HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA NGÂN HÀNG
----------***----------
BÀI TẬP LỚN
MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
ĐỀ TÀI
THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2019-2022
NHÓM 8 – K25NHD
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA NGÂN HÀNG
----------***----------
BÀI TẬP LỚN
MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
ĐỀ TÀI
THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2019-2022
Giáo viên hướng dẫn: Đặng Thị Thúy Duyên
Nhóm 8 – K25NHD:
1. 25A4010416 Ngô Thị Lê Phương
2. 25A4010422 Thị Kim Phượng
3. 25A4010423 Lê Minh Quân
4. 25A4010429 Đào Như Quỳnh
5. 25A4010434 Thị Như Quynh
6. 25A4010437 Nguyễn Thị Mỹ Tâm
7. 25A4010440 Bùi Thị Giang Thanh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
Vấn đề việc làm và thất nghiệp luôn nhận được sự quan tâm lớn của hầu hết các
quốc gia trên thế giới. Thất nghiệp tồn tại ở tất cả các nền kinh tế và chúng có các
mức độ khác nhau. Hầu hết các quốc gia đều cố gắng xây dựng các chính sách
hướng đến tăng trưởng kinh tế, ổn định các mức giá cho dịch vụ và hàng hóa, cải
thiện nguồn cung việc làm và cắt giảm tình trạng thiếu việc làm. Thế nhưng cho
đến nay, đại dịch COVID-19 đã càn quét khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới và
đang diễn biến rất khó lường tại nhiều quốc gia. Tình hình dịch bệnh kéo dài đã
gây ra những tác động tiêu cực không nhỏ đến cả các nền kinh tế lớn như Mỹ,
Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh Châu Âu,... Tình hình dịch Covid19 ở Việt
Nam cũng không ngoại lệ và đang diễn biến hết sức phức tạp (La, 2020; Vuong,
Q.H., 2022). Việt Nam có 1,6 triệu ca mắc trong đó hơn 1,1 triệu người đã khỏi
bệnh và hơn 30 nghìn đồng bào tử vong (số liệu của Bộ Y tế tính đến ngày
24/12/2021). Mỗi ngày, số ca mắc COVID-19 lên đến vài nghìn. Ở các thành phố
lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh… - nơi tập trung nhiều người lao động và các khu
công nghiệp buộc phải tạm dừng hoạt động, thực hiện giãn cách xã hội nghiêm
ngặt trong một thời gian nhất định để hỗ trợ phòng dịch. Đồng thời, người dân
cũng buộc phải ở trong nhà, không được ra ngoài nếu không có việc gì khẩn cấp.
Và một trong những ảnh hưởng lớn nhất từ đại dịch này chính là nạn thất nghiệp
– vấn đề nhức nhối của toàn xã hội.
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THẤT NGHIỆP
I. Khái niệm thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp
1. Thất nghiệp
Thất nghiệp trong kinh tế họctình trạng người lao động muốn có việc lm hoặc
không được tổ chức, công ty và cộng đồng nhận vào làm.
Thất nghiệp thuật ngữ thường được sử dụng trong kinh tế để chỉ tình
trạng người đang trong độ tuổi lao động, đầy đủ khả năng lao động nhu
cầu tìm việc.
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Thất nghiệp tình trạng tồn tại một số
người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc
làm ở mức lương thịnh hành”.
“Thất nghiệp những người trong độ tuổi lao động, khả năng lao động,
nhu cầu việc làm, đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm”.
2. Tỉ lệ thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lphần trăm những người thất nghiệp trong lực lượng lao
động và được tính như sau:
Tỷ lệ thất nghiệp = (Số người thất nghiệp / Lực lượng lao động).100%
Tỷ lệ thất nghiệp cho biết hiệu quả sử dụng lao động của nền kinh tế.
II. Các khái niệm liên quan
Trong thực tế, không phải mọi người đều muốn có việc làm. Vì vậy không thể nói
rằng những người không có việc làm đều là những người thất nghiệp. Để có cơ sở
xác định thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp một cách đúng đắn, chúng ta cần phải
phân biệt một số khái niệm sau:
Người thất nghiệp: những người trong độ tuổi lao động, khả năng lao
động nhưng chưa có việc làm và mong muốn tìm kiếm được việc làm.
Người trong độ tuổi lao động: những người độ tuổi được hiến pháp
pháp luật quy định có nghĩa vụ và quyền lợi lao động.
Người có việc làm: Là những người đang làm một việc gì đó mà tạo ra thu nhập.
Họ có thể đang làm cho các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, tự kinh doanh… có thể
làm bán thời gian hoặc toàn thời gian.
Lực lượng lao động:số người trong độ tuổi lao động, đang việc làm hoặc
chưa có việc làm nhưng đang tìm kiếm việc làm.
Lực lượng lao động (L) = Số người có việc làm (E) + Số người thất nghiệp (U)
Người không tham gia lực lượng lao động: những người ngoài độ tuổi lao
động nhưng không có nhu cầu tìm việc, không có khả năng lao động hoặc đang đi
học, đi nghĩa vụ quân sự…
Tỉ lệ lực lượng lao động:
Ngoài ra để đánh giá quy của lực lượng lao động người ta sử dụng tỉ lệ lực
lượng lao động: Tỉ lệ phần trăm của lực lượng lao động với dân số trưởng thành
và được tính như sau:
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động=(Lực lượng lao động / Dân số trưởng thành).
100%.
III. Phân loại thất nghiệp
1. Phân loại theo đặc trưng của người thất nghiệp:
Thất nghiệp một gánh nặng, nhưng gánh nặng đó rơi vào đâu, bộ phận dân
nào, ngành nghề nào…Chúng ta cần biết được điều đó để hiểu được đặc điểm,
tính chất, mức độ tác hại… của thất nghiệp trong thực tế. Với mục đích đó có thể
dùng những tiêu thức phân loại dưới đây:
– Thất nghiệp theo giới tính (nam, nữ).
– Thất nghiệp theo lứa tuổi.
– Thất nghiệp theo vùng, lãnh thổ (thành thị, nông thôn).
– Thất nghiệp chia theo ngành nghề.
– Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc.
2. Phân loại theo lý do thất nghiệp:
Trong khái niệm thất nghiệp, cần phân biệt thất nghiệp t nguyện thất
nghiệp không tự nguyện. Nói khác đi là những người lao động tự nguyện xin thôi
việc những người lao động buộc phải thôi việc. Trong nền kinh tế thị trường
năng động, lao động các nhóm, các ngành, các công ty được trả tiền công lao
động khác nhau (mức lương không thống nhất trong các ngành nghề, cấp bậc).
Việc đi làm hay nghỉ việc là quyền của mỗi người. Cho nên, người lao động có sự
so sánh, chỗ nào lương cao thì làm, chỗ nào lương thấp (không phù hợp) thì nghỉ.
Vì thế xảy ra hiện tượng:
Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp một mức tiền công nào đó
người lao động khống muốn làm việc hoặc do nhân nào đó (di chuyển,
sinh con…). Thất nghiệp loại này thường là tạm thời.
Thất nghiệp không tự nguyện:thất nghiệpmức tiền công nào đó người
lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái, cung
lớn hơn cầu về lao động…
3. Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp:
Thất nghiệp tạm thời: Là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng
của người lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữa các giai đoạn
khác nhau của cuộc sống. Thậm chí trong một nền kinh tế đủ việc làm vẫn
luôn có sự chuyển động nào đó như một số người tìm việc làm sau khi tốt nghiệp
hoặc di chuyển chỗ từ nơi này sang nơi khác; phụ nữ thể quay lại lực lượng
lao động sau khi sinh con…
Thất nghiệp tính cấu: Xảy ra khi sự mất cân đối giữa cung- cầu lao
động (giữa các ngành nghề, khu vực…). Loại này gắn liền với sự biến động
cấu kinh tế gây ra do sự suy thoái của một ngành nào đó hoặc sự thay đổi
công nghệ dẫn đến đòi hỏi lao động chất lượng cao hơn, ai không đáp ứng
được sẽ bị sa thải.
Chính vậy, thất nghiệp loại này còn gọi . Trong nềnthất nghiệp công nghệ
kinh tế hiện đại, thất nghiệp loại này thường xuyên xảy ra. Khi sự biến động này
là mạnh và kéo dài, nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng và chuyển sang thất nghiệp
dài hạn. Nếu tiền lương rất linh hoạt thì sự mất cân đối trong thị trường lao động
sẽ mất đi khi tiền lương trong những khu vực nguồn cung lao động hạ xuống,
và ở trong khu vực có mức cầu lao động cao tăng lên.
Thất nghiệp do thiếu cầu: Loại thất nghiệp này xảy ra khi mức cầu chung về lao
động giảm xuống. Nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu.
Loại này còn được gọi bởi các nền kinh tế thị trường thất nghiệp chu kỳ
gắn liền với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh. Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất
hiện của loại này tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan khắp mọi nơi, mọi
ngành nghề.
Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: Loại thất nghiệp này còn được gọi theo
lý thuyết cổ điển. Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng
thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động. Vì tiền
lương không chỉ quan hệ đến sự phân phối thu nhập gắn với kết quả lao động
còn quan hệ đến mức sống tối thiểu nên nhiều nhiều quốc gia (Chính phủ hoặc
công đoàn) có quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu, sự không linh hoạt của
tiền lương (ngược với sự năng động của thị trường lao động), dẫn đến một bộ
phận mất việc làm hoặc khó tìm việc làm.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2019-2022
1. Sơ lược về tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn 2019-2022
Thất nghiệp một vấn đề kinh tế-xã hội phổ biến đối với các quốc gia trên
toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Theo báo cáo điều tra lao động việc làm của
Tổng cục thống kê: Năm 2019, Việt Nam hơn 1.1 triệu người thất nghiệp với
tỷ lệ là 2.17%. Trong đó tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị chiếm 3.11% và ở nông thôn
là 1.69%.
Cuối tháng 1 năm 2020, đại dịch Covid19 xuất hiện khiến thị trường lao động
Việt Nam điêu đứng. Lần đầu tiên trong suốt thập kỉ qua, Việt Nam trải qua giai
đoạn giảm sụt nghiêm trọng về số người có việc làm. Hay nói cách khác, tỉ lệ thất
nghiệp và thiếu việc làm tăng cao hẳn so với xu hướng giảm trong nhiều năm gần
đây. Năm 2020, hơn 1.2 triệu người thất nghiệp, tỷ lệ tăng lên tới 2.48%, ở thành
thị là 3.89% và ở nông thôn là 1.75%. Trong các khu vực kinh tế thì khu vực dịch
vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, tới 68.9% số lao động khu vực này không
có việc làm.
Năm 2021, ở một số địa phương bùng phát dịch Covid19 đã tác động không ít tới
đà khôi phục tình hình thiếu việc làm nước ta. Theo thống kê, năm 2021 tới
1.4 triệu người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của năm 2021 lên tới 3.22%, tăng
0.74% so với năm trước. Tổng cục thôngcho hay:Chính phủ đã ban hành
chính sách chủ động thích ứng trong phòng chống Covid và giảm thiểu tình trạng
thiếu việc làm. Nhưng nhìn chung, thị trường lao động Việt Nam năm 2021 vẫn
còn gặp nhiều khó khăn, tỉ lệ thất nghiệp vẫn cao hơn năm trước, khu vực thành
thị vượt mốc 4% với con số tỷ lệ là 4.42% và ở nông thôn là 2.48 %.
Theo báo cáo lao động việc làm quý III/2022 được Tổng cục Thống phát
hành tháng 6/2022. Số người thất nghiệp 1.1 triệu người với tỷ lệ giảm xuống
còn 2.29%. Theo đánh giá, thị trường lao động việc làm Việt Namnh đến quý
III chuyển biến tích cực, nhiều khởi sắc. thể nói, tình hình thất nghiệp
Việt Nam đang trên đà phục hồi và phát triển.
2. Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2019-2022
2.1 Năm 2019
Qúy I
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động trong quý I năm 2019 ước gần 1.1
triệu người, giảm 0.1 nghìn người so với quý trước giảm 1.3 nghìn người so
với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2019
2.17%, giảm 0.01 điểm phần trăm so với quý trước giảm 0.03 điểm phần
trăm so với cùng kỳ năm trước.
Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý I năm 2019 ước
khoảng 453.3 nghìn người, chiếm 40.9% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên trong quý I năm 2019 ước 6.44%, tăng 0.8 điểm phần
trăm so với quý trước và giảm 0.63 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Qúy II
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động trong quý II năm 2019 ước gần 1.06
triệu người, giảm 1.5 nghìn người so với quý trước giảm 4.0 nghìn người so
với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2019
ước 2.16%, giảm 0,01 điểm phần trăm so với quý trước giảm 0.03 điểm
phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý II năm 2019
khoảng 488.6 nghìn người, chiếm 44.5% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên trong quý II năm 2019 6.7%, tăng 0.25 điểm phần trăm
so với quý trước và giảm 0.4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Qúy III
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2019 là 1.11 triệu người,
tăng 9.7 nghìn người so với quý trước tăng 2.9 nghìn người so với cùng kỳ
năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2019 ước
1.99%, tăng 0.01 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0.01 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước.
Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý III năm 2019
490,9 nghìn người, chiếm 44.3% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của
thanh niên trong quý III năm 2019 ước là 6.73%, tăng 0.04 điểm phần trăm so với
quý trước và giảm 0.56 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Qúy IV:
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2019 là 1.06 triệu người,
giảm 7.7 nghìn người so với quý trước giảm 2.4 nghìn người so với cùng kỳ
năm trước. Tlệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2019 2.15%,
giảm 0.02 điểm phần trăm so với quý trước và cùng kỳ năm trước.
Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý IV năm 2019 là
459.1 nghìn người, chiếm 41.4% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của
thanh niên trong quý IV năm 2019 là 6.5%, giảm 0.02 điểm phần trăm so với quý
trước và tăng 0.9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Tổng kết cả năm:
Nguồn: Diễn đàn doang nghiệp
https://diendandoanhnghiep.vn/tinh-hinh-lao-dong-va-viec-lam-nam-2019-co-gi-
dang-chu-y-175265.html
2.2 Năm 2020
Qúy I:
Dịch covid 19 xuất hiện tại Việt Nam từ 23/1/2020 đã ảnh hưởng rất nhiều đến
tình hình lao động việc làm của toàn bộ nền kinh tế. Tỉ lệ thất nghiệp thiếu
việc làm đã tăng ở mức cao nhất trong vòng 5 năm gần đây.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động trong quý I năm 2020 ước gần 1,1
triệu người, tăng 26 nghìn người so với quý trước và tăng 26,7 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2020
2,22%, tăng 0,07 điểm phần trăm so với quý trước tăng 0,05 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước.
Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý I năm 2020 ước
khoảng 492,9 nghìn người, chiếm 44,1% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên trong quý I năm 2020 ước 7,0%, tăng 0,5 điểm phần
trăm so với quý trước và tăng 0,56 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ
lệ thất nghiệp thanh niên cao gấp 5,4 lần so với tỷ lệ thất nghiệp của dân số
trưởng thành (những người từ 25 tuổi trở lên).
Qúy II:
Việc làm của người lao động ảnh hưởng rõ rệt nhất vào quý II năm 2020 khi tình
hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều ca lây nhiễm trong cộng đồng xuất
hiện đặc biệt việc áp dụng các quy định về giãn cách hội. Tỷ lệ thất
nghiệp đạt cao nhất trong vòng 10 năm qua.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2020 gần 1,3 triệu
người, tăng 192,8 nghìn người so với quý trước tăng 221 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2020
2,73%, tăng 0,51 điểm phần trăm so với quý trước tăng 0,57 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước. Đây quý tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi của khu
vực thành thị cao nhất trong vòng 10 năm qua.
Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý II năm 2020
khoảng 410,3 nghìn người, chiếm 30,7% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên trong quý II năm 2020 6,98%, tương đương so với quý
trước tăng 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp
thanh niên trong quý II tăng do ảnh hưởng chung của dịch Covid-19.
Hình 2: Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II giai đoạn 2011-2020
chia theo thành thị, nông thôn.
Nguồn: Vietnambiz
https://vietnambiz.vn/ti-le-that-nghiep-tai-viet-nam-cao-nhat-trong-10-nam-qua-
2020071023171888.htm
Qúy III
Sau khi nền kinh tế toàn cầu cũng như Việt Nam gần như chạm đáy vào quý 2 thì
đến quý 3 đã có một chút dấu hiệu khả quan hơn. Số người thất nghiệp cũng như
tỷ lệ thất nghiệpđã giảm nhẹ so với quý trước tuy nhiên vẫn mức cao nhất so
với cùng kỳ các năm trước.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2020 hơn 1,2 triệu
người, giảm 63 nghìn người so với quý trước tăng 148,2 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2020 là
2,50%, giảm 0,23 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,33 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước.
Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý III năm 2020
khoảng 408,8 nghìn người, chiếm 32,6% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên quý III năm 2020 7,24%, tăng 0,26 điểm phần trăm so
với quý trước và tăng 0,51 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; cao gấp 4,2
lần so với tỷ lệ thất nghiệp của dân số trưởng thành (những người từ 25 tuổi trở
lên). Đáng lưu ý, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên thành phố Nội thành
phố Hồ Chí Minh khá cao, tương ứng là 9,25% và 10,47%.
Hình 3: Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III các năm giai đoạn 2011-
2020 chia theo thành thị và nông thôn.
Nguồn: Thời báo ngân hàng
https://thoibaonganhang.vn/ca-nuoc-co-318-trieu-lao-dong-that-nghiep-giam-thu-
nhap-vi-covid-19-107174.html
Qúy IV:
Tình hình lao động, việc làm quý nàynhiều chuyển biến tích cực khi tỷ lệ thất
nghiệp trong độ tuổi lao động của khu vực thành thị tiếp tục giảm so với quý III
nhưng vẫn ở mức cao nhất so với cùng kỳ trong 10 năm trở lại đây.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2020 là gần 1,2 triệu
người, giảm 60,1 nghìn người so với quý trước tăng 136,8 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2020 là
2,37%, giảm 0,13 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,33 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước. Đại dịch Covid-19 đã làm tỷ lệ thất nghiệp của lao
động trong độ tuổi khu vực thành thị quý IV năm 2020 cao nhất so với cùng kỳ
trong vòng 10 năm qua.
Số thanh niên (từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý IV năm 2020 khoảng
410.9 nghìn người, chiếm 34.4% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của
thanh niên trong quý IV năm 2020 là 7.05%, tương đương so với quý trước. Tỷ lệ
thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 10.83%, khu vực nông thôn là
5.54%.
Hình 4: Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV các giai đoạn 2011-2020
chia theo thành thị và nông thôn.
Nguồn: Đầu tư chứng khoán
https://tinnhanhchungkhoan.vn/ty-le-that-nghiep-tai-thanh-thi-quy-iv-2020-o-muc-
cao-nhat-sovoi-cung-ky-trong-10-nam-qua-post259205.html
2.3 Năm 2021
Qúy I
Số người thất nghiệp giảm so với quý trước nhưng tăng so với cùng kỳ năm
trước. Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2021 gần 1,1
triệu người, giảm 137,0 nghìn người so với quý trước và tăng 12,1 nghìn người so
với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2021
2,42%, giảm 0,21 điểm phần trăm so với quý trước tăng 0,08 điểm phần
trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ này khu vực thành thị 3,19%, giảm
0,51 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ
năm trước.
Qúy II:
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2021 gần 1,2 triệu
người, tăng 87,1 nghìn người so với quý trước giảm 82,1 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2021
2,62%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,23 điểm phần trăm so
với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi của khu vực thành thị
3,36%, tăng 0,17 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,95 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước.
Số thanh niên từ 15-24 tuổi thất nghiệp trong quý II năm 2021 389,8 nghìn
người, chiếm 31,8% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên
quý II năm 2021 7,47%, tăng 0,03 điểm phần trăm so với quý trước giảm
0,13 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên
khu vực thành thị 9,57%, cao hơn 3,11 điểm phần trăm so với khu vực nông
thôn.
Qúy III:
Dịch Covid-19 lần thứ diễn biến phức tạp, lây lan nhanh kéo dài đã làm
tăng tỷ lệ số người thiếu việc làm trong độ tuổi quý III năm 2021 lên mức
cao nhất trong vòng 10 năm qua.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2021 hơn 1,7 triệu
người, tăng 532,2 nghìn người so với quý trước và tăng 449,6 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2021 là
3,98%, tăng 1,36 điểm phần trăm so với quý trước tăng 1,25 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 lần thứ
thời gian giãn cách hội kéo dài nhiều địa phương đã đẩy tỷ lệ thất nghiệp
quý III năm 2021 vượt xa con số 2% như thường thấy. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ
tuổi của khu vực thành thị 5,54%, tăng 2,18 điểm phần trăm so với quý trước
và tăng 1,60 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý III năm 2021 là 8,89%, tăng 1,42
điểm phần trăm so với quý trước tăng 0,75 điểm phần trăm so với cùng kỳ
năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 12,71%, cao hơn
5,56 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn.
Qúy IV:
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2021 hơn 1,6 triệu
người, giảm 113,1 nghìn người so với quý trước và tăng 369,2 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2021 là
3,56%, giảm 0,42 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,93 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi của khu vực thành thị là
5,09%, giảm 0,45 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,39 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý IV năm 2021 là 8,78%, giảm 0,11
điểm phần trăm so với quý trước tăng 0,84 điểm phần trăm so với cùng kỳ
năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 13,23%, cao hơn
6,52 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn.
Hình 5: Số người và tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động các quý
năm 2020 và 2021.
Nguồn: Đầu tư chứng khoán
https://tinnhanhchungkhoan.vn/ty-le-that-nghiep-va-thieu-viec-lam-trong-quy-iii-
2021-tang-lenmuc-cao-nhat-chua-tung-thay-post282221.
2.4 Năm 2022
Qúy I:
Sự quyết tâm của Chính phủ trong việc đẩy nhanh quá trình phục hồi và phát
triển kinh tế-xã hội của đất nước ngay trong quý I năm 2022 đã giúp một bộ
phận người lao động sớm quay trở lại thị trường lao động. Chính vậy, tình
hình thất nghiệp quý I năm 2022 đã khả quan hơn, thay dịch bệnh diễn
biến phức tạp như trước đây, người lao động khó hội tìm được việc làm
thì nay họ đã có thể tham gia vào thị trường lao động thuận lợi hơn.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2022 là khoảng 1,1 triệu
người, giảm 489,5 nghìn người so với quý trước tăng 16,7 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2022
2,46%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,04 điểm phần trăm so
với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi của khu vực thành thị
2,88%, giảm 2,21 điểm phần trăm so với quý trước giảm 0,31 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý I năm 2022 7,93%, giảm 0,85
điểm phần trăm so với quý trước tăng 0,49 điểm phần trăm so với cùng kỳ
năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị 9,3%, cao hơn
2,10 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn.
Qúy II:
Việc thực hiện chương trình phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội theo Nghị
quyết 11/NQ-CP với các giải pháp cụ thể, như hỗ trợ người lao động quay trở
lại thị trường lao động, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp được
triển khai đồng bộ trên cả nước đã góp phần thúc đẩy thị trường lao động quý
II năm 2022 phục hồi mạnh mẽ.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2022 gần 1,1 triệu
người, giảm 41,6 nghìn người so với quý trước và giảm 112,0 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2022
2,32%, giảm 0,14 điểm phần trăm so với quý trước giảm 0,30 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý II năm 2022 là 7,63%, giảm 0,30
điểm phần trăm so với quý trước tăng 0,16 điểm phần trăm so với cùng kỳ
năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị 9,13%, cao hơn
2,30 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn.
Qúy III:
Trong bối cảnh dịch Covid-19 được kiểm soát tốt, hoạt động sản xuất kinh
doanh đang trên đà phục hồi mạnh, thị trường lao động quý III tiếp tục duy trì
đà phục hồi. Số người có việc làm tăng lên so với quý trước và cùng kỳ năm.
Tình hình thất nghiệp của người lao động vẫn tiếp tục duy trì xu hướng giảm
so với quý trước và cùng kỳ năm trước.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2022 gần 1,06 triệu
người, giảm 13,9 nghìn người so với quý trước đặc biệt giảm 658,1 nghìn
người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III
năm 2022 2,28%, giảm 0,04 điểm phần trăm so với quý trước giảm 1,70
điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý III năm 2022 là 8,02%, tăng 0,39
điểm phần trăm so với quý trước giảm 0,87 điểm phần trăm so với cùng kỳ
năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 10,54%, cao hơn
3,84 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn
Hình 6: Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động
trong độ tuổi các quý từ năm 2020-2022 (%)
Nguồn: Nhân dân
https://nhandan.vn/9-thang-ty-le-that-nghiep-cua-lao-dong-trong-do-tuoi-la-235-
post717536.html
3. Tác động của thất nghiệp tới nền kinh tế Việt Nam
Thất nghiệp tác động đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát:
Thất nghiệp chính là tình trạng người dân không có việc làm, không có cơ hội để
tham gia lao động. Khi ấy, nhân lực bị lãng phí, thừa thãi, các hoạt động sản xuất
và kinh doanh sẽ giảm về doanh số cũng như quy mô. Vì thế, nền kinh tế trở nên
suy thoái, trì trệ và kém phát triển (do tổng thu nhập quốc gia thấp hơn tiềm năng
của quốc gia đó, do vốn ngôn sách bị thu hẹp, do thiếu vốn đầu tư,...). Giữa tốc độ
tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát luôn mối quan hệ mật thiết. Khi tốc
độ tăng trưởng giảm là khi tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát tăng lên và ngược lại.
Thất nghiệp tác động đến thu nhập và đời sống người lao động:
Người lao động không việc làm thì không thu nhập. Không thu nhập thì
đời sống của người lao động cũng như gia đình họ trở nên khó khăn. Con cái gặp
khó khăn khi đi học, sức khỏe giảm sút do thiếu kinh tế để chăm sóc sức khỏe, cơ
thể trở nên suy nhược do ăn uống thiếu dinh dưỡng…Thất nghiệp khiến cuộc
sống trở nên chật vật, bí bách. Con người rơi vào tình trạng thiếu thốn và dẫn đến
nhiều việc làm bộc phát sai lầm.
Thất nghiệp tác động đến trật tự xã hội
Thất nghiệp gia tăng cũng một do khiến trật tự hội không ổn định. Xuất
hiện các hiện tượng lãn công, bãi công, biểu tình đòi quyền lợi…Ngoài ra, các tai
tệ nạn xã hội cũng sinh lên nhiều như trộm cắp, cờ bạc, mại dâm… Tình trạng tảo
hôn, ly hôn, suy thoái nòi giống. Mất thuần phong mỹ tục Việt Nam… Ngoài ra,
khi tỷ lệ thất nghiệp khó kiểm soát còn dẫn đến tình trạng người dân dần mất
niềm tin với các nhà cầm quyền. Từ đó, có thể gây ra xáo trộn xã hội, thậm chí
biến động chính trị.
4.Nguyên nhân của thất nghiệp

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA NGÂN HÀNG ----------***---------- BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ ĐỀ TÀI
THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2019-2022 NHÓM 8 – K25NHD HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA NGÂN HÀNG ----------***---------- BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ ĐỀ TÀI
THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2019-2022
Giáo viên hướng dẫn: Đặng Thị Thúy Duyên Nhóm 8 – K25NHD: 1. 25A4010416 Ngô Thị Lê Phương 2. 25A4010422 Vũ Thị Kim Phượng 3. 25A4010423 Lê Minh Quân 4. 25A4010429 Đào Như Quỳnh 5. 25A4010434 Vũ Thị Như Quynh 6.
25A4010437 Nguyễn Thị Mỹ Tâm 7. 25A4010440 Bùi Thị Giang Thanh MỤC LỤC MỞ ĐẦU NỘI DUNG KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO MỞ ĐẦU
Vấn đề việc làm và thất nghiệp luôn nhận được sự quan tâm lớn của hầu hết các
quốc gia trên thế giới. Thất nghiệp tồn tại ở tất cả các nền kinh tế và chúng có các
mức độ khác nhau. Hầu hết các quốc gia đều cố gắng xây dựng các chính sách
hướng đến tăng trưởng kinh tế, ổn định các mức giá cho dịch vụ và hàng hóa, cải
thiện nguồn cung việc làm và cắt giảm tình trạng thiếu việc làm. Thế nhưng cho
đến nay, đại dịch COVID-19 đã càn quét khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới và
đang diễn biến rất khó lường tại nhiều quốc gia. Tình hình dịch bệnh kéo dài đã
gây ra những tác động tiêu cực không nhỏ đến cả các nền kinh tế lớn như Mỹ,
Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh Châu Âu,... Tình hình dịch Covid19 ở Việt
Nam cũng không ngoại lệ và đang diễn biến hết sức phức tạp (La, 2020; Vuong,
Q.H., 2022). Việt Nam có 1,6 triệu ca mắc trong đó hơn 1,1 triệu người đã khỏi
bệnh và hơn 30 nghìn đồng bào tử vong (số liệu của Bộ Y tế tính đến ngày
24/12/2021). Mỗi ngày, số ca mắc COVID-19 lên đến vài nghìn. Ở các thành phố
lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh… - nơi tập trung nhiều người lao động và các khu
công nghiệp buộc phải tạm dừng hoạt động, thực hiện giãn cách xã hội nghiêm
ngặt trong một thời gian nhất định để hỗ trợ phòng dịch. Đồng thời, người dân
cũng buộc phải ở trong nhà, không được ra ngoài nếu không có việc gì khẩn cấp.
Và một trong những ảnh hưởng lớn nhất từ đại dịch này chính là nạn thất nghiệp
– vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THẤT NGHIỆP
I. Khái niệm thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp 1. Thất nghiệp
Thất nghiệp trong kinh tế học là tình trạng người lao động muốn có việc lm hoặc
không được tổ chức, công ty và cộng đồng nhận vào làm.
Thất nghiệp là thuật ngữ thường được sử dụng trong kinh tế vĩ mô để chỉ tình
trạng người đang trong độ tuổi lao động, có đầy đủ khả năng lao động và có nhu cầu tìm việc.
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số
người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc
làm ở mức lương thịnh hành”.
“Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có
nhu cầu việc làm, đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm”. 2. Tỉ lệ thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm những người thất nghiệp trong lực lượng lao
động và được tính như sau:
Tỷ lệ thất nghiệp = (Số người thất nghiệp / Lực lượng lao động).100%
Tỷ lệ thất nghiệp cho biết hiệu quả sử dụng lao động của nền kinh tế.
II. Các khái niệm liên quan
Trong thực tế, không phải mọi người đều muốn có việc làm. Vì vậy không thể nói
rằng những người không có việc làm đều là những người thất nghiệp. Để có cơ sở
xác định thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp một cách đúng đắn, chúng ta cần phải
phân biệt một số khái niệm sau:
Người thất nghiệp: Là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao
động nhưng chưa có việc làm và mong muốn tìm kiếm được việc làm.
Người trong độ tuổi lao động: Là những người ở độ tuổi được hiến pháp và
pháp luật quy định có nghĩa vụ và quyền lợi lao động.
Người có việc làm: Là những người đang làm một việc gì đó mà tạo ra thu nhập.
Họ có thể đang làm cho các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, tự kinh doanh… có thể
làm bán thời gian hoặc toàn thời gian.
Lực lượng lao động: Là số người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm hoặc
chưa có việc làm nhưng đang tìm kiếm việc làm.
Lực lượng lao động (L) = Số người có việc làm (E) + Số người thất nghiệp (U)
Người không tham gia lực lượng lao động: Là những người ngoài độ tuổi lao
động nhưng không có nhu cầu tìm việc, không có khả năng lao động hoặc đang đi
học, đi nghĩa vụ quân sự…
Tỉ lệ lực lượng lao động:
Ngoài ra để đánh giá quy mô của lực lượng lao động người ta sử dụng tỉ lệ lực
lượng lao động: Tỉ lệ phần trăm của lực lượng lao động với dân số trưởng thành và được tính như sau:
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động=(Lực lượng lao động / Dân số trưởng thành). 100%. III. Phân loại thất nghiệp
1. Phân loại theo đặc trưng của người thất nghiệp:
Thất nghiệp là một gánh nặng, nhưng gánh nặng đó rơi vào đâu, bộ phận dân cư
nào, ngành nghề nào…Chúng ta cần biết được điều đó để hiểu được đặc điểm,
tính chất, mức độ tác hại… của thất nghiệp trong thực tế. Với mục đích đó có thể
dùng những tiêu thức phân loại dưới đây:
– Thất nghiệp theo giới tính (nam, nữ).
– Thất nghiệp theo lứa tuổi.
– Thất nghiệp theo vùng, lãnh thổ (thành thị, nông thôn).
– Thất nghiệp chia theo ngành nghề.
– Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc.
2. Phân loại theo lý do thất nghiệp:
Trong khái niệm thất nghiệp, cần phân biệt rõ thất nghiệp tự nguyện và thất
nghiệp không tự nguyện. Nói khác đi là những người lao động tự nguyện xin thôi
việc và những người lao động buộc phải thôi việc. Trong nền kinh tế thị trường
năng động, lao động ở các nhóm, các ngành, các công ty được trả tiền công lao
động khác nhau (mức lương không thống nhất trong các ngành nghề, cấp bậc).
Việc đi làm hay nghỉ việc là quyền của mỗi người. Cho nên, người lao động có sự
so sánh, chỗ nào lương cao thì làm, chỗ nào lương thấp (không phù hợp) thì nghỉ.
Vì thế xảy ra hiện tượng:
Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nào đó
người lao động khống muốn làm việc hoặc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển,
sinh con…). Thất nghiệp loại này thường là tạm thời.
Thất nghiệp không tự nguyện: Là thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó người
lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái, cung
lớn hơn cầu về lao động…
3. Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp:
Thất nghiệp tạm thời: Là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng
của người lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữa các giai đoạn
khác nhau của cuộc sống. Thậm chí trong một nền kinh tế có đủ việc làm vẫn
luôn có sự chuyển động nào đó như một số người tìm việc làm sau khi tốt nghiệp
hoặc di chuyển chỗ ở từ nơi này sang nơi khác; phụ nữ có thể quay lại lực lượng
lao động sau khi sinh con…
Thất nghiệp có tính cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung- cầu lao
động (giữa các ngành nghề, khu vực…). Loại này gắn liền với sự biến động cơ
cấu kinh tế và gây ra do sự suy thoái của một ngành nào đó hoặc là sự thay đổi
công nghệ dẫn đến đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn, ai không đáp ứng được sẽ bị sa thải.
Chính vì vậy, thất nghiệp loại này còn gọi là thất nghiệp công nghệ. Trong nền
kinh tế hiện đại, thất nghiệp loại này thường xuyên xảy ra. Khi sự biến động này
là mạnh và kéo dài, nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng và chuyển sang thất nghiệp
dài hạn. Nếu tiền lương rất linh hoạt thì sự mất cân đối trong thị trường lao động
sẽ mất đi khi tiền lương trong những khu vực có nguồn cung lao động hạ xuống,
và ở trong khu vực có mức cầu lao động cao tăng lên.
Thất nghiệp do thiếu cầu: Loại thất nghiệp này xảy ra khi mức cầu chung về lao
động giảm xuống. Nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu.
Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu
kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường nó
gắn liền với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh. Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất
hiện của loại này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi ngành nghề.
Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: Loại thất nghiệp này còn được gọi theo
lý thuyết cổ điển. Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng
thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động. Vì tiền
lương không chỉ quan hệ đến sự phân phối thu nhập gắn với kết quả lao động mà
còn quan hệ đến mức sống tối thiểu nên nhiều nhiều quốc gia (Chính phủ hoặc
công đoàn) có quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu, sự không linh hoạt của
tiền lương (ngược với sự năng động của thị trường lao động), dẫn đến một bộ
phận mất việc làm hoặc khó tìm việc làm. CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2019-2022
1. Sơ lược về tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn 2019-2022
Thất nghiệp là một vấn đề kinh tế-xã hội phổ biến đối với các quốc gia trên
toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Theo báo cáo điều tra lao động việc làm của
Tổng cục thống kê: Năm 2019, Việt Nam có hơn 1.1 triệu người thất nghiệp với
tỷ lệ là 2.17%. Trong đó tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị chiếm 3.11% và ở nông thôn là 1.69%.
Cuối tháng 1 năm 2020, đại dịch Covid19 xuất hiện khiến thị trường lao động
Việt Nam điêu đứng. Lần đầu tiên trong suốt thập kỉ qua, Việt Nam trải qua giai
đoạn giảm sụt nghiêm trọng về số người có việc làm. Hay nói cách khác, tỉ lệ thất
nghiệp và thiếu việc làm tăng cao hẳn so với xu hướng giảm trong nhiều năm gần
đây. Năm 2020, hơn 1.2 triệu người thất nghiệp, tỷ lệ tăng lên tới 2.48%, ở thành
thị là 3.89% và ở nông thôn là 1.75%. Trong các khu vực kinh tế thì khu vực dịch
vụ là chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, tới 68.9% số lao động ở khu vực này không có việc làm.
Năm 2021, ở một số địa phương bùng phát dịch Covid19 đã tác động không ít tới
đà khôi phục tình hình thiếu việc làm ở nước ta. Theo thống kê, năm 2021 có tới
1.4 triệu người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của năm 2021 lên tới 3.22%, tăng
0.74% so với năm trước. Tổng cục thông kê cho hay: dù Chính phủ đã ban hành
chính sách chủ động thích ứng trong phòng chống Covid và giảm thiểu tình trạng
thiếu việc làm. Nhưng nhìn chung, thị trường lao động Việt Nam năm 2021 vẫn
còn gặp nhiều khó khăn, tỉ lệ thất nghiệp vẫn cao hơn năm trước, khu vực thành
thị vượt mốc 4% với con số tỷ lệ là 4.42% và ở nông thôn là 2.48 %.
Theo báo cáo lao động việc làm quý III/2022 được Tổng cục Thống kê phát
hành tháng 6/2022. Số người thất nghiệp là 1.1 triệu người với tỷ lệ giảm xuống
còn 2.29%. Theo đánh giá, thị trường lao động việc làm Việt Nam tính đến quý
III chuyển biến tích cực, có nhiều khởi sắc. Có thể nói, tình hình thất nghiệp ở
Việt Nam đang trên đà phục hồi và phát triển.
2. Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2019-2022 2.1 Năm 2019 Qúy I
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động trong quý I năm 2019 ước gần 1.1
triệu người, giảm 0.1 nghìn người so với quý trước và giảm 1.3 nghìn người so
với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2019
là 2.17%, giảm 0.01 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0.03 điểm phần
trăm so với cùng kỳ năm trước.
Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý I năm 2019 ước
khoảng 453.3 nghìn người, chiếm 40.9% tổng số người thất nghiệp. T ỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên trong quý I năm 2019 ước là 6.44%, tăng 0.8 điểm phần
trăm so với quý trước và giảm 0.63 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Qúy II
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động trong quý II năm 2019 ước gần 1.06
triệu người, giảm 1.5 nghìn người so với quý trước và giảm 4.0 nghìn người so
với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2019
ước là 2.16%, giảm 0,01 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0.03 điểm
phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý II năm 2019
khoảng 488.6 nghìn người, chiếm 44.5% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên trong quý II năm 2019 là 6.7%, tăng 0.25 điểm phần trăm
so với quý trước và giảm 0.4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Qúy III
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2019 là 1.11 triệu người,
tăng 9.7 nghìn người so với quý trước và tăng 2.9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ
lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2019 ước là
1.99%, tăng 0.01 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0.01 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước.
Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý III năm 2019 là
490,9 nghìn người, chiếm 44.3% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của
thanh niên trong quý III năm 2019 ước là 6.73%, tăng 0.04 điểm phần trăm so với
quý trước và giảm 0.56 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Qúy IV:
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2019 là 1.06 triệu người,
giảm 7.7 nghìn người so với quý trước và giảm 2.4 nghìn người so với cùng kỳ
năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2019 là 2.15%,
giảm 0.02 điểm phần trăm so với quý trước và cùng kỳ năm trước.
Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý IV năm 2019 là
459.1 nghìn người, chiếm 41.4% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của
thanh niên trong quý IV năm 2019 là 6.5%, giảm 0.02 điểm phần trăm so với quý
trước và tăng 0.9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tổng kết cả năm:
Nguồn: Diễn đàn doang nghiệp
https://diendandoanhnghiep.vn/tinh-hinh-lao-dong-va-viec-lam-nam-2019-co-gi- dang-chu-y-175265.html 2.2 Năm 2020 Qúy I:
Dịch covid 19 xuất hiện tại Việt Nam từ 23/1/2020 đã ảnh hưởng rất nhiều đến
tình hình lao động và việc làm của toàn bộ nền kinh tế. Tỉ lệ thất nghiệp và thiếu
việc làm đã tăng ở mức cao nhất trong vòng 5 năm gần đây.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động trong quý I năm 2020 ước gần 1,1
triệu người, tăng 26 nghìn người so với quý trước và tăng 26,7 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2020 là
2,22%, tăng 0,07 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,05 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước.
Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý I năm 2020 ước
khoảng 492,9 nghìn người, chiếm 44,1% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên trong quý I năm 2020 ước là 7,0%, tăng 0,5 điểm phần
trăm so với quý trước và tăng 0,56 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ
lệ thất nghiệp thanh niên cao gấp 5,4 lần so với tỷ lệ thất nghiệp của dân số
trưởng thành (những người từ 25 tuổi trở lên). Qúy II:
Việc làm của người lao động ảnh hưởng rõ rệt nhất vào quý II năm 2020 khi tình
hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều ca lây nhiễm trong cộng đồng xuất
hiện và đặc biệt là việc áp dụng các quy định về giãn cách xã hội. Tỷ lệ thất
nghiệp đạt cao nhất trong vòng 10 năm qua.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2020 là gần 1,3 triệu
người, tăng 192,8 nghìn người so với quý trước và tăng 221 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2020 là
2,73%, tăng 0,51 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,57 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước. Đây là quý có tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi của khu
vực thành thị cao nhất trong vòng 10 năm qua.
Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý II năm 2020
khoảng 410,3 nghìn người, chiếm 30,7% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên trong quý II năm 2020 là 6,98%, tương đương so với quý
trước và tăng 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp
thanh niên trong quý II tăng do ảnh hưởng chung của dịch Covid-19.
Hình 2: Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II giai đoạn 2011-2020
chia theo thành thị, nông thôn. Nguồn: Vietnambiz
https://vietnambiz.vn/ti-le-that-nghiep-tai-viet-nam-cao-nhat-trong-10-nam-qua- 2020071023171888.htm Qúy III
Sau khi nền kinh tế toàn cầu cũng như Việt Nam gần như chạm đáy vào quý 2 thì
đến quý 3 đã có một chút dấu hiệu khả quan hơn. Số người thất nghiệp cũng như
tỷ lệ thất nghiệpđã giảm nhẹ so với quý trước tuy nhiên vẫn ở mức cao nhất so
với cùng kỳ các năm trước.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2020 là hơn 1,2 triệu
người, giảm 63 nghìn người so với quý trước và tăng 148,2 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2020 là
2,50%, giảm 0,23 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,33 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước.
Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý III năm 2020
khoảng 408,8 nghìn người, chiếm 32,6% tổng số người thất nghiệp. T ỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên quý III năm 2020 là 7,24%, tăng 0,26 điểm phần trăm so
với quý trước và tăng 0,51 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; cao gấp 4,2
lần so với tỷ lệ thất nghiệp của dân số trưởng thành (những người từ 25 tuổi trở
lên). Đáng lưu ý, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên ở thành phố Hà Nội và thành
phố Hồ Chí Minh khá cao, tương ứng là 9,25% và 10,47%.
Hình 3: Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III các năm giai đoạn 2011-
2020 chia theo thành thị và nông thôn.
Nguồn: Thời báo ngân hàng
https://thoibaonganhang.vn/ca-nuoc-co-318-trieu-lao-dong-that-nghiep-giam-thu- nhap-vi-covid-19-107174.html Qúy IV:
Tình hình lao động, việc làm quý này có nhiều chuyển biến tích cực khi tỷ lệ thất
nghiệp trong độ tuổi lao động của khu vực thành thị tiếp tục giảm so với quý III
nhưng vẫn ở mức cao nhất so với cùng kỳ trong 10 năm trở lại đây.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2020 là gần 1,2 triệu
người, giảm 60,1 nghìn người so với quý trước và tăng 136,8 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp
trong độ tuổi lao động quý IV năm 2020 là
2,37%, giảm 0,13 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,33 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước. Đại dịch Covid-19 đã làm tỷ lệ thất nghiệp của lao
động trong độ tuổi khu vực thành thị quý IV năm 2020 cao nhất so với cùng kỳ trong vòng 10 năm qua.
Số thanh niên (từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý IV năm 2020 khoảng
410.9 nghìn người, chiếm 34.4% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của
thanh niên trong quý IV năm 2020 là 7.05%, tương đương so với quý trước. Tỷ lệ
thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 10.83%, khu vực nông thôn là 5.54%.
Hình 4: Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV các giai đoạn 2011-2020
chia theo thành thị và nông thôn.
Nguồn: Đầu tư chứng khoán
https://tinnhanhchungkhoan.vn/ty-le-that-nghiep-tai-thanh-thi-quy-iv-2020-o-muc-
cao-nhat-sovoi-cung-ky-trong-10-nam-qua-post259205.html 2.3 Năm 2021 Qúy I
Số người thất nghiệp giảm so với quý trước nhưng tăng so với cùng kỳ năm
trước. Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2021 là gần 1,1
triệu người, giảm 137,0 nghìn người so với quý trước và tăng 12,1 nghìn người so
với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2021
là 2,42%, giảm 0,21 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,08 điểm phần
trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 3,19%, giảm
0,51 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Qúy II:
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2021 là gần 1,2 triệu
người, tăng 87,1 nghìn người so với quý trước và giảm 82,1 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2021 là
2,62%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,23 điểm phần trăm so
với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi của khu vực thành thị là
3,36%, tăng 0,17 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,95 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước.
Số thanh niên từ 15-24 tuổi thất nghiệp trong quý II năm 2021 là 389,8 nghìn
người, chiếm 31,8% tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên
quý II năm 2021 là 7,47%, tăng 0,03 điểm phần trăm so với quý trước và giảm
0,13 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên
khu vực thành thị là 9,57%, cao hơn 3,11 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn. Qúy III:
Dịch Covid-19 lần thứ tư diễn biến phức tạp, lây lan nhanh và kéo dài đã làm
tăng tỷ lệ và số người thiếu việc làm trong độ tuổi quý III năm 2021 lên mức
cao nhất trong vòng 10 năm qua.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2021 là hơn 1,7 triệu
người, tăng 532,2 nghìn người so với quý trước và tăng 449,6 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2021 là
3,98%, tăng 1,36 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,25 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 lần thứ tư và
thời gian giãn cách xã hội kéo dài ở nhiều địa phương đã đẩy tỷ lệ thất nghiệp
quý III năm 2021 vượt xa con số 2% như thường thấy. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ
tuổi của khu vực thành thị là 5,54%, tăng 2,18 điểm phần trăm so với quý trước
và tăng 1,60 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý III năm 2021 là 8,89%, tăng 1,42
điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,75 điểm phần trăm so với cùng kỳ
năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 12,71%, cao hơn
5,56 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn. Qúy IV:
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2021 là hơn 1,6 triệu
người, giảm 113,1 nghìn người so với quý trước và tăng 369,2 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2021 là
3,56%, giảm 0,42 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,93 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi của khu vực thành thị là
5,09%, giảm 0,45 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,39 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý IV năm 2021 là 8,78%, giảm 0,11
điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,84 điểm phần trăm so với cùng kỳ
năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 13,23%, cao hơn
6,52 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn.
Hình 5: Số người và tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động các quý năm 2020 và 2021.
Nguồn: Đầu tư chứng khoán
https://tinnhanhchungkhoan.vn/ty-le-that-nghiep-va-thieu-viec-lam-trong-quy-iii-
2021-tang-lenmuc-cao-nhat-chua-tung-thay-post282221. 2.4 Năm 2022 Qúy I:
Sự quyết tâm của Chính phủ trong việc đẩy nhanh quá trình phục hồi và phát
triển kinh tế-xã hội của đất nước ngay trong quý I năm 2022 đã giúp một bộ
phận người lao động sớm quay trở lại thị trường lao động. Chính vì vậy, tình
hình thất nghiệp ở quý I năm 2022 đã khả quan hơn, thay vì dịch bệnh diễn
biến phức tạp như trước đây, người lao động khó có cơ hội tìm được việc làm
thì nay họ đã có thể tham gia vào thị trường lao động thuận lợi hơn.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2022 là khoảng 1,1 triệu
người, giảm 489,5 nghìn người so với quý trước và tăng 16,7 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2022 là
2,46%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,04 điểm phần trăm so
với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi của khu vực thành thị là
2,88%, giảm 2,21 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,31 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý I năm 2022 là 7,93%, giảm 0,85
điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,49 điểm phần trăm so với cùng kỳ
năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 9,3%, cao hơn
2,10 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn. Qúy II:
Việc thực hiện chương trình phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội theo Nghị
quyết 11/NQ-CP với các giải pháp cụ thể, như hỗ trợ người lao động quay trở
lại thị trường lao động, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp được
triển khai đồng bộ trên cả nước đã góp phần thúc đẩy thị trường lao động quý
II năm 2022 phục hồi mạnh mẽ.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2022 là gần 1,1 triệu
người, giảm 41,6 nghìn người so với quý trước và giảm 112,0 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2022 là
2,32%, giảm 0,14 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,30 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý II năm 2022 là 7,63%, giảm 0,30
điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,16 điểm phần trăm so với cùng kỳ
năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 9,13%, cao hơn
2,30 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn. Qúy III:
Trong bối cảnh dịch Covid-19 được kiểm soát tốt, hoạt động sản xuất kinh
doanh đang trên đà phục hồi mạnh, thị trường lao động quý III tiếp tục duy trì
đà phục hồi. Số người có việc làm tăng lên so với quý trước và cùng kỳ năm.
Tình hình thất nghiệp của người lao động vẫn tiếp tục duy trì xu hướng giảm
so với quý trước và cùng kỳ năm trước.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2022 là gần 1,06 triệu
người, giảm 13,9 nghìn người so với quý trước và đặc biệt giảm 658,1 nghìn
người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III
năm 2022 là 2,28%, giảm 0,04 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 1,70
điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý III năm 2022 là 8,02%, tăng 0,39
điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,87 điểm phần trăm so với cùng kỳ
năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 10,54%, cao hơn
3,84 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn
Hình 6: Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động
trong độ tuổi các quý từ năm 2020-2022 (%) Nguồn: Nhân dân
https://nhandan.vn/9-thang-ty-le-that-nghiep-cua-lao-dong-trong-do-tuoi-la-235- post717536.html
3. Tác động của thất nghiệp tới nền kinh tế Việt Nam
Thất nghiệp tác động đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát:
Thất nghiệp chính là tình trạng người dân không có việc làm, không có cơ hội để
tham gia lao động. Khi ấy, nhân lực bị lãng phí, thừa thãi, các hoạt động sản xuất
và kinh doanh sẽ giảm về doanh số cũng như quy mô. Vì thế, nền kinh tế trở nên
suy thoái, trì trệ và kém phát triển (do tổng thu nhập quốc gia thấp hơn tiềm năng
của quốc gia đó, do vốn ngôn sách bị thu hẹp, do thiếu vốn đầu tư,...). Giữa tốc độ
tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát luôn có mối quan hệ mật thiết. Khi tốc
độ tăng trưởng giảm là khi tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát tăng lên và ngược lại.
Thất nghiệp tác động đến thu nhập và đời sống người lao động:
Người lao động không có việc làm thì không có thu nhập. Không có thu nhập thì
đời sống của người lao động cũng như gia đình họ trở nên khó khăn. Con cái gặp
khó khăn khi đi học, sức khỏe giảm sút do thiếu kinh tế để chăm sóc sức khỏe, cơ
thể trở nên suy nhược do ăn uống thiếu dinh dưỡng…Thất nghiệp khiến cuộc
sống trở nên chật vật, bí bách. Con người rơi vào tình trạng thiếu thốn và dẫn đến
nhiều việc làm bộc phát sai lầm.
Thất nghiệp tác động đến trật tự xã hội
Thất nghiệp gia tăng cũng là một lí do khiến trật tự xã hội không ổn định. Xuất
hiện các hiện tượng lãn công, bãi công, biểu tình đòi quyền lợi…Ngoài ra, các tai
tệ nạn xã hội cũng sinh lên nhiều như trộm cắp, cờ bạc, mại dâm… Tình trạng tảo
hôn, ly hôn, suy thoái nòi giống. Mất thuần phong mỹ tục Việt Nam… Ngoài ra,
khi tỷ lệ thất nghiệp khó kiểm soát còn dẫn đến tình trạng người dân dần mất
niềm tin với các nhà cầm quyền. Từ đó, có thể gây ra xáo trộn xã hội, thậm chí là biến động chính trị.
4.Nguyên nhân của thất nghiệp