






Preview text:
Họ và tên: Trần Thị Trang STT: 50 Lớp: K57B1KD BÀI KIỂM TRA SỐ 1
1. Phân tích sự đóng góp của du lịch trong GDP.
- Du lịch được nhìn nhận là một chủ thể của các chính sách kinh tế vĩ mô. Du lịch
thường liên quan đến các chính sách về việc làm hoặc cán cân thanh toán.
Ở nhiều quốc gia du lịch được coi là một ngành vừa sử dụng các nguồn tài nguyên của
quốc gia vừa tác động đến sự phát triển của quốc gia đó
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối
cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định GDP=C+I+X-M
C: tiêu dùng của khách du lịch I: đầu tư
X: xuất khẩu (khách du lịch nước ngoài)
M: nhập khẩu (khách quốc tế đến du lịch)
+(C): sự chi tiêu của khách du lịch tại quốc gia của họ thường áp dụng với các chương
trình nội địa và 1 phần của du lịch (outbound)
VD: khách du lịch mua và sử dụng dịch vụ lưu trú tại khách sạn, trong quá trình du
lịch khách sử dụng dịch vụ vận chuyển tại địa phương và mua sắm hàng hóa tại điểm
du lịch như quà lưu niệm, đồ ăn..
+ (I): sự đầu tư của các doanh nghiệp, đặc biệt là nhà quản trị kinh doanh cơ sở lưu
trú, về xây dựng, mua sắm nhà cửa và các trang thiết bị.... để cung ứng, tạo ra những
sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của du khách. Ngoài ra, nó còn là sự đầu tư của
Nhà nước trong việc phát triển cơ sở hạ tầng để phục vụ đi lại và thăm quan của khách du lịch.
+ (X): Một du khách trong nước đi du lịch nước ngoài sử dụng hàng hóa và dịch vụ do
doanh nghiệp nước ngoài cung cấp, như khách Việt Nam đi du lịch tại châu Âu và
mua tour công ty lữ hành bên đó.
+ (M): Khách du lịch quốc tế sử dụng các hàng hóa và dịch vụ do các doanh nghiệp
trong nước cung cấp như khách quốc tế đến
Việt Nam thuê khách sạn, thuê phương
tiện vận chuyển và mua đồ ăn, hàng lưu niệm. → Ý nghĩa nhận thức
Nhà quản trị cần nhận thức được vai trò của du lịch trong GDP và đưa ra những
phương án, kế hoạch nâng cao vai trò đó.
2. Liên hệ thực tiễn ở nước ta hiện nay.
Thực tế cho thấy, ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xác định du lịch là
một trong những ngành kinh tế quan trọng, đóng góp đáng kể và hiệu quả vào sự
nghiệp phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa,... của đất nước.
Quý 1/2023, khu vực dịch vụ, du lịch đạt tăng trưởng 6,79%, cao hơn gấp đôi so với
mức tăng trưởng GDP nền kinh tế (3,32%), qua đó đóng góp tới 95,91% trong tăng trưởng chung.
Tính chung quý I năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, đáng mừng là doanh thu dịch vụ lưu
trú, ăn uống tăng 28,4% và doanh thu du lịch lữ hành tăng 119,8%. Báo cáo của Tổng
cục Thống kê nêu rõ, kết quả này phản ánh hiệu quả của chính sách mở cửa từ ngày
15/3/2022 sau đại dịch Covid-19 cũng như việc thúc đẩy xúc tiến, quảng bá du lịch
Việt Nam tới các nước trên thế giới và kích cầu nội địa trong thời gian qua.
Trong 3 tháng đầu năm, Việt Nam đón 2,7 triệu lượt khách quốc tế, cao gấp 29,7 lần
so với cùng kỳ năm trước, đã đạt 1/3 mục tiêu cả năm 2023 (8 triệu lượt). Tổng số
khách du lịch nội địa đạt 27,5 triệu lượt. Tổng thu từ khách du lịch đạt 132,7 nghìn tỷ
đồng. Khởi đầu tích cực trong quý 1 mở ra triển vọng sáng sủa cho ngành du lịch trong năm nay.
Tháng Sáu, tháng Bảy là những tháng cao điểm của mùa du lịch hè nên doanh thu dịch
vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tăng cao so với các tháng trước. Chỉ riêng trong
tháng 7/2023, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành cả nước ước đạt
60 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9% so với tháng trước và tăng 5,7% so với cùng kỳ năm
trước. Tính chung 7 tháng năm 2023, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ
hành đạt 395,8 nghìn tỷ đồng, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ
lưu trú, ăn uống tăng 16,3% và du lịch lữ hành tăng 53,6%.
Hình 1: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành trong 7 tháng đầu năm 2023
Điểm nổi bật trong năm 2023 là sự bùng nổ của thị trường khách quốc tế, khi mới qua
11 tháng đã đạt 11,2 triệu lượt khách, chính thức vượt xa mục tiêu lần 1 và đạt trên
85% mục tiêu mới. Cùng với đó, thị trường du lịch nội địa cũng đạt 103,2 triệu lượt
khách trong 11 tháng, vượt qua con số cả năm 2019. Báo cáo của Tổng cục Thống kê
cho thấy, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 11 tháng qua ước đạt 616,0 nghìn tỷ
đồng. Doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 34,0 nghìn tỷ đồng, tăng 50,5% so với cùng kỳ năm trước.
Để thu hút khách du lịch, các doanh nghiệp, khách sạn, khu nghỉ dưỡng trên địa bàn
tỉnh đã nâng cao chất lượng dịch vụ và cơ sở hạ tầng, đồng thời chủ động liên kết với
các đơn vị lữ hành lớn của Việt Nam tập trung khai thác thị trường trong nước với du
khách phía Nam và mở rộng thị trường khách quốc tế. Công suất phòng tại khách sạn
3 – 5 sao ước đạt trên 90%; các cơ sở lưu trú khác ước đạt trên 80%.
Năm 2023, du lịch Việt Nam đề ra mục tiêu đón 110 triệu lượt khách du lịch, trong đó
khoảng 8 triệu lượt khách quốc tế, khách du lịch nội địa khoảng 102 triệu lượt; tổng
thu từ khách du lịch khoảng 650 nghìn tỷ đồng. Đến thời điểm này có thể nói kỳ vọng
về lượng khách có thể đạt được. Tuy nhiên ngành du lịch Việt Nam cũng đang đối
diện với nhiều thách thức khi nền kinh tế thế giới bị ảnh hưởng bởi xung đột Nga –
Ukraine, dẫn đến khách du lịch hầu hết thắt chặt chi tiêu.
Bên cạnh đó, Việt Nam chưa có nhiều sản phẩm du lịch hấp dẫn, ngành du lịch đang
chuyển đổi, đang phát triển nên chất lượng còn hạn chế, chủ yếu cung cấp các sản
phẩm dịch vụ hiện đang có mà chưa chú trọng đáp ứng sản phẩm, dịch vụ mà du
khách cần. Sự liên kết giữa các nhà cung cấp dịch vụ du lịch còn hạn chế; mức chi
tiêu của khách du lịch hằng năm tăng chậm, phần lớn chi tiêu là dành cho các dịch vụ
như ăn uống, đi lại, lưu trú. Một trong những chỉ đạo của Chính phủ trong thời gian
tới là “Phát triển du lịch Việt Nam phải đặt trong tổng thể phát triển du lịch của thế
giới và khu vực, có tính liên kết cao, bổ trợ lẫn nhau, đồng thời chủ động trước những
tình huống đột xuất, bất ngờ. Phát triển du lịch trong giai đoạn mới phải chú trọng tính
chuyên nghiệp, hiện đại, theo chuẩn mực quốc tế nhưng cũng đa dạng, độc đáo, riêng
có; kiên định mục tiêu nhưng phải hết sức linh hoạt, thích ứng, đổi mới, sáng tạo, gắn
kết chặt chẽ với quá trình chuyển đổi số”.
[1] Nguồn: Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
[2] Nguồn: Báo cáo của các Cục Thống kê.
3. Trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến sự đóng góp của du lịch trong GDP ở nước ta? a) Nguồn tài nguyên
- Tài nguyên du lịch: là yếu tố chủ yếu nhất quyết định sự phát triển của ngành du lịch
ở bất kỳ quốc gia nào. Đó là các tài nguyên tự nhiên biển, rừng, núi, hang động... và
các tài nguyên nhân văn các công trình kiến trúc, làng nghề,...
+ Đây được coi là yếu tố cơ bản để hình thành nên các khu du lịch, các điểm du
lịch, các tuyến du lịch và các đô thị du lịch. Tài nguyên du lịch có thể tạo nên
động cơ, mục đích chuyến đi của du khách, muốn phát triển du lịch cần phải
gắn với nguồn tài nguyên du lịch.
- Đất đai: ngành có một số yêu cầu đặc biệt về các tài nguyên nhất định liên quan đến
đất đai và các đặc tính của nó như sự độc đáo hoặc tính chất sở hữu. Những đặc tính
này tác động đến quyết định cuối cùng của nền kinh tế là sẽ dành các tài nguyên đó cho ngành du lịch. - Nguồn lao động:
+ Lao động là 1 yếu tố rất đặc thù trong ngành du lịch bởi du lịch là 1 ngành dịch
vụ sử dụng nhiều lao động. Lao động có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra
sản phẩm, quyết định chất lượng sản phẩm cung cấp cho khách du lịch.
+ Lực lượng lao động dồi dào và phong phú, có kỹ năng, quyết định đến chất
lượng sản phẩm dịch vụ, là vấn đề căn bản. Sự thiếu hụt về lao động cần được xem xét.
- Vốn: sự đầu tư của nhà nước, nền kinh tế sẵn sàng và có khả năng cung cấp vốn đầu
tư cho ngành du lịch dưới dạng cơ sở hạ tầng, hệ thống khách sạn, giao thông vận
tải,... sẽ ảnh hưởng đến quy mô phát triển của ngành, việc tiếp cận điểm đến của khu du lịch.
Cơ sở hạ tầng, Cơ sở vật chất – kĩ thuật du lịch: Đây là nguồn lực rất quan trọng, tác
động đến sự chuyên nghiệp và mức độ chất lượng trong việc phục vụ du khách.
+ Cơ sở hạ tầng: bao gồm hệ thống đường xá, nhà ga, sân bay, bến cảng, đường
sắt; các hệ thống cung cấp điện, nước, cấp thoát nước; hệ thống thông tin liên
lạc;... Là đòn bẩy để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và trong
đó có ngành du lịch. Là yếu tố tạo ra khả năng tiếp cận của du khách đối với
các nơi đến. Thực tế, 1 số điểm đến không thể phát triển du lịch vì thiếu cơ sở
hạ tầng phù hợp. Đây được coi là lĩnh vực ko tạo ra lợi nhuận nên chủ yếu lĩnh
vực này do Nhà nước đầu tư. Tuy nhiên, hiện nay ngta cũng có hướng trong
việc phối hợp công-tư để đầu tư cho các dự án phát triển công cộng.
+ Cơ sở vật chất – kĩ thuật du lịch: Đây được coi là tiện nghi, vật chất, toàn bộ
những phương tiện kỹ thuật cần thiết để góp phần tăng khả năng cung ứng các
sản phẩm dịch vụ cho du khách.
⇒ Tạo ra sự sẵn sàng trong việc đón tiếp du khách cho các điểm đến du lịch.
Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch càng đa dạng bao nhiêu thì càng nâng cao khả
năng phục vụ và đón tiếp khách du lịch bấy nhiêu.
- Các doanh nghiệp: sự tập trung, mức độ phát triển, độ đạt chuẩn,... của các doanh
nghiệp du lịch sẽ thu hút cầu du lịch, thúc đẩy sự đóng góp của du lịch vào GDP.
● Một số nhân tố khác:
- Cơ hội: cơ hội được xem xét trên cơ sở các phương diện liên quan tới sự kiện về
kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, thể thao,…
⇒ Thu hút 1 lượng lớn khách du lịch .
⇒ Tác động đến sự phát triển của hoạt động du lịch: các hoạt động hội chợ,
triển lãm; các sự kiện về văn hóa; các sự kiện về thể thao: World Cup, SEA Games…. - Nguồn lực bên ngoài:
+ Nguồn lực về tài chính: các khoản vốn vay từ các tổ chức du lịch nước ngoài
cung cấp thêm kinh phí để thực hiện các dự án phát triển du lịch: dự án về hạ
tầng, dự án về nguồn nhân lực.
+ Nguồn lực phi tài chính:Các nguồn hỗ trợ liên quan đến hỗ trợ về kinh nghiệm,
về quản lý đào tạo, về trình độ công nghệ. Mặc dù nó mang tính chất phi tài
chính nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn và hiện thực hóa những chính sánh, kế
hoạch trong việc phát triển tại một điểm đến cụ thể.
- Chính sách phát triển kinh tế - xã hội: là điều kiện tiên quyết để phát triển du
lịch. Nó tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động du lịch có thể diễn ra và
nó cũng tạo ra một khả năng cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động du lịch một cách hiệu quả hơn.
VD: Thông báo số 43/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ: Kết luận của Phó
Thủ tướng Vũ Đức Đam tại cuộc họp bàn về phương án mở cửa lại hoạt động
du lịch: Theo đó, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã đồng ý với đề xuất của Bộ
Văn hóa Thể thao và Du lịch trong việc mở của trở lại hoạt động du lịch theo
tinh thần thích ứng linh hoạt, an toàn, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19
bắt đầu từ ngày 15/3/2022.
Quan điểm này là tuyến mở cho các hoạt động du lịch có thể được diễn ra và ⇒ mang lại hiệu quả tốt
Những yếu tố trên góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao vai trò của du lịch ⇒ trong GDP.
b) Tình trạng khoa học công nghệ
- Du lịch phát triển là nhờ vào sự khai thác giá trị nguồn tài nguyên. Đây là các yếu tố
sẵn có của các vùng, địa phương du lịch. Vì thế bản thân nguồn tài nguyên du lịch
cũng đã thỏa mãn được nhu cầu của du khách.
- Với sự phát triển của kinh tế, đời sống con người ngày một nâng cao dẫn đến mức độ
thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao hơn. Do vậy, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của khoa học–
công nghệ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người.
+ Cơ sở hạ tầng: Khoa học - công nghệ làm cho các yếu tố hệ thống giao thông vận tải
có sự tiến bộ vượt bậc, với sự ra đời ngày càng nhiều hơn các phương tiện vận chuyển
với nhiều hình thức khác nhau, vừa tăng khả năng tiếp cận điểm đến, vừa góp phần
đáp ứng các nhu cầu đa dạng của khách hàng
+ Công nghệ - thông tin: khoa học - công nghệ tạo ra một khối lượng thông tin khổng
lồ cho con người, từ đó kích thích nhu cầu khám phá sáng tạo, tăng sự hiểu biết về
điểm đến làm cho nhu cầu của con người dễ dàng được đáp ứng hơn
+ Cơ sở vật chất – kĩ thuật du lịch: là điều kiện quan trọng giúp du khách thỏa mãn
nhu cầu bao gồm nhu cầu cơ bản, nhu cầu đặc trưng và các nhu cầu bổ sung khác.
Nhu cầu của khách hàng càng đa dạng thì hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật càng ứng
dụng các yếu tố công nghệ phức tạp để đáp ứng nhu cầu của con người.
- Tuy nhiên trong ngành du lịch vẫn còn 1 số bộ phận nhất định cần có sự phát triển
mà ko có sự can thiệp của khoa học – công nghệ như du lịch tự nhiên, du lịch sinh
thái,… Do vậy những người kinh doanh du lịch cần xác định đối tượng khách hàng
phù hợp với các loại hình du lịch để có sự đầu tư nhất định vào khoa học– công nghệ,
vừa thỏa mãn nhu cầu khách hàng, vừa góp phần bảo vệ tài nguyên du lịch
c) Sự ổn định về chính trị, xã hội
- Đối với du lịch đây là một nhân tố đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến khả
năng chấp nhận sản phẩm và do đó ảnh hưởng đến sự thành công của ngành du lịch.
Có thể mua hàng hóa nhập khẩu từ quốc gia chính trị không ổn định nhưng mong
muốn đến thăm quốc gia đó thì không thể xảy ra.
- Sự ổn định chính trị và xã hội được một số nhà nghiên cứu coi như là một đặc điểm
của sản phẩm du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến cầu của nhiều phân khúc thị trường du lịch.
- Khi tình hình kinh tế - chính trị biến động lớn hơn khả năng dự trữ nguồn tài nguyên
thì chúng có thể là nguyên nhân làm vai trò và sự đóng góp của du lịch trong GDP không ổn định. d) Tâm lý xã hội - Tác động đến cung:
+ Những người kinh doanh du lịch: ảnh hưởng đến tính chuyên nghiệp trong hoạt
động sản xuất và cung ứng sản phẩm. Yếu tố tâm lý xã hội sẽ tác động đến
hành vi tâm lí con người kinh doanh du lịch.
+ Người dân địa phương: thái độ của người dân địa phương cũng được coi là một
phần giá trị tài nguyên của điểm đến.Thái độ của người dẫn nước chủ nhà đối
với khách du lịch, đặc biệt là những người lao động trong ngành có ảnh hưởng
tương tự như sự ổn định chính trị, xã hội.
- Tác động đến cầu (khách du lịch): Tác động về thu nhập, phong tục tập quán, sở
thích, nhu cầu... khác nhau sẽ tạo nên những xu hướng du lịch khác nhau. Điều này
ảnh hưởng tới du lịch nội địa và bất kỳ điểm đến nào có sự liên kết chặt chẽ với khu vực nguồn khách. e) Đầu tư
- Tài nguyên du lịch chỉ là điều kiện tiền đề cho phát triển du lịch còn mức độ phát
triển phụ thuộc và tỉ lệ đầu tư và lợi ích từ một sự đầu tư trong du lịch. Đầu tư du lịch
quyết định đến mức độ phát triển du lịch tại một quốc gia, một vùng.
- Đầu tư trong du lịch bao gồm cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất – kĩ thuật du lịch. Do vậy,
sự đầu tư nào mang lại lợi nhuận lớn, tỉ lệ thời gian thu hồi vốn nhanh thì nên ưu tiên
dành cho tư nhân đầu tư. Ngược lại sự đầu tư mà đòi hỏi đến lượng vốn đầu tư lớn,
mang lại lợi ích cho xã hội, thời gian thu hồi vốn dài thì nên để nhà nước đầu tư.
- Có những sự đầu tư đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn ( đầu tư vào nguồn vốn cố định)
du lịchnhưng ngược lại trong L chỉ cần lượng vốn đầu tư ít mà vẫn mang lại lợi nhuận
cao (sự kiện). khi xem xét về đầu tư cần phải nghiên cứu về giá trị đầu tư thích hợp. -
- Giá trị đầu tư phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Chính sách của nhà nước: ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động đầu tư + Tình trạng kinh tế
+ Tỷ lệ thu hồi vốn đầu tư
+ Các mô hình kinh tế của một quốc gia.