

















Preview text:
Contents
Lời mở đầu.......................................................................................................................................3
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN.......................................................................................................4
1.1. Lạm phát...............................................................................................................................4
1.1.1. Khái niệm.......................................................................................................................4
1.1.2. Thước đo............................................................................................................................4
1.1.3. Ảnh hưởng.........................................................................................................................4
1.1.4. Những vấn đề lạm phát..................................................................................................5
1.2. Chính sách tài khóa.............................................................................................................6
1.2.1. Khái niệm........................................................................................................................6
1.2.2. Công cụ chính sách tài khóa.........................................................................................7
1.2.3. Vai trò chính sách tài khóa trong nền kinh tế vĩ mô ……………………………………………………7
CHƯƠNG II. TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VN GIAI ĐOẠN 2010-2011................................8
1.1. Thực trạng.............................................................................................................................8
2.1. Nguyên nhân.........................................................................................................................8
CHƯƠNG III. CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2010-2011....8
2.1. Chính sách tài khóa của Việt Nam giai đoạn 2010-2011....................................................8
2.1.1. Khái quát kinh tế Việt Nam trước giai đoạn 2010-2011..............................................8
2.1.2. Thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân
sách nhà nước năm 2011.........................................................................................................8
BÀI TẬP LỚN KINH TẾ VĨ MÔ CHỦ ĐỀ:
TÌNH HÌNH LẠM PHÁT CỦA VIỆT
NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2010-2011 LỚP: K26KTB GIẢNG VIÊN: AN NHƯ HƯNG THÀNH VIÊN:
1) TRẦN BÙI PHƯƠNG ANH – 26A4022221
2) ĐOÀN ĐỨC HIẾU – 26A4022700
3) LÊ NAM KHÁNH – 26A4023119
4) NGUYỄN QUỐC KHÁNH – 26A4023120
5) NGUYỄN THỊ NGỌC – 26A4020428
6) VŨ KHÁNH QUANG – 26A4020457
7) NGUYỄN ĐỨC TRỌNG – 26A4021341 Lời mở đầu
Lạm phát là một tình trạng đang diễn ra phổ biến và có ảnh hưởng rất lớn
đối với nền kinh tế của các nước đang phát triển, trong đó có cả Việt Nam. Kỷ lục
lạm phát của Việt Nam đã vượt qua tất cả các quốc gia trong khu vực kể từ khi đất
nước tiến hành đổi mới đến nay. Hiện nay tình hình lạm phát ở nước ta đang rơi vào
khoảng 4,49% tính đến tháng 9 năm 2023. Trong quá khứ Việt Nam ta đã có rất
nhiều lần chạm mức lạm phát rất cao, xấp xỉ siêu lạm phát. Nghiên cứu cho biết,
trong 27 năm từ 1996-2012, Việt Nam có 13 năm và 4 giai đoạn lạm phát trên 2 con
số, trong đó đáng kể nhất là từ 1986-1992 với mức lạm phát bình quân ba chứ số
225%/năm; 2007-2008 với 16,3% năm và gần đây nhất là 2010-2011 với 15%/năm.
Chúng em đã quyết định lựa chọn nghiên cứu giai đoạn 2010-2011 để số
liệu có phần chính xác hơn. Tình trạng lạm phát lúc đó đã tác động mạnh đến đời
sống thường ngày của người dân, hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh
nghiệp cũng chịu ảnh hưởng lớn. Nó như một nhát dao chém mạnh vào nền kinh tế
vĩ mô của nước ta. Đây chính là vấn đề quan trọng mà Chính phủ ta đã tập trung
nghiên cứu và đưa ra những chính sách nhằm kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế
vĩ mô đầy biến động vào năm 2011 khi ấy.
Thông qua bộ môn Kinh tế vĩ mô, nhóm chúng em đã tìm hiểu, nghiên cứu
và phân tích đề tài "Lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn 2010-2011". Nội dung
của bài tiểu luận gồm 3 chương. Chương đầu tiên khái quát về cơ sở lý thuyết của
lạm phát và chính sách tài khóa, nhằm làm rõ các khái niệm cũng như vai trò và ảnh
hưởng liên quan. Chương thứ 2 làm rõ tình hình lạm phát tại Việt Nam trong giai
đoạn 2010-2011. Chương thứ 3 phân tích phương hướng, tác dụng của chính sách
tài khóa do Chính phủ đề ra để từ đó đề ra các giải pháp kiềm chế tình trạng lạm
phát ở trong giai đoạn này.
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Lạm phát 1.1.1. Khái niệm
- Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo
thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó.
- Khi mức giá chung tăng cao thì một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch
vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một
đơn vị tiền tệ. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay
một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự "ổn định giá cả". Mức giá chung
hay chỉ số giá cả để đánh giá lạm phát là các chỉ số sau: chì số giảm phát, chỉ số giá
tiêu dùng (CPI), chỉ số giá sản xuất (PPI)
- Lạm phát có 3 mức độ:
+ Lạm phát tự nhiên: 0 – dưới 10%
+ Lạm phát phi mã: 10% đến dưới 1000%
+ Siêu lạm phát: trên 1000% 1.1.2. Thước đo
- Thước đo tình trạng lạm phát chủ yếu trong một thời kì là tỉ lệ lạm phát. Là tỷ lệ
phần trăm chênh lệch của một trong các chỉ số ở hai thời điểm khác nhau.
- Ví dụ, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một cách đo lường tổng chi phí chung của các
loại hàng hóa và dịch vụ mà một người tiêu dùng thông thường mua. CPI đo giá của
hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu. Công thức tính tỷ lệ lạm phát
hàng năm bằng chỉ số CPI là: CP I Tỷ lệ lạm phát (π) =
t−CPIt−1 100% CPIt−1 1.1.3. Ảnh hưởng
a. Tác động tiêu cực
*Lạm phát và lãi suất:
- Lạm phát của các quốc gia trên thế giới khi xảy ra trong lâu dài sẽ có tác động xấu
đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của quốc gia ấy. Trong đó, tác
động đầu tiên của lạm phát là tác động lên lãi suất.
- Ta có: Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát.
- Do đó khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, nếu muốn cho lãi suất thật ổn định và thực
dương thì lãi suất danh nghĩa phải tăng lên theo tỷ lệ lạm phát và dẫn đến hậu quả là
suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng.
*Lạm phát và thu nhập thực tế:
- Khi lạm phát tăng lên mà thu nhập danh nghĩa không thay đổi thì làm cho thu
nhập thực tế của người lao động giảm xuống. Lạm phát không chỉ làm giảm giá trị
thật của những tài sản không có lãi mà nó còn làm hao mòn giá trị của những tài sản
có lãi, tức là làm giảm thu nhập thực từ các khoản lãi, các khoản lợi tức. Đó là do
chính sách thuế của nhà nước được tính trên cơ sở của thu nhập danh nghĩa. Khi
lạm phát tăng cao, những người đi vay tăng lãi suất danh nghĩa để bù vào tỷ lệ lạm
phát tăng cao mặc dù thuế suất vẫn không tăng.
- Từ đó, thu nhập ròng (thực) của của người cho vay bằng thu nhập danh nghĩa trừ
đi tỷ lệ lạm phát bị giảm xuống sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế xã hội. Như
suy thoái kinh tế, thất nghiệp gia tăng, đời sống của người lao động trở nên khó
khăn hơn sẽ làm giảm lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ …
*Lạm phát và phân phối thu nhập không bình đẳng:
- Khi lạm phát tăng lên, giá trị của đồng tiền giảm xuấng, người đi vay sẽ có lợi
trong việc vay vốn để đầu cơ kiếm lợi. Do vậy càng tăng thêm nhu cầu tiền vay
trong nền kinh tế, đẩy lãi suất lên cao.
- Lạm phát tăng cao còn khiến những người giàu có dùng tiền của mình vơ vét và
thu gom hàng hoá, tài sản, nạn đầu cơ xuất hiện, tình trạng này càng làm mất cân
đối nghiêm trọng quan hệ cung - cầu hàng hoá trên thị trường, giá cả hàng hoá cũng
lên cao hơn. Cuối cùng, những người dân nghèo đã nghèo càng thêm nghèo, những
kẻ đầu cơ đã vơ vét sạch hàng hoá thì trở nên càng giàu có hơn. Tình trạng lạm phát
như vậy sẽ có thể gây những rối loạn trong nền kinh tế và tạo ra khoảng cách lớn về
thu nhập, về mức sống giữa người giàu và người nghèo.
*Lạm phát và nợ quốc gia:
- Lạm phát cao làm cho Chính phủ được lợi do thuế thu nhập đánh vào người dân,
nhưng những khoản nợ nước ngoài sẽ trở nên trầm trọng hơn. Lý do là vì: lạm phát
đã làm tỷ giá giá tăng và đồng tiền trong nước trở nên mất giá nhanh hơn so với
đồng tiền nước ngoài tính trên cả khoản nợ.
b. Tác động tích cực:
- Lạm phát không phải bao giờ cũng gây nên những tác hại cho nền kinh tế. Khi tốc
độ lạm phát vừa phải đó là từ 2-5% ở các nước phát triển và dưới 10% ở các nước
đang phát triển sẽ mang lại một số lợi ích cho nền kinh tế như sau:
+ Kích thích tiêu dùng, vay nợ, đầu tư giảm bớt thất nghiệp trong xã hội.
+ Cho phép chính phủ có thêm các công cụ kích thích đầu tư vào những lĩnh vực
kém ưu tiên thông qua mở rộng tín dụng, giúp phân phối lại thu nhập và các nguồn
lực trong xã hội theo các định hướng mục tiêu và trong khoảng thời gian nhất định
có chọn lọc. Tuy nhiên, đây là công việc khó và đầy mạo hiểm nếu không chủ động
thì sẽ gây nên hậu quả xấu.
1.1.4. Những vấn đề lạm phát
- Nhiều người cho rằng lạm phát sẽ cướp đi sức mua của đồng tiền. Khi giá cả tăng
lên, mỗi đồng thu nhập sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn, từ đó lạm phát trực
tiếp làm giảm mức sống. Tuy nhiên, đây là một suy nghĩ sai lầm. Khi giá cả tăng
lên, người mua hàng hóa và dịch vụ phải trả nhiều tiền hơn cho những gì họ mua,
dồng thời người bán sẽ nhận được nhiều tiền hơn mức bình thường. Lạm phát trong
thu nhập đi đôi với lạm phát trong giá cả
=> Lạm phát không làm giảm sức mua thực tế của mọi người 1.2. Chính sách tài khóa 1.2.1. Khái niệm
- Chính sách tài khóa là một công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô nhằm tác động
vào quy mô hoạt động kinh tế thông qua biện pháp thay đổi chi tiêu và thuế của chính phủ.
1.2.2. Công cụ chính sách tài khóa
- Trong chính sách tài khoá, hai công cụ chủ yếu được sử dụng là chi tiêu của chính phủ và thuế. Trong đó:
- Thứ nhất: Chi tiêu chính phủ
Hoạt động chi tiêu của chính phủ sẽ bao gồm hai loại là: chi mua sắm hàng hóa dịch
vụ và chi chuyển nhượng. Cụ thể:
- Chi mua hàng hoá dịch vụ: Tức là chính phủ dùng ngân sách để mua vũ khí, khí
tài, xây dựng đường xá, cầu cống và các công trình kết cấu hạ tầng, trả lương cho
đội ngũ cán bộ nhà nước...
- Chi mua sắm hàng hoá và dịch vụ của chính phủ quyết định quy mô tương đối của
khu vực công trong tổng sản phẩm quốc nội - GDP so với khu vực tư nhân. Khi
chính phủ tăng hay giảm chi mua sắm hàng hoá, dịch vụ thì sẽ tác động đến tổng
cầu theo tính chất số nhân. Tức là nếu chi mua sắm của chính phủ tăng lên một
đồng thì sẽ làm tổng cầu tăng nhiều hơn một đồng và ngược lại, nếu chi mua sắm
của chính phủ giảm đi một đồng thì sẽ làm tổng cầu thu hẹp với tốc độ nhanh hơn.
Bởi vậy, chi tiêu mua sắm được xem như một công cụ điều tiết tổng cầu.
- Chi chuyển nhượng: Là các khoản trợ cấp của chính phủ cho các đối tượng chính
sách như người nghèo hay các nhóm dễ bị tổn thương khác trong xã hội.
- Chi chuyển nhượng có tác động gián tiếp đến tổng cầu thông qua việc ảnh hưởng
đến thu nhập và tiêu dùng cá nhân. Theo đó, khi chính phủ tăng chi chuyển nhượng
sẽ làm tiêu dùng cá nhân tăng lên. Và qua hiệu số nhân của tiêu dùng cá nhân sẽ làm gia tăng tổng cầu. Thứ hai: Thuế
- Có nhiều loại thuế khác nhau như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá
nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bất động sản… nhưng cơ bản
thuế được chia làm 2 loại sau:
- Thuế trực thu : là loại thuế đánh trực tiếp lên tài sản và/hoặc thu nhập của người dân
- Thuế gián thu : là loại thuế đánh lên giá trị của hàng hóa, dịch vụ trong lưu thông
thông qua các hành vi sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế.
1.2.3. Vai trò chính sách tài khóa trong nền kinh tế vĩ mô
- Trong nền kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa là công cụ giúp chính phủ điều tiết
nền kinh tế, thông qua chính sách chi tiêu mua sắm và thuế
+ Với điều kiện bình thường, chính sách tài khoá được sử dụng để tác động vào tăng trưởng kinh tế
+ Tuy nhiên, tại thời điểm nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái, chính sách tài khóa lại
trở thành công cụ được sử dụng để giúp đưa nền kinh tế về trạng thái cân bằng.
Về mặt ý thuyết, chính sách tài khóa là một công cụ nhằm khắc phục thất bại của thị
trường. Phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế thông qua thực thi
chính sách chi tiêu của chính phủ và thu chi ngân sách hiệu quả.
CHƯƠNG II. TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VN GIAI ĐOẠN 2010-2011 1.1. Thực trạng -Năm 2010:
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong cả năm 2010, chỉ số giá tiêu dùng tăng
11,75% so với tháng 12 năm 2009. Tuy nhiên, xét cụ thể giữa các tháng trong năm
thì chỉ số CPI diễn biến khá bất thường nhưng có tính lặp lại giống một số năm gần
đây, tháng 1-2010 tăng 1,36%, tháng 2-2010 tăng 1,96%, tháng 3 tăng 0,75%, tháng
4 tăng 0,14%, tháng 5 tăng 0,27%, tháng 6: 0,22%, tháng 7: 0,06%, tháng 8: 0,23%,
tháng 9: 1,31%, tháng 10: 1,05%, tháng 11: 1,86% và tháng 12 tăng 1,98%.
Chỉ số giá ti êu dùng năm 2010 So với tháng trước 2.5 2 1.5 1 0.5
0 Th án g Th án g Th án g Th án g Th án g Th án g Th án g Th án g Th án g Th án g Th án g Th án g 1 2 3 4 5 6 7 8 9 1 0 1 1 1 2
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Xét về cơ cấu tăng cả năm 2010 theo các nhóm mặt hàng thì tăng cao nhất là nhóm
giáo dục (tăng gần 20%); đứng hàng thứ hai là nhóm ăn và dịch vụ ăn uống, tăng tới
16,98%; tiếp đến là nhóm hàng nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 15,74%; hàng hóa
và dịch vụ khác tăng trên 11%; nhóm đồ uống, thuốc lá cũng có mức tăng khá, tới
trên 8%,… Tuy nhiên nhóm bưu chính viễn thông lại giảm gần 6%. -Năm 2011:
- Năm 2011, lạm phát của Việt Nam ở mức 18,13%, cao nhất kể từ năm 2008. Đây
cũng là mức cao nhất so với các nước trong khu vực ASEAN, cao gấp 2,4 lần của
Lào, nước có mức lạm phát cao thứ 2. Nguyên nhân lạm phát cao là do giá cả
nguyên liệu đầu vào sản xuất như xăng, dầu(+20%), điện (+15,28%) tăng cao, tỷ giá
USD/VND tăng mạnh (+9,3%), điều chỉnh lãi suất liên ngân hàng, khiến cho CPI
tháng 4 so với tháng trước đạt mức kỷ lục 3,32% và CPI tháng 8 so với cùng kỳ
năm trước đạt mức cao nhất (23,02%).
Chỉ số giá tiêu dùng năm 2011 25.00% 22.16% 23.02% 22.42% 21.59% 19.78% 20.82% 19.83% 20.00% 17.51% 18.13% 15.00% 13.89% 12.17% 12.31% 10.00%
5.00% 1.74% 2.09% 2.17% 3.32% 2.21% 1.09% 1.17% 0.93% 0.82% 0.36% 0.39% 0.53%
0.00% Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng Tháng Tháng 10 11 12
So với cùng kì năm trước So với tháng trước
Nguồn: Tổng cục Thống kê 2.1. Nguyên nhân
-Yếu tố gia tăng lạm phát năm 2010
Sức ép lạm phát cho năm 2010 đến từ nhiều phía: Từ các yếu tố cầu kéo, chi phí
đẩy đến các yếu tố tiền tệ và tâm lý.
-Yếu tố “cầu kéo”
Nền kinh tế phục hồi sau ảnh hưởng suy thoái kinh tế thế giới, nhu cầu tiêu dùng
cũng như sản xuất dần tăng trở lại. Cầu tăng giúp kích thích nền kinh tế nhưng vấn
đề đáng lo ngại hơn là nhu cầu giả tạo, làm giá cả tăng cao không cần thiết. Cán cân
thương mại Việt Nam chịu thâm hụt lớn kéo dài trong nhiều năm (năm 2007 thâm
hụt hơn 12 tỷ USD, năm 2008 mức thâm hụt tăng lên đến trên 17 tỷ USD). Sang
năm 2009, khác với các nước khác, mất cân bằng cán cân thương mại thu hẹp lại
khi chịu chịu tác động của khủng hoảng, mức thâm hụt cán cân thương mại Việt
Nam có giảm xuống nhưng không đáng kể, nhập siêu vẫn ở mức 12,2 tỷ USD
ngang bằng với năm 2007 và cao hơn rất nhiều so với nhiều năm trước đó. Sự nới
lỏng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa theo chương trình kích thích kinh tế
đã đẩy mạnh nhập khẩu, góp phần làm thâm hụt cán cân thương mại lớn quay trở
lại. Tình trạng thâm hụt cán cân thương mại triền miên và chênh lệch giữa tỷ giá
chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do tạo tâm lý lo ngại Việt Nam đồng mất giá,
tạo ra cầu giả tạo, giá cả tăng cao. Tuy nhiên, với những động thái điều chỉnh tý giá
gần đây của NHNN nhằm giúp giảm chênh lệch 2 mức tỷ giá để người dân giảm
tích trữ hàng hóa, vàng, đô la, hạ thấp nhu cầu giả tạo, góp phần kiểm soát giá cả.
-Yếu tố “Chi phí đẩy”
Bên cạnh đó, năm 2010, giá cả của nhiều đầu vào như giá than, giá điện, giá xăng
và giá nước đồng loạt được điều chỉnh tăng. Ngoài ra, theo lộ trình, trong năm 2010
sẽ tăng lương, cộng với tình hình kinh tế thế giới ấm lên sẽ làm giá cả các mặt hàng
tăng… Tuy nhiên, không phải cứ giá đầu vào tăng bao nhiêu thì giá cả sản phẩm
tăng lên bấy nhiêu nếu các doanh nghiệp có các biện pháp quản lý chi phí, tiết kiệm
được chi phí sản xuất để hạ giá thành sản phẩm. Một nhược điểm khác của thị
trường Việt Nam là yếu tố tâm lý có tác động một phần khá lớn tới giá cả hàng hóa.
Về mặt lý thuyết, tiền lương tăng lên để bù đắp mức tăng của giá cả, giúp đảm bảo
và nâng cao đời sống của người dân. Tuy nhiên, trước khi tiền lương được chính
thức tăng lên, thì thông tin tăng lương cũng đã đẩy giá các mặt hàng thiết yếu lên cao. -Yếu tố tiền tệ
Đằng sau những nguyên nhân trực tiếp trên là vấn đề cố hữu của nền kinh tế trong
nhiều năm qua. Sau những năm suy giảm phát triển kinh tế cuối giai đoan 90, từ
năm 2000, các nhân tố lạm phát bắt đầu được nuôi dưỡng khi giải pháp kích cầu
tăng trưởng thông qua gia tăng chi tiêu công và đầu tư của các doanh nghiệp nhà
nước được ưa chuộng để kích thích nền kinh tế. Tuy nhiên, khả năng sản xuất
trong nước lại không đáp ứng được sự tăng lên của nhu cầu nội địa. Chi tiêu của
Nhà nước (so với GDP) đã tăng từ 5% năm 2000 lên trên 8% từ sau năm 2005. Tỉ
lệ vốn đầu tư/GDP cũng tăng lên đến 34% năm 2000 và đến 40% từ năm 2004 đến
nay. Năm 2009, bội chi ngân sách đã lên cao, chiếm 7% GDP trong khi đó hệ số
ICOR tính bình quân 5 năm cho cả 2 giai đoạn 2001 – 2005 (4,6%) và 2006 – 2010
(5,8%) của Việt Nam đều cao gấp đôi so với Malaysia hay Indonesia khi các nước
này ở trong cùng giai đoạn giống ta. Thực tế, chỉ số ICOR cao cũng không phải là
điều đáng lo ngại nếu nó được giải thích bởi sự gia tăng cơ sở hạ tầng, xây dựng
phát triển đẩy mạnh nền tảng kinh tế nhưng tình hình Việt Nam, tổng chi đầu tư
cho kết cấu hạ tầng trên GDP cao nhưng kết cấu hạ tầng vẫn còn nhiều bất cập.
Điều này cho thấy cơ cấu đầu tư của Việt Nam có vấn đề, cơ cấu kinh tế chưa thực
sự hợp lý để tạo điều kiện phát triển bền vững cho những năm sau.
Việc bơm tiền ra để đầu tư kích thích tăng trưởng kinh tế, song hệ số ICOR cao,
nguy cơ lạm phát là khó tránh khỏi. Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2009 đã ở
mức 38%, gấp 7 lần tốc độ tăng trưởng GDP, cao hơn nhiều so với mức chênh lệch
3,5 lần giữa tốc độ tăng tín dụng bình quân và tốc độ tăng GDP trong 5 năm trước.
Đây là sức ép gây ra lạm phát cho năm 2010.
Trong ngắn hạn tín dụng có vai trò nhất định đối với tăng trưởng kinh tế, nhưng ảnh
hưởng của tín dụng đối với lạm phát cũng không nhỏ và ngày càng tăng lên. Xem
xét đồ thị tăng trưởng GDP và chỉ số giá tiêu dùng trong mối quan hệ với tín dụng
từ những năm 90 cho đến nay có thể thấy tác động của tín dung lên CPI ở giai đoạn
91-99 yếu hơn (khoảng cách trong tốc độ phát triển của 2 chỉ số xích lại gần nhau
hơn ở giai đoạn sau) so với những năm 2000.
-Mối liên hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế và lạm phát
Một số nghiên cứu định lượng về vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế
và ảnh hưởng của nó đến CPI, cũng đã đưa ra kết luận rằng: cùng với sự phát triển
của thị trường vốn, sự giao lưu kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng thì vai trò của tín
dụng ngân hàng đối với tăng trưởng kinh tế sẽ giảm dần. Mặt khác, theo kết quả của
mô hình SVAR (“Cơ chế truyền tải CSTT qua kênh tín dụng” của Việt Hà (2006))
đánh giá tác động của cú sốc tín dụng đến sản lượng, lạm phát cho thấy, tín dụng
tăng 1,6% sẽ làm tăng mức sản lượng là 0,24%, lạm phát là 0,35% với độ trễ là 24
tháng. Như vậy, có thể thấy vai trò của tín dụng đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam vẫn quan trọng, nhưng đang có xu hướng giảm dần và ảnh hưởng của tín dụng
đến lạm phát là lớn hơn đến tăng trưởng. Đây là điều rất đáng lưu tâm khi nhìn vào
tình hình tăng trưởng tín dụng hiện nay. Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng
tín dụng ở Việt Nam khá cao. Năm 2009, khi nền kinh tế vừa vượt qua cơn sốc lạm
phát, lại tiếp tục đối mặt với cơn suy thoái toàn cầu, mức tăng trưởng tín dụng đã
vượt xa kế hoạch 25% đặt ra ban đầu, tăng lên đến gần 38 %.
Tăng trưởng tín dụng là một trong những tiêu chí quan trọng để giúp vực dậy nền
kinh tế trong ngắn hạn. Tuy nhiên, để tăng trưởng kinh tế bền vững, nhưng không
phải trả cái giá quá đắt của lạm phát thì việc đảm bảo chất lượng tăng trưởng tín
dụng để tín dụng thực sự góp phần cải thiện và tạo điều kiện phát triển nền tảng
kinh tế thực, nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế là hết sức quan trọng.
Lạm phát năm 2011 có 2 nguyên nhân chính. Một là tăng trưởng cung tiền, đó là hệ
quả của chính sách tiền tệ nới lỏng trong thời gian dài, từ năm 2007, đặc biệt là
trong chương trình chống suy giảm kinh tế. Dư chấn của tăng trưởng tín dụng đã
làm tăng sức ép lên mặt bằng giá, đẩy lên cao và dẫn đến lạm phát. Tuy nhiên,
nguyên nhân thứ 2 quan trọng hơn, đó là chi phí đẩy, các chi phí cơ bản của nền
kinh tế trở lên rất cao ngay từ đầu năm. Tháng 2 đã có sự điều chỉnh về tỷ giá trong
khi đó nền kinh tế còn phải nhập khẩu rất nhiều, nên mỗi một lần điều chỉnh tỷ giá,
đồng thời cũng làm cho mặt bằng giá đẩy lên cao. Bên cạnh đó, Chính phủ thực
hiện điều chỉnh giá xăng, dầu, điện, tiền lương lên cao... đã có tác động đến mọi
khía cạnh khác nhau của đời sống kinh tế, đặc biệt là trong sản xuất - kinh doanh.
Như vậy, nguyên nhân của lạm phát cao trong năm 2011 vừa do tác động từ chính
sách tiền tệ, vừa do chi phí đẩy tăng cao
CHƯƠNG III. CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2010-2011
2.1. Chính sách tài khóa của Việt Nam giai đoạn 2010-2011
2.1.1. Khái quát kinh tế Việt Nam trước giai đoạn 2010-2011
-Từ sau khủng hoảng tài chính thế giới giai đoạn 2007 - 2008, Việt Nam đã
xây dựng được các mục tiêu phối hợp tương đối đồng bộ và đúng hướng, phù
hợp với bối cảnh kinh tế xã hội từng thời kì. Các chính sách tài khóa của
Chính phủ đã có những thay đổi rõ rệt, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp
quyết liệt nhằm chống suy giảm kinh tế, ổn định vĩ mô.
-Năm 2010, kinh tế nước ta đã khắc phục được đà suy thoái nhưng vẫn tiềm
ẩn nhiều yếu tố gây bất ổn vĩ mô. Yếu tố bất ổn dễ nhận thấy nhất là nguy cơ
lạm phát cao quay trở lại do độ trễ của lượng cung tiền khá lớn được Nhà
nước bơm vào thị trường trong các năm 2008 - 2009 để thực hiện các giải
pháp phục hồi tăng trưởng kinh tế. Tiếp đến là nguy cơ thâm hụt cán cân
thanh toán, mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng nhập
siêu. Trong năm 2008, quy mô nhập siêu của nước ta lên tới 17,5 tỉ USD, và
năm 2009 nhập siêu khoảng 12 tỉ USD. Cùng với nguy cơ tái lạm phát cao,
nếu tỷ lệ nhập siêu tiếp tục tăng cao trong năm nay sẽ dẫn đến tình trạng lạm
phát kép, tức là vừa lạm phát trong nước, vừa nhập khẩu lạm phát. Một rủi ro
tiềm ẩn khác trong chính sách tiền tệ là tính thanh khoản của các ngân hàng
thương mại tại thời điểm này đang được cho là có vấn đề, do các ngân hàng
thương mại có thể chạy đua nâng cao lãi suất để huy động vốn.
2.1.2. Thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội
chi ngân sách nhà nước năm 2011
Giai đoạn 2010-2011 là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam ở trong tình trạng lạm phát
cao, do đó, Chính phủ đã xác định nhiệm vụ của giai đoạn này tập trung chủ yếu
vào việc kiểm soát lạm phát. Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, Chính phủ tập trung Thực hiện chính sách tài
khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước thông qua
việc ban hành Nghị quyết 11/ NQ-CP (2011).
*Nghị quyết 11/NQ-CP
-Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:
+ Chỉ đạo phấn đấu tăng thu ngân sách nhà nước 7-8% so với dự toán ngân sách
năm 2011 đã được Quốc hội thông qua. Tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản
lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế; triển khai
các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới.
+ Giảm bội chi ngân sách nhà nước năm 2011 xuống dưới 5% GDP. Giám sát chặt
chẽ việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp, nhất là vay ngắn hạn. Thực
hiện rà soát nợ Chính phủ, nợ quốc gia, hạn chế nợ dự phòng, không mở rộng đối
tượng phạm vi bảo lãnh của Chính phủ. Bảo đảm dư nợ Chính phủ, dư nợ công, dư
nợ nước ngoài trong giới hạn an toàn và an toàn tài chính quốc gia.
-Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:
+ Không ứng trước vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2012 cho
các dự án, trừ các dự án phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách.
+ Không kéo dài thời gian thực hiện các khoản vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước,
trái phiếu Chính phủ kế hoạch năm 2011, thu hồi về ngân sách Trung ương các
khoản này để bổ sung vốn cho các công trình, dự án hoàn thành trong năm 2011.
+ Kiểm tra, rà soát lại đầu tư của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, doanh
nghiệp nhà nước, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ các biện pháp xử lý, loại bỏ các
dự án đầu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, kể cả các dự án đầu tư ra nước ngoài.
+ Ngân hàng Phát triển Việt Nam giảm tối thiểu 10% kế hoạch tín dụng đầu tư từ
nguồn vốn tín dụng nhà nước.
-Các Bộ, cơ quan, địa phương:
+ Chưa khởi công các công trình, dự án mới sử dụng vốn ngân sách nhà nước và
trái phiếu Chính phủ, trừ các dự án phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai cấp
bách, các dự án trọng điểm quốc gia và các dự án được đầu tư từ nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức (ODA). Rà soát, cắt giảm, sắp xếp lại để điều chuyển vốn đầu
tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2011 trong phạm vi quản lý để
tập trung vốn đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án quan trọng, cấp bách, hoàn thành trong năm 2011.
+ Báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 4 năm 2011 danh mục các dự án cắt
giảm đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ, danh mục các
dự án cắt giảm đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước trong phạm vi quản lý, đồng
gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Chính phủ trong phiên họp thường kỳ tháng 5 năm 2011.
+ Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước rà soát, cắt giảm, sắp xếp lại các dự
án đầu tư, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính, báo cáo Thủ tướng
Chính phủ trong tháng 4 năm 2011 danh mục các dự án cắt giảm đầu tư, đồng gửi
Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Chính phủ trong phiên họp thường kỳ tháng 5 năm 2011.
*Một số biện pháp khác
Trong năm 2011, Bộ đã chỉ đạo ngành thuế, hải quan tăng cường thực hiê —n công tác
quản lý thu; tăng cường kiểm tra trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế và xử
lý kịp thời các trường hợp vi phạ m, gian lận, trốn thuế; trong đó, tập trung quản lý
thu đối với các khoản thu liên quan đến đất đai, kinh doanh bất động sản, tài nguyên
khoáng sản và thuế xuất nhập khẩu...; đồng thời, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm
tra, chống thất thu thuế; nhờ đó, đã huy động kịp thời các nguồn thu cho NSNN với
tổng thu cân đối NSNN năm 2011 ước vượt 13,4% so dự toán, tăng 20,6% so thực hiện năm 2010.
Đối với công tác chi NSNN, ngành đã nỗ lực thực hiện tiết kiệm chi thường xuyên,
cắt giảm đầu tư công, tăng cường kiểm soát chi để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
ngân sách... Đến nay, toàn ngành đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thực hiện rà
soát, sắp xếp lại, điều chuyển được khoảng 9.452 tỷ đồng vốn đầu tư; đồng thời,
dành 3.857,7 tỷ đồng từ thực hiện tiết kiệm chi thường xuyên để chi cho lĩnh vực an
sinh xã hội. Cùng với đó, trong năm 2011, toàn ngành Tài chính đã tiết giảm bội chi
ngân sách từ mức 5,3% GDP xuống còn 4,9% GDP, góp phần tích cực ổn định kinh
tế vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia.
Đặc biệt, trong năm 2011, Bộ Tài Chính đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương
theo dõi chặt chẽ diễn biến giá cả thị trường thế giới, thị trường trong nước; xây
dựng và tổ chức thực hiện các phương án chuẩn bị nguồn hàng phục vụ nhu cầu tiêu
dùng của nhân dân, góp phần bình ổn giá thị trường; tăng cường công tác thông tin
tuyên truyền về sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, đặc biệt là chính sách điều
hành giá các mặt hàng quan trọng như: Điện, than, xăng, dầu.... Khi có điều kiện, đã
điều chỉnh giảm giá giá xăng, dầu; đồng thời, sử dụng linh hoạt các công cụ tài
chính Nhà nước như: Giảm thuế nhập khẩu, sử dụng Quỹ bình ổn giá... để kiềm chế
mức độ tăng giá trong nước, giảm áp lực lạm phát... qua đó, đã tạo được sự đồng thuận trong xã hội.
Cùng sẻ chia những khó khăn với doanh nghiệp, trong năm 2011, Bộ Tài chính đã
trình Chính phủ, Quốc hội miễn, giảm, gia hạn nghĩa vụ thuế phát sinh năm 2011
cho một bộ phận doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân với tổng số 10
nghìn tỷ đồng; đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh việc cải cách thủ tục hành chính, tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp nộp thuế thuận lợi và đơn giản hơn về thủ tục.
Cũng trong năm 2011, Bộ Tài chính đã tăng cường công tác thanh tra tài chính -
ngân sách, qua đó, phát hiện, chấn chỉnh, xử lý kịp thời các sai phạm. Công tác đổi
mới, sắp xếp, cổ phần hóa DNNN tiếp tục được đẩy mạnh và đã tạo ra được những
chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả DNNN... *Thống kê
Theo Báo cáo về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách
nhà nước 6 tháng đầu năm 2011, tổng thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm
2011 ước đạt 327,8 nghìn tỷ đồng, bằng 55,1% dự toán năm, tăng 22,8% so với
cùng kỳ năm 2010. Tổng chi ngân sách nhà nước ước đạt 355,6 nghìn tỷ đồng, bằng
49% dự toán năm. Bội chi ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm 2011 ước 27,7
nghìn tỷ đồng, bằng 23% mức bội chi ngân sách nhà nước cả năm.
Mức tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong các tháng gần đây có xu hướng giảm, từ
3,32% vào tháng Tư, giảm xuống 2,21% vào tháng Năm và 1,09% vào tháng Sáu,
cũng là mức thấp nhất kể từ đầu năm. Tốc độ tăng GDP 6 tháng đầu năm 2011 ước
đạt 5,57%, thấp hơn tốc độ tăng 6 tháng đầu năm 2010 (6,16%).
Báo cáo đã nêu các giải pháp để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trong 6
tháng cuối năm 2011 đạt kết quả cao nhất, trong đó khẳng định tiếp tục thực hiện
nhất quán chủ trương điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; bảo đảm tốc
độ tăng trưởng dư nợ tín dụng năm 2011 dưới 20% và tốc độ tăng trưởng tổng
phương tiện thanh toán năm 2011 khoảng 15-16%.
Các ngành, các cấp tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp tăng thu, phấn đấu
hoàn thành vượt 7-8% dự toán thu năm 2011; tiết kiệm chi để giảm bội chi ngân
sách nhà nước xuống dưới 5% GDP, thấp hơn mức Quốc hội quyết định (5,3%
GDP); tăng cường rà soát, tập trung vốn, cắt giảm đầu tư công, kiểm soát chặt đầu
tư của doanh nghiệp nhà nước; kiên quyết cắt giảm nguồn đầu tư vào những công
trình, dự án không hiệu quả, chưa thật sự cần thiết, tiến độ chậm, kéo dài; ưu tiên và
tập trung vốn cho các công trình đã đầu tư dở dang và sắp hoàn thành, đưa vào sử dụng trong năm 2011.