
Tuy nhiên, sản xuất trong nước đang cho thấy một sự tăng trưởng khá ấn tượng
trong những năm gần đây, tăng trung bình 20% cho giai đoạn 2000-20073.
+ Theo Khảo sát người tiêu dùng Việt Nam của Deloitte năm 2021, dưới tác
động của đại dịch Covid-19, hành vi người tiêu dùng đã có sự thay đổi lớn – đó
là gia tăng chi tiêu hàng tháng vào các sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên,
hầu hết những loại thuốc nội có chung công dụng đều mang chất lượng và giá cả
tương đồng nhau, chính vì vậy thách thức cũng đến từ thói quen của người Việt.
Trong việc mua sắm các loại thuốc, họ thường đến các cửa hàng quen thuộc và
chịu ảnh hưởng đáng kể của phương thức truyền miệng. Sự thay đổi từ nhà thuốc
truyền thống sang chuỗi bán lẻ hoặc sự chuyển đổi từ thói quen sử dụng thuốc
ngoại sang các loại thuốc nội địa mới không phải lúc nào cũng được chào đón một cách dễ dàng.
+ Các chi phí chuyển đổi trong sử dụng sản phầm dược:
Bán lẻ dược phẩm là ngành dễ bị đối thủ học hỏi, bắt chước rồi bán với giá
tương đương ra thị trường vì vậy tân dược là ngành có chi phí chuyển đổi thấp.
Bởi lẽ sản phẩm dược rất dễ mua, nên người tiêu dung không mất nhiều thời gian
mới có thể mua được sản phẩm tương tự cả về giá cả lẫn chất lượng. Thậm chí
còn nhiều người tiêu dung còn không phân biệt được thương hiệu hay sản phẩm
tiêu dùng. Chính vì vậy việc chuyển đổi trong sử dụng sản phẩm dược không
mấy làm thay đổi thói quan của người tiêu dùng.
3. Quyền lực thương lượng:
3.1. Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng: a) Lý thuyết: 16
Các nhà cung ứng có thể gây áp lực thương lượng lên các bên tham gia
trong một ngành bằng cách đe dọa tăng giá hoặc giảm chất lượng hàng hóa, dịch
vụ được mua. Do đó, các nhà cung ứng mạnh có thể hạn chế lợi nhuận của một
ngành do không thể bù đắp được chi phí tăng trong giá bán sản phẩm của chính
mình. Ví dụ, việc các công ty hóa chất tăng giá đã góp phần làm giảm lợi nhuận
của các nhà đóng gói bình xịt theo hợp đồng do họ phải đối mặt với sự cạnh
tranh gay gắt từ việc tự sản xuất của người mua, do đó khả năng tăng giá của họ
bị hạn chế.Quyền lực này phụ thuộc vào 1 số yếu tố sau:
+ Mức độ tập trung: Biểu hiện bằng sự phân bổ thị phần trên số lượng
nhiều hoặc ít các công ty trong ngành.Một số ngành có mật độ tập trung dày đặc,
từ 2 đến 3 công ty kiểm soát đến hơn 70% thị trường ( ngành sản xuất và kinh
doanh máy bay với 2 tên tuổi lớn là Boeing và Airbus ), ngược lại một số ngành
lại rất phân tán (nhà hàng ăn uống).Mức độ tập trung càng lớn thì các công ty sẽ
có quyền lực thương lượng càng mạnh, khả năng tạo áp lực lớn lên các công ty khác càng lớn.
+ Đặc điểm hàng hóa/dịch vụ: Giá trị của hàng hóa/dịch vụ được sản xuất
phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của các bộ phận được mua từ các nhà cung ứng
và do đó các nhà cung ứng này sẽ có quyền lực thương lượng đáng kể. Đó là các
trường hợp của nhà sản xuất chíp điều khiển điện tử với các công ty sản xuất
máy tính cá nhân có quyền lực gần như tuyệt đối của Intel.
+ Chuyên biệt hóa sản phẩm/ dịch vụ: Nhấn mạnh đến khả năng thay thế
một sản phẩm bằng một sản phẩm khác càng khó thì quyền lực của các nhà cung
ứng càng lớn.Quyền lực của ngay cả những nhà cung ứng lớn, mạnh cũng có thể
bị kiềm chế nếu họ phải cạnh tranh với các sản phẩm thay thế.Ví dụ, các hãng
sản xuất chất làm ngọt thay thế cạnh tranh rất mạnh trong nhiều ứng dụng mặc
dù mỗi hãng đều khá lớn so với khách hàng.
+ Chi phí chuyển đổi nhà cung ứng: Mức chi phí này càng cao thì quyền lực
tương ứng của nhà cung ứng càng lớn. 17
+ Khả năng tích hợp hợp về phía sau: Với chi phí hợp lý sẽ cho phép các
nhà cung ứng tăng cường quyền lực thương lượng của mình đối với khách hàng
và ngược lại.Ví dụ: các công ty thời trang may mặc, giày dép đầu tư xây dựng
các hệ thống phân phối sản phẩm độc quyền. b) Vận dụng: + Mức độ tập trung:
Tại Việt Nam, thị trường bán lẻ dược phẩm có tính phân mảnh rất cao, với
hơn 50.000 nhà thuốc hầu hết là cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ.Trong đó, 3 thương
hiệu dẫn đầu chuỗi nhà thuốc là những cái tên quen thuộc như: Long Châu của
FPT Retail, Pharmacity, hay An Khang của Thế Giới Di Động đang trong một
giai đoạn cạnh tranh cực kỳ gay gắt. Bên cạnh đó, sự góp mặt của các tân binh
ngành bán lẻ dược phẩm cũng khiến cho cuộc cạnh tranh này càng thêm khốc
liệt hơn.Hiện số lượng nhà thuốc thuộc các chuỗi bán lẻ dược phẩm chỉ chiếm tỉ
trọng rất nhỏ trên toàn thị trường, cụ thể có gần 3.000 nhà thuốc thuộc chuỗi trên
tổng 50.000 nhà thuốc tư nhân.
Theo thống kê của cục quản lý dược, nhà thuốc và quầy thuốc mật độ phân
bố không đều tập trung mật độ cao ở các quận thuộc thành phố lớn, tốc độ tăng
trưởng khá nên áp lực cạnh tranh lớn giữa các nhà thuốc (bán kính cạnh tranh
khoảng 1 – 2km), đặc biệt là khu vực các quận nội thành các thành phố lớn như Hà Nội, TP HCM.
Cho thấy ngành có mức độ tập trung không cao
+ Đặc điểm hàng hóa/dịch vụ:
• Chất lượng của nguyên liệu, dược liệu, thiết bị y tế, v.v. đóng vai trò quan
trọng trong việc quyết định chất lượng của sản phẩm/dịch vụ dược phẩm.Nguyên
liệu, dược liệu chất lượng cao sẽ giúp tạo ra sản phẩm/dịch vụ tốt hơn, an toàn
hơn và hiệu quả hơn trong việc điều trị bệnh.Ngược lại, nếu sử dụng nguyên liệu,
dược liệu kém chất lượng, sản phẩm/dịch vụ có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe
người sử dụng và ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp. 18
• Do tầm quan trọng của chất lượng đầu vào, các nhà cung cấp dược liệu chất
lượng cao sẽ có vị thế mạnh trong việc thương lượng với doanh nghiệp bán lẻ
dược phẩm. Họ có thể yêu cầu mức giá cao hơn, đòi hỏi các điều khoản hợp
đồng thuận lợi hơn và thậm chí có thể chi phối doanh nghiệp trong việc lựa chọn
nhà cung cấp.Ngược lại, các nhà cung cấp có sản phẩm/dịch vụ chất lượng thấp
sẽ có ít quyền lực thương lượng hơn và có thể buộc phải chấp nhận mức giá thấp
hơn và các điều khoản hợp đồng không thuận lợi.
+ Chi phí chuyển đổi nhà cung ứng:
• Tìm kiếm và đánh giá nhà cung cấp mới:Chi phí đi lại, thu thập thông tin,
thuê chuyên gia tư vấn,...
• Thương lượng hợp đồng: Chi phí luật sư, dịch thuật hợp đồng,...
• Chuyển đổi hệ thống: Chi phí phần mềm, đào tạo nhân viên,...
• Dự trữ hàng hóa: Chi phí mua hàng từ nhà cung cấp mới để đảm bảo nguồn
cung trong quá trình chuyển đổi.
• Mất doanh thu: Doanh thu có thể bị ảnh hưởng do gián đoạn nguồn cung.
Việc chuyển đổi từ nhà cung cấp này sang nhà cung cấp khác trong ngành
dược phẩm thường tốn kém và phức tạp. Các doanh nghiệp bán lẻ cần đầu tư
thời gian và chi phí để đánh giá, kiểm tra chất lượng, xây dựng mối quan hệ mới,
v.v. Do đó, họ sẽ có xu hướng duy trì hợp tác với nhà cung cấp hiện tại, dù phải
chịu mức giá cao hơn hoặc các điều khoản không thuận lợi.
+ Khả năng tích hợp về phía sau: Ngành bán lẻ dược phẩm có khả năng tích hợp phía sau cao do:
• Nhu cầu kiểm soát chất lượng:
Trong ngành bán lẻ dược phẩm, chất lượng đóng vai trò cốt lõi, ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của người sử dụng. Do đó, kiểm soát chất
lượng là một nhu cầu cấp thiết và không thể bỏ qua của các doanh nghiệp trong ngành này. 19
Việc kiểm soát chất lượng cần được thực hiện trong suốt quá trình phân
phối, từ khâu lựa chọn nguyên liệu, sản xuất, bảo quản đến phân phối sản phẩm
đến tay người tiêu dùng.
Kiểm soát chất lượng hiệu quả giúp đảm bảo sản phẩm an toàn, hiệu quả và
phù hợp với nhu cầu của người sử dụng.
• Nhu cầu đáp ứng nhu cầu thị trường: //Tính cạnh tranh cao:
Ngành bán lẻ dược phẩm ngày càng phát triển với sự tham gia của nhiều doanh
nghiệp lớn, dẫn đến tính cạnh tranh cao. Nhu cầu về các sản phẩm dược phẩm
ngày càng cao và đa dạng, đòi hỏi doanh nghiệp phải thích ứng nhanh chóng và đáp ứng hiệu quả. //Khả năng thích ứng:
Để thành công trong ngành bán lẻ dược phẩm, doanh nghiệp cần nắm bắt nhu
cầu thị trường, phân tích xu hướng và phát triển sản phẩm phù hợp. Doanh
nghiệp cần có khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường một cách nhanh chóng, linh hoạt và hiệu quả.
3.2. Quyền lực thương lượng của khách hàng:
- Sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất: Sự cạnh tranh giữa các công ty bán lẻ
dược phẩm có thể tạo ra sức ép cạnh tranh, đặc biệt là khi có nhiều sản phẩm
tương tự trên thị trường. Điều này có thể làm tăng quyền lực thương lượng của
khách hàng, vì họ có nhiều lựa chọn và có thể đòi hỏi điều kiện tốt hơn từ các nhà sản xuất.
- Thông tin công khai và tiếp cận dễ dàng: Với sự phát triển của internet và
các phương tiện truyền thông, khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận thông tin về
các loại thuốc, bao gồm thông tin về giá cả, hiệu quả, và tác dụng phụ. Điều này
có thể tăng cường quyền lực thương lượng của họ bằng cách so sánh và đánh giá các sản phẩm. 20