



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING _________~oOo~_________ BÀI TẬP
GIẢI BÀI TẬP 6 TÌNH HUỐNG HỌC PHẦN LUẬT KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn: Ths.Phùng Bích Ngọc Nhóm: 7
Lớp học phần: 2245PLAW0321
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2022 MỤC LỤC
TÌNH HUỐNG 1:..........................................................................................................3
TÌNH HUỐNG 2:..........................................................................................................6
TÌNH HUỐNG 3:..........................................................................................................9
TÌNH HUỐNG 4:.......................................................................................................12
TÌNH HUỐNG 5:........................................................................................................15
TÌNH HUỐNG 6:........................................................................................................19 TÌNH HUỐNG 1:
Ông Nguyễn Văn Nam và ông Hà Minh Hải cùng nhau thành lập Công ty hợp
danh H, đăng ký kinh doanh ngày 3/4/2019, vốn đăng ký ban đầu là 1 tỷ đồng, ngành
nghề kinh doanh chủ yếu là bán buôn và bán lẻ các thiết bị y tế.
Câu 1: Tháng 8 năm 2020, ông Hải đã nhân danh công ty H ký một hợp
đồng mua bán thiết bị y tế với một doanh nghiệp Trung Quốc, với điều khoản
thời hạn giao hàng và thanh toán tiền là 30 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng.
Ngay khi vừa ký kết xong hợp đồng, ông Hải bị tai nạn giao thông, phải tạm thời
ngừng điều hành công ty hợp danh H trong một khoảng thời gian ít nhất là 3
tháng. Đến thời hạn giao hàng, ông Nam không nhận hàng và thanh toán tiền cho
bên doanh nghiệp Trung Quốc, vì vậy, Doanh nghiệp Trung Quốc đã khởi kiện
Công ty hợp danh H ra Toà án. Ai sẽ là người đại diện pháp luật của Công ty hợp
danh H trước Toà? Người chịu trách nhiệm trực tiếp đối với rủi ro trong quan hệ dưới đây là ai?
Trong trường hợp này, ông Nam sẽ là người đại diện pháp luật của công ty hợp
danh H trước Tòa. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 184 Luật Doanh Nghiệp 2020: “Các
thành viên hợp danh là người đại diện theo pháp luật của công ty và tổ chức điều hành
hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty. Mọi hạn chế đối với thành viên hợp
danh trong thực hiện công việc kinh doanh hằng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối
với bên thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó.”
Do lúc này, ông Hải bị tai nạn giao thông, phải tạm ngừng việc điều hành công
ty hợp danh H trong một khoảng thời gian ít nhất là 3 tháng cho nên ông Nam - thành
viên còn lại của công ty hợp danh H sẽ phải là người đứng ra đại diện pháp luật của
công ty hợp danh H trước Tòa.
Người chịu trách nhiệm trực tiếp đối với rủi ro trong quan hệ đó chính là ông
Nam. Vì ông Hải - thành viên hợp danh của công ty có quyền nhân danh công ty đàm
phán ký kết hợp đồng được cho là có lợi cho công ty theo Điểm b Khoản 1 Điều 181
Luật Doanh Nghiệp 2020 “Thành viên hợp danh có quyền nhân danh công ty kinh
doanh các ngành, nghề kinh doanh của công ty; đàm phán và ký kết hợp đồng, giao
dịch hoặc giao ước với những điều kiện mà thành viên hợp danh đó cho là có lợi nhất
cho công ty”. Nhưng khi ông Hải đã ký kết hợp đồng, bên giao hàng đã giao hàng đến
nhưng ông Nam - thành viên hợp danh của công ty lại không nhận hàng và thanh toán
tiền cho bên doanh nghiệp Trung Quốc - nghĩa là không thực hiện tốt trách nhiệm của
mình để bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, khi đó ông sẽ phải chịu trách
nhiệm cá nhân đối với thiệt hại cho doanh nghiệp, căn cứ vào Điều 13 Luật Doanh Nghiệp 2020:
“ a) Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có trách nhiệm sau đây:
– Thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt
nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp;
– Trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không lạm dụng địa vị, chức vụ và
sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của doanh nghiệp để tư lợi
hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
– Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho doanh nghiệp về doanh nghiệp mà
mình, người có liên quan của mình làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp theo quy định của Luật này.
b) Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân
đối với thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm trách nhiệm quy định tại mục a ở trên.”
Câu 2: Tháng 12 năm 2001, ông Nam đã kết hôn với bà Nguyễn Thị Bình.
Tháng 9 năm 2020, bà Bình muốn trở thành thành viên hợp danh trong công ty
H, do đó, yêu cầu ông Nam tặng cho một phần vốn góp trong công ty. Ông Nam
đã tiến thành thủ tục tặng cho ½ vốn góp của mình cho bà Bình. Bà Bình có
đương nhiên trở thành thành viên hợp danh trong công ty H không? Bà Bình cần
làm gì để trở thành thành viên hợp danh trong công ty H?
Theo Khoản 3 Điều 180 Luật Doanh Nghiệp 2020 “Thành viên hợp danh không
được chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho tổ chức,
cá nhân khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại”, ông
Nam tiến hành thủ tục tặng ½ số vốn của mình cho cho bà Bình hợp pháp nếu được sự
chấp thuận của của các thành viên còn lại.
Theo Khoản 1 Điều 186 Luật Doanh Nghiệp 2020 “Công ty có thể tiếp nhận
thêm thành viên hợp danh hoặc thành viên góp vốn; việc tiếp nhận thành viên mới của
công ty phải được Hội đồng thành viên chấp thuận”, Công ty H có thể tiếp nhận thêm
thành viên mới nếu được hội đồng thành viên chấp thuận.
Nếu đạt được 2 điều kiện trên thì bà Bình sẽ trở thành thành viên hợp danh của
công ty hợp danh H vì ông Bình đã làm xong thủ tục tặng ½ vốn góp của ông cho bà Bình.
Câu 3: Sau một thời gian hoạt động, tính đến tháng 8 năm 2020, Công ty
hợp danh H tạo ra một khoản nợ rất lớn, khoảng 5 tỷ đồng. Trong khi đó, toàn
bộ tài sản còn lại của ông Nam và ông Hải chỉ còn 1,5 tỷ đồng. Giới hạn trách
nhiệm mà ông Nam, ông Hải phải chịu đối với rủi ro của công ty hợp danh H là bao nhiêu? Giải thích.
Theo Điểm b Khoản 1 Điều 177 Luật Doanh Nghiệp 2020 “Thành viên hợp
danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty”
Theo Điểm đ Khoản 2 Điều 181 Luật Doanh Nghiệp 2020 về nghĩa vụ của
thành viên hợp danh “Liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công
ty nếu tài sản của công ty không đủ để trang trải số nợ của công ty”
Ông Nam và ông Hải là thành viên hợp danh, vì vậy phải chịu trách nhiệm vô
hạn và liên đới đối với các khoản nợ của công ty bằng tài sản đã đăng ký góp vốn.
Trong trường hợp tài sản góp vốn không đủ để trả số nợ 5 tỷ thì ông Nam và ông Hải
phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công ty bằng tài sản của mình.
Câu 4: Do mâu thuẫn không giải quyết được với vợ là bà Bình, ông Nam
quyết định bán phần vốn góp của mình trong công ty cho ông Lê Huy Hoàng với
giá là 4 tỷ đồng. Ông Hoàng đã trả đủ tiền cho ông Nam. Ông Nam chuyển
nhượng phần vốn góp cho ông Hoàng có hợp pháp không? Giải thích.
Theo Điểm d Khoản 1 Điều 187, Thành viên góp vốn có quyền chuyển nhượng
phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác, ở đây ông Nam có quyền chuyển
nhượng phần vốn góp của mình cho ông Lê Huy Hoàng. Tuy nhiên ở câu 3, công ty
hợp danh H đang tạo ra một khoản nợ rất lớn, khoảng 5 tỷ đồng, toàn bộ tài sản của
ông Nam và ông Hải là 2 thành viên góp vốn chỉ còn 1.5 tỷ đồng. Áp dụng điểm a
khoản 2 điều 187 thì thành viên góp vốn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn cam kết đã góp cho nên ông Nam
không có quyền chuyển nhượng phần vốn góp cho ông Lê Huy Hoàng TÌNH HUỐNG 2:
Công ty TNHH X chuyên kinh doanh nhà hàng và khách sạn được cấp giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ngày 21/10/2019, có trụ sở chính tại quận Đống Đa,
Hà Nội, gồm 20 cổ đông và do ông Nguyễn Văn Hùng làm Chủ tịch Hội đồng quản trị
kiêm Giám đốc. Sau một thời gian hoạt động có hiệu quả, vào đầu năm 2020 do không
nắm bắt được nhu cầu của thị trường và bị ảnh hưởng bởi dịch covid nên tình hình
hoạt động của công ty ngày càng khó khăn và bắt đầu thua lỗ. Vào tháng 6/2020, trong
quá trình giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hoá giữa công ty TNHH
ABC (có trụ sở chính tại tỉnh Hà Nam) với công ty TNHH X, Toà án nhân dân tỉnh Hà
Nam phát hiện công ty X mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.
Câu 1: Sau khi phát hiện công ty X mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam có quyền ra quyết định mở thủ tục phá sản không? Giải thích.
Sau khi phát hiện công ty X mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Tòa án nhân
dân tỉnh Hà Nam không có quyền ra quyết định mở thủ tục phá sản vì Căn cứ theo
Điều 8 Luật phá sản“ Doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp,
hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã tại tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương nào thì Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đó có thẩm
quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó.”. Lúc này công ty
TNHH X được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, có trụ sở chính tại quận
Đống Đa, Hà Nội, do vậy Tòa án nhân dân Quận Đống Đa mới có thẩm quyền giải
quyết phá sản đối với công ty X.
Câu 2: Để mở thủ tục phá sản đối với công ty X phải tiến hành thủ tục pháp lý gì?
Theo khoản 3, 4 Điều 5 Luật Phá sản 2014, các đối tượng có nghĩa vụ mở thủ tục phá sản như sau:
- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã
- Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần,
Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên,
chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh.
Theo khoản 1 Điều 42 Luật Phá sản 2014, trừ các trường hợp quy định tại Điều
105 theo thủ tục rút gọn, Thẩm phán phải ra quyết định mở thủ tục phá sản trong thời
hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Thẩm phán ra quyết
định mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần làm những thủ tục sau:
a) Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, hợp tác xã trong 03 năm gần nhất.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập và hoạt động chưa đủ 03 năm thì
kèm theo báo cáo tài chính của doanh nghiệp, hợp tác xã trong toàn bộ thời gian hoạt động;
b) Bản giải trình nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán; báo
cáo kết quả thực hiện các biện pháp khôi phục doanh nghiệp, hợp tác xã mà vẫn không
khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán;
c) Bảng kê chi tiết tài sản, địa điểm có tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
d) Danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ, trong đó phải ghi rõ tên, địa chỉ
của chủ nợ, người mắc nợ, khoản nợ, khoản cho vay có bảo đảm, không có bảo đảm,
có bảo đảm một phần đến hạn hoặc chưa đến hạn;
đ) Giấy tờ, tài liệu liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã;
e) Kết quả thẩm định giá, định giá giá trị tài sản còn lại (nếu có).
Câu 3: Toà án nhân dân thành phố Hà Nội có thẩm quyền tiến hành thủ
tục phá sản đối với công ty X? Giải thích.
Căn cứ theo quy định tại Điều 8 Luật Phá sản 2014 như sau:
Thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân
1. Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là
Tòa án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp
đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc
đăng ký hợp tác xã tại tỉnh đó và thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài;
b) Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có chi nhánh, văn phòng
đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;
c) Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ở nhiều
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;
d) Vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) mà Tòa án
nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết do tính chất phức tạp của vụ việc.
2. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh
nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó và
không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.
Câu 4: Quá trình tiến hành thủ tục phá sản, DN quản lý, thanh lý tài sản
đề nghị Thẩm phán áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với công ty TNHH
Y (trụ sở tại tỉnh M), do công ty này đang có dấu hiệu tẩu tán tài sản mà công ty
TNHH Y là một trong số các con nợ của công ty X và yêu cầu tuyên vô hiệu đối
với giao dịch thanh toán 1 tỷ đồng với công ty Z (trụ sở tại Hà Nội). Quyết định
này của DN quản lý, thanh lý tài sản có hợp pháp không? Giải thích.
Theo điều 113 Luật Phá sản 2014
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp ra quyết
định giải quyết đề nghị, kiến nghị theo Điều 112 của Luật này mà có đơn đề nghị xem
xét lại của người tham gia thủ tục phá sản, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối
cao hoặc kiến nghị của Tòa án nhân dân thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét
lại quyết định đó khi có một trong các căn cứ sau:
a) Có vi phạm nghiêm trọng pháp luật về phá sản;
b) Phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định tuyên
bố phá sản mà Tòa án nhân dân, người tham gia thủ tục phá sản không thể biết được
khi Tòa án nhân dân ra quyết định.
Trường hợp có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án nhân dân tối cao
yêu cầu Tòa án nhân dân đã ra quyết định giải quyết đề nghị, kiến nghị theo Điều 112
của Luật này chuyển hồ sơ vụ việc phá sản cho Tòa án nhân dân tối cao để xem xét giải quyết.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, kiến nghị, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao có quyền ra một trong các quyết định sau:
a) Không chấp nhận đề nghị xem xét lại, kiến nghị và giữ nguyên quyết định
của Tòa án nhân dân cấp dưới;
b) Huỷ quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của Tòa án nhân
dân cấp dưới, quyết định giải quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị của Tòa án nhân dân
cấp trên trực tiếp và giao hồ sơ về phá sản cho Tòa án nhân dân cấp dưới giải quyết lại.
Quyết định giải quyết đơn đề nghị, kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. TÌNH HUỐNG 3:
Ngày 20/01/2020, Công ty Cổ phần XYZ tiến hành họp Đại Hội đồng cổ đông.
Cuộc họp được triệu tập và tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Điều lệ
Công ty, Luật Doanh nghiệp 2020, có số cổ đông đại diện cho 90% tổng số cổ phần có
quyền biểu quyết tham dự (theo điều lệ của Công ty Cổ phần XYZ thì cuộc họp Đại
hội đồng Cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông đại diện cho ít nhất 65% tổng số
cổ phần có quyền biểu quyết tham dự). Sau một ngày làm việc, tới 20h ngày
20/1/2021, Đại hội đồng cổ đông đã bầu chọn được 4 thành viên Hội đồng quản trị
trong tổng số 5 thành viên, 2 thành viên Ban Kiểm soát trong tổng số 3 thành viên. Tất
cả các quyết định này đã được thông qua một cách hợp pháp. Mặc dù họp chưa xong
nhưng vì điều kiện đã quá muộn, Đại hội đồng cổ đông nhất trí sẽ họp tiếp vào ngày
27/01/2021. Sau 7 ngày, vào 9h00 sáng ngày 27/01/2021, Đại hội đồng cổ đông của
Công ty Cổ phần XYZ mới họp tiếp. Tại cuộc họp này, một cổ đông của Công ty
(chiếm 15% tổng số cổ phần có biểu quyết của Công ty) đã đề nghị bổ sung một nội
dung mới vào cuộc họp nhưng Chủ tịch Hội đồng quản trị không chấp nhận với lý do
đề nghị đó không phù hợp với thủ tục quy định tại Điều lệ Công ty và Luật Doanh
nghiệp. Sau khi kiến nghị bị từ chối, 10 cổ đông của Công ty đã bỏ về, do đó, số cổ
đông đại diện cho số cổ phần tại cuộc họp chỉ còn 55,6% tổng số cổ phần có quyền
biểu quyết của Công ty. Đại hội đồng Cổ đông vẫn tiếp tục họp, bầu bổ sung các thành
viên vào Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát đã được 95% tổng số phiếu biểu quyết
của những cổ đông dự họp còn lại thông qua. Tuy nhiên, nếu tính theo danh sách cổ
đông tham dự cuộc họp từ ngày đầu thì Nghị quyết trên chỉ chiếm 52% tổng số cổ
phần có quyền biểu quyết thông qua.
Câu 1: Cuộc họp ngày 27/1/2021 có hợp pháp không? Giải thích?
Cuộc họp ngày 27/01/2021 có hợp pháp
Giải thích: Theo khoản 2 Điều 145 Luật Doanh Nghiệp 2020 quy định:
“Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành theo quy định tại
khoản 1 Điều này thì thông báo mời họp lần thứ hai phải được gửi trong thời hạn 30
ngày kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất, nếu Điều lệ công ty không quy định khác.
Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông lần thứ hai được tiến hành khi có số cổ đông dự họp
đại diện từ 33% tổng số phiếu biểu quyết trở lên; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.”
→ Dựa vào tình huống trên ta có:
+ Cuộc họp lần thứ 2 được tiến hành sau cuộc họp lần thứ nhất 7 ngày vẫn đảm
bảo trong thời hạn 30 ngày như quy định của khoản 2 Điều 145 Luật Doanh Nghiệp
2020 nếu Điều lệ công ty không quy định khác..
+ Cuộc họp lần thứ 2 được nhất trí tiến hành và có sự tham gia của Đại hội
đồng cổ đông tức là có số cổ đông đại diện cho 90% tổng số cổ phần có quyền biểu
quyết tham dự đảm bảo số cổ đông dự họp đại diện từ 33% tổng số phiếu biểu quyết
trở nên như quy định của khoản 2 Điều 145 Luật Doanh Nghiệp 2020 nếu Điều lệ
công ty không quy định khác.
Câu 2: Việc kiến nghị nội dung cuộc họp có hợp lệ không? Căn cứ pháp lý?
Việc kiến nghị nội dung cuộc họp không hợp lệ
Giải thích theo khoản 2 Điều 142 Luật Doanh Nghiệp 2020 quy định: ”Cổ đông
hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 115 của Luật này có quyền kiến nghị
vấn đề đưa vào chương trình họp Đại hội đồng cổ đông. Kiến nghị phải bằng văn bản
và được gửi đến công ty chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày khai mạc, trừ
trường hợp Điều lệ công ty có quy định thời hạn khác. Kiến nghị phải ghi rõ tên cổ
đông, số lượng từng loại cổ phần của cổ đông, vấn đề kiến nghị đưa vào chương trình họp.”
→ Dựa vào tình huống trên ta có:
+ Tại cuộc họp này, cổ đông đề nghị bổ sung một nội dung mới vào cuộc họp.
Cổ đông đã không đưa kiến nghị bằng văn bản và được gửi đến công ty chậm nhất là
03 ngày làm việc trước ngày khai mạc, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định thời
hạn khác. Vậy nên, Kiến nghị nội dung cuộc họp này là không hợp lệ đã vi phạm
khoản 2 Điều 142 Luật Doanh Nghiệp 2020.
Câu 3: Việc từ chối kiến nghị có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?
Việc từ chối kiến nghị nội dung cuộc họp là hợp lệ.
Giải thích: Theo điểm a Khoản 3 Điều 142 Luật Doanh nghiệp 2020: “ Trường
hợp người triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông từ chối kiến nghị quy định tại khoản 2
Điều này thì chậm nhất là 02 ngày làm việc trước ngày khai mạc cuộc họp Đại hội
đồng cổ đông phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người triệu tập họp Đại hội
đồng cổ đông chỉ được từ chối kiến nghị nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Kiến nghị được gửi đến không đúng quy định tại khoản 2 Điều này”
→ Theo quy định tại Điều 140 Luật Doanh nghiệp 2020 thì Hội đồng quản trị
triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông thường niên và bất thường. Như vậy, có thể hiểu
Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ có quyền triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông.
+ Do kiến nghị trên không được gửi đến không đúng quy định tại khoản 2 Điều
142 Luật Doanh Nghiệp 2020 nên người triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông có quyền từ chối kiến nghị.
Câu 4: Quyết định bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm
soát có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?
Quyết định bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát là có hợp pháp.
Giải thích: Căn cứ Khoản 1 Điều 147 quy định về hình thức thông qua nghị
quyết Đại hội đồng cổ đông như sau:
"Điều 147. Hình thức thông qua nghị quyết Đại hội đồng cổ đông
1. Đại hội đồng cổ đông thông qua nghị quyết thuộc thẩm quyền bằng hình thức
biểu quyết tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản.
Theo đó, quyết định bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải
được sự thông quan của nghị quyết Đại hội đồng cổ đông với cách thức biểu quyết tại
cuộc họp Đại hội đồng. TÌNH HUỐNG 4:
Ông A thành viên của Hợp tác xã X. Trong thời gian tham gia hợp tác xã, ông
A được HTX giao cửa hàng số 2 để hoạt động kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ tài
chính đối với HTX. Ngày 1/10/2017, Chủ tịch HĐQT thay mặt HĐQT HTX X ký
quyết định thi hành kỷ luật đối với ông A, bằng hình thức cảnh cáo với lý do ông A
không nộp thuế cũng như làm nghĩa vụ tài chính đối với HTX. Đến ngày 15/1/2018,
Chủ tịch HĐQT chủ trì Đại hội xã viên bất thường khai trừ ông A ra khỏi HTX cũng
với lý do trên. Tại cuộc họp chỉ có 5/20 xã viên biểu quyết tán thành việc khai trừ xã
viên, nhưng Chủ tịch HĐQT vẫn thay mặt HĐQT ra quyết định (có văn bản) để khai
trừ ông A ra khỏi HTX. Được biết, ông A có nhận được giấy mời họp đại hội xã viên
bất thường nhưng chỉ nhận được trước ngày Đại hội có 1 ngày và không thông báo
trước nội dung cuộc họp.
Câu 1: Thủ tục tiến hành cuộc họp Đại hội HTX có phù hợp pháp luật không? Giải thích.
Thủ tục tiến hành cuộc họp Đại hội HTX không phù hợp pháp luật.
Theo khoản 1 điều 33: “Người triệu tập đại hội thành viên phải lập danh sách
thành viên, hợp tác xã thành viên, đại biểu thành viên có quyền dự họp; chuẩn bị
chương trình, nội dung, tài liệu và dự thảo nghị quyết; xác định thời gian, địa điểm và
gửi giấy mời đến thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc đại biểu thành viên dự họp.
Giấy mời họp phải kèm theo chương trình, tài liệu liên quan đến nội dung đại hội
thành viên ít nhất 07 ngày trước ngày đại hội thành viên khai mạc.”
Trong khi ông A vẫn là một xã viên có nhận được giấy mời họp đại hội xã viên
bất thường nhưng chỉ nhận được trước ngày Đại hội có 1 ngày và không thông báo
trước nội dung cuộc họp.
Câu 2: Ông A bị khai trừ khỏi HTX có đúng không? Tại sao?
Trong cuộc họp Đại hội HTX, ông A sẽ không bị khai trừ khỏi HTX. Bởi
Thủ tục tiến hành cuộc họp Đại hội HTX không phù hợp pháp luật
Theo khoản 1 điều 33: “Người triệu tập đại hội thành viên phải lập danh sách
thành viên, hợp tác xã thành viên, đại biểu thành viên có quyền dự họp; chuẩn bị
chương trình, nội dung, tài liệu và dự thảo nghị quyết; xác định thời gian, địa điểm và
gửi giấy mời đến thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc đại biểu thành viên dự họp.
Giấy mời họp phải kèm theo chương trình, tài liệu liên quan đến nội dung đại hội
thành viên ít nhất 07 ngày trước ngày đại hội thành viên khai mạc.”
Trong khi ông A vẫn là một xã viên có nhận được giấy mời họp đại hội xã viên
bất thường nhưng chỉ nhận được trước ngày Đại hội có 1 ngày và không thông báo
trước nội dung cuộc họp.
Điều kiện thông qua ĐHHTX không hợp pháp
Theo khoản 2 điều 34: “Các nội dung không thuộc quy định tại khoản 1 Điều
này được thông qua khi có trên 50% tổng số đại biểu biểu quyết tán thành.”
Tại cuộc họp chỉ có 5/20 (25%) xã viên biểu quyết tán thành việc khai trừ xã viên
Nhưng ông A có thể bị khai trừ khỏi HTX, bởi theo khoản 3 điều 15 về Nghĩa
vụ của thành viên, hợp tác xã thành viên: “Chịu trách nhiệm về các khoản nợ, nghĩa vụ
tài chính của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong phạm vi vốn góp vào hợp tác xã,
liên hiệp hợp tác xã.” . Trong khi ông A đã không nộp thuế cũng như làm nghĩa vụ tài chính đối với HTX.
Như vậy trong cuộc họp ĐHHTX hợp pháp sau, ông A có thể bị khai trừ khỏi
HTXHTX theo điểm b khoản 2 điều 16 về Chấm dứt tư cách thành viên, hợp tác xã
thành viên: “Đối với trường hợp quy định tại điểm đ, g và h khoản 1 Điều này thì hội
đồng quản trị trình đại hội thành viên quyết định sau khi có ý kiến của ban kiểm soát
hoặc kiểm soát viên.” và điểm đ khoản 1 điều 16: “Thành viên, hợp tác xã thành viên
bị khai trừ theo quy định của điều lệ”.
Câu 3: Giả sử A chết để lại di chúc cho vợ và con trai 15 tuổi phần vốn góp
của mình trong HTX Vợ và con của A cũng có đơn tự nguyện gia nhập và tán
thành điều lệ của HTX. Hỏi Vợ và con trai của A có đương nhiên trở thành thành viên HTX không? Vì sao?
Vợ và con trai của A không đương nhiên trở thành thành viên HTX, theo khoản
1 điều 13 về Điều kiện trở thành thành viên, hợp tác xã thành viên
1. Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân trở thành thành viên hợp tác xã phải đáp ứng
đủ các điều kiện sau đây:
a) Cá nhân là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú hợp pháp tại
Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hộ gia đình có
người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật; cơ quan, tổ chức là pháp nhân Việt Nam.
Đối với hợp tác xã tạo việc làm thì thành viên chỉ là cá nhân;
b) Có nhu cầu hợp tác với các thành viên và nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã;
c) Có đơn tự nguyện gia nhập và tán thành điều lệ của hợp tác xã;
d) Góp vốn theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Luật này và điều lệ hợp tác xã;
đ) Điều kiện khác theo quy định của điều lệ hợp tác xã.
Trong trường hợp này, con trai ông A 15 tuổi, chưa đủ tuổi theo điểm a của điều khoản Luật này.
Còn vợ ông A vẫn đủ điều kiện để trở thành thành viên HTX, vì vợ của A cũng
có đơn tự nguyện gia nhập và tán thành điều lệ của HTX. Và theo khoản 2 điều 18 về
Trả lại, thừa kế vốn góp: “Trường hợp thành viên là cá nhân chết thì người thừa kế nếu
đáp ứng đủ điều kiện của Luật này và điều lệ, tự nguyện tham gia hợp tác xã thì trở
thành thành viên và tiếp tục thực hiện các quyền, nghĩa vụ của thành viên; nếu không
tham gia hợp tác xã thì được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật.”
Câu 4: Do quản lý không tốt, HTX X lâm vào tình trạng nợ nần, có nguy
cơ phá sản. HĐQT hợp tác xã dự định chia đều số nợ của hợp tác xã cho các
thành viên hợp tác xã. Xin hỏi dự định của Hội đồng quản trị HTX X về phân
chia số nợ của HTX cho các thành viên HTX như vậy có đúng không? Vì sao?
Dự định của Hội đồng quản trị HTX X về phân chia số nợ của HTX cho các
thành viên HTX như vậy không đúng, theo điều 50 về Xử lý các khoản lỗ, khoản nợ
của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã:
“1. Kết thúc năm tài chính, nếu phát sinh lỗ thì hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
phải xử lý giảm lỗ theo quy định của pháp luật. Trường hợp đã xử lý giảm lỗ nhưng
vẫn không đủ thì sử dụng quỹ dự phòng tài chính để bù đắp; nếu vẫn chưa đủ thì
khoản lỗ còn lại được chuyển sang năm sau; khoản lỗ này được trừ vào thu nhập tính
thuế. Thời gian được chuyển các khoản lỗ thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế.
2. Các khoản nợ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được xử lý theo quy định
của pháp luật và điều lệ.” TÌNH HUỐNG 5:
Công ty TNHH 1 thành viên A – do Công ty TNHH B làm chủ sở hữu,
có trụ sở tại Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Từ năm 2020, do không tính toán chặt chẽ
chi phí sản xuất nên sản phẩm của công ty A làm ra có giá thành cao, càng tiêu thụ
càng bị lỗ. Tính đến cuối năm 2020, A đã có những khoản nợ sau:
1. Nợ ngân hàng Vietcombank 800 triệu đồng với tài sản thế chấp trị giá 1 tỷ đồng.
2. Nợ ngân hàng BIDV 600 triệu đồng với tài sản cầm cố là 400 triệu đồng.
3. Được ngân hàng Techcombank đứng ra bảo lãnh để mua hàng trả chậm của
công ty E trị giá 1,5 tỷ đồng. Do A không thanh toán cho E nên Techcombak phải thanh toán số nợ trên.
4. Nợ công ty cổ phần F 100 triệu đồng theo hợp đồng A thuê F vận chuyển hàng hoá.
5. Nợ công ty TNHH G 1 tỷ đồng không có bảo đảm.
6. Nợ DNTN K 600 triệu đồng không có bảo đảm.
7. Nợ tiền thuế của nhà nước 1 tỷ 200 triệu đồng.
8. Nợ lương công nhân 450 triệu đồng.
Tất cả các khoản nợ trên đã đến hạn thanh toán. Do không thanh toán được các
khoản nợ đến hạn, một số chủ nợ đã nộp đơn yêu cầu toà án mở thủ tục phá sản với công ty A.
Câu hỏi 1: Lập danh sách chủ nợ của A, phân định rõ số lượng và tính chất
của từng khoản nợ? Những chủ nợ nào có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản đối với công ty A? Căn cứ?
Theo K1 D67 Luật phá sản 2014: Tên Số nợ Phân loại nợ Chủ nợ có quyền Căn cứ nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản Ngân hàng 800 triệu Nợ có đảm bảo Vietcombank Ngân hàng 600 triệu Nợ có bảo đảm X K3 Điều 5 BIDV một phần LPS 2014 Ngân hàng 1.5 tỷ Nợ không có X Điều 5 LPS Techcombank bảo đảm 2014 Công ty cổ 100 triệu Nợ không đảm X K4 Điều 5 phần F bảo LPS 2014 Công ty 1 tỷ đồng Nợ không đảm X K1 Điều 5 TNHH G (không đảm bảo Luật phá sản bảo) 2014 DNTN K 600 triệu Nợ không đảm X K4 Điều 5 (không đảm bảo Luật phá sản bảo) 2014 Công nhân 450 triệu X K2 Điều 5 Luật phá sản 2013 Nhà nước 1 tỷ 200 triệu
Câu hỏi 2: Giả sử toà án ra quyết định tuyên bố phá sản công ty A thì
quyết định này đúng hay sai? Giải thích.
Do công ty A chưa trả các khoản nợ đã đến hạn → Một số chủ nợ đã yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Trong trường hợp này, nếu tòa án đưa ra tuyên bố phá sản doanh nghiệp A là sai, vì:
- Theo quy trình thông thường để tiến hành thủ tục phá sản, thẩm phán phải trải
qua các quy trình: Nhận đơn và thụ lý đơn → quyết định mở hoặc không mở thủ tục
phá sản → chỉ định và giám sát Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản
→ xử lý khoản nợ bảo đảm → hội nghị chủ nợ → nghị quyết và các quyết định về sau.
Quyết định của thẩm phán sau khi tiến hành hội nghị chủ nợ có thể là tuyên bố doanh
nghiệp phá sản hoặc đình chỉ quyết định phá sản của doanh nghiệp A. (Khoản 9 Bộ
luật phá sản 2014 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản).
- Thẩm phán chỉ có quyền quyết định doanh nghiệp A phá sản mà không phải
thông qua hội nghị chủ nợ:
- Hội nghị chủ nợ không tiến hành được (K3D80 luật phá sản 2014)
- Nghị quyết hội nghị chủ nợ không được thông qua (K4D83, K2D81 Luật phá sản 2014)
- DN A không có khả năng thanh toán chi phí phá sản (K1D105 Luật phá sản)
Câu hỏi 3: Giả sử sau khi lập xong danh sách chủ nợ và A đã tiến hành
kiểm kê tài sản, Toà án tiến hành triệu tập hội nghị chủ nợ. Điều kiện để hội nghị
chủ nợ được tổ chức là gì?
Theo Khoản 1 Điều 79 Luật phá sản 2014 quy định về điều kiện hợp lệ của Hội
nghị chủ nợ: “Có số chủ nợ tham gia đại diện cho ít nhất 51% tổng số nợ không có bảo đảm”.
Tổng số nợ không bảo đảm: 1,5 tỷ + 1 tỷ + 600 triệu + 100 triệu =3,2 tỷ
Số chủ nợ tham gia đại diện cho ít nhất 51% tổng số nợ không bảo đảm, tức là
tổng số nợ của chủ nợ không bảo đảm tham gia ít nhất là: 3,2 x 0,51= 1,632 tỷ đồng.
Câu hỏi 4: Biết rằng giá trị tài sản còn lại của A là 3 tỷ (không kể các tài
sản cầm cố, thế chấp, chi phí phá sản 50 triệu). Hãy phân chia cho các chủ nợ?
4.1. Xử lý khoản nợ có bảo đảm, gồm: 1. Nợ ngân hàng Vietcombank 800 triệu
đồng với tài sản thế chấp trị giá 1 tỷ đồng; 2. Nợ ngân hàng BIDV 600 triệu đồng với
tài sản cầm cố là 400 triệu đồng.
Áp dụng khoản 3 điều 53 bộ luật phá sản 2014, quy định giá trị tài sản bảo đảm
lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản DN; nếu giá trị tài sản
nhỏ hơn số nợ thì phần nợ còn lại được xử lý trong quá trình thanh lý tài sản của DN.
Như vậy, sau khi thanh toán cho Vietcombank với tài sản thế chấp 1 tỷ đồng →
số tiền còn lại được cho vào giá trị tài sản của Doanh nghiệp A → Tài sản doanh
nghiệp A: 3 tỷ 200 triệu.
Thanh toán cho BIDV với tài sản cầm cố 400 triệu đồng, còn nợ 200 triệu → xử
lý khoản nợ trong quá trình thanh lý tài sản doanh nghiệp.
4.2. Thanh lý tài sản doanh nghiệp
Sau khi thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp A phá sản, áp dụng K1
D54 Luật phá sản 2014, thứ tự phân chia tài sản:
a) Chi phí phá sản: 50 triệu. Còn 3 tỷ 200 triệu - 50 triệu = 3 tỷ 150 triệu
b) Nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo đảm xã hội…: Nợ lương công nhân 450
triệu đồng. Còn 3 tỷ 150 triệu - 450 triệu = 2 tỷ 700 triệu đồng.
c) Nghĩa vụ tài chính với nhà nước, khoản nợ không có bảo đảm, nợ có bảo
đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ:
d) Nợ tiền thuế của nhà nước 1 tỷ 200 triệu đồng.
e) Nợ Techcombank: 1,5 tỷ đồng
f) Nợ còn lại của BIDV: 200 triệu đồng
g) Nợ công ty cổ phần F 100 triệu đồng
h) Nợ công ty TNHH G 1 tỷ đồng không có bảo đảm.
i) Nợ DNTN K 600 triệu đồng không có bảo đảm.
Do tài sản doanh nghiệp còn lại không đủ trả → thanh toán theo tỷ lệ phần trăm
tương ứng số nợ (K3 D54 Luật phá sản 2014).
Nợ nhà nước chiếm: 26,08%(6/23) → Trả nợ nhà nước:2 tỷ 700 triệu * 6/23 = 704,3 triệu
Nợ Techcombank chiếm: 32,6%(15/46) → Trả nợ Techcombank: 2 tỷ 700 triệu * 15/46 = 880,4 triệu
Nợ còn lại BIDV: 0,04% (1/23) → Trả nợ BIDV: 2 tỷ 700 triệu * 1/23 = 117,4 triệu
Nợ F: 0,02% (1/46) → Trả nợ F: 2 tỷ 700 triệu * 1/46 = 58,7 triệu
Nợ G: 21,74% (5/23) → trả nợ G: 2 tỷ 700 triệu * 5/23 = 587 triệu
Nợ K: 13,04% (3/23) → trả nợ K: 2 tỷ 700 triệu * 3/23 = 352,2 triệu TÌNH HUỐNG 6:
Công ty TNHH một thành viên Ban Mai có trụ sở chính tại tỉnh M. Đầu năm
2018, Công ty Ban Mai gặp khó khăn, đứng trước nguy cơ phá sản. Nhận thấy công ty
Ban Mai lâm vào tình trạng phá sản, đại diện chủ sở hữu công ty đã yêu cầu giám đốc
kiêm người đại diện theo pháp luật của công ty Ban Mai gửi đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản đối với công ty. Hai tháng kể từ ngày yêu cầu, giám đốc công ty Ban Mai vẫn
không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nên đại diện chủ sở hữu công ty Ban Mai
đã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty Ban Mai. Cho rằng, đại diện
chủ sở hữu công ty Ban Mai không có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa
án tỉnh M đã trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của đại diện chủ sở hữu công ty Ban Mai.
Theo đơn yêu cầu của một số chủ nợ không có bảo đảm, ngày 10/6/2018, tòa án
nhân dân tỉnh M đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty Ban Mai.
Ngày 25/6/2018, TAND tỉnh M ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với công ty Ban
Mai. Quá trình tiến hành thủ tục phá sản, Tổ quản lý, thanh lý tài sản đề nghị Thẩm
phán áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với công ty TNHH Minh Hòa (trụ sở tại
tỉnh M), do công ty này đang có dấu hiệu tẩu tán tài sản mà công ty TNHH Minh Hòa
là một trong số các con nợ của công ty Ban Mai và yêu cầu tuyên vô hiệu đối với giao
dịch thanh toán 1 tỷ đồng với công ty Đại Lợi (trụ sở tại Hà Nội). Trước đó, Công ty
Ban Mai đã thực hiện một số hành vi sau đây:
- Ngày 26/2/2018, thanh toán 600 triệu đồng (nợ chưa đến hạn) cho công ty
Sóng Hồng (trụ sở tại tỉnh N), do em ruột của Giám đốc công ty Ban Mai mới được
công ty Sóng Hồng tiếp nhận vào làm việc với cương vị và mức lương hấp dẫn.
- Ngày 09/6/2018, thanh toán 1 tỷ đổng (nợ không có bảo đảm và đã đến hạn)
cho công ty Đại Lợi (trụ sở tại Hà Nội) Câu hỏi:
1. TAND tỉnh M trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của đại diện chủ
sở hữu công ty Ban Mai là đúng hay sai? Tại sao?
2. Các hành vi mà công ty Ban Mai đã thực hiện là hợp pháp hay bất hợp pháp? Tại sao?
3. Trong quá trình giải quyết phá sản công ty Ban Mai, nếu Hội nghị chủ
nợ được tổ chức không thành, Toà án có quyền tuyên bố phá sản công ty Ban Mai không? Giải thích.
4. Quyết định của tổ quản lý, thanh lý tài sản đưa ra có hợp pháp không? Giải thích. Phần cắt nghĩa
- Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản: Theo luật phá sản "lâm vào tình
trạng phá sản" là tình trạng doanh nghiệp không có khả năng thanh toán được các
khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu.
- Tẩu tán tài sản là hành vi xác lập các giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh việc
thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ ba.
- Thụ lý là hoạt động của Tòa án có thẩm quyền bắt đầu tiếp nhận các vụ việc
để tiến hành xem xét và giải quyết các yêu cầu, tranh chấp của các chủ thể có yêu cầu trong lĩnh vực Dân sự.
- Hội nghị chủ nợ có thể hiểu là cuộc họp của chủ nợ được triệu tập trong thủ
tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản của doanh nghiệp để thảo luận thông qua
phương án hòa giải, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hoặc
kiến nghị về phương án phân chia tài sản khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản. Câu 1:
TAND tỉnh M trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của đại diện chủ sở hữu
công ty Ban Mai là đúng. Vì theo khoản 4 Điều 5 Luật phá sản 2014 “ Chủ doanh
nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng
thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh có
nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.”
Như vậy chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có nghĩa vụ
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán chứ
không phải có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.Theo đó căn cứ theo điểm a
khoản 1 Điều 35 Luật phá sản năm 2014 thì tòa án nhân dân quyết định trả lại đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản trong trường hợp “Người nộp đơn không đúng theo quy định
tại Điều 5 của Luật này.” Câu 2:
Hành vi đầu của công ty Ban Mai là bất hợp pháp còn hành vi 2 không bất hợp
pháp. Theo Luật phá sản 2014-Điều 59- Giao dịch bị coi là vô hiệu
- Giao dịch 1: thanh toán 600 triệu đồng (nợ chưa đến hạn) cho công ty
Sóng Hồng (trụ sở tại tỉnh N), do em ruột của Giám đốc công ty Ban Mai mới
được công ty Sóng Hồng tiếp nhận vào làm việc với cương vị và mức lương hấp dẫn.
Căn cứ theo khoản 2 điều 59 “Giao dịch của doanh nghiệp lâm vào tình trạng
phá sản được thực hiện với những người liên quan trong thời gian 18 tháng trước
ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản thì bị coi là vô hiệu”.Giao
dịch này là giao dịch với những người liên quan (em ruột của giám đốc công ty Ban
Mai) và được thực hiện trong thời gian 18 tháng trước khi TAND ra quyết định mở thủ
tục phá sản(25/6/2018) Do đó,đây là giao dịch bị coi là vô hiệu.