HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
BÀI TẬP LỚN
MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
ĐỀ TÀI: BIẾN ĐỘNG CỦA TỈ LỆ THẤT NGHIỆP
CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA/ TIỀN TỆ CỦA NHẬT BẢN
TRONG GIAI ĐOẠN SUY THOÁI KINH TẾ 1990-2000
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Đào Duy Hà
Lớp: K26KDQTC
Nhóm thực hiện: Nhóm 03
Thành viên nhóm:
Họ và tên: Hoàng Quỳnh Chi (NT) Mã SV: 26A4052957
Họ và tên: Đỗ Thị Ánh Dương Mã SV: 26A4052969
Họ và tên: Thị Kim Anh Mã SV: 26A4052947
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Linh Mã SV: 26A4050299
Họ và tên: Nguyễn Thanh Hương Mã SV: 26A4050276
Họ và tên: Nguyễn Thị Thuý Mã SV: 26A4051162
Họ và tên: Hoàng Thị Ánh Tuyết Mã SV: 26A4051633
Hà Nội – 5/2024
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
NHÓM SỐ: 03
ĐỀ TÀI: BIẾN ĐỘNG CỦA TỈ LỆ THẤT NGHIỆP
CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA/ TIỀN TỆ CỦA NHẬT BẢN
TRONG GIAI ĐOẠN SUY THOÁI KINH TẾ 1990-2000
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................4
Chương I: Cơ sở lí luận...........................................................................................6
1.Khái quát về tỉ lệ thất nghiệp...........................................................................6
1.1 Định nghĩa về tỉ lệ thất nghiệp và các khái niệm liên quan.....................6
1.2. Các loại tỉ lệ thất nghiệp...........................................................................6
1.3. Phương pháp tính toán tỉ lệ thất nghiệp..................................................6
2. Khái quát về chính sách tài khoá....................................................................7
2.1. Định nghĩa và mục tiêu của chính sách tài khóa.....................................7
3. Các biện pháp và công cụ của chính sách tài khóa........................................7
3.1. Biện pháp của chính sách tài khóa...........................................................7
3.2. Công cụ của chính sách tài khóa..............................................................8
4. Ảnh hưởng của chính sách tài khóa lên tỷ lệ thất nghiệp và nền kinh tế nói
chung..................................................................................................................... 9
4.1. Ảnh hưởng của chính sách tài khóa lên tỉ lệ thất nghiệp:......................9
4.2 Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đối với nền kinh tế:........................9
5. Các biện pháp và công cụ của chính sách tiền tệ.........................................10
6. Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ lên tỷ lệ thất nghiệp và kinh tế nói
chung...................................................................................................................12
Chương II: Biến động của tỷ lệ thất nghiệp trong giai đoạn suy thoái kinh tế
1990-2000 của Nhật Bản........................................................................................13
2.1. Tổng quan về tình hình kinh tế và xã hội của Nhật Bản trong thập kỷ
1990-2000............................................................................................................13
2.2. Sự biến động của tỷ lệ thất nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng giai đoạn
1990 – 2000.........................................................................................................13
2.2.1 Sự biến động của tỷ lệ thất nghiệp.......................................................13
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp..........................................14
2.3. Tác động của tỷ lệ thất nghiệp lên kinh tế và xã hội của Nhật Bản.........15
3
Chương III: Chính sách tài khóa và tiền tệ của Nhật Bản trong giai đoạn suy
thoái kinh tế 1990-2000......................................................................................16
3.1. Biện pháp tài khóa của chính phủ Nhật Bản............................................16
3.2. Biện pháp tiền tệ của Ngân hàng Nhật Bản..............................................17
3.3. Đánh giá sự hiệu quả của các biện pháp chính sách................................18
KẾT LUẬN............................................................................................................19
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................20
4
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Giai đoạn suy thoái kinh tế 1990-2000 của Nhật Bản được xem "thập kỷ
mất mát”, gây ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế hội nước này. Việc nghiên
cứu biến động của tỷ lệ thất nghiệp chính sách tài khóa/tiền tệ trong giai đoạn
này ý nghĩa quan trọng trong việc rút ra bài học kinh nghiệm cho các quốc gia
đang và có nguy cơ rơi vào khủng hoảng kinh tế. Hơn nữa, đề tài này liên quan đến
nhiều lĩnh vực kinh tế học như kinh tế mô, thị trường lao động, chính sách tài
khóa tiền tệ, v.v. Do đó, nghiên cứu này thể góp phần bổ sung kiến thức về
mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩthị trường lao động, đặc biệt trong
giai đoạn khủng hoảng; nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao trong giai đoạn
suy thoái kinh tế 1990-2000 của Nhật Bản sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có
thể xây dựng các biện pháp hiệu quả để giảm thiểu tác động tiêu cực của khủng
hoảng kinh tế đối với thị trường lao động. Để hiểu rõ hơn về điều này, nhóm chúng
em đã chọn đề tài Biến động của tỉ lệ thất nghiệp chính sách tài khóa, tiền tệ
của Nhật Bản trong giai đoạn suy thoái kinh tế 1990-2000”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tàinhóm chúng em chọn đánh giá hiệu quả
của các chính sách tài khóa tiền tệ được thực thi bởi chính phủ Nhật Bản trong
giai đoạn này đối với thị trường lao động; xác định mối quan hệ nhân quả giữa biến
động của tỷ lệ thất nghiệp và các chính sách tài khóa/tiền tệ của Nhật Bản. Từ đó rút
ra bài học kinh nghiệm từ kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc ứng phó với khủng
hoảng kinh tế thị trường lao động. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng thể đóng
góp vào việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc duy trì
ổn định kinh tế vĩ mô và thị trường lao động.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Việc nghiên cứu về đề tài, nhóm chúng em đã thông qua các đối tượng nghiên
cứu biến động của tỉ lệ thất nghiệp chính sách tài khóa/ tiền tệ của Nhật Bản
giai đoạn suy thoái kinh tế 1990-2000.
4. Phương pháp nghiên cứu.
5
Để nghiên cứu một cách cụ thể, nhóm chúng em đã sử dung nhiều phương
pháp nghiên cứu như phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp; thu thập,
xử lý dữ liệu từ cấp thông tin thứ cấp.
6
Chương I: Cơ sở lí luận
1. Khái quát về tỉ lệ thất nghiệp
1.1 Định nghĩa về tỉ lệ thất nghiệp và các khái niệm liên quan
- Thất nghiệp: những người trong độ tuổi lao động, khả năng lao động
nhưng chưa có việc làm và mong muốn tìm kiếm được việc làm.
Có việc làm: Là những người đang làm một việc gì đó có thể tạo ra thu nhập.
Họ có thể đang làm cho các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, tự kinh doanh...có thể làm
bán thời gian hoặc toàn thời gian.
Lực lượng lao động : Là tổng số người thất nghiệp và người có việc làm.
Người không tham gia lực lượng lao động: Đó những người không thuộc
hai nhóm trên.
Tỷ lệ thất nghiệp: tỷ lệ % giữa số người thất nghiệp trong lực lượng lao
động của nền kinh tế.
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động: tỷ lệ % của lực lượng lao động so với
dân số trưởng thành.
1.2. Các loại tỉ lệ thất nghiệp
a, Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên:
tỉ lệ thất nghiệp khi thị trường lao động đạt trạng thái cân bằng. tỉ lệ
thất nghiệp bình thường mà tỉ lệ thất nghiệp thực tế biến động quanh nó.
b, Tỷ lệ thất nghiệp tạm thời
Là thất nghiệp do người lao động phải bỏ thời gian tìm kiếm việc làm.
c, Thất nghiệp cơ cấu
thất nghiệp xảy ra khi có nhiều người đang tìm kiếm việc làm trong một
thị trường lao động cụ thể hơn số việc làm có sẵn ở mức lương hiện tại..
Mối quan hệ giữa các loại thất nghiệp:
Thất nghiệp tự nhiên = thất nghiệp tạm thời + thất nghiệp cơ cấu
Thất nghiệp thực tế = thất nghiệp tự nhiên + thất nghiệp theo chu kì
1.3. Phương pháp tính toán tỉ lệ thất nghiệp
Tỉ lệ thất nghiệp=(Số người thất nghiệp)/(Lực lượng lao động)×100%
7
2. Khái quát về chính sách tài khoá
2.1. Định nghĩa và mục tiêu của chính sách tài khóa
2.1.1. Định nghĩa
- Chính sách tài khóathể hiểu là các biện pháp can thiệp của chính phủ đến
hệ thống thuế khóa chi tiêu của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu của nền
kinh tế như tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm hoặc ổn định giá c
lạm phát.
2.1.2. Mục tiêu
- Mục tiêu chính của chính sách tài khóa ổn định thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, giảm thất nghiệp kiểm soát lạm phát. Quyết định về chính sách này do
chính phủ đưa ra và thường được thực hiện qua quy trình ngân sách.
3. Các biện pháp và công cụ của chính sách tài khóa
3.1. Biện pháp của chính sách tài khoá
- Chính sách tài khóa mở rộng Việc Chính Phủ thực hiện các biện pháp như:
tăng chi tiêu, giảm thuế, hoặc kết hợp cả hai nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
tăng tổng cầu. Chính sách này thường được kết hợp cùng chính sách tiền tệ, làm nền
tảng để ổn định và phát triển kinh tế hiệu quả nhất.
+ Chính sách tài khóa mở rộng đóng vai trò trong việc cải thiện sản lượng của
nền kinh tế, tăng tổng cầu, tăng thêm việc làm cho người lao động, từ đó sự phát
triển của nền kinh tế.
+ Ngoài ra, chính sách này còn khuyến khích đầu tư, giảm gánh nặng chi phí
cho doanh nghiệp thông qua việc giảm thuế có thể tạo điều kiện thuận lợi để họ đầu
tư và phát triển, tăng cơ hội việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Chính sách tài khóa thắt chặt: hành động của Chính Phủ nhằm giảm chi
tiêu công, tăng thu nhập từ thuế, hoặc thực hiện cả hai biện pháp. Những biện pháp
này nhằm giảm tổng cầu, ngăn chặn tình trạng kinh tế phát triển quá nhanh. Chính
sách này thường được áp dụng khi nền kinh tế đang phát triển quá nóng, không ổn
định, và tỷ lệ lạm phát cao.
-> Khi Chính phủ giảm chi tiêu và tăng thuế, tình hình tài chính của người dân
giảm sút, dẫn đến tăng trưởng kinh tế chậm lại. Sự giảm tổng cầu này khiến doanh
nghiệp giảm sản xuất, giúp cân bằng giữa cung cầu, từ đó kiểm soát tình trạng
lạm phát. Nếu Chính sách tài khóa mở rộng liên quan đến thâm hụt chi tiêu, thì
Chính sách tài khóa thắt chặt thường đi kèm với thặng dư ngân sách.
8
3.2. Công cụ của chính sách tài khoá
Chính sách tài khoá có hai công cụ chủ yếu là chi tiêu của chính phủ và thuế.
a. Chi tiêu của chính phủ tổng số tiền mà Chính phủ chi trả cho các dịch vụ:
và hàng hóa.
-Chi tiêu chính phủ gồm hai loại: chi mua sắm hàng hoá dịch vụ và chi chuyển
nhượng.
+ Chi mua hàng hoá dịch vụ:việc chính phủ dùng ngân sách để mua vũ khí,
khí i, xây dựng đường sá, cầu cống các công trình kết cấu hạ tầng, trả lương
cho đội ngũ cán bộ nhà nước...
Chi mua sắm hàng hoá dịch vụ của chính phủ quyết định qui tương
đối của khu vực công trong GDP so với khu vực tư nhân.
Khi chính phủ tăng hay giảm chi mua sắm hàng hoá, dịch vụ của mình, nó sẽ
tác động đến tổng cầu với một tác động mang tính chất số nhân.
Cụ thể là, nếu chi mua sắm của chính phủ tăng lên một đồng sẽ làm tổng cầu
tăng nhiều hơn một đồng và ngược lại, nếu chi mua sắm của chính phủ giảm đi một
đồng thì sẽ làm tổng cầu thu hẹp với tốc độ nhanh hơn. Chính nhờ hiệu ứng số nhân
này mà chính phủ có thể sử dụng chi tiêu như một công cụ để điều tiết tổng cầu.
+ Chi chuyển nhượngcác khoản trợ cấp của chính phủ cho các đối tượng
chính sách như người nghèo hay các nhóm dễ bị tổn thương khác trong xã hội.
Khác với chi mua sắm hàng hoá dịch vụ, chi chuyển nhượng lại tác động
gián tiếp đến tổng cầu thông qua việc ảnh hưởng đến thu nhập và tiêu dùng cá nhân.
Khi chính phủ tăng chi chuyển nhượng sẽ làm tiêu dùng nhân tăng lên.
Một lần nữa, qua hiệu số nhân của tiêu dùng cá nhân, điều này sẽ làm gia tăng tổng
cầu.
b. Thuế Thuế một khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp của Nhà:
nước đối với các tổ chức các nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà
nước vì lợi ích chung.
- Khía cạnh thứ hai của Chính sách tài khoá là thuế cũng có ảnh hưởng đến nền
kinh tế nói chung theo hai cách:
+ Một mặt, ngược với chi chuyển nhượng, thuế làm giảm thu nhập khả dụng
của nhân, dẫn đến chi cho tiêu dùng hàng hoá dịch vụ của nhân giảm
xuống, khiến tổng cầu giảm và GDP giảm.
9
+ Mặt khác, thuế tác động m méo giá cả hàng hoá dịch vụ nên ảnh
hưởng đến hành vi và động cơ khuyến khích của cá nhân.
4. Ảnh hưởng của chính sách tài khóa lên tỷ lệ thất nghiệp và nền kinh tế
nói chung
4.1. Ảnh hưởng của chính sách tài khoá lên tỉ lệ thất nghiệp:
- Chính sách tài khoá có thể ảnh hưởng đến tỉ lệ thất nghiệp tùy thuộc vào cách
thực hiện và mục tiêu của chính sách đó. Một số ảnh hưởng phổ biến là:
Chính sách tài khóa ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, ví dụ như thông qua
giảm thuế hoặc tăng chi tiêu công sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới và giảm tỷ lệ
thất nghiệp.
Chính sách tài khoá ảnh hưởng đến chi tiêu chính phủ trong nhiều lĩnh vực,
nếu chính sách tạo ra các chương trình đào tạo người lao động, hỗ trợ việc làm hay
phát triển cơ sở hạ tầng để thúc đẩy kinh doanh có thể làm giảm tỉ lệ thất nghiệp
Các biện pháp thuếchính sách tiền tệ thực hiện trong Chính sách tài khoá
cũng có thể ảnh hưởng tới việc tạo ra việc làm và tỷ lệ thất nghiệp
Chính sách tài khóa thể tác động đến môi trường kinh doanh khuyến
khích sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ vừa. Điều này thể tạo ra nhiều
cơ hội việc làm mới, đặc biệt là trong các ngành công nghệ và sáng tạo.
4.2 Ảnh hưởng của chính sách tài khoá đối với nền kinh tế:
- Chính sách tài khoá được sử dụng nhằm điều hướng nền kinh tế đạt đến mục
tiêu đề ra. Trong dài hạn, mặc dù chính sách tài khóa có thể ảnh hưởng tới tiết kiệm,
đầu tư, điều chỉnh cơ cấu, tăng trưởng kinh tế; tuy nhiên trong ngắn hạn chính sách
này lại chủ yếu ảnh hưởng tới tổng cầu về hàng hóa, dịch vụ, tăng trưởng sản lượng,
ổn định giá cả, giảm tỷ lệ thất nghiệp.
- Chính sách tài khóa tác động đến nền kinh tế thông qua 4 yếu tố sau:
Công cụ giúp Chính phủ tác động đến tổng cầu, từ đó gâynh hưởng toàn
bộ nền kinh tế trong mọi trường hợp, giúp ổn định lại nền kinh tế đang biến động.
Sử dụng 2ng cụ thuế chi tiêu chính phủ, để thực hiện phân bổ hiệu
quả các nguồn lực của nền kinh tế. Thông qua chính sách tài khóa, Nhà nước
thể tập trung phát triển một lĩnh vực trọng tâm của đất nước.
Đây cũng công c hiệu quả giúp phân phối tái phân phối tổng sản
phẩm quốc dân. Từ đó tạo môi trường an toàn, ổn định cho đầu tư và tăng trưởng.
10
Mục tiêu chính yếu nhất của chính sách tài khóa là tăng trưởng và phát triển
nền kinh tế.
5. Các biện pháp và công cụ của chính sách tiền tệ
5.1. Định nghĩa và mục tiêu của chính sách tiền tệ
a. Định nghĩa:
- Chính sách tiền tệchính sách sử dụng các công cụ của hoạt động tín dụng
và ngoại hối để ổn định tiền tệ, từ đó ổn định nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng
phát triển
b. Mục tiêu:
- Chính sách tiền tệ nhằm vào hai mục tiêu lãi suất lượng cung tiền, tuy
nhiên thường không thể thực hiện hai mục tiêu này. Chỉ để điều tiết chu kỳ kinh tế ở
tình trạng thái bình thường, thì mục tiêu lãi suất được lựa chọn. Còn khi kinh tế quá
nóng hay kinh tế quá lạnh, chính sách tiền tệ sẽ nhằm vào mục tiêu trực tiếp hơn, đó
lượng cung tiền. Tùy theo mục tiêu, ngân hàng nhà nước thể sử dụng chính
sách tiền tệ mở rộng hoặc chính sách tiền tệ thu hẹp. Chính sách tiền tệ mở rộng
tăng cung tiền lên hơn mức bình thường và ngược lại là chính sách tiền tệ thắt chặt
5.2. Các biện pháp của chính sách tiền tệ
Điều chỉnh lãi suất
Ngân hàng trung ương có thể điều chỉnh lãi suất cơ bản để ảnh hưởng đến việc
vay mượn tiền, tiêu dùng đầu của các nhân, doanh nghiệp tổ chức tài
chính. Tăng lãi suất thường dẫn đến giảm tiêu dùng đầu tư, trong khi giảm lãi
suất thúc đẩy việc vay mượn và tiêu dùng
Mua và bán chứng khoán chính phủ
Ngân hàng trung ương thể mua hoặc bán chứng khoán chính phủ trên thị
trường mở hoặc thông qua các giao dịch trên thị trường phụ để điều chỉnh lượng
tiền trong hệ thống tài chính
Kiểm soát nguồn cung tiền tệ
Ngân hàng trung ương có thể thực hiện các biện pháp để kiểm soát nguồn cung
tiền tệ trong nền kinh tế bằng cách tăng hoặc giảm việc in tiền và mở rộng hoặc thu
hẹp nguồn cung tiền qua các biện pháp như mua và bán ngoại tệ
Thực hiện chính sách tiền tệ quan tâm đến mục tiêu
11
Chính sách tiền tệ thường được thiết lập với mục tiêu cụ thể như kiểm soát lạm
phát, tăng trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ hoặc kiểm soát tỷ giá hối đoái. Các biện
pháp tiền tệ được thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu này.
Ứng dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tài chính
Đối với các rủi ro tài chính, chính sách tiền tệ thể áp dụng các biện pháp
như giám sát ngân hàng, thiết lập các quy định về vốn và tài sản của các tổ chức tài
chính, thực hiện các biện pháp phòng ngừa để giảm thiểu nguy cho hệ thống
tài chính
Hỗ trợ tài chính cho ngân hàng và tổ chức tài chính
Trong các tình huống khẩn cấp hoặc khi cần thiết, ngân hàng trung ương có thể
cung cấp vốn hoặc hỗ trợ tài chính cho các tổ chức tài chính để duy trì ổn định hệ
thống tài chính.
- Các công cụ của chính sách tiền tệ
Công cụ tái cấp vốn
hình thức cấp tín dụng của ngân hàng Trung ương đối với các ngân hàng
thương mại. Khi cấp một khoản tín dụng cho ngân hàng thương mại, ngân hàng
Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân hàng thương
mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ.
Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc
một quy định của ngân hàng trung ương về tỷ lệ giữa tiền mặt tiền gửi
mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản.
Các ngân hàng thương mại thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dự trữ bắt
buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này.
Công cụ nghiệp vụ thị trường mở
hoạt động ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ giá trị ngắn hạn trên
thị trường tiền tệ, điều hoà cung cầu về giấy tờ giá, gây ảnh hưởng đến khối
lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng
tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền
tệ.
Công cụ lãi suất tín dụng
công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi sự thay đổi lãi
suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà
12
thể kích thích hay kìm hãm sản xuất. Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể
những chủ trương chính sáchgiải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm
điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định
Công cụ hạn mức tín dụng
Là một công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng Trung
ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng. Hạn
mức tín dụng mức nợ tối đa Ngân hàng Trung ương buộc các Ngân hàng
thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế
Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái tương quan sức mua giữa đồng nội tệ đồng ngoại tệ.
vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại hối.
Tỷ giá hối đoái công cụ, đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh
đến xuất khẩu hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Chính sách tỷ giá tác
động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hoá, tình trạng
tài chính, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữ của đất
nước. Về thực chất tỷ giá không phải công cụ của chính sách tiền tệ tỷ giá
không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông. Tuy nhiênnhiều nước, đặt biệt
các nước nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá công cụ hỗ trợ quan trọng
cho chính sách tiền tệ.
6. Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ lên tỷ lệ thất nghiệp và kinh tế nói
chung
- Ổn định giá thị trường
Ổn định giá cả mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ, nhằm loại bỏ vấn
đề biến động giá. Nó còn giúp Nhà nước hoạch định các mục tiêu phát triển kinh tế
một cách hiệu quả. Giá cả ổn định sẽ tạo môi trường đầu an toàn, ổn định. Điều
này hấp dẫn nhiều nhà đầu tư, giúp thu hút thêm nguồn vốn vào nền kinh tế, tạo
điều kiện cho việc tăng trưởng và phát triển nền kinh tế.
- Kiểm soát lạm phát
Lạm phát tình trạng giá hàng hóa chung tăng cao đồng tiền bị giảm giá
trị. Điều này khiến việc trao đổi hàng hóa trong nước và trao đổi hàng hóa với quốc
tế trở nên khó khăn. Ngân hàng Nhà nước sử dụng chính sách tiền tệ để bình ổn giá
cả hàng hóa, giá cả thị trường, từ đó kiểm soát được lạm phát.
- Tăng trưởng kinh tế
13
Mục tiêu quan trọng nhất của chính sách tiền tệ là tăng trưởng kinh tế. Dựa vào
sự điều chỉnh khối lượng cung tiền, chính sách này tác động tới lãi suất và tổng cầu.
Từ đó gia tăng đầu tư, tăng sản lượng chung tăng GDP. Đây chính dấu hiệu
của tăng trưởng kinh tế
- Giảm tỷ lệ thất nghiệp
Tạo ra công ăn việc làm mục tiêu của tất cả các chính sách kinh tế mô,
trong đó chính sách tiền tệ. Chính sách tiền tệ tác động làm tăng cung tiền, giúp
mở rộng quy của nền kinh tế. Các doanh nghiệp tăng cường sản xuất nên cần
nhiều nhân công hơn, từ đó tạo nhiều việc làm cho người dân, giảm tỷ lệ thất
nghiệp. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp giảm đồng nghĩa phải chấp nhận việc gia tăng
tỷ lệ lạm phát.
Chương II: Biến động của tỷ lệ thất nghiệp trong giai đoạn suy
thoái kinh tế 1990-2000 của Nhật Bản
2.1. Tổng quan về tình hình kinh tế và xã hội của Nhật Bản trong thập kỷ
1990-2000
Trong thập niên 1990, Nhật Bản đã trải qua thời suy thoái kinh tế kéo dài,
được gọi là thập kỉ mất mát (Loss Decade). Đây là kết quả của sự đổ vỡ nền kinh tế
bong bóng Nhật Bản những thập niên 80. Sau khi bong bóng tài sản vỡ vào
những năm 1990-1991, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản thấp hẳn đi. Bình
quân hàng năm trong suốt thập niên 1990, tổng sản phẩm quốc nội thực tế của Nhật
Bản lẫn tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người chỉ tăng 0,5%, thấp hơn so
với hầu hết các nước công nghiệp tiên tiến khác. Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng nhanh
qua từng năm
Năm 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998
GDP
(%)
5.5 2.9 0.4 0.3 0.6 1.4 2.9 -0.7 -0.9
Nguồn: Nikkei Shimbun và Japan Rearch Quaterly
Nếu như trong những năm 1980, tốc độ tăng trưởng GDP của Nhật Bản trung
bình khoảng 3,8% thì chỉ sau đó một thập kỷ - đến những năm 1990, tốc độ tăng
trưởng trung bình chỉ còn 1,3%, nền kinh tế trở nên trì trệ. Chính phủ đã phản ứng
trước cuộc khủng hoảng bằng việc hạ lãi suất, thực chính sách kích thích tài khóa.
Lãi suất được giữ ở mức thấp và gần ở mức 0%.
14
Với quy khổng lồ của nền kinh tế, cùng với sự giảm sút kéo dài củathì
con số giảm sút theo đơn vị đô la là rất lớn. Chỉ riêng năm 1997 Nhật Bản mất 79 tỷ
USD tương đương với quy của các nền kinh tế như: Philipin (83 tỷ USD),
Singapore (96 tỷ USD), Malaysia (98 tỷ USD).
Năm 1995 một trận động đất mạnh Kobe đã gây thiệt hại nặng nề về con
người và tài sản. Sự kiện này không chỉ gây tổn thất kinh tế lớn mà còn khiến người
dân Nhật Bản phải đối mặt với thách thức về an sinh xã hội.
2.2. Sự biến động của tỷ lệ thất nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng giai đoạn
1990 – 2000
2.2.1 Sự biến động của tỷ lệ thất nghiệp
Trong suốt giai đoạn 1980 - 1989, tỷ lệ thất nghiệp trung bình 2,5%. Khi
cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra trong suốt giai đoạn Thập kỷ mất mát (1990 -
1999), tỷ lệ thất nghiệp bình quân cũng chỉ tăng lên đến 3,09%. Trong giai đoạn tiếp
sau đó (2000 - 2009), tỷ lệ này ở mức 4,65%.
Đơn vị tính: %
Nguồn: World Bank (số liệu do Nhật Bản cung cấp)
Qua đồ thị, ta thể thấy nếu so sánh với các nước Mỹ Anh, tỷ lệ thất
nghiệp Nhật Bản luôn mức thấp. Sau cuộc khủng hoảng năm 2008, tỷ lệ thất
nghiệp Mỹ tăng từ 4,6% năm 2007 lên tới 9,6% năm 2010. Tương tự, tỷ lệ thất
nghiệp tại Anh tăng từ 5,3% năm 2008 lên 7,9% năm 2012. Trong khi đó, trong thời
15
kỳ khủng hoảng những năm 1990, tỷ lệ thất nghiệp tại Nhật Bản chỉ tăng từ 2,1%
năm 1990 lên cao nhất là 5,4% năm 2002 - một tỷ lệ thấp hơn nhiều so với tỷ lệ này
ở các nước Anh, Mỹ giai đoạn khủng hoảng.
Từng đất nước tỷ lệ thất nghiệp luôn đạt dưới mức 2%, thấp nhất trong
các nước phát triển. Vậy mà kể từ năm 1990, tỷ lệ thất nghiệp của đất nước này tăng
dần qua các năm cán mốc 5,5% vào năm 2003. Đặc biệt, trong số lao động độ
tuổi 24 trở xuống thì tỉ lệ thất nghiệp hơn 20%. Đây một vấn đề nan giải lớn
không chỉ về mặt phục hồi nền kinh tế đang bị giảm sút mà còn trở thành khó khăn
thách thức lớn về mặt xã hội.
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp
Sự suy giảm của thị trường bất động sản và thị trường tài chính
Sau khi thị trường bất động sản của Nhật Bản tăng trưởng mạnh trong những
năm 1980, giá nhà đất đã tăng đáng kể. Tuy nhiên, vào đầu những năm 1990,
Chính phủ Nhật bản đã siết chặt việc cho vay tài chính đối với bất động sản và ban
hành thuế đất nông nghiệp vào năm 1992 (đánh khá nặng vào đất thành thị). Kết
quả là thị trường bất động sản đã sụp đổ một cách chóng vánh, giá trị bất động sản
giảm trong suốt những năm 1990, giảm tới 70% vào năm 2001. Những năm 1980,
lượng cung tiền từ các ngân hàng đổ ra ầm ầm khiến thị trường chứng khoán tăng
vọt, chỉ trong vòng 4 năm (1985-1989) chỉ số Nikkei đã tăng gấp 3 lần. Thế nhưng
bắt đầu từ năm 1990, giá trị cổ phiếu giảm tới 60% trong hơn 2 năm (cuối năm 1989
đến 8/1992). Thảm họa tài chính bắt đầu xảy ra khi hàng loạt người dân tháo chạy,
đồng loạt rút tiền nhiều tổ chức kinh doanh tiền tệ của nước ngoài tại Nhật Bản
đã rút khỏi Tokyo và chuyển sang thị trường tài chính khác ở Châu Á. Hàng loạt các
công ty bị phá sản, không có tiền trả nợ ngân hàng; nhiều ngân hàng và các công ty
tài chính nguy phá sản ngày càng tăng. Cụ thể, 11 ngân hàng mạnh nhất của
Nhật Bản cũng như trên thế giới đã phải giảm tới 10% khả năng hoạt động trong 2
năm 1994, 1995; 5 tổ chức i chính lớn nhất của Nhật Bản cũng đã bị phá sản:
công ty chứng khoán Sanyo, công ty chứng khoán Yamaichi, công ty chứng khoán
Maruso, ngân hàng Hokaido Takushoku; ngân hàng Tokuyo.
Sự suy giảm của ngành công nghiệp truyền thống:
Trước tình trạng suy thoái kinh tế, các công ty Nhật Bản gặp khó khăn trong
việc tìm kiếm đầu ra cho hàng loạt các mặt hàng do họ sản xuất Điều này không chỉ
khiến các công ty thu hẹp quy sản xuất, giảm nguồn nhân lực còn nguy
cơ bị thua lỗ nặng và dẫn đến phá sản. Tính đến năm 1995 đãtới 15000 công ty
16
của Nhật bị phá sản, con s này còn tăng vọt lên thêm 10262 6 tháng đầu năm
1988. Các nền kinh tế mũi nhọn của Nhật Bản như sản xuất ô tôđiện tử cũng bị
ảnh hưởng một cách nặng nề, các công ty lớn nhất của Nhật Bản như: Hitachi,
Toshiba, Mitsubishi, Matssusshita và Fujitsu đều bị sa sút trong kinh doanh. Cụ thể,
lợi nhuận của Hitachi bị giảm tới 90%, Mitsubishi bị thua lỗ đến 40 tỷ yên vào năm
1997.
Ngoài ra sự già hóa dân số cũng góp phần tăng tỷ lệ thất nghiệp ở Nhật Bản vì
người lớn tuổi thường không muốn hoặc không muốn làm nhiều như người trẻ tuổi.
2.3. Tác động của tỷ lệ thất nghiệp lên kinh tế và xã hội của Nhật Bản
- Tình trạng giảm phát nghiêm trọng
Nhật Bản đã giảm mạnh cung tiền từ trên 11% năm 1990 xuống chỉ còn 0,6%
năm 1991 khiến cho nền kinh tế rơi vào giảm phát. Đầu tư vào tiêu dùng tư nhân bắt
đầu giảm mạnh giảm phát trở nên cực nghiêm trọng. Trước tình trạng thất
nghiệp ngày càng cao, lương thưởng bị cắt giảm liên tục làm cho thu nhập của
người dân ngày càng giảm. Điều này cùng với tâm bất an về triển vọng kinh tế
khiến nhu cầu chi tiêu trong nước ngày càng giảm. Đáng chú ý chi tiêu cho
tiêu dùng cá nhân vốn là một trong những động lực chính cho sự phát triển của kinh
tế Nhật Bản (chiếm 60% GDP). Dù Chính phủ đã chương trình kích cầu nội địa
nhưng tiêu dùng vẫn không tăng. Trong giai đoạn 1986-1990 nhu cầu trong nước
tăng với mức trung bình 5,4% nhưng năm 1992 chỉ tăng 0,9%, năm 1995 tăng
1,5%. Với lãi suất tiền gửi thấp cùng với lòng tin của người dân vào các tổ chức tín
dụng Nhật Bản giảm, người Nhật tăng tích lũy trong gia đình chứ không gửi vào
ngân hàng dẫn đến tình trạng khan hiếm tín dụng ngày càng tăng.
Áp lực trên hệ thống bảo hiểm xã hội
Tăng tỷ lệ thất nghiệp đồng thời tăng chi phí cho các chương trình bảo hiểm xã
hội như bảo hiểm thất nghiệp hay bảo hiểm y tế. Điều này đặt áp lực lớn cho ngân
sách chính phủ và có thể yêu cầu chính sách tài khóa để duy trì hệ thống này.
Giảm thu nhập và tăng tỉ lệ nghèo
Người lao động thất nghiệp thường gặp khó khăn trong việc duy trì mức sống
và đối mặt với nguy cơ rơi vào hoàn cảnh nghèo đói. Điều này có thể gây ra các vấn
đề xã hội tài chính khác như tăng chi phí cho các chương trình trợ cấp xã hội
y tế.
17
Chương III: Chính sách tài khóa tiền tệ của Nhật Bản
trong giai đoạn suy thoái kinh tế 1990-2000
3.1. Biện pháp tài khóa của chính phủ Nhật Bản
- Nhật Bản đã trải qua một giai đoạn đầy thách thức trong thập kỷ 1990-2000,
với sự suy giảm của nền kinh tế những thách thức lớn về tài chính. Trong bối
cảnh này, chính sách tài khóa của Nhật Bản đã đóng vai trò quan trọng trong việc
đối phó với các vấn đề kinh tế phức tạp. Dưới đây là một số biện pháp chính:
Chính phủ Nhật Bản đã triển khai nhiều gói lớn, với mụckích thích kinh tế
tiêu thúc đẩy tăng trưởng và phục hồi kinh tế khỏi suy thoái. Những biện pháp này
thường bao gồm việc tăng chi tiêu công cộng vào các lĩnh vực như cơ sở hạ tầng, y
tế, giáo dục và nghiên cứu phát triển.
Theo Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản, quy mô các gói kích
thích kinh tế vào những năm 1990 thường đạt hàng trăm tỷ Yên, tập trung vào việc
đầu vào sở hạ tầng hỗ trợ các ngành công nghiệp quan trọng như ô
điện tử.
Chính phủ đã cung cấp hỗ trợ tài khóa cho các ngành công nghiệp quan
trọng như công nghệ thông tin, công nghệ cao, và sản xuất ô tô. Việc này nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các ngành công nghiệp chiến lược giúp
củng cố vị thế kinh tế của Nhật Bản.
Chính phủ đã tăng cường như đường sắt,đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng
đường cao tốc, năng lượng tái tạo. Điều này giúp kích thích tăng trưởng kinh tế
và tạo ra việc làm trong nền kinh tế.
dụ: Các dự án lớn nhưu siêu tốc Shinkansen, các bệnh viện công lớn đã
được triển khai.
Chính phủ đã cung cấp các biện pháp tài khóa chokhuyến khích hỗ tr
các (SMEs), nhằm thúc đẩy sự đa dạng sự phát triểndoanh nghiệp nhỏ vừa
của nền kinh tế.
Mặc chính phủ đã tăng chi tiêu trong một số lĩnh vực, nhưng cũng nỗ
lực để , nhằm đảm bảo sự ổn định tàikiểm soát giảm thiểu tăng trưởng nợ công
chính và kinh tế dài hạn.
18
3.2. Biện pháp tiền tệ của Ngân hàng Nhật Bản
Để ứng phó với tình hình kinh tế suy thoái, Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) đã
thực hiện một số biện pháp tiền tệ, sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau, điển
hình như sau:
Chính sách tiền tệ lỏng lẻo: Tháng 7 năm 1991, BOJ dần nới lỏng tiền tệ. Họ
đã không nhận ra các nguy cơ giảm phát nợ tại thời điểm đó và theo đuổi chính sách
chống lạm phát “lạc quan”.
Điều chỉnh lãi suất: BOJ điều chỉnh lãi suất cơ bản nhằm kiểm soát lạm phát
và ổn định tỷ giá Yên
Trong tháng 4 năm 1992, BOJ đã giảm lãi tái suất chiết khấu đến 5 lần.
Giai đoạn 1990 2000, nền kinh tế Nhật Bản trải qua suy thoái kéo dài do
bong bóng tài sản đổ vỡ đầu những năm 1990. BOJ liên tục phải thực hiện giảm lãi
suất nhằm kích thích nền kinh tế, thậm chí lãi suất đã mức 0% vào tháng 2 năm
1999.
Trong bối cảnh kinh tế suy thoái, BOJ thể thực hiện chính sách tiền tệ
phục hồi kinh tế bằng cách cung cấp thanh khoản cho các ngân hàng doanh
nghiệp, giúp tăng cường tín dụng và kích thích hoạt động kinh tế.
BOJ bằng cách mua hoặc báncan thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối
Yên để ổn định tỷ giá ngoại tệ. Mục tiêu của việc này ổn định tỷ giá ngoại tệ,
giảm sự biến động đảm bảo sự ổn định trong hệ thống tài chính. Biện pháp này
thường được sử dụng khi đồng Yên quá mạnh hoặc quá yếu so với các đồng tiền
khác, để bảo vệ xuất khẩu và tăng cường cạnh tranh.
Hỗ trợ hệ thống tài chính: BOJ có thể cung cấp hỗ trợ cho hệ thống tài chính
bằng cách cung cấp vốn cho các ngân hàng hoặc thực hiện các biện pháp khác nhằm
ổn định hệ thống tài chính.
3.3. Đánh giá sự hiệu quả của các biện pháp chính sách
Giai đoạn 1990-2000 của Nhật Bản chứng kiến nền kinh tế suy thoái kéo dài và
nhiều thách thức lớn. Các biện pháp tài khóa tiền tệ được triển khai nhưng
hiệu quả không đảm bảo hoàn toànnhững khó khăn cấu trúc và tác động của các
yếu tố toàn cầu. các chính sách tài khóa tiền tệ đã phản ánh nỗ lựcTổng quát,
của chính phủ ngân hàng trung ương để ổn định nền kinh tế và tăng trưởng. Các
biện pháp tài khóa và tiền tệ trong giai đoạn này có thể đã giúp ổn định một số khía
cạnh của nền kinh tế Nhật Bản, nhưng hiệu quả của chúng cũng phụ thuộc vào
19
nhiều yếu tố khác nhau thể đánh giá khác nhau theo từng góc độ. Trong đó,
một sbiện pháp chỉ mang lại hiệu quả tạm thời. Kết quả cuối cùng của các biện
pháp này thường không đạt được sự hồi phục kinh tế mạnh mẽ bền vững
Nhật Bản mong đợi. Để cải thiện hiệu quả, cần phải sự phối hợp chặt chẽ giữa
các biện pháp tài khóa tiền tệ, cùng với sự linh hoạt định hình lại chiến lược
dài hạn để tái cơ cấu và tăng trưởng kinh tế bền vững.
20

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
ĐỀ TÀI: BIẾN ĐỘNG CỦA TỈ LỆ THẤT NGHIỆP VÀ
CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA/ TIỀN TỆ CỦA NHẬT BẢN
TRONG GIAI ĐOẠN SUY THOÁI KINH TẾ 1990-2000

Giảng viên hướng dẫn: ThS. Đào Duy Hà Lớp: K26KDQTC
Nhóm thực hiện: Nhóm 03 Thành viên nhóm: Họ và tên:
Hoàng Quỳnh Chi (NT) Mã SV: 26A4052957 Họ và tên:
Đỗ Thị Ánh Dương Mã SV: 26A4052969 Họ và tên: Vũ Thị Kim Anh Mã SV: 26A4052947 Họ và tên: Nguyễn Ngọc Linh Mã SV: 26A4050299 Họ và tên: Nguyễn Thanh Hương Mã SV: 26A4050276 Họ và tên: Nguyễn Thị Thuý Mã SV: 26A4051162 Họ và tên:
Hoàng Thị Ánh Tuyết Mã SV: 26A4051633 Hà Nội – 5/2024
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG NHÓM SỐ: 03
ĐỀ TÀI: BIẾN ĐỘNG CỦA TỈ LỆ THẤT NGHIỆP VÀ
CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA/ TIỀN TỆ CỦA NHẬT BẢN
TRONG GIAI ĐOẠN SUY THOÁI KINH TẾ 1990-2000
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................4

Chương I: Cơ sở lí luận...........................................................................................6
1.Khái quát về tỉ lệ thất nghiệp...........................................................................6
1.1 Định nghĩa về tỉ lệ thất nghiệp và các khái niệm liên quan.....................6
1.2. Các loại tỉ lệ thất nghiệp...........................................................................6
1.3. Phương pháp tính toán tỉ lệ thất nghiệp..................................................6
2. Khái quát về chính sách tài khoá....................................................................7
2.1. Định nghĩa và mục tiêu của chính sách tài khóa.....................................7
3. Các biện pháp và công cụ của chính sách tài khóa........................................7
3.1. Biện pháp của chính sách tài khóa...........................................................7
3.2. Công cụ của chính sách tài khóa..............................................................8
4. Ảnh hưởng của chính sách tài khóa lên tỷ lệ thất nghiệp và nền kinh tế nói
chung..................................................................................................................... 9

4.1. Ảnh hưởng của chính sách tài khóa lên tỉ lệ thất nghiệp:......................9
4.2 Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đối với nền kinh tế:........................9
5. Các biện pháp và công cụ của chính sách tiền tệ.........................................10
6. Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ lên tỷ lệ thất nghiệp và kinh tế nói
chung...................................................................................................................12

Chương II: Biến động của tỷ lệ thất nghiệp trong giai đoạn suy thoái kinh tế
1990-2000 của Nhật Bản........................................................................................13

2.1. Tổng quan về tình hình kinh tế và xã hội của Nhật Bản trong thập kỷ
1990-2000............................................................................................................13

2.2. Sự biến động của tỷ lệ thất nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng giai đoạn
1990 – 2000.........................................................................................................13

2.2.1 Sự biến động của tỷ lệ thất nghiệp.......................................................13
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp..........................................14
2.3. Tác động của tỷ lệ thất nghiệp lên kinh tế và xã hội của Nhật Bản.........15 3
Chương III: Chính sách tài khóa và tiền tệ của Nhật Bản trong giai đoạn suy
thoái kinh tế 1990-2000......................................................................................16

3.1. Biện pháp tài khóa của chính phủ Nhật Bản............................................16
3.2. Biện pháp tiền tệ của Ngân hàng Nhật Bản..............................................17
3.3. Đánh giá sự hiệu quả của các biện pháp chính sách................................18
KẾT LUẬN............................................................................................................19
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................20 4 LỜI MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài.
Giai đoạn suy thoái kinh tế 1990-2000 của Nhật Bản được xem là "thập kỷ
mất mát”, gây ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế và xã hội nước này. Việc nghiên
cứu biến động của tỷ lệ thất nghiệp và chính sách tài khóa/tiền tệ trong giai đoạn
này có ý nghĩa quan trọng trong việc rút ra bài học kinh nghiệm cho các quốc gia
đang và có nguy cơ rơi vào khủng hoảng kinh tế. Hơn nữa, đề tài này liên quan đến
nhiều lĩnh vực kinh tế học như kinh tế vĩ mô, thị trường lao động, chính sách tài
khóa và tiền tệ, v.v. Do đó, nghiên cứu này có thể góp phần bổ sung kiến thức về
mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và thị trường lao động, đặc biệt là trong
giai đoạn khủng hoảng; nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao trong giai đoạn
suy thoái kinh tế 1990-2000 của Nhật Bản sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có
thể xây dựng các biện pháp hiệu quả để giảm thiểu tác động tiêu cực của khủng
hoảng kinh tế đối với thị trường lao động. Để hiểu rõ hơn về điều này, nhóm chúng
em đã chọn đề tài “ Biến động của tỉ lệ thất nghiệp và chính sách tài khóa, tiền tệ
của Nhật Bản trong giai đoạn suy thoái kinh tế 1990-2000”. 2. Mục đích nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài mà nhóm chúng em chọn là đánh giá hiệu quả
của các chính sách tài khóa và tiền tệ được thực thi bởi chính phủ Nhật Bản trong
giai đoạn này đối với thị trường lao động; xác định mối quan hệ nhân quả giữa biến
động của tỷ lệ thất nghiệp và các chính sách tài khóa/tiền tệ của Nhật Bản. Từ đó rút
ra bài học kinh nghiệm từ kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc ứng phó với khủng
hoảng kinh tế và thị trường lao động. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng có thể đóng
góp vào việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc duy trì
ổn định kinh tế vĩ mô và thị trường lao động.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Việc nghiên cứu về đề tài, nhóm chúng em đã thông qua các đối tượng nghiên
cứu là biến động của tỉ lệ thất nghiệp và chính sách tài khóa/ tiền tệ của Nhật Bản
giai đoạn suy thoái kinh tế 1990-2000.
4. Phương pháp nghiên cứu. 5
Để nghiên cứu một cách cụ thể, nhóm chúng em đã sử dung nhiều phương
pháp nghiên cứu như phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp; thu thập,
xử lý dữ liệu từ cấp thông tin thứ cấp. 6
Chương I: Cơ sở lí luận
1. Khái quát về tỉ lệ thất nghiệp

1.1 Định nghĩa về tỉ lệ thất nghiệp và các khái niệm liên quan
- Thất nghiệp: Là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động
nhưng chưa có việc làm và mong muốn tìm kiếm được việc làm.
Có việc làm: Là những người đang làm một việc gì đó có thể tạo ra thu nhập.
Họ có thể đang làm cho các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, tự kinh doanh...có thể làm
bán thời gian hoặc toàn thời gian.
Lực lượng lao động : Là tổng số người thất nghiệp và người có việc làm.
Người không tham gia lực lượng lao động: Đó là những người không thuộc hai nhóm trên.
Tỷ lệ thất nghiệp: Là tỷ lệ % giữa số người thất nghiệp trong lực lượng lao động của nền kinh tế.
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động: Là tỷ lệ % của lực lượng lao động so với dân số trưởng thành.
1.2. Các loại tỉ lệ thất nghiệp
a, Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên:
 Là tỉ lệ thất nghiệp khi thị trường lao động đạt trạng thái cân bằng. Là tỉ lệ
thất nghiệp bình thường mà tỉ lệ thất nghiệp thực tế biến động quanh nó.
b, Tỷ lệ thất nghiệp tạm thời
 Là thất nghiệp do người lao động phải bỏ thời gian tìm kiếm việc làm. c, Thất nghiệp cơ cấu
 Là thất nghiệp xảy ra khi có nhiều người đang tìm kiếm việc làm trong một
thị trường lao động cụ thể hơn số việc làm có sẵn ở mức lương hiện tại..
Mối quan hệ giữa các loại thất nghiệp:
Thất nghiệp tự nhiên = thất nghiệp tạm thời + thất nghiệp cơ cấu
Thất nghiệp thực tế = thất nghiệp tự nhiên + thất nghiệp theo chu kì
1.3. Phương pháp tính toán tỉ lệ thất nghiệp
Tỉ lệ thất nghiệp=(Số người thất nghiệp)/(Lực lượng lao động)×100% 7
2. Khái quát về chính sách tài khoá
2.1. Định nghĩa và mục tiêu của chính sách tài khóa 2.1.1. Định nghĩa
- Chính sách tài khóa có thể hiểu là các biện pháp can thiệp của chính phủ đến
hệ thống thuế khóa và chi tiêu của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu của nền
kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm hoặc ổn định giá cả và lạm phát. 2.1.2. Mục tiêu
- Mục tiêu chính của chính sách tài khóa là ổn định và thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, giảm thất nghiệp và kiểm soát lạm phát. Quyết định về chính sách này do
chính phủ đưa ra và thường được thực hiện qua quy trình ngân sách.
3. Các biện pháp và công cụ của chính sách tài khóa
3.1. Biện pháp của chính sách tài khoá
- Chính sách tài khóa mở rộng: V
iệc Chính Phủ thực hiện các biện pháp như
tăng chi tiêu, giảm thuế, hoặc kết hợp cả hai nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
tăng tổng cầu. Chính sách này thường được kết hợp cùng chính sách tiền tệ, làm nền
tảng để ổn định và phát triển kinh tế hiệu quả nhất.
+ Chính sách tài khóa mở rộng đóng vai trò trong việc cải thiện sản lượng của
nền kinh tế, tăng tổng cầu, tăng thêm việc làm cho người lao động, từ đó sự phát triển của nền kinh tế.
+ Ngoài ra, chính sách này còn khuyến khích đầu tư, giảm gánh nặng chi phí
cho doanh nghiệp thông qua việc giảm thuế có thể tạo điều kiện thuận lợi để họ đầu
tư và phát triển, tăng cơ hội việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Chính sách tài khóa thắt chặt: là hành động của Chính Phủ nhằm giảm chi
tiêu công, tăng thu nhập từ thuế, hoặc thực hiện cả hai biện pháp. Những biện pháp
này nhằm giảm tổng cầu, ngăn chặn tình trạng kinh tế phát triển quá nhanh. Chính
sách này thường được áp dụng khi nền kinh tế đang phát triển quá nóng, không ổn
định, và tỷ lệ lạm phát cao.
-> Khi Chính phủ giảm chi tiêu và tăng thuế, tình hình tài chính của người dân
giảm sút, dẫn đến tăng trưởng kinh tế chậm lại. Sự giảm tổng cầu này khiến doanh
nghiệp giảm sản xuất, giúp cân bằng giữa cung và cầu, từ đó kiểm soát tình trạng
lạm phát. Nếu Chính sách tài khóa mở rộng liên quan đến thâm hụt chi tiêu, thì
Chính sách tài khóa thắt chặt thường đi kèm với thặng dư ngân sách. 8
3.2. Công cụ của chính sách tài khoá
Chính sách tài khoá có hai công cụ chủ yếu là chi tiêu của chính phủ và thuế.
a. Chi tiêu của chính phủ: là tổng số tiền mà Chính phủ chi trả cho các dịch vụ và hàng hóa.
-Chi tiêu chính phủ gồm hai loại: chi mua sắm hàng hoá dịch vụ và chi chuyển nhượng.
+ Chi mua hàng hoá dịch vụ: là việc chính phủ dùng ngân sách để mua vũ khí,
khí tài, xây dựng đường sá, cầu cống và các công trình kết cấu hạ tầng, trả lương
cho đội ngũ cán bộ nhà nước...
Chi mua sắm hàng hoá và dịch vụ của chính phủ quyết định qui mô tương
đối của khu vực công trong GDP so với khu vực tư nhân.
Khi chính phủ tăng hay giảm chi mua sắm hàng hoá, dịch vụ của mình, nó sẽ
tác động đến tổng cầu với một tác động mang tính chất số nhân.
Cụ thể là, nếu chi mua sắm của chính phủ tăng lên một đồng sẽ làm tổng cầu
tăng nhiều hơn một đồng và ngược lại, nếu chi mua sắm của chính phủ giảm đi một
đồng thì sẽ làm tổng cầu thu hẹp với tốc độ nhanh hơn. Chính nhờ hiệu ứng số nhân
này mà chính phủ có thể sử dụng chi tiêu như một công cụ để điều tiết tổng cầu.
+ Chi chuyển nhượng là các khoản trợ cấp của chính phủ cho các đối tượng
chính sách như người nghèo hay các nhóm dễ bị tổn thương khác trong xã hội.
Khác với chi mua sắm hàng hoá dịch vụ, chi chuyển nhượng lại có tác động
gián tiếp đến tổng cầu thông qua việc ảnh hưởng đến thu nhập và tiêu dùng cá nhân.
Khi chính phủ tăng chi chuyển nhượng sẽ làm tiêu dùng cá nhân tăng lên.
Một lần nữa, qua hiệu số nhân của tiêu dùng cá nhân, điều này sẽ làm gia tăng tổng cầu.
b. Thuế: Thuế là một khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp của Nhà
nước đối với các tổ chức và các cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước vì lợi ích chung.
- Khía cạnh thứ hai của Chính sách tài khoá là thuế cũng có ảnh hưởng đến nền
kinh tế nói chung theo hai cách:
+ Một mặt, ngược với chi chuyển nhượng, thuế làm giảm thu nhập khả dụng
của cá nhân, dẫn đến chi cho tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ của cá nhân giảm
xuống, khiến tổng cầu giảm và GDP giảm. 9
+ Mặt khác, thuế tác động làm méo mó giá cả hàng hoá và dịch vụ nên ảnh
hưởng đến hành vi và động cơ khuyến khích của cá nhân.
4. Ảnh hưởng của chính sách tài khóa lên tỷ lệ thất nghiệp và nền kinh tế nói chung
4.1. Ảnh hưởng của chính sách tài khoá lên tỉ lệ thất nghiệp:
- Chính sách tài khoá có thể ảnh hưởng đến tỉ lệ thất nghiệp tùy thuộc vào cách
thực hiện và mục tiêu của chính sách đó. Một số ảnh hưởng phổ biến là:
Chính sách tài khóa ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, ví dụ như thông qua
giảm thuế hoặc tăng chi tiêu công sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới và giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Chính sách tài khoá ảnh hưởng đến chi tiêu chính phủ trong nhiều lĩnh vực,
nếu chính sách tạo ra các chương trình đào tạo người lao động, hỗ trợ việc làm hay
phát triển cơ sở hạ tầng để thúc đẩy kinh doanh có thể làm giảm tỉ lệ thất nghiệp
Các biện pháp thuế và chính sách tiền tệ thực hiện trong Chính sách tài khoá
cũng có thể ảnh hưởng tới việc tạo ra việc làm và tỷ lệ thất nghiệp
Chính sách tài khóa có thể tác động đến môi trường kinh doanh và khuyến
khích sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều này có thể tạo ra nhiều
cơ hội việc làm mới, đặc biệt là trong các ngành công nghệ và sáng tạo.
4.2 Ảnh hưởng của chính sách tài khoá đối với nền kinh tế:
- Chính sách tài khoá được sử dụng nhằm điều hướng nền kinh tế đạt đến mục
tiêu đề ra. Trong dài hạn, mặc dù chính sách tài khóa có thể ảnh hưởng tới tiết kiệm,
đầu tư, điều chỉnh cơ cấu, tăng trưởng kinh tế; tuy nhiên trong ngắn hạn chính sách
này lại chủ yếu ảnh hưởng tới tổng cầu về hàng hóa, dịch vụ, tăng trưởng sản lượng,
ổn định giá cả, giảm tỷ lệ thất nghiệp.
- Chính sách tài khóa tác động đến nền kinh tế thông qua 4 yếu tố sau:
Công cụ giúp Chính phủ tác động đến tổng cầu, từ đó gây ảnh hưởng toàn
bộ nền kinh tế trong mọi trường hợp, giúp ổn định lại nền kinh tế đang biến động.
Sử dụng 2 công cụ là thuế và chi tiêu chính phủ, để thực hiện phân bổ hiệu
quả các nguồn lực của nền kinh tế. Thông qua chính sách tài khóa, Nhà nước có
thể tập trung phát triển một lĩnh vực trọng tâm của đất nước.
Đây cũng là công cụ hiệu quả giúp phân phối và tái phân phối tổng sản
phẩm quốc dân. Từ đó tạo môi trường an toàn, ổn định cho đầu tư và tăng trưởng. 10
Mục tiêu chính yếu nhất của chính sách tài khóa là tăng trưởng và phát triển nền kinh tế.
5. Các biện pháp và công cụ của chính sách tiền tệ
5.1. Định nghĩa và mục tiêu của chính sách tiền tệ a. Định nghĩa:
- Chính sách tiền tệ là chính sách sử dụng các công cụ của hoạt động tín dụng
và ngoại hối để ổn định tiền tệ, từ đó ổn định nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng và phát triển b. Mục tiêu:
- Chính sách tiền tệ nhằm vào hai mục tiêu là lãi suất và lượng cung tiền, tuy
nhiên thường không thể thực hiện hai mục tiêu này. Chỉ để điều tiết chu kỳ kinh tế ở
tình trạng thái bình thường, thì mục tiêu lãi suất được lựa chọn. Còn khi kinh tế quá
nóng hay kinh tế quá lạnh, chính sách tiền tệ sẽ nhằm vào mục tiêu trực tiếp hơn, đó
là lượng cung tiền. Tùy theo mục tiêu, ngân hàng nhà nước có thể sử dụng chính
sách tiền tệ mở rộng hoặc chính sách tiền tệ thu hẹp. Chính sách tiền tệ mở rộng là
tăng cung tiền lên hơn mức bình thường và ngược lại là chính sách tiền tệ thắt chặt
5.2. Các biện pháp của chính sách tiền tệ Điều chỉnh lãi suất
Ngân hàng trung ương có thể điều chỉnh lãi suất cơ bản để ảnh hưởng đến việc
vay mượn tiền, tiêu dùng và đầu tư của các cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức tài
chính. Tăng lãi suất thường dẫn đến giảm tiêu dùng và đầu tư, trong khi giảm lãi
suất thúc đẩy việc vay mượn và tiêu dùng
Mua và bán chứng khoán chính phủ
Ngân hàng trung ương có thể mua hoặc bán chứng khoán chính phủ trên thị
trường mở hoặc thông qua các giao dịch trên thị trường phụ để điều chỉnh lượng
tiền trong hệ thống tài chính
Kiểm soát nguồn cung tiền tệ
Ngân hàng trung ương có thể thực hiện các biện pháp để kiểm soát nguồn cung
tiền tệ trong nền kinh tế bằng cách tăng hoặc giảm việc in tiền và mở rộng hoặc thu
hẹp nguồn cung tiền qua các biện pháp như mua và bán ngoại tệ
Thực hiện chính sách tiền tệ quan tâm đến mục tiêu 11
Chính sách tiền tệ thường được thiết lập với mục tiêu cụ thể như kiểm soát lạm
phát, tăng trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ hoặc kiểm soát tỷ giá hối đoái. Các biện
pháp tiền tệ được thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu này.
Ứng dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tài chính
Đối với các rủi ro tài chính, chính sách tiền tệ có thể áp dụng các biện pháp
như giám sát ngân hàng, thiết lập các quy định về vốn và tài sản của các tổ chức tài
chính, và thực hiện các biện pháp phòng ngừa để giảm thiểu nguy cơ cho hệ thống tài chính
Hỗ trợ tài chính cho ngân hàng và tổ chức tài chính
Trong các tình huống khẩn cấp hoặc khi cần thiết, ngân hàng trung ương có thể
cung cấp vốn hoặc hỗ trợ tài chính cho các tổ chức tài chính để duy trì ổn định hệ thống tài chính.
- Các công cụ của chính sách tiền tệ Công cụ tái cấp vốn
Là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng Trung ương đối với các ngân hàng
thương mại. Khi cấp một khoản tín dụng cho ngân hàng thương mại, ngân hàng
Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân hàng thương
mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ.
Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Là một quy định của ngân hàng trung ương về tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi
mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản.
Các ngân hàng thương mại có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dự trữ bắt
buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này.
Công cụ nghiệp vụ thị trường mở
Là hoạt động ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá trị ngắn hạn trên
thị trường tiền tệ, điều hoà cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối
lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng
tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.
Công cụ lãi suất tín dụng
Là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi
suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có 12
thể kích thích hay kìm hãm sản xuất. Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể
những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm
điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định
Công cụ hạn mức tín dụng
Là một công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng Trung
ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng. Hạn
mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương buộc các Ngân hàng
thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Nó
vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại hối.
Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh
đến xuất khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Chính sách tỷ giá tác
động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hoá, tình trạng
tài chính, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữ của đất
nước. Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá
không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông. Tuy nhiên ở nhiều nước, đặt biệt
là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ.
6. Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ lên tỷ lệ thất nghiệp và kinh tế nói chung
- Ổn định giá thị trường
Ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ, nhằm loại bỏ vấn
đề biến động giá. Nó còn giúp Nhà nước hoạch định các mục tiêu phát triển kinh tế
một cách hiệu quả. Giá cả ổn định sẽ tạo môi trường đầu tư an toàn, ổn định. Điều
này hấp dẫn nhiều nhà đầu tư, giúp thu hút thêm nguồn vốn vào nền kinh tế, tạo
điều kiện cho việc tăng trưởng và phát triển nền kinh tế. - Kiểm soát lạm phát
Lạm phát là tình trạng giá hàng hóa chung tăng cao và đồng tiền bị giảm giá
trị. Điều này khiến việc trao đổi hàng hóa trong nước và trao đổi hàng hóa với quốc
tế trở nên khó khăn. Ngân hàng Nhà nước sử dụng chính sách tiền tệ để bình ổn giá
cả hàng hóa, giá cả thị trường, từ đó kiểm soát được lạm phát. - Tăng trưởng kinh tế 13
Mục tiêu quan trọng nhất của chính sách tiền tệ là tăng trưởng kinh tế. Dựa vào
sự điều chỉnh khối lượng cung tiền, chính sách này tác động tới lãi suất và tổng cầu.
Từ đó gia tăng đầu tư, tăng sản lượng chung và tăng GDP. Đây chính là dấu hiệu
của tăng trưởng kinh tế
- Giảm tỷ lệ thất nghiệp
Tạo ra công ăn việc làm là mục tiêu của tất cả các chính sách kinh tế vĩ mô,
trong đó có chính sách tiền tệ. Chính sách tiền tệ tác động làm tăng cung tiền, giúp
mở rộng quy mô của nền kinh tế. Các doanh nghiệp tăng cường sản xuất nên cần
nhiều nhân công hơn, từ đó tạo nhiều việc làm cho người dân, giảm tỷ lệ thất
nghiệp. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp giảm đồng nghĩa phải chấp nhận việc gia tăng tỷ lệ lạm phát.
Chương II: Biến động của tỷ lệ thất nghiệp trong giai đoạn suy
thoái kinh tế 1990-2000 của Nhật Bản
2.1. Tổng quan về tình hình kinh tế và xã hội của Nhật Bản trong thập kỷ 1990-2000

Trong thập niên 1990, Nhật Bản đã trải qua thời kì suy thoái kinh tế kéo dài,
được gọi là thập kỉ mất mát (Loss Decade). Đây là kết quả của sự đổ vỡ nền kinh tế
bong bóng Nhật Bản ở những thập niên 80. Sau khi bong bóng tài sản vỡ vào
những năm 1990-1991, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản thấp hẳn đi. Bình
quân hàng năm trong suốt thập niên 1990, tổng sản phẩm quốc nội thực tế của Nhật
Bản lẫn tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người chỉ tăng 0,5%, thấp hơn so
với hầu hết các nước công nghiệp tiên tiến khác. Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng nhanh qua từng năm Năm
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 GDP
5.5 2.9 0.4 0.3 0.6 1.4 2.9 -0.7 -0.9 (%)
Nguồn: Nikkei Shimbun và Japan Rearch Quaterly
Nếu như trong những năm 1980, tốc độ tăng trưởng GDP của Nhật Bản trung
bình khoảng 3,8% thì chỉ sau đó một thập kỷ - đến những năm 1990, tốc độ tăng
trưởng trung bình chỉ còn 1,3%, nền kinh tế trở nên trì trệ. Chính phủ đã phản ứng
trước cuộc khủng hoảng bằng việc hạ lãi suất, thực chính sách kích thích tài khóa.
Lãi suất được giữ ở mức thấp và gần ở mức 0%. 14
Với quy mô khổng lồ của nền kinh tế, cùng với sự giảm sút kéo dài của nó thì
con số giảm sút theo đơn vị đô la là rất lớn. Chỉ riêng năm 1997 Nhật Bản mất 79 tỷ
USD tương đương với quy mô của các nền kinh tế như: Philipin (83 tỷ USD),
Singapore (96 tỷ USD), Malaysia (98 tỷ USD).
Năm 1995 một trận động đất mạnh ở Kobe đã gây thiệt hại nặng nề về con
người và tài sản. Sự kiện này không chỉ gây tổn thất kinh tế lớn mà còn khiến người
dân Nhật Bản phải đối mặt với thách thức về an sinh xã hội.
2.2. Sự biến động của tỷ lệ thất nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng giai đoạn 1990 – 2000
2.2.1 Sự biến động của tỷ lệ thất nghiệp
Trong suốt giai đoạn 1980 - 1989, tỷ lệ thất nghiệp trung bình là 2,5%. Khi
cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra và trong suốt giai đoạn Thập kỷ mất mát (1990 -
1999), tỷ lệ thất nghiệp bình quân cũng chỉ tăng lên đến 3,09%. Trong giai đoạn tiếp
sau đó (2000 - 2009), tỷ lệ này ở mức 4,65%. Đơn vị tính: %
Nguồn: World Bank (số liệu do Nhật Bản cung cấp)
Qua đồ thị, ta có thể thấy nếu so sánh với các nước Mỹ và Anh, tỷ lệ thất
nghiệp ở Nhật Bản luôn ở mức thấp. Sau cuộc khủng hoảng năm 2008, tỷ lệ thất
nghiệp ở Mỹ tăng từ 4,6% năm 2007 lên tới 9,6% năm 2010. Tương tự, tỷ lệ thất
nghiệp tại Anh tăng từ 5,3% năm 2008 lên 7,9% năm 2012. Trong khi đó, trong thời 15
kỳ khủng hoảng những năm 1990, tỷ lệ thất nghiệp tại Nhật Bản chỉ tăng từ 2,1%
năm 1990 lên cao nhất là 5,4% năm 2002 - một tỷ lệ thấp hơn nhiều so với tỷ lệ này
ở các nước Anh, Mỹ giai đoạn khủng hoảng.
Từng là đất nước có tỷ lệ thất nghiệp luôn đạt dưới mức 2%, thấp nhất trong
các nước phát triển. Vậy mà kể từ năm 1990, tỷ lệ thất nghiệp của đất nước này tăng
dần qua các năm và cán mốc 5,5% vào năm 2003. Đặc biệt, trong số lao động ở độ
tuổi 24 trở xuống thì tỉ lệ thất nghiệp là hơn 20%. Đây là một vấn đề nan giải lớn
không chỉ về mặt phục hồi nền kinh tế đang bị giảm sút mà còn trở thành khó khăn
thách thức lớn về mặt xã hội.
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp
Sự suy giảm của thị trường bất động sản và thị trường tài chính
Sau khi thị trường bất động sản của Nhật Bản tăng trưởng mạnh trong những
năm 1980, giá nhà và đất đã tăng đáng kể. Tuy nhiên, vào đầu những năm 1990,
Chính phủ Nhật bản đã siết chặt việc cho vay tài chính đối với bất động sản và ban
hành thuế đất nông nghiệp vào năm 1992 (đánh khá nặng vào đất thành thị). Kết
quả là thị trường bất động sản đã sụp đổ một cách chóng vánh, giá trị bất động sản
giảm trong suốt những năm 1990, giảm tới 70% vào năm 2001. Những năm 1980,
lượng cung tiền từ các ngân hàng đổ ra ầm ầm khiến thị trường chứng khoán tăng
vọt, chỉ trong vòng 4 năm (1985-1989) chỉ số Nikkei đã tăng gấp 3 lần. Thế nhưng
bắt đầu từ năm 1990, giá trị cổ phiếu giảm tới 60% trong hơn 2 năm (cuối năm 1989
đến 8/1992). Thảm họa tài chính bắt đầu xảy ra khi hàng loạt người dân tháo chạy,
đồng loạt rút tiền và nhiều tổ chức kinh doanh tiền tệ của nước ngoài tại Nhật Bản
đã rút khỏi Tokyo và chuyển sang thị trường tài chính khác ở Châu Á. Hàng loạt các
công ty bị phá sản, không có tiền trả nợ ngân hàng; nhiều ngân hàng và các công ty
tài chính có nguy cơ phá sản ngày càng tăng. Cụ thể, 11 ngân hàng mạnh nhất của
Nhật Bản cũng như trên thế giới đã phải giảm tới 10% khả năng hoạt động trong 2
năm 1994, 1995; 5 tổ chức tài chính lớn nhất của Nhật Bản cũng đã bị phá sản:
công ty chứng khoán Sanyo, công ty chứng khoán Yamaichi, công ty chứng khoán
Maruso, ngân hàng Hokaido Takushoku; ngân hàng Tokuyo.
Sự suy giảm của ngành công nghiệp truyền thống:
Trước tình trạng suy thoái kinh tế, các công ty Nhật Bản gặp khó khăn trong
việc tìm kiếm đầu ra cho hàng loạt các mặt hàng do họ sản xuất Điều này không chỉ
khiến các công ty thu hẹp quy mô sản xuất, giảm nguồn nhân lực mà còn có nguy
cơ bị thua lỗ nặng và dẫn đến phá sản. Tính đến năm 1995 đã có tới 15000 công ty 16
của Nhật bị phá sản, con số này còn tăng vọt lên thêm 10262 ở 6 tháng đầu năm
1988. Các nền kinh tế mũi nhọn của Nhật Bản như sản xuất ô tô và điện tử cũng bị
ảnh hưởng một cách nặng nề, các công ty lớn nhất của Nhật Bản như: Hitachi,
Toshiba, Mitsubishi, Matssusshita và Fujitsu đều bị sa sút trong kinh doanh. Cụ thể,
lợi nhuận của Hitachi bị giảm tới 90%, Mitsubishi bị thua lỗ đến 40 tỷ yên vào năm 1997.
Ngoài ra sự già hóa dân số cũng góp phần tăng tỷ lệ thất nghiệp ở Nhật Bản vì
người lớn tuổi thường không muốn hoặc không muốn làm nhiều như người trẻ tuổi.
2.3. Tác động của tỷ lệ thất nghiệp lên kinh tế và xã hội của Nhật Bản
- Tình trạng giảm phát nghiêm trọng
Nhật Bản đã giảm mạnh cung tiền từ trên 11% năm 1990 xuống chỉ còn 0,6%
năm 1991 khiến cho nền kinh tế rơi vào giảm phát. Đầu tư vào tiêu dùng tư nhân bắt
đầu giảm mạnh và giảm phát trở nên cực kì nghiêm trọng. Trước tình trạng thất
nghiệp ngày càng cao, lương thưởng bị cắt giảm liên tục làm cho thu nhập của
người dân ngày càng giảm. Điều này cùng với tâm lý bất an về triển vọng kinh tế
khiến nhu cầu và chi tiêu trong nước ngày càng giảm. Đáng chú ý là chi tiêu cho
tiêu dùng cá nhân vốn là một trong những động lực chính cho sự phát triển của kinh
tế Nhật Bản (chiếm 60% GDP). Dù Chính phủ đã có chương trình kích cầu nội địa
nhưng tiêu dùng vẫn không tăng. Trong giai đoạn 1986-1990 nhu cầu trong nước
tăng với mức trung bình là 5,4% nhưng năm 1992 chỉ tăng 0,9%, năm 1995 tăng
1,5%. Với lãi suất tiền gửi thấp cùng với lòng tin của người dân vào các tổ chức tín
dụng Nhật Bản giảm, người Nhật tăng tích lũy trong gia đình chứ không gửi vào
ngân hàng dẫn đến tình trạng khan hiếm tín dụng ngày càng tăng.
Áp lực trên hệ thống bảo hiểm xã hội
Tăng tỷ lệ thất nghiệp đồng thời tăng chi phí cho các chương trình bảo hiểm xã
hội như bảo hiểm thất nghiệp hay bảo hiểm y tế. Điều này đặt áp lực lớn cho ngân
sách chính phủ và có thể yêu cầu chính sách tài khóa để duy trì hệ thống này.
Giảm thu nhập và tăng tỉ lệ nghèo
Người lao động thất nghiệp thường gặp khó khăn trong việc duy trì mức sống
và đối mặt với nguy cơ rơi vào hoàn cảnh nghèo đói. Điều này có thể gây ra các vấn
đề xã hội và tài chính khác như tăng chi phí cho các chương trình trợ cấp xã hội và y tế. 17
Chương III: Chính sách tài khóa và tiền tệ của Nhật Bản
trong giai đoạn suy thoái kinh tế 1990-2000
3.1. Biện pháp tài khóa của chính phủ Nhật Bản
- Nhật Bản đã trải qua một giai đoạn đầy thách thức trong thập kỷ 1990-2000,
với sự suy giảm của nền kinh tế và những thách thức lớn về tài chính. Trong bối
cảnh này, chính sách tài khóa của Nhật Bản đã đóng vai trò quan trọng trong việc
đối phó với các vấn đề kinh tế phức tạp. Dưới đây là một số biện pháp chính:
Chính phủ Nhật Bản đã triển khai nhiều gói kích thích kinh tế lớn, với mục
tiêu thúc đẩy tăng trưởng và phục hồi kinh tế khỏi suy thoái. Những biện pháp này
thường bao gồm việc tăng chi tiêu công cộng vào các lĩnh vực như cơ sở hạ tầng, y
tế, giáo dục và nghiên cứu phát triển.
Theo Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản, quy mô các gói kích
thích kinh tế vào những năm 1990 thường đạt hàng trăm tỷ Yên, tập trung vào việc
đầu tư vào cơ sở hạ tầng và hỗ trợ các ngành công nghiệp quan trọng như ô tô và điện tử.
Chính phủ đã cung cấp hỗ trợ tài khóa cho các ngành công nghiệp quan
trọng như công nghệ thông tin, công nghệ cao, và sản xuất ô tô. Việc này nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các ngành công nghiệp chiến lược và giúp
củng cố vị thế kinh tế của Nhật Bản.
Chính phủ đã tăng cường đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng như đường sắt,
đường cao tốc, và năng lượng tái tạo. Điều này giúp kích thích tăng trưởng kinh tế
và tạo ra việc làm trong nền kinh tế.
Ví dụ: Các dự án lớn như tàu siêu tốc Shinkansen, các bệnh viện công lớn đã được triển khai.
Chính phủ đã cung cấp các biện pháp khuyến khích và hỗ trợ tài khóa cho
các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), nhằm thúc đẩy sự đa dạng và sự phát triển của nền kinh tế.
Mặc dù chính phủ đã tăng chi tiêu trong một số lĩnh vực, nhưng cũng có nỗ
lực để kiểm soát và giảm thiểu tăng trưởng nợ công, nhằm đảm bảo sự ổn định tài
chính và kinh tế dài hạn. 18
3.2. Biện pháp tiền tệ của Ngân hàng Nhật Bản
Để ứng phó với tình hình kinh tế suy thoái, Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) đã
thực hiện một số biện pháp tiền tệ, sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau, điển hình như sau:
Chính sách tiền tệ lỏng lẻo: Tháng 7 năm 1991, BOJ dần nới lỏng tiền tệ. Họ
đã không nhận ra các nguy cơ giảm phát nợ tại thời điểm đó và theo đuổi chính sách
chống lạm phát “lạc quan”.
Điều chỉnh lãi suất: BOJ điều chỉnh lãi suất cơ bản nhằm kiểm soát lạm phát
và ổn định tỷ giá Yên
Trong tháng 4 năm 1992, BOJ đã giảm lãi tái suất chiết khấu đến 5 lần.
Giai đoạn 1990 – 2000, nền kinh tế Nhật Bản trải qua suy thoái kéo dài do
bong bóng tài sản đổ vỡ đầu những năm 1990. BOJ liên tục phải thực hiện giảm lãi
suất nhằm kích thích nền kinh tế, thậm chí lãi suất đã ở mức 0% vào tháng 2 năm 1999.
Trong bối cảnh kinh tế suy thoái, BOJ có thể thực hiện chính sách tiền tệ
phục hồi kinh tế bằng cách cung cấp thanh khoản cho các ngân hàng và doanh
nghiệp, giúp tăng cường tín dụng và kích thích hoạt động kinh tế.
BOJ can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối bằng cách mua hoặc bán
Yên để ổn định tỷ giá ngoại tệ. Mục tiêu của việc này là ổn định tỷ giá ngoại tệ,
giảm sự biến động và đảm bảo sự ổn định trong hệ thống tài chính. Biện pháp này
thường được sử dụng khi đồng Yên quá mạnh hoặc quá yếu so với các đồng tiền
khác, để bảo vệ xuất khẩu và tăng cường cạnh tranh.
Hỗ trợ hệ thống tài chính: BOJ có thể cung cấp hỗ trợ cho hệ thống tài chính
bằng cách cung cấp vốn cho các ngân hàng hoặc thực hiện các biện pháp khác nhằm
ổn định hệ thống tài chính.
3.3. Đánh giá sự hiệu quả của các biện pháp chính sách
Giai đoạn 1990-2000 của Nhật Bản chứng kiến nền kinh tế suy thoái kéo dài và
nhiều thách thức lớn. Các biện pháp tài khóa và tiền tệ dù được triển khai nhưng
hiệu quả không đảm bảo hoàn toàn vì những khó khăn cấu trúc và tác động của các
yếu tố toàn cầu. Tổng quát, các
chính sách tài khóa và tiền tệ đã phản ánh nỗ lực
của chính phủ và ngân hàng trung ương để ổn định nền kinh tế và tăng trưởng. Các
biện pháp tài khóa và tiền tệ trong giai đoạn này có thể đã giúp ổn định một số khía
cạnh của nền kinh tế Nhật Bản, nhưng hiệu quả của chúng cũng phụ thuộc vào 19
nhiều yếu tố khác nhau và có thể đánh giá khác nhau theo từng góc độ. Trong đó,
một số biện pháp chỉ mang lại hiệu quả tạm thời. Kết quả cuối cùng của các biện
pháp này thường không đạt được sự hồi phục kinh tế mạnh mẽ và bền vững mà
Nhật Bản mong đợi. Để cải thiện hiệu quả, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa
các biện pháp tài khóa và tiền tệ, cùng với sự linh hoạt và định hình lại chiến lược
dài hạn để tái cơ cấu và tăng trưởng kinh tế bền vững. 20