1
Câu 1 (4 điểm): Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu trong du lịch? Trình bày
những do làm hạn chế thu hút đầu du lịch vào Việt Nam những giải pháp, kiến
nghị để khắc phục?
Câu 2 (5 điểm): Trong năm vừa qua, tình hình kinh doanh của Công ty du lịch X, Tỉnh
Quảng Ninh thể hiện qua bảng số liệu dưới đây:
Các chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch Thực hiện
1. Tổng doanh thu T - -
- Doanh thu lữ hành inbound T 16.000 18.400
- Doanh thu lữ hành nội địa T 14.200 16.020
- Doanh thu dịch vụ khác T 7.800 7.580
2. Số lao động bình quân Người 80 82
- Số lao động trực tiếp bình quân Người 72 74
3. Tổng quỹ lương T 5.280 5.904
a, Thông qua các chỉ tiêu kinh doanh bảng trên, thể đánh giá: “Năm vừa qua, Công ty
du lịch X đã thực hiện tốt kế hoạch lao động tiền lương” hay không? Tại sao?
b, Trong bối cảnh hin nay, Công ty du lịch X cần làm để nâng cao năng suất lao động?
Bài làm:
Câu 1:
- Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu trong du lịch:
Sự phát triển của du lịch phụ thuộc chủ yếu vào lợi nhuận kỳ vọng tương lai (và các lợi
ích hội) các doanh nghiệp chính phủ dự báo từ các đầu du lịch của mình. Tính
chất không ổn định của du lịch nói chung từ thế kỷ trước đến nay làm cho sự tăng trưởng
toàn cầu của ngành nói chung thấp, khoảng 6% mỗi năm. Sự biến động của du lịch chủ
yếu bắt nguồn từ tính thời vụ các sự kiện bất thường như hoạt động khủng bố hoặc các
thảm họa tự nhiên, dịch bệnh. Tuy nhiên, một số nhân tố đặc biệt ảnh hưởng đến các
dự án đầu du lịch một cách riêng biệt theo khu vực.
+ Các nhân tố ngắn hạn:
Ngoài sự thay đổi của tỷ lệ lãi suất thị trường dự kiến sự biến động của lạm phát, thì
hai nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của dự án đầu du lịch trong kỳ
ngắn hạn. Thứ nhất sự thay đổi của dòng du khách do hoàn cảnh biến đổi các quốc
gia nguồn khách, quốc gia nơi đến hoặc mối liên hệ giữa hai quốc gia này gây ra. Điều đó
chủ yếu làm thay đổi hình cầu du lịch địa phương. Du lịch quốc tế sự nhạy cảm cao
2
với những thay đổi về tỷ giá ngoại tệ dẫn đến sự biến động của giá cả nơi xuất phát
nơi đến du lịch. Các chính sách tài chính chế kiểm soát của chính phủ, chi phí vận
chuyển hoặc thời tiết không thuận lợi theo mùa trong năm đều làm thay đổi đáng kể dòng
du khách. vậy, các nơi đến vị trí đặc biệt thể nhận hoặc không nhận được khả
năng sinh lợi của đầu du lịch.
Nhân tố ngắn hạn thứ hai mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhà cung ứng sản phẩm
du lịch. Khả năng tồn tại của các dự án motel ven đường cao tốc khách du lịch đi nhiều
tùy thuộc đáng kể vào các khu nghỉ dưỡng, bãi cắm trại, khách sạn các điểm hấp dẫn
nơi đến. Dự án đầu vào một khách sạn nghỉ dưỡng Hawaii hoặc Majorca tùy thuộc
vào các dịch vụ vận chuyển hàng không, vận chuyển mặt đất các hoạt động bán lẻ
điều hành tour các thị trường nguồn khách. Với các sản phẩm bổ sung, bất kỳ sản phẩm
nào cũng thể nhân tố hạn chế đầu như sức chứa của sân bay, các tiện nghi hoặc
phà biển phục vụ đi lại giữa các đảo. Do đó, các tác động chéo này đến khả năng tồn tại
của dự án đầu du lịch rất quan trọng.
+ Các nhân tố bất thường:
Các kỹ thuật kinh tế lượng kỹ thuật khác để dự đoán tác động của các nhân tố ảnh
hưởng ngắn hạn u trên ngày càng trở nên phức tạp, tuy nhiên các kỹ thuật này không
thể áp dụng trong đánh giá tác động của các sự kiện bất thường hoặc theo chu kỳ đối với
du lịch. Các nhà nghiên cứu thể ước tính được mức độ tác động những sự kiện đó
sẽ gây ra, nhưng không thể dự đoán được khi nào chúng xảy ra tính khốc liệt của
những sự kiện đó. Trong du lịch, các sự kiện này thường xảy ra các quốc gia nơi đến, do
đó ảnh hưởng đến các sản phẩm cung ng các liên kết lữ hành.
Các cuộc bãi công của nhân viên điều khiển tín hiệu hàng không (ở châu Âu), của phi
công (ở Úc) nạn không tặc những dụ về các sự kiện bất thường ảnh hưởng đến du
lịch trong những năm 80 của thế kỷ XX. Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 gây ảnh hưởng
bất lợi đến du lịch quốc tế khắp toàn cầu nhưng làm bùng nổ du lịch trong nước nhiều
quốc gia như một sự thay thế cho các chuyến đi du lịch nước ngoài. Sự thay đổi lớn giá
nhiên liệu cũng ảnh hưởng đến du lịch hàng không du lịch bằng ô tô. Bạo lực chính
trị các thảm họa tự nhiên như bão hoặc động đất thể vừa làm giảm cầu du lịch, vừa
phá hủy sở kinh doanh du lịch các quốc gia nơi đến. Tất cả sự kiện này cho thấy độ
tác động trễ đến ngành, với thời gian hồi phục khác nhau từ 2 tháng đến 5 năm. Do đó, dự
án đầu nào phụ thuộc vào thu nhập trong các thời kỳ này thì chỉ thể khả năng lợi
nhuận sau đó, hoặc nếu liên quan đến các chi phí vốn lớn thì thể không khả năng lợi
nhuận.
3
+ Các nhân tố dài hạn:
Các doanh nhân đang đầu vào các tiện nghi nơi đến, các điểm hấp dẫn quan trọng hoặc
các phương tiện vận chuyển cần nhiều vốn thì đều nhu cầu nhận diện các xu hướng
thay đổi tiềm năng những hội mới ý nghĩa trong du lịch. dụ, thị hiếu các
yêu cầu về tiện nghi của du khách thể thay đổi qua một số năm. Điều đó khuyến khích
nhu cầu đầu thay thế theo chu kỳ ngắn để nâng cấp các tiện nghi đạt tiêu chuẩn được
chấp nhận hiện tại; các tập đoàn khách sạn như ITT Sheraton thường lập quỹ cải tạo các
khách sạn mới sau ít nhất 3 năm khai trương. Không chỉ nhu cầu của khách du lịch bị ảnh
hưởng bởi kiểu mốt tìm kiếm “những trải nghiệm mới” những biến đổi về kinh tế
hội của các thị trường nguồn khách cũng ảnh hưởng không kém phần quan trọng.
Đầu dài hạn phải đáp ứng các yêu cầu về văn hóa của các thị trường tương lai hiện
tại điều đó thể chưa quan trọng.
Sự thay đổi môi trường bao gồm cả những vấn đề như sự chuyển dịch của khí hậu, khả
năng ảnh hưởng đến các nơi đến thông qua sự thay đổi trực tiếp một số thuộc tính của
chính sản phẩm du lịch thông qua sự lựa chọn các lợi thế về vị trí của các kiểu loại nơi
đến du lịch khác nhau. Các kỹ thuật dự đoán chỉ mới khai nhưng thể đúng lúc, cho
phép phân tích rủi ro một cách phù hợp được đưa vào các đánh giá đầu du lịch.
Một trong các nhân tố thể quan trọng nhất ảnh hưởng đến đầu du lịch sự thay đổi
công nghệ. Công nghệ của ngành sản xuất công nghiệp điều kiện tiên quyết đối với cầu
du lịch trong thế kỷ XIX, tạo ra các phương pháp sản xuất mới trong ngành chế tạo,
rút ngắn thời gian làm việc của người lao động, tạo ra năng lượng hơi nước để vận chuyển
được nhiều người bằng đường sắt đường biển. Trong thế kỷ XX, công nghệ giao thông
hàng không, đường bộ các phương tiện khác cho phép phát triển du lịch đại chúng tới
nhiều điểm đến du lịch hơn không bị giới hạn bởi đường sắt hoặc tàu biển. Các nhà
cung ứng điểm hấp dẫn du lịch cũng nhanh chóng tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật trong
các lĩnh vực như máy trò chơi, đi ô trong công viên chủ đề hoặc khu triển lãm các
trải nghiệm du lịch nhân tạo, dụ thể tái tạo môi trường hoang hoặc môi trường
dưới nước thay thế các môi trường nguyên bản. Công nghệ thông tin, công nghệ số đang
làm cho các thị trường du lịch hiệu quả hơn người tiêu dùng nhận được nhanh
chóng, đầy đủ các thông tin các nhà sản xuất phải cạnh tranh nhiều hơn trong quá trình
phân phối. Chắc chắn rằng các tiến bộ khoa học công nghệ sẽ tiếp tục những tác
động quan trọng đến sự phát triển của du lịch.
- Những do làm hạn chế thu hút đầu du lịch vào Việt Nam:
4
Việc thu hút đầu du lịch vào Việt Nam gặp phải nhiều thách thức do tác động của các
nhân tố ngắn hạn, bất thường dài hạn. Dưới đây phân tích chi tiết các nhân tố ảnh
hưởng đến khả năng thu hút đầu trong ngành du lịch:
+ Các nhân tố ngắn hạn:
a. Biến động dòng du khách thị trường quốc tế
Dòng du khách quốc tế thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự thay đổi của hoàn
cảnh các quốc gia nguồn khách hoặc các chính sách quốc tế. Các yếu tố như biến
động tỷ giá ngoại tệ, thay đổi giá cả tại các điểm đến, hoặc sự thay đổi trong chính
sách visa các quy định đi lại thể tác động trực tiếp đến dòng du khách. dụ:
Khi tỷ giá ngoại tệ thay đổi, giá dịch vụ du lịch thể thay đổi, khiến khách du lịch
giảm đi hoặc chuyển hướng sang các điểm đến khác giá cả hợp hơn.
b. Mối liên kết giữa các nhà cung cấp sản phẩm du lịch
Các dự án đầu du lịch thường phụ thuộc vào sự phối hợp của nhiều yếu tố khác
nhau như giao thông vận tải (hàng không, đường bộ), dịch vụ vận chuyển mặt đất,
khách sạn, khu nghỉ dưỡng, điểm tham quan các dịch vụ khác. Nếu một trong
những yếu tố này không đáp ứng được nhu cầu hoặc không đủ khả năng cung
cấp dịch vụ, sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái du lịch khả năng sinh lời của
dự án.
dụ: Một khách sạn nghỉ dưỡng địa phương thể phụ thuộc o các dịch vụ
vận chuyển hàng không hoặc phương tiện di chuyển mặt đất để duy trì sự hấp dẫn,
nhưng nếu dịch vụ vận chuyển không ổn định hoặc quá đắt đỏ, dự án sẽ khó thể
thu hút được khách du lịch.
+ Các nhân tố bất thường
a. Các sự kiện bất thường không thể dự đoán
Các sự kiện bất thường như chiến tranh, bạo loạn chính trị, thiên tai, hoặc dịch
bệnh thể gây ảnh hưởng mạnh đến ngành du lịch. Những sự kiện này thường
tính chất không thể đoán trước thể làm gián đoạn các dự án du lịch.
dụ: Sự bùng phát của dịch COVID-19 đã làm gián đoạn du lịch toàn cầu, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến việc thu hút du khách đầu vào ngành du lịch.
b. Các sự kiện không thể dự báo về kinh tế chính trị
Các cuộc bãi công, khủng hoảng chính trị, hoặc sự thay đổi trong các chính ch về
thị trường du lịch toàn cầu th tạo ra tác động tiêu cực đến ngành du lịch.
5
dụ: Các cuộc bãi công của nhân viên hàng không tại các khu vực khác nhau
hoặc các s cố như không tặc, tai nạn hàng không thể làm giảm sự hấp dẫn của
các điểm đến gây ảnh hưởng đến đầu trong ngành du lịch.
+ Các nhân tố dài hạn
a. Thay đổi thị hiếu yêu cầu của du khách
Thị hiếu du khách thay đổi theo thời gian. Các du khách hiện đại tìm kiếm những
trải nghiệm du lịch mới mẻ, đòi hỏi các tiện nghi hiện đại, quan tâm đến các vấn
đề như du lịch bền vững, du lịch xanh các trải nghiệm văn hóa sâu sắc.
Do đó, các nhà đầu du lịch cần nhận diện đúng những xu hướng thay đổi này để
duy trì sự cạnh tranh thu hút du khách trong dài hạn.
b. Biến đổi khí hậu sự thay đổi môi trường
Biến đổi khí hậu sự thay đổi môi trường thể ảnh hưởng đến các đặc điểm tự
nhiên của các điểm đến du lịch. Một số điểm đến thể mất đi sự hấp dẫn do tác
động của khí hậu hoặc thiên tai.
dụ: Các khu vực du lịch biển thể bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi mực nước
biển hoặc bão, trong khi các khu vực núi thể trở nên ít hấp dẫn hơn do s thay
đổi nhiệt độ hoặc tình trạng thiếu nước.
c. Sự thay đổi công nghệ
Công nghệ đang tác động mạnh mẽ đến ngành du lịch, từ công nghệ giao thông
vận tải cho đến các công cụ quản truyền thông trong du lịch. Việc không đầu
áp dụng công nghệ mới thể khiến các doanh nghiệp du lịch mất đi hội
cạnh tranh.
dụ: Sự phát triển của công nghệ thông tin các nền tảng trực tuyến giúp du
khách dễ dàng tiếp cận thông tin đặt dịch vụ, đồng thời giúp các nhà cung cấp
dịch vụ cạnh tranh về giá cả chất lượng.
d. Yêu cầu về văn hóa hội
Đầu du lịch dài hạn cần phải thích ứng với các thay đổi về yêu cầu văn hóa
hội của các thị trường nguồn khách. Các nhà đầu cần hiểu sự khác biệt về
nhu cầu, sở thích hành vi của du khách từ các quốc gia khác nhau để đưa ra các
sản phẩm dịch vụ phù hợp.
dụ: Các sản phẩm du lịch văn hóa hoặc du lịch sinh thái thể phù hợp hơn với
một số thị trường du khách cụ thể, trong khi những thị trường khác thể yêu cầu
các sản phẩm du lịch cao cấp hoặc các trải nghiệm du lịch độc đáo.
6
Câu 2:
Chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch Thực
hiện
So sánh kế hoạch
thực hiện
±
%
1. Doanh thu T - - - -
- Doanh thu lữ hành inbound T 16.000 18.400 2.400 15%
- Doanh thu lữ hành nội địa T 14.200 16.020 1.820 12,80%
- Doanh thu dịch vụ khác T 7.800 7.580 -220 -2,80%
2. Số lao động bình quân Người 80 82 2 2,50%
- Số lao động trực tiếp bình
quân Người 72 74 2 2,80%
3. Tổng quỹ lương T 5.280 5.904 624 11,80%
4. Doanh thu/1 lao động
bình quân Trđ/người 500 563,4 63,4 12,70%
5. Quỹ lương/1 lao động
bình quân Trđ/người 66 72 6 9,10%

Preview text:

1
Câu 1 (4 điểm): Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trong du lịch? Trình bày
những lý do làm hạn chế thu hút đầu tư du lịch vào Việt Nam và những giải pháp, kiến nghị để khắc phục?
Câu 2 (5 điểm): Trong năm vừa qua, tình hình kinh doanh của Công ty du lịch X, Tỉnh
Quảng Ninh thể hiện qua bảng số liệu dưới đây: Các chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch Thực hiện 1. Tổng doanh thu Trđ - - - Doanh thu lữ hành inbound Trđ 16.000 18.400
- Doanh thu lữ hành nội địa Trđ 14.200 16.020 - Doanh thu dịch vụ khác Trđ 7.800 7.580
2. Số lao động bình quân Người 80 82
- Số lao động trực tiếp bình quân Người 72 74 3. Tổng quỹ lương Trđ 5.280 5.904
a, Thông qua các chỉ tiêu kinh doanh ở bảng trên, có thể đánh giá: “Năm vừa qua, Công ty
du lịch X đã thực hiện tốt kế hoạch lao động – tiền lương” hay không? Tại sao?
b, Trong bối cảnh hiện nay, Công ty du lịch X cần làm gì để nâng cao năng suất lao động? Bài làm: Câu 1:
- Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trong du lịch:
Sự phát triển của du lịch phụ thuộc chủ yếu vào lợi nhuận kỳ vọng tương lai (và các lợi
ích xã hội) mà các doanh nghiệp và chính phủ dự báo từ các đầu tư du lịch của mình. Tính
chất không ổn định của du lịch nói chung từ thế kỷ trước đến nay làm cho sự tăng trưởng
toàn cầu của ngành nói chung là thấp, khoảng 6% mỗi năm. Sự biến động của du lịch chủ
yếu bắt nguồn từ tính thời vụ và các sự kiện bất thường như hoạt động khủng bố hoặc các
thảm họa tự nhiên, dịch bệnh. Tuy nhiên, có một số nhân tố đặc biệt ảnh hưởng đến các
dự án đầu tư du lịch một cách riêng biệt và theo khu vực.
+ Các nhân tố ngắn hạn:
Ngoài sự thay đổi của tỷ lệ lãi suất thị trường và dự kiến sự biến động của lạm phát, thì có
hai nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của dự án đầu tư du lịch trong kỳ
ngắn hạn. Thứ nhất là sự thay đổi của dòng du khách do hoàn cảnh biến đổi ở các quốc
gia nguồn khách, quốc gia nơi đến hoặc mối liên hệ giữa hai quốc gia này gây ra. Điều đó
chủ yếu làm thay đổi mô hình cầu du lịch địa phương. Du lịch quốc tế có sự nhạy cảm cao 2
với những thay đổi về tỷ giá ngoại tệ dẫn đến sự biến động của giá cả ở nơi xuất phát và
nơi đến du lịch. Các chính sách tài chính và cơ chế kiểm soát của chính phủ, chi phí vận
chuyển hoặc thời tiết không thuận lợi theo mùa trong năm đều làm thay đổi đáng kể dòng
du khách. Vì vậy, các nơi đến có vị trí đặc biệt có thể nhận hoặc không nhận được khả
năng sinh lợi của đầu tư du lịch.
Nhân tố ngắn hạn thứ hai là mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhà cung ứng sản phẩm
du lịch. Khả năng tồn tại của các dự án motel ven đường cao tốc có khách du lịch đi nhiều
tùy thuộc đáng kể vào các khu nghỉ dưỡng, bãi cắm trại, khách sạn và các điểm hấp dẫn ở
nơi đến. Dự án đầu tư vào một khách sạn nghỉ dưỡng ở Hawaii hoặc Majorca tùy thuộc
vào các dịch vụ vận chuyển hàng không, vận chuyển mặt đất và các hoạt động bán lẻ và
điều hành tour ở các thị trường nguồn khách. Với các sản phẩm bổ sung, bất kỳ sản phẩm
nào cũng có thể là nhân tố hạn chế đầu tư như sức chứa của sân bay, các tiện nghi hoặc
phà biển phục vụ đi lại giữa các đảo. Do đó, các tác động chéo này đến khả năng tồn tại
của dự án đầu tư du lịch là rất quan trọng.
+ Các nhân tố bất thường:
Các kỹ thuật kinh tế lượng và kỹ thuật khác để dự đoán tác động của các nhân tố ảnh
hưởng ngắn hạn nêu trên ngày càng trở nên phức tạp, tuy nhiên các kỹ thuật này không
thể áp dụng trong đánh giá tác động của các sự kiện bất thường hoặc theo chu kỳ đối với
du lịch. Các nhà nghiên cứu có thể ước tính được mức độ tác động mà những sự kiện đó
sẽ gây ra, nhưng không thể dự đoán được khi nào chúng xảy ra và tính khốc liệt của
những sự kiện đó. Trong du lịch, các sự kiện này thường xảy ra ở các quốc gia nơi đến, do
đó ảnh hưởng đến các sản phẩm cung ứng và các liên kết lữ hành.
Các cuộc bãi công của nhân viên điều khiển tín hiệu hàng không (ở châu Âu), của phi
công (ở Úc) và nạn không tặc là những ví dụ về các sự kiện bất thường ảnh hưởng đến du
lịch trong những năm 80 của thế kỷ XX. Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 gây ảnh hưởng
bất lợi đến du lịch quốc tế khắp toàn cầu nhưng làm bùng nổ du lịch trong nước ở nhiều
quốc gia như một sự thay thế cho các chuyến đi du lịch nước ngoài. Sự thay đổi lớn giá
nhiên liệu cũng có ảnh hưởng đến du lịch hàng không và du lịch bằng ô tô. Bạo lực chính
trị và các thảm họa tự nhiên như bão hoặc động đất có thể vừa làm giảm cầu du lịch, vừa
phá hủy cơ sở kinh doanh du lịch ở các quốc gia nơi đến. Tất cả sự kiện này cho thấy độ
tác động trễ đến ngành, với thời gian hồi phục khác nhau từ 2 tháng đến 5 năm. Do đó, dự
án đầu tư nào phụ thuộc vào thu nhập trong các thời kỳ này thì chỉ có thể có khả năng lợi
nhuận sau đó, hoặc nếu liên quan đến các chi phí vốn lớn thì có thể không có khả năng lợi nhuận. 3 + Các nhân tố dài hạn:
Các doanh nhân đang đầu tư vào các tiện nghi nơi đến, các điểm hấp dẫn quan trọng hoặc
các phương tiện vận chuyển cần nhiều vốn thì đều có nhu cầu nhận diện rõ các xu hướng
thay đổi tiềm năng và những cơ hội mới có ý nghĩa trong du lịch. Ví dụ, thị hiếu và các
yêu cầu về tiện nghi của du khách có thể thay đổi qua một số năm. Điều đó khuyến khích
nhu cầu đầu tư thay thế theo chu kỳ ngắn để nâng cấp các tiện nghi đạt tiêu chuẩn được
chấp nhận hiện tại; các tập đoàn khách sạn như ITT Sheraton thường lập quỹ cải tạo các
khách sạn mới sau ít nhất 3 năm khai trương. Không chỉ nhu cầu của khách du lịch bị ảnh
hưởng bởi kiểu mốt và tìm kiếm “những trải nghiệm mới” mà những biến đổi về kinh tế
và xã hội của các thị trường nguồn khách cũng có ảnh hưởng không kém phần quan trọng.
Đầu tư dài hạn phải đáp ứng các yêu cầu về văn hóa của các thị trường tương lai mà hiện
tại điều đó có thể chưa quan trọng.
Sự thay đổi môi trường bao gồm cả những vấn đề như sự chuyển dịch của khí hậu, có khả
năng ảnh hưởng đến các nơi đến thông qua sự thay đổi trực tiếp một số thuộc tính của
chính sản phẩm du lịch và thông qua sự lựa chọn các lợi thế về vị trí của các kiểu loại nơi
đến du lịch khác nhau. Các kỹ thuật dự đoán chỉ mới sơ khai nhưng có thể đúng lúc, cho
phép phân tích rủi ro một cách phù hợp và được đưa vào các đánh giá đầu tư du lịch.
Một trong các nhân tố có thể quan trọng nhất ảnh hưởng đến đầu tư du lịch là sự thay đổi
công nghệ. Công nghệ của ngành sản xuất công nghiệp là điều kiện tiên quyết đối với cầu
du lịch trong thế kỷ XIX, vì nó tạo ra các phương pháp sản xuất mới trong ngành chế tạo,
rút ngắn thời gian làm việc của người lao động, tạo ra năng lượng hơi nước để vận chuyển
được nhiều người bằng đường sắt và đường biển. Trong thế kỷ XX, công nghệ giao thông
hàng không, đường bộ và các phương tiện khác cho phép phát triển du lịch đại chúng tới
nhiều điểm đến du lịch hơn mà không bị giới hạn bởi đường sắt hoặc tàu biển. Các nhà
cung ứng điểm hấp dẫn du lịch cũng nhanh chóng tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật trong
các lĩnh vực như máy trò chơi, đi ô tô trong công viên chủ đề hoặc khu triển lãm và các
trải nghiệm du lịch nhân tạo, ví dụ có thể tái tạo môi trường hoang dã hoặc môi trường
dưới nước thay thế các môi trường nguyên bản. Công nghệ thông tin, công nghệ số đang
làm cho các thị trường du lịch có hiệu quả hơn vì người tiêu dùng nhận được nhanh
chóng, đầy đủ các thông tin và các nhà sản xuất phải cạnh tranh nhiều hơn trong quá trình
phân phối. Chắc chắn rằng các tiến bộ khoa học và công nghệ sẽ tiếp tục có những tác
động quan trọng đến sự phát triển của du lịch.
- Những lý do làm hạn chế thu hút đầu tư du lịch vào Việt Nam: 4
Việc thu hút đầu tư du lịch vào Việt Nam gặp phải nhiều thách thức do tác động của các
nhân tố ngắn hạn, bất thường và dài hạn. Dưới đây là phân tích chi tiết các nhân tố ảnh
hưởng đến khả năng thu hút đầu tư trong ngành du lịch:
+ Các nhân tố ngắn hạn:
a. Biến động dòng du khách và thị trường quốc tế
Dòng du khách quốc tế có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự thay đổi của hoàn
cảnh ở các quốc gia nguồn khách hoặc các chính sách quốc tế. Các yếu tố như biến
động tỷ giá ngoại tệ, thay đổi giá cả tại các điểm đến, hoặc sự thay đổi trong chính
sách visa và các quy định đi lại có thể tác động trực tiếp đến dòng du khách. Ví dụ:
Khi tỷ giá ngoại tệ thay đổi, giá dịch vụ du lịch có thể thay đổi, khiến khách du lịch
giảm đi hoặc chuyển hướng sang các điểm đến khác có giá cả hợp lý hơn.
b. Mối liên kết giữa các nhà cung cấp sản phẩm du lịch
Các dự án đầu tư du lịch thường phụ thuộc vào sự phối hợp của nhiều yếu tố khác
nhau như giao thông vận tải (hàng không, đường bộ), dịch vụ vận chuyển mặt đất,
khách sạn, khu nghỉ dưỡng, điểm tham quan và các dịch vụ khác. Nếu một trong
những yếu tố này không đáp ứng được nhu cầu hoặc không có đủ khả năng cung
cấp dịch vụ, sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái du lịch và khả năng sinh lời của dự án.
Ví dụ: Một khách sạn nghỉ dưỡng ở địa phương có thể phụ thuộc vào các dịch vụ
vận chuyển hàng không hoặc phương tiện di chuyển mặt đất để duy trì sự hấp dẫn,
nhưng nếu dịch vụ vận chuyển không ổn định hoặc quá đắt đỏ, dự án sẽ khó có thể
thu hút được khách du lịch.
+ Các nhân tố bất thường
a. Các sự kiện bất thường và không thể dự đoán
Các sự kiện bất thường như chiến tranh, bạo loạn chính trị, thiên tai, hoặc dịch
bệnh có thể gây ảnh hưởng mạnh đến ngành du lịch. Những sự kiện này thường có
tính chất không thể đoán trước và có thể làm gián đoạn các dự án du lịch.
Ví dụ: Sự bùng phát của dịch COVID-19 đã làm gián đoạn du lịch toàn cầu, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến việc thu hút du khách và đầu tư vào ngành du lịch.
b. Các sự kiện không thể dự báo về kinh tế và chính trị
Các cuộc bãi công, khủng hoảng chính trị, hoặc sự thay đổi trong các chính sách về
thị trường du lịch toàn cầu có thể tạo ra tác động tiêu cực đến ngành du lịch. 5
Ví dụ: Các cuộc bãi công của nhân viên hàng không tại các khu vực khác nhau
hoặc các sự cố như không tặc, tai nạn hàng không có thể làm giảm sự hấp dẫn của
các điểm đến và gây ảnh hưởng đến đầu tư trong ngành du lịch. + Các nhân tố dài hạn
a. Thay đổi thị hiếu và yêu cầu của du khách
Thị hiếu du khách thay đổi theo thời gian. Các du khách hiện đại tìm kiếm những
trải nghiệm du lịch mới mẻ, đòi hỏi các tiện nghi hiện đại, và quan tâm đến các vấn
đề như du lịch bền vững, du lịch xanh và các trải nghiệm văn hóa sâu sắc.
Do đó, các nhà đầu tư du lịch cần nhận diện đúng những xu hướng thay đổi này để
duy trì sự cạnh tranh và thu hút du khách trong dài hạn.
b. Biến đổi khí hậu và sự thay đổi môi trường
Biến đổi khí hậu và sự thay đổi môi trường có thể ảnh hưởng đến các đặc điểm tự
nhiên của các điểm đến du lịch. Một số điểm đến có thể mất đi sự hấp dẫn do tác
động của khí hậu hoặc thiên tai.
Ví dụ: Các khu vực du lịch biển có thể bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi mực nước
biển hoặc bão, trong khi các khu vực núi có thể trở nên ít hấp dẫn hơn do sự thay
đổi nhiệt độ hoặc tình trạng thiếu nước.
c. Sự thay đổi công nghệ
Công nghệ đang tác động mạnh mẽ đến ngành du lịch, từ công nghệ giao thông
vận tải cho đến các công cụ quản lý và truyền thông trong du lịch. Việc không đầu
tư và áp dụng công nghệ mới có thể khiến các doanh nghiệp du lịch mất đi cơ hội cạnh tranh.
Ví dụ: Sự phát triển của công nghệ thông tin và các nền tảng trực tuyến giúp du
khách dễ dàng tiếp cận thông tin và đặt dịch vụ, đồng thời giúp các nhà cung cấp
dịch vụ cạnh tranh về giá cả và chất lượng.
d. Yêu cầu về văn hóa và xã hội
Đầu tư du lịch dài hạn cần phải thích ứng với các thay đổi về yêu cầu văn hóa và
xã hội của các thị trường nguồn khách. Các nhà đầu tư cần hiểu rõ sự khác biệt về
nhu cầu, sở thích và hành vi của du khách từ các quốc gia khác nhau để đưa ra các
sản phẩm và dịch vụ phù hợp.
Ví dụ: Các sản phẩm du lịch văn hóa hoặc du lịch sinh thái có thể phù hợp hơn với
một số thị trường du khách cụ thể, trong khi những thị trường khác có thể yêu cầu
các sản phẩm du lịch cao cấp hoặc các trải nghiệm du lịch độc đáo. 6 Câu 2: Chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch Thực So sánh kế hoạch và thực hiện hiện % ± 1. Doanh thu Trđ - - - -
- Doanh thu lữ hành inbound Trđ 16.000 18.400 2.400 15%
- Doanh thu lữ hành nội địa Trđ 14.200 16.020 1.820 12,80% - Doanh thu dịch vụ khác Trđ 7.800 7.580 -220 -2,80%
2. Số lao động bình quân Người 80 82 2 2,50% quân Người 72 74 2 2,80%
- Số lao động trực tiếp bình 3. Tổng quỹ lương Trđ 5.280 5.904 624 11,80% bình quân Trđ/người 500 563,4 63,4 12,70% 4. Doanh thu/1 lao động bình quân Trđ/người 66 72 6 9,10% 5. Quỹ lương/1 lao động