



















Preview text:
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG BÀI TẬP LỚN MÔN: KINH TẾ VĨ MÔ
ĐỀ TÀI: TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH BỆNH
COVID-19 ĐẾN TỶ LỆ THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP NHÓM 8
Giảng viên hướng dẫn: Đặng Thị Thúy Duyên HÀ NỘI – 10/2023 1 DANH SÁCH THÀNH VIÊN STT Họ và tên Mã sinh viên 1 Dương Thu Huyền 26A4011966 2 Nguyễn Thị Mai Huyền 26A4011969 3 Bùi Thị Ngọc Huyền 26A4011965 4 Phạm Thị Thu Hiền 26A4011553 5 Trần Thị Thu Huệ 26A4011960 6 Nguyễn Thị Hạnh 26A4011547 2 LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế vĩ mô là môn học nghiên cứu hành vi của nền kinh tế tổng thể nhằm
giải quyết vấn đề khan hiếm nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế.
Trong nền kinh tế, thất nghiệp luôn là một trong những vấn đề được quan
tâm hàng đầu. Bất kỳ quốc gia nào dù phát triển đến đâu thì vẫn luôn tồn tại thất
nghiệp. Tuy nhiên, vì thời gian không cho phép nên bài viết này chúng em sẽ chỉ
đề cập đến vấn đề thất nghiệp của Việt Nam trong giai đoạn dịch bệnh COVID-
19 – thời điểm mà nền kinh tế Việt Nam xảy ra những biến động lớn.
Nghiên cứu về kinh tế, cụ thể là thất nghiệp trong kinh tế vĩ mô sẽ giúp cho
Việt Nam tìm được lối đi đúng đắn, giảm thiểu thất nghiệp, cải thiện chất lượng
nhân công cũng như nâng cao đời sống của người lao động. Tìm hiểu về thất
nghiệp, ta thấy được thất nghiệp không phải là thứ gì xa lạ, nó ảnh hưởng trực
tiếp tới cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Song nghiên cứu một vấn đề là để có
thể đi tới tìm ra nguyên nhân giải pháp phù hợp, cùng tiến tới một mục đích
chung là phát triển kinh tế, phát triển xã hội.
Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề thất nghiệp, nhóm chúng em đã
chọn nghiên cứu đề tài “Tác động của dịch bệnh COVID-19 đến tỉ lệ thất nghiệp
của Việt Nam và giải pháp” trên các cơ sở lý thuyết về thất nghiệp trong môn
học Kinh tế vĩ mô, vận dụng hiểu biết cá nhân về thực trạng thất nghiệp trong
giai đoạn dịch bệnh ở Việt Nam, sau đó chỉ ra nguyên nhân, đề ra giải pháp giải quyết vấn đề.
Dù nhóm chúng em đã cố gắng và cẩn thận, song không thể tránh khỏi
những khiếm khuyết về cả nội dung kiến thức và cách trình bày. Chúng em rất
mong nhận được những ý kiến góp ý của cô để bổ sung kiến thức và tiếp tục
hoàn thiện hơn nữa trong quá trình học tập sắp tới. 3
Chúng em xin trân trọng cảm ơn!
Tập thể nhóm 8 – K26TCB MỤC LỤC NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN.........................................................................5
1.1. Khái quát về thất nghiệp..............................................................................5
1.1.1. Khái niệm...............................................................................................5
1.1.2. Phân loại thất nghiệp.............................................................................5
1.2. Khái quát đại dịch COVID – 19..................................................................7
1.2.1. Khái niệm...............................................................................................7
1.2.2. Tình hình dịch bệnh tại Việt Nam..........................................................7
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÁC TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH BỆNH COVID-
19 ĐẾN TỶ LỆ THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM..........................................9
2.1. Tình hình việc làm của Việt Nam giai đoạn trước đại dịch Covid-19.........9
2.2. Tỉ lệ thất nghiệp và tình hình việc làm của Việt Nam trong đại dịch
COVID-19............................................................................................................11
2.2.1. Khái quát chung nền kinh tế Việt Nam trong đại dịch.........................11
2.2.2. COVID-19 tác động đến doanh nghiệp...............................................11
2.2.3. COVID-19 tác động đến người lao động.............................................15
2.3. Tỉ lệ thất nghiệp và tình hình việc làm của Việt Nam sau đại dịch COVID-
19.......................................................................................................................19
2.3.1. Tác động đến doanh nghiệp.................................................................19
2.3.2. Tác động đến người lao động..............................................................22
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP.................................................................................29
3.1. Chính sách của chính phủ ( trong và sau dịch COVID-19).......................29
3.3. Giải pháp đề xuất cho người lao động.......................................................31
KẾT LUẬN.........................................................................................................33
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................34 4 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái quát về thất nghiệp
1.1.1. Khái niệm
Thất nghiệp là một bộ phận lực lượng lao động xã hội, trong độ tuổi lao
động, có khả năng lao động, có nhu cầu lao động nhưng chưa có việc làm.
VD: Học sinh của Học Viện Ngân Hàng mới ra trường và đang tìm kiếm việc làm
Tỷ lệ thất nghiệp là một chỉ số kinh tế quan trọng, đo lường phần trăm
người lao động trong một quốc gia hoặc khu vực nhất định mà không có
việc làm và đang tìm kiếm việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm
giữa số người thất nghiệp trong tổng số lực lượng lao động của nền kinh tế.
Công thức tính tỷ lệ thất nghiệp: u = U. L
Trong đó, u là tỷ lệ thất nghiệp
U là số người thất nghiệp
L là lực lượng lao động
1.1.2. Phân loại thất nghiệp
Có nhiều hình thức phân loại thất nghiệp như: Theo cơ cấu dân cư, theo lý
do hay nguồn gốc thất nghiệp,…
Phân loại theo cơ cấu dân cư:
Thất nghiệp theo độ tuổi
Thất nghiệp theo giới tính
Thất nghiệp theo vùng và lãnh thổ
Thất nghiệp theo ngành nghề
Thất nghiệp theo da màu 5
Phân loại theo lý do thất nghiệp:
Bỏ việc: Đây là hình thức thôi việc do bản thân người đó có điều không
hài lòng với đơn vị làm việc của mình nên chủ động xin thôi việc.
Mất việc: Nhân sự bị cơ quan/doanh nghiệp cho thôi việc vì một lý do nào
đó và rơi vào tình trạng thất nghiệp.
Mới gia nhập thị trường lao động: Lao động mới của thị trường và chưa tìm được việc làm
Quay lại thị trường lao động: Lao động đã rời khỏi thị trường trước đó,
hiện muốn đi làm trở lại nhưng chưa có được vị trí thích hợp.
Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp Thất nghiệp tự nhiên
- Thất nghiệp tạm thời/thất nghiệp ma sát: Xuất hiện khi người lao động
thay đổi việc làm và bị thất nghiệp trong thời gian ngắn (từ lúc họ rời công
việc cũ cho đến khi họ tìm được công việc mới).
- Thất nghiệp cơ cấu: Nó là dạng thất nghiệp dài hạn, xuất hiện do sự suy
giảm của 1 số ngành hoặc do quy trình sản xuất có những thay đổi khiến
người lao động không thể thích nghi được. Họ buộc phải tìm đến các
ngành nghề khác hoặc địa phương khác để tìm việc.
- Thất nghiệp thời vụ: Một số công việc như làm part time dịp hè hoặc giải
trí theo mùa (công viên nước, trượt băng, trượt tuyết,…) chỉ kéo dài trong
một khoảng thời gian nhất định trong năm. Khi đoạn thời gian này qua đi
thì người làm các công việc đó sẽ thất nghiệp.
Thất nghiệp chu kỳ: là mức thất nghiệp tương ứng với từng giai đoạn trong
chu kỳ kinh tế. Nguyên nhân sinh ra loại thất nghiệp này là do trạng thái
tiền lương cứng nhắc. Nó là dạng thất nghiệp không tồn tại vĩnh viễn, sẽ
biến mất nếu có đủ điều kiện tiên quyết. Thất nghiệp chu kỳ có hai dạng:
- Thất nghiệp chu kỳ cao: xuất hiện trong thời kỳ suy thoái kinh tế. 6
- Thất nghiệp chu kỳ thấp: xuất hiện khi phát triển kinh tế mở rộng.
Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường (theo lý thuyết cổ điển)
Thất nghiệp tự nhiên: Là thất nghiệp khi thị trường lao động đạt trạng thái cân bằng.
Thất nghiệp tự nguyện: Là thất nghiệp khi người lao động không chấp
nhận việc làm hoặc không có nhu cầu làm việc.
Thất nghiệp không tự nguyện: Là thất nghiệp khi người lao động muốn
làm việc nhưng không được thuê hoặc chưa tìm được việc làm.
1.2. Khái quát đại dịch COVID – 19
1.2.1. Khái niệm
COVID - 19 là một bệnh đường hô hấp cấp tính truyền nhiễm gây ra bởi
chủng virus corona SARS-CoV-2 và các biến thể của nó. Đây là một loại virus
được phát hiện điều tra ổ dịch bắt nguồn từ khu chợ lớn chuyên bán hải sản và
động vật ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Virus gây viêm đường hô hấp cấp
ở người và cho thấy có sự lây lan từ người sang người. Ngoài chủng virus corona
mới phát hiện này, đã có 6 chủng virus corona khác được biết tới ngày nay có
khả năng lây nhiễm từ người sang người. Ca bệnh COVID – 19 lần đầu tiên được
phát hiện vào năm 2019 tại Vũ Hán, Trung Quốc.
1.2.2. Tình hình dịch bệnh tại Việt Nam
Vào ngày 23 tháng 1 năm 2020, trường hợp đầu tiên mắc COVID-19 do
virus SARS-CoV-2 gây ra được xác nhận tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kinh tế,
xã hội Việt Nam đã bị tác động lớn bởi đại dịch. Các hoạt động kiểm soát đã
diễn ra trong đó có hạn chế tự do di chuyển. Tính đến tháng 10 năm 2023, Việt
Nam ghi nhận 11.624.080 trường hợp nhiễm COVID-19 và 43.206 trường hợp
tử vong. Tuy nhiên số ca nhiễm thực tế của một số tỉnh có thể cao gấp 4-5 lần số liệu Bộ Y tế công bố. 7
Đại dịch COVID-19 đã đi qua và không còn là vấn đề nghiêm trọng. Thế
nhưng những tàn dư mà nó để lại đã tác động sâu sắc đến nền kinh tế, xã hội của
rất nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Kinh tế bị đình trệ, hàng
ngàn doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản và hậu quả là cả triệu người lao
động mất việc làm. Theo như các chuyên gia nhận định, “diễn biến phức tạp của
dịch Covid-19 đã đẩy tỷ lệ thất nghiệp vượt xa con số 2% như thường thấy”. 8 CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH CÁC TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH BỆNH COVID-19 ĐẾN
TỶ LỆ THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM
2.1. Tình hình việc làm của Việt Nam giai đoạn trước đại dịch Covid-19
Trước đại dịch COVID, năm 2019 Việt Nam có số người thất nghiệp và tỷ
lệ thất nghiệp duy trì ở mức thấp và giảm nhẹ so với năm 2018. Theo số liệu của
Tổng cục thống kê, tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước năm 2019 là 1,98% (quý
I là 2,00%; quý II là 1,98%; quý III là 1,99%; quý IV là 1,98%). Lực lượng lao
động trung bình cả nước năm 2019 là 55,77 triệu người trong đó có 54,66 triệu
người có việc làm và 1,1 triệu người thất nghiệp. Có hơn 3/4 (chiếm 76,8%) dân
số từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, có sự chênh lệch giữa nam
(81,9) và nữ (71,8%) và không đồng đều giữa các vùng.
Bảng 1: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chia theo quý năm 2019
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thấp nhất ở quý III và cao nhất ở quý IV.
Khu vực thành thị có tỉ lệ tham gia lực lượng lao động quý 2 giảm 0,9% so với
quý I, nhưng quý III lại tăng 0,3 phần trăm so với quý II. Ở khu vực nông thôn,
tỷ lệ tham gia lực lượng lao động không có sự thay đổi nhiều giữa các quý, trừ
quý IV tăng 0,5 phần trăm so với quý I, tăng 0,6 so với quý II. (Bảng 1)
Cả nước chỉ có khoảng 12,4 triệu người có việc làm, tương ứng với 22,6%,
đã được đào tạo (Bảng 2). Có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ lao động đang làm
việc đã qua đào tạo giữa thành thị và nông thôn, mức chênh lệch này là 24,3
điểm phần trăm (thành thị là 39,1% và nông thôn là 14,8%). Điều này cho thấy 9
thị trường vẫn đang cần những công việc đơn giản, trình độ thấp, chất lượng việc
làm chưa đáp ứng được nhu cầu của người lao động có trình độ cao.
Bảng 2: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo năm 2019
Thu nhập bình quân tháng của người lao động năm 2019 đạt 5,6 triệu đồng,
tăng 799 nghìn đồng so với năm trước. Thu nhập của lao động làm công hưởng
lương đều tăng ở tất cả các trình độ và tăng cao nhất ở nhóm có trình độ chuyên
môn kỹ thuật (Thu nhập trung bình của lao động có trình độ đại học là 9,3 triệu
đồng, cao gấp 1,6 lần lao động không có chuyên môn kỹ thuật).
Dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0, thị trường lao động năm
2019 có xu hướng chuyển dịch sang khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.
Do đó xu hướng việc làm tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, điện tử, công nghệ.
Kết luận: Nhìn chung tình hình việc làm Việt Nam trước đại dịch COVID-
19 có những chuyển biến khá tích cực. Tỉ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm giảm
dần, thu nhập của người lao động có xu hướng tăng lên. Thị trường lao động
giảm sử dụng lao động giản đơn sang sử dụng nhóm lao động có kỹ năng và
trình độ cao, chất lượng lao động được nâng cao. 10
2.2. Tỉ lệ thất nghiệp và tình hình việc làm của Việt Nam trong đại dịch COVID-19
2.2.1. Khái quát chung nền kinh tế Việt Nam trong đại dịch
Dịch COVID-19 đã ảnh hưởng trực tiếp tới lao động và việc làm trong các
ngành nghề và trên mọi vùng miền nước ta. Nền kinh tế Việt Nam ngưng trệ, các
chuỗi cung ứng nguyên vật liệu bị gián đoạn, tình trạng xuất khẩu trở nên khó
khăn trong khi hoa củ quả của bà con nông dân đã đến thời vụ thu hoạch, những
điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới cơ hội việc làm của người lao động yếu
thế. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp phải cho người lao động nghỉ làm hoặc
cách ly dẫn tới tình trạng tỷ lệ thất nghiệp tại Việt Nam cao nhất trong 10 năm
qua, thu nhập giảm xuống mức thấp chưa từng thấy.
2.2.2. COVID-19 tác động đến doanh nghiệp
Tình hình năm 2020 (năm đầu đại dịch)
Ngân hàng Thế giới và VCII đã phối hợp thực hiện một cuộc khảo sát năm
2020 về “Tác động của dịch COVID-19 đối với doanh nghiệp Việt Nam”. Đây là
nghiên cứu được tiến hành với phản hồi từ hơn 10 197 doanh nghiệp trên toàn
quốc (gồm 8633 doanh nghiệp tư nhân, 1564 doanh nghiệp FDI). Số liệu từ báo cáo như hình sau:
Hình 1: Tỷ lệ doanh nghiệp tại Việt Nam bị ảnh hưởng tiêu cực bởi COVID-19 11
Bảng thống kê trên đã cho thấy COVID-19 đa phần ảnh hưởng tiêu cực đến
các doanh nghiệp. Chỉ có số ít doanh nghiệp vẫn đứng vững trên nền kinh tế suy
thoái do đại dịch gây ra. Những doanh nghiệp mới hoạt động và có quy mô nhỏ
bị ảnh hưởng nặng nề nhất.
Cũng trong năm 2020, theo Tổng cục thống kê, tỉ lệ doanh nghiệp giải thể
năm này tăng 13,9% so với năm trước với tổng số là 101,7 nghìn doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp giải thể do tự nguyện hoặc bắt buộc (bị thu hồi giấy phép).
Theo một khảo sát của Trường Đại học Kinh tế quốc dân, nếu dịch bệnh tiếp tục
kéo dài đến giữa năm 2020 sẽ chỉ còn 14,9% doanh nghiệp duy trình hoạt động,
32,4% cắt giảm quy mô và còn lại sẽ tạm dừng hoạt động.
Tình hình năm 2021
Theo Tổng cục thống kê, năm 2021 có đến 119,8 nghìn doanh nghiệp giải
thể (tăng 17,8% so với năm trước). Bên cạnh đó, ban nghiên cứu Phát triển kinh
tế tư nhân (Ban IV thuộc Hội đồng tư vấn Cải cách thủ tục hành chính của Thủ
tướng Chính phủ) cũng đã công bố tình hình sức khỏe doanh nghiệp trong bối
cảnh đại dịch COVID-19 từ tháng 5/2021 đến tháng 8/2021 với trên 21.517
doanh nghiệp, hộ kinh doanh tham gia:
- 69% doanh nghiệp tạm dừng kinh doanh do dịch bệnh.
- 16% doanh nghiệp duy trì sản xuất kinh doanh nhưng không thể hoạt động toàn năng suất.
- 5% doanh nghiệp giải thể/ ngừng hoạt động kinh doanh chờ giải thể.
Các lĩnh vực doanh nghiệp bị ảnh hưởng lớn 12
Hình 2: Tỷ lệ doanh nghiệp ở các ngành nghề chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh
Nhìn chung hầu hết các lĩnh vực doanh nghiệp đều bị ảnh hưởng bởi đại
dịch COVID-19, trong đó dẫn đầu bảng chính là lĩnh vực bất động sản và may mặc.
- Bất động sản: Đại dịch Covid-19 như một cú sốc lớn đối với ngành bất
động sản, làm cho mọi hoạt động gần như đóng băng, các giao dịch mua bán sụt
giảm mạnh. Các khu du lịch, nghỉ dưỡng tạm dừng hoạt động, doanh nghiệp
kinh doanh bất động sản du lịch, nghỉ dưỡng hầu như ko có nguồn thu. Đặc biệt,
nguồn vốn FDI vào lĩnh vực này cũng sụt giảm mạnh.
- May mặc: Kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may năm 2020 chỉ đạt 35,06 tỷ
USD, giảm 9,8% so với 2019 do các thị trường xuất khẩu lớn như EU, Mỹ thực
hiện các biện pháp phòng dịch, kiểm soát hang hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, đối
mặt với các khó khăn, các doanh nghiệp dệt may đã thích ứng chuyển dịch sản
xuất các mặt hang y tế như khẩu trang, bảo hộ…để hạn chế tổn thất đại dịch mang lại.
- Dịch vụ, hàng không: Chỉ thị giãn cách xã hội phòng dịch bệnh khiến
lượng khách sụt giảm tác động lớn đến doanh nghiệp lĩnh vực dịch vụ và hàng không.
Còn một số doanh nghiệp ở lĩnh vực khác như công nghiệp chế biến, sản
xuất, cảng biển, ngân hàng, dầu khí, bảo hiểm, chứng khoán…. 13
Nguyên nhân khiến các doanh nghiệp “điêu đứng”
Các năm qua số lượng doanh nghiệp giải thể, phá sản có nhiều nguyên
nhân. Tuy nhiên dịch bệnh COVID-19 đã bào mòn sức lực của vô số doanh
nghiệp, khiến các doanh nghiệp cũng như nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng
trầm trọng hơn bao giờ hết.
Thứ nhất, gián đoạn chuỗi cung ứng khu vực dẫn đến sản xuất, kinh doanh
ở Việt Nam bị trì trệ: COVID-19 đã làm đứt gãy chuỗi cung ứng ngay trong
nước khiến nhiều doanh nghiệp phải tạm dừng đóng cửa (chiếm 35,4%). Nguyên
nhân đứt gãy chuỗi cung ứng là do nhiều nơi phải thực hiện phong tỏa/cách ly để
kiềm chế đại dịch. Đơn cử, nhiều doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc tại miền
Bắc, trước khi dịch bùng phát thì nguồn nguyên vật liệu cho ngành may được
cung cấp chủ yếu bởi các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh tại TP.
Hồ Chí Minh, Bình Dương hoặc Đồng Nai. Khi dịch bùng phát tại các tỉnh/thành
phố phía Nam, nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa, các doanh nghiệp miền Bắc bị
mất nguồn cung ứng nguyên vật liệu dẫn tới tình trạng buộc phải đóng cửa tạm
thời chờ đối tác khôi phục lại sản xuất hoặc chờ có nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu để thay thế.
Thứ hai, giảm doanh thu, tăng chi phí: Nhu cầu thị trường giảm sút khiến
nhiều doanh nghiệp giảm doanh thu, doanh nghiệp còn phải đối mặt với việc
tang giá vật liệu và các chi phí phát sinh lớn như chi phí phòng chống dịch, phí vận chuyển,…
Thứ ba, doanh nghiệp ngừng hoạt động: Doanh nghiệp nằm trong vùng
dịch hoặc có lao động mắc Covid-19 bị buộc phải đóng cửa.
Thứ tư, yếu kém năng lực quản lý và điều hành: Một số doanh nghiệp mới
hoạt động, chưa có chiến lược kinh doanh rõ ràng nên không thể ứng phó với
khủng hoảng cũng như cạnh tranh với các doanh nghiệp quy mô lớn hơn.
So sánh tình hình 2020 với 2021 14
Kinh tế Việt Nam chuyển biến từ lạc quan, đau thương rồi hy vọng. Kết
thúc một năm đại dịch 2020 với chỉ số GDP tang trưởng chỉ đạt 2,91%, thấp nhất
trong một thập niên 2011-2020 chủ yếu do tác động tiêu cực từ COVID-19. Tuy
vậy, Việt Nam vẫn thuộc nhóm tăng trưởng cao nhất thế giới. Năm 2021 được
hứa hẹn sẽ tăng trưởng hơn 2020. World Bank đã dự báo Việt Nam tăng trưởng
khoảng 6,8% GDP. Hãng xếp hạng tín nhiệm quốc tế S&P Global Ratings cũng
đã dự báo tăng trưởng GDP của VN sẽ đạt 1,9% năm 2020 và 11,2% vào 2021.
Tuy nhiên biến thể Delta đã làm đảo ngược tình hình Việt Nam khi đợt dịch
bùng phát lần thứ tư tấn công vào các khu kinh tế trọng điểm phía Bắc (Bắc
Ninh, Hà Nội,…) và phía Nam (TP.HCM, Bình Dương…). Trong 6 tháng đầu
năm 2021, số doanh nghiệp thành lập mới hoặc quay lại hoạt động tăng 6,9% so
với cùng kì 2020 nhưng số doanh nghiệp ngừng hoạt động và chờ làm thủ tục giải thể tăng 24,9%.
Kết luận: Năm 2020 Việt Nam đã khống chế được phần nào dịch COVID-
19, nền kinh tế phục hồi mạnh mẽ với mức tăng trưởng dương. Tuy nhiên đến
quý II năm 2021 dịch bệnh bùng phát với những diễn biến khó lường khiến
nhiều doanh nghiệp rơi vào nguy cơ mới phức tạp và cấp bách. Tỷ lệ doanh
nghiệp bị ảnh hưởng năm 2021 tăng cao so với 2020 cho thấy gam màu xám của
nền kinh tế lúc bấy giờ, đẩy nhiều doanh nghiệp rơi vào nợ nần, phá sản.
2.2.3. Tác động đến người lao động
Tình hình 2020
Theo Tổng cục thống kê, cả nước có đến 30,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên
bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 tính đến 6/2020, gồm người bị giảm thu nhập,
nghỉ luân phiên và người bị mất việc làm, trong đó có 897,5 nghìn người thất
nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp quý II năm 2020 là 2,73%, tăng 0,57% so với năm
trước. Đáng chú ý là tỉ lệ thất nghiệp trong độ tuổi ở khu vực thành thị đạt mức 15
cao nhất trong 10 năm qua với tỉ lệ 4,46% (tăng 1,36% so với cùng kì năm
trước). Quý 4 năm 2020, tỷ lệ thất nghiệp là 2,37%, con số đã giảm so với giữa năm.
Hình 3: Biểu đồ số giờ làm 2018-2020
Một số người may mắn hơn nếu không thất nghiệp nhưng vẫn bị cắt giảm
giờ làm hoặc phải làm luân phiên khiến thu nhập bị giảm đáng kể
Tình hình 2021
Hình 4: Bảng khải quát tỷ lệ thất nghiệp năm 2021 qua 4 quý 16
Quý III năm 2021 tỉ lệ thất nghiệp tăng lên rõ rệt do những chuyển biến
phức tạp của đại dịch COVID-19. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở mức thấp
chưa từng có trong vòng 10 năm trở lại đây, đồng thời đã đẩy tỷ lệ thất nghiệp và
tỷ lệ thiếu việc làm quý III tăng đột biến, ở mức 3,98% và 4,46% - là mức tăng
cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây. Sự bùng phát của COVID-19 đã khiến tỷ
lệ thất nghiệp lên mức đáng báo động.
Tác động của đại dịch Covid-19 tới lực lượng lao động trong một số nhóm ngành nghề
Nhóm ngành nghề bị ảnh hưởng tiêu cực:
- Ngành du lịch: phải đối mặt với những thách thức khó khăn và chịu nhiều thiệt
hại nặng nề. Tháng 3/2020, việc đón khách quốc tế đã bị tạm ngừng hoạt động
tại Việt Nam, chỉ còn hoạt động du lịch trong nước, tuy nhiên thị trường du lịch
trong nước cũng bị ảnh hưởng bởi các đợt giãn cách xã hội, các chỉ tiêu đặt ra
đều giảm mạnh do nhiều kế hoạch dự án của ngành du lịch đặt ra trong khoảng
thời gian này hầu như không thực hiện được. Lượng khách du lịch sụt giảm
mạnh dẫn đến doanh thu từ du lịch lữ hành cũng giảm theo. Nhiều doanh nghiệp
du lịch, lữ hành phải tạm dừng hoạt động hoặc đóng cửa do cạn kiệt nguồn lực
tài chính. Cùng với đó nhiều lao động trong ngành du lịch đã phải nghỉ việc hoặc
chuyển sang làm công việc mới có mức lương cao hơn và độ ổn định tốt hơn
trong mùa dịch. Những người làm còn lại trong ngành thu nhập giảm, trung bình
giảm 40% so với các thời điểm trước đại dịch.
- Ngành dệt may: Bên
cạnh du lịch, nhóm ngành dệt may cũng bị ảnh hưởng
nặng nề. Nguồn cung nguyên vật liệu từ nước ngoài (Trung Quốc, Mỹ,..) bị gián
đoạn; chuỗi cung ứng, sản xuất trong các nhà máy, công xưởng bị ảnh hưởng
tiêu cực; chi phí nguyên vật liệu tăng cao; các thị trường nhập khẩu buộc phải
đóng cửa để kiểm soát và hạn chế sự bùng phát dịch bệnh; nhu cầu tiêu dùng của
người dân sụt giảm do lạm phát cao. Những tác động đó đã khiến hầu hết các 17
doanh nghiệp có xu hướng cắt giảm nhân lực để duy trì nguồn vốn, từ đó làm
cho nhiều người bị sa thải, mất việc và tỷ lệ thất nghiệp tăng lên.
- Ngành Sư phạm (đặc biệt là sư phạm mầm non): Đa
số các cơ sở mầm non đều
đóng cửa khiến giáo viên thất nghiệp, không có thu nhập, gần 90% số giáo viên
phải nghỉ việc không lương. Chỉ có một tỷ lệ nhỏ được điều chuyển sang các
công việc khác trong công ty/tập đoàn và làm việc trực tuyến. Không chỉ giáo
viên mầm non mà các giáo viên dạy các cấp học khác cũng bị ảnh hưởng bởi tình
hình đại dịch, mức lương cán bộ, giáo viên giảm; nhiều giáo viên gặp khó khăn
trong việc giảng dạy và truyền đạt thông tin do chưa có kĩ năng làm việc với các
thiết bị công nghệ số,…
Nhóm ngành có sự ảnh hưởng tích cực: Bên cạnh các ngành nghề chịu ảnh
hưởng tiêu cực bởi đại dịch COVID-19 thì vẫn còn tồn tại một số ngành nghề
“sống khỏe” giữa đại dịch.
- Ngành dược liệu, y tế: Trong đại dịch COVID-19, các doanh nghiệp dược
phẩm, y tế, khám sức khỏe có kì vọng tăng trưởng bởi nhu cầu tiêu thụ các sản
phẩm chăm sóc hỗ trợ sức khỏe, thiết bị y tế của người dân càng ngày càng tăng
lên. Đặc biệt khối ngành Dược được coi là điểm sáng của Việt Nam trong bối
cảnh đại dịch lây lan trầm trọng. Tuy nhiên, bên cạnh những điều kiện thuận lợi
để phát triển, khối ngành nghề Y Dược vẫn gặp không ít khó khăn do các nguyên
vật liệu được nhập khẩu 80-90% chủ yếu từ Trung Quốc và Ấn Độ
- Thương mại điện tử, công nghệ thông tin: Có lẽ thời điểm diễn ra đại dịch
COVID-19 đã mở ra muôn vàn cơ hội phát triển các ngành nghề gắn với kĩ thuật
số như thương mại điện tử hay công nghệ thông tin. Số người tiêu dùng trực
tuyến mới tiếp tục tăng lên và đông đảo người mua đã trở thành người tiêu dùng
thông minh, thành thạo kỹ năng mua sắm trực tuyến. Nhiều doanh nghiệp cho
phép nhân viên làm việc tại nhà thay vì sa thải, điều này cũng hạn chế được tình
hình thất nghiệp. Bên cạnh đó nhiều người bị sa thải ở cơ quan đã chuyển sang 18
làm các công việc mới như sáng tạo nội dung số, livestream bán hàng online, giảng dạy online,…
Nguyên nhân của những ảnh hưởng tiêu cực
- Nhiều doanh nghiệp đóng cửa, giải thể khiến người lao động mất việc làm.
- Cắt giảm nhân sự ở các công ty, doanh nghiệp do tình trạng kinh tế khó khăn.
- Chỉ thị giãn cách xã hội để phòng chống COVID-19.
- Nhiều lĩnh vực, ngành nghề bị ảnh hưởng vô cùng nặng nề do COVID-19
như du lịch, dịch vụ ( nhà hàng khách sạn…) khiến người lao động phải
tìm việc làm mới để kiếm sống.
- Kinh tế khó khăn khiến lượng người tiêu dùng giảm cũng ảnh hưởng lớn
tới các nhà bán buôn, bán lẻ.
Kết luận: Như vậy, COVID-19 đã để lại tác động tiêu cực cho nền kinh tế Việt
Nam cũng như toàn thế giới. Tuy Việt Nam là một trong số nước chống chọi tốt
trong đại dịch song vẫn bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Thất nghiệp khiến nhiều
người lao động rơi vào hoàn cảnh khó khăn giữa chuyển biến phức tạp, khôn
lường trước của đại dịch. Nhiều nhà đầu tư, chủ cửa hàng thậm chí rơi vào tình
cảnh phá sản, nợ nần do các chỉ thị giãn cách kéo dài. Đồng thời lượng thất
nghiệp tăng, giờ làm bị cắt giảm khiến thu nhập giảm nên thị trường mua bán trở
nên ảm đạm hơn rất nhiều.
2.3. Tỉ lệ thất nghiệp và tình hình việc làm của Việt Nam sau đại dịch COVID-19
2.3.1. Tác động đến doanh nghiệp
Khái quát tình hình chung 19
Tỷ lệ doanh nghiệp thành lập, tạm dừng kinh doanh và quay trở lại hoạt
động sau đại dịch COVID-19 (từ đầu năm 2022 trở lại đây) như sau:
- Năm 2022 có 148,5 nghìn doanh nghiệp thành lập, tăng 27,1% so với năm
2021 (116,8 nghìn doanh nghiệp).
- Vào năm 2022 ước tính khoảng 59,8 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt
động, tăng 38,8% so với năm 2021 (43,1 nghìn doanh nghiệp).
Như vậy, tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt
động năm 2022 lên gần 208,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 30,3% so với năm 2021.
Một tháng trung bình có khoảng 17,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
-Năm 2022, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 73,8
nghìn doanh nghiệp, tăng 34,3% so với năm trước.
-Trong 9 tháng năm 2023, có trên 165 nghìn doanh nghiệp thành lập mới
và quay trở lại hoạt động, trong đó đa số là doanh nghiệp thành lập mới
(trên 116 nghìn doanh nghiệp).
-Số doanh nghiệp tạm ngừng và rút lui khỏi thị trường (135,1 nghìn doanh
nghiệp) nhỏ hơn số doanh nghiệp thành lập và quay trở lại hoạt động (165,2 nghìn doanh nghiệp).
Từ những số liệu thống kê ở trên ta thấy, sau đại dịch COVID-19, lực lượng
doanh nghiệp ở Việt Nam đều có xu hướng tăng trưởng và phát triển để khôi
phục nền kinh tế và đây cũng là dấu hiệu tích cực về tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam. Song song với chiều hướng đi lên của số lượng doanh nghiệp là những cơ
hội mới mở ra cho người lao động trên thị trường đang tìm kiếm việc làm.
Sự phát triển doanh nghiệp kéo theo sự phát triển của các yếu tố khác có tác
động đến thị trường lao động
Sự phát triển về năng suất lao động 20