







Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ I NĂM HỌC 2023 – 2024 (Phần dành cho sinh viên)
Bài thi học phần: Quản trị chất lượng Số báo danh: 45 Mã số đề thi: 5 Mã số SV: 21D120015
Ngày thi: 23/12/2023 Tổng số trang: Lớp: 231_QMGM0911_05
Họ và tên: Nguyễn Thị Huyền Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... Bài làm SV không được viết vào cột này) Câu 1: Điểm từng câu,
Khái niệm chất lượng: Chất lượng là mức độ của một tập hợp các diểm thưởng
đặc tính vốn có của một đối tượng đáp ứng nhu cầu (ISO 9000: (nếu có) và điểm 2015) toàn bài
Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng: 5 nhóm yếu tố cơ bản ảnh GV chấm 1:
hưởng đến chất lượng: Câu 1: ……… điểm
-Nhu cầu của nền kinh tế: Nhu cầu thị trường, trình độ phát triển
kinh tế, các chính sách kinh tế Câu 2: ……… điểm
-Sự phát triển của khoa học kỹ thuật ………………….
-Hiệu lực của cơ chế quản lý: Hiệu lực của hệ thống pháp luật, ………………….
hiệu lực của hoạt động quản lý nhà nước về chất lượng Cộng …… điểm
-Các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng
-Các yếu tố 4M: Yếu tố con người (men), yếu tố phương pháp GV chấm 2:
(Menthods), máy múc thiết bị (Machines), nguyên vật liệu Câu 1: ……… điểm (Materials) Câu 2: ……… điểm
Phân tích yếu tố nhu cầu của nền kinh tế: ………………….
Nhu cầu của nền kinh tế lại được thể hiện thông qua nhu cầu thị ………………….
trường, trình độ phát triển của nền kinh tế và các chính sách Cộng …… điểm kinh tế. - Nhu cầu thị trường:
+ Chúng ta đang nhìn nhận vấn đề chất lượng theo quan trường, chất
lượng hướng tới khách hàng, một sản phẩm chỉ có chất lượng khi nó thỏa mãn
Họ tên SV: Nguyễn Thị Huyền - Mã LHP: 231_QMGM0911_05 Trang 1/7
các nhu cầu của người tiêu dùng. Do đó, một tổ chức khi bước vào sản xuất,
kinh doanh cần phải xác định chiến lược kinh doanh, xác định các đối tượng
khách hàng, loại sản phẩm sẽ cung cấp cho khách hàng thông qua việc trả lời
3 câu hỏi: Sản xuất cho ai? Sản xuất cái gì? và khi nào? Vì vậy, nhu cầu thị
trường là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng.+ Nhu cầu thị trường còn
được thể hiện thông qua mối quan hệ cung, cầu của thị trường. Rõ ràng khi
cung nhỏ hơn cầu, người ta ít quan tâm tới chất lượng mà chủ yếu quan tâm
tới số lượng do sự khan hiếm về hàng hóa tạo ra, chẳng hạn như trong cơ chế
bao cấp hay tình hình cung, một số mặt hàng đặc thù trên thị trường hiện nay
như: xăng, dầu, điện, nước sinh hoạt. Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường hiện
nay, với đa số các loại hàng hóa, dịch vụ thì cung lớn hơn cầu là phổ biến.
Điều này tạo cơ hội cho người tiêu dùng có quyền lựa chọn những hàng hóa
có chất lượng. Do đó, sức ép cạnh tranh cũng lớn hơn và chất lượng trở thành
vấn đề nổi trội, rất cần được quan tâm của các tổ chức, doanh nghiệp.
+ Vì vậy, cần tìm hiểu, nghiên cứu nhu cầu thị trường, nhạy cảm với sự biến động của thị
trường để định hướng cho các chính sách chất lượng hiện tại và tương lai. Điều này cũng có
nghĩa là, nhu cầu thị trường có ảnh hưởng trực tiếp và mang tính quyết định tới chất lượng sản
phẩm hay dịch vụ của một tổ chức kinh doanh hướng tới thị trường và đáp ứng nhu cầu thị
trường. Muốn vậy, hãy luôn tôn trọng, luôn lắng nghe, thấu hiểu ý kiến của khách hàng và
người tiêu dùng nhằm liên tục cải tiến chất lượng sản phẩm hay dịch vụ để luôn thỏa mãn nhu
cầu thị trường và phát triển kinh doanh
-Trình độ phát triển kinh tế:
Trình độ phát triển kinh tế của một nền kinh tế, một quốc gia được thể hiện qua tiềm
năng kinh tế. Mà tiềm năng kinh tế lại được thể hiện thông qua các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, sự tích lũy, bí quyết, đầu tư, trình độ kỹ thuật, công nghệ và con người. Trên cơ sở đó
cho phép các tổ chức sản xuất, kinh doanh lựa chọn mức chất lượng phù hợp với trình độ phát
triển chung của nền kinh tế và của xã hội. Vì rằng, chất lượng là nhu cầu nội tại của bản thân
sản xuất, kinh doanh. Do đó, trình độ chất lượng phải phù hợp với khả năng cho phép và sự phát
triển chung của toàn bộ nền kinh tế. -Các chính sách kinh tế:
Đối với một nền kinh tế, các chính sách kinh tế bao gồm: chính sách đầu tư; chính sách
phát triển ngành hoặc chủng loại sản phẩm; chính sách thuế; chính sách xuất, nhập khẩu; chính
sách đối ngoại về kinh tế... Các chính sách này có ảnh hưởng trực tiếp tới cung, cầu trên thị
trường, do đó cũng ảnh hưởng tới chất lượng. Chẳng hạn, với chính sách hạn chế nhập khẩu
một ngành hoặc nhóm mặt hàng nào đó sẽ có xu hướng làm cho cung của mặt hàng, nhóm hàng
đó trên thị trường giảm so với cầu, dẫn đến giảm sự quan tâm của cả nhà sản xuất lẫn người tiêu
dùng tới chất lượng của các sản phẩm này. Ngược lại, khi có chính sách mở rộng phát triển một
ngành hàng nào đó, Nhà nước sẽ tăng cường đầu tư cho mặt hàng, ngành hàng đó, các doanh
Họ tên SV: Nguyễn Thị Huyền - Mã LHP: 231_QMGM0911_05 Trang 2/7
nghiệp trong lĩnh vực hoạt động của ngành hàng đó sẽ có điều kiện đầu tư cho chất lượng, vì thế
chất lượng sản phẩm các mặt hàng trong ngành hàng này sẽ có điều kiện được nâng cao.
Liên hệ thực tế ảnh hưởng của nhu cầu thị trường tới chất lượng trong kinh doanh của
mặt hàng Khẩu trang Thịnh Phát được sản xuất bởi công ty TNHH Sản xuất Thương mại
& Dịch vụ Cỏ Ba Lá tọa lạc tại tỉnh Bắc Ninh.
- Nhu cầu thị trường tác động vô cùng quan trọng đến chất lượng kinh doanh khẩu trang Thịnh Phát
+ Nhu cầu thị trường về cung cầu: Nhu cầu thị trường xác định yêu cầu về khẩu trang
từ khách hàng. Nếu nhu cầu tăng cao, Thịnh Phát bên cạnh đảm bảo rằng đáp ứng được cung
cấp cho người tiêu dùng thì cần đảm bảo sản phẩm của họ đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng
và sự an toàn y tế. Điều này bao gồm việc sử dụng các nguyên liệu chất lượng cao, quy trình sản
xuất đáng tin cậy và các kiểm tra chất lượng chặt chẽ để đảm bảo khẩu trang đáp ứng được các yêu cầu cần thiết.
+ Cạnh tranh và đánh giá thị trường: Nhu cầu thị trường cũng ảnh hưởng đến cạnh
tranh và đánh giá của Thịnh Phát trong ngành công nghiệp khẩu trang. Nếu nhu cầu cao, sẽ có
nhiều doanh nghiệp cạnh tranh và Thịnh Phát cần thể hiện sự tốt nhất của mình để giành được
sự tin tưởng và lựa chọn từ khách hàng. Điều này bao gồm việc cung cấp sản phẩm chất lượng,
dịch vụ khách hàng tốt, giá cả cạnh tranh và khả năng đáp ứng nhanh chóng với nhu cầu thị trường.
+ Phản hồi khách hàng: Nhu cầu thị trường cũng tạo ra phản hồi từ khách hàng về chất
lượng sản phẩm của Thịnh Phát. Nếu khách hàng không hài lòng với chất lượng của khẩu trang,
họ có thể chuyển sang nhà cung cấp khác. Do đó, Thịnh Phát cần lắng nghe phản hồi của khách
hàng và sẵn sàng cải thiện chất lượng sản phẩm của mình để đáp ứng mong đợi của khách hàng.
+ Thay đổi nhu cầu và các tiêu chuẩn mới: Nhu cầu thị trường cũng có thể thay đổi
theo thời gian, và các tiêu chuẩn mới có thể được áp dụng. Ví dụ, trong bối cảnh của đại dịch
COVID-19, nhu cầu về khẩu trang đã tăng đáng kể và các tiêu chuẩn chất lượng liên quan đã
được thay đổi hoặc tăng cường. Thịnh Phát cần cập nhật và tuân thủ các tiêu chuẩn mới nhất để
đảm bảo chất lượng sản phẩm của mình và tuân thủ các quy định pháp luật liên quan.
Tóm lại, nhu cầu thị trường ảnh hưởng lớn đến chất lượng kinh doanh khẩu trang
Thịnh Phát. Để đảm bảo chất lượng sản phẩm, Thịnh Phát cần quản lý cẩn thận quy trình sản
xuất, kiểm soát chất lượng và nguồn lực, không ngừng thích ứng với sự thay đổi và lắng nghe
phản hồi khách hàng để đáp ứng nhu cầu thị trường 1 cách có hiệu quả và duy trì vị trí đáng tin
cậy trong ngành công nghiệp khẩu trang Câu 2 - Nhận định vấn đề:
Phân tích quan điểm của Ishikawa: “Giáo dục về quản trị chất lượng không thể dừng ở
một vài lớp học, một vài tuần lễ thực hành do một số chuyên viên đảm trách mà phải là tự giáo
dục và tự giáo dục liên tục, toàn diện và trải rộng từ trên xuống dưới, từ dưới lên. Ông cũng
Họ tên SV: Nguyễn Thị Huyền - Mã LHP: 231_QMGM0911_05 Trang 3/7
nhấn mạnh “giáo dục chứ không phải là đào tạo và phân biệt giáo dục là vun xới những gì đã có
sẵn, còn đào tạo là gieo trồng trên một vườn hoang” có nghĩa là để giáo dục về quản trị chất
lượng nói riêng, giáo dục nói chung là xác định những gì đã có sắn từ đó xây dựng nên kế
hoạch, phương án thích hợp để nâng cao chất lượng từ những cái có sẵn đó. Chứ không phải là
ép buộc người lao động làm theo ý của những người quản lý một cách thụ động, giống một cỗ
máy không có tính sáng tạo trong công việc
“Sai lầm lớn nhất của giáo dục trong các doanh nghiệp là chỉ nhằm tới tầng lớp công
nhân và nhân viên cấp dưới mà không chú trọng gì đến các tầng lớp quản lý và lãnh đạo cấp
trên” có nghĩa là vao trò và trách nhiệm của giáo dục không phải chỉ ở 1 số người, 1 số bộ
pjhaanj mà là trách nhiệm của toàn bộ tổ chức, doanh nghiệp từ trên xuống dưới, từ dưới ngược
lên, từ mỗi cá nhân đến tập thể đều phải vun vun xới những gì đã có sẵn
Tất cả những nhận định đều đang đề cập tới xu hướng xây dựng mô hình quản lý chất lượng
Xu hướng tiếp cận quản trị chất lượng toàn diện TQM Trong vòng 60 năm trở lại đây,
nhờ những bậc thầy về quản trị chất lượng như Deming, Feigenbaum, Juran... người ta đã hiểu
được rằng, chất lượng không được quyết định bởi công nhân ở phân xưởng hay những người
làm việc trực tiếp với khách hàng mà được quyết định bởi những nhà quản lý cao cấp, những
người thiết lập nên hệ thống làm việc của công ty. Mặt khác, chất lượng không chỉ là trách
nhiệm của một bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm mà là trách nhiệm của toàn thể nhân viên
trong tổ chức. Xu hướng thứ hai cho rằng quản lý chất lượng bằng kiểm tra, loại bỏ sản phẩm sẽ
không tránh được những nguyên nhân gây ra sai sót. Kiểm tra không tạo ra chất lượng, mà chất
lượng được tạo ra từ toàn bộ quá trình, phải được thể hiện ngay từ khâu thiết kế, tổ chức sản
xuất và trong tiêu dùng. Chất lượng phải được đảm bảo trong mọi tiến trình, mọi công việc và
liên quan đến tất cả thành viên trong tổ chức.
Chính vì vậy, để quản lý chất lượng theo xu hướng này người ta phải coi việc đảm bảo
chất lượng là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của mình. Nhiệm vụ này được thực hiện nhờ
các hoạt động thường xuyên và có kế hoạch của lãnh đạo cấp cao. Hoạt động đảm bảo chất
lượng được bắt đầu từ việc hoạch định chương trình chất lượng từ lãnh đạo và coi việc thực
hiện chương trình này là nhiệm vụ tiên quyết của tổ chức. Sau khi phổ biến công khai các
chương trình nâng cao chất lượng tới từng thành viên, tất cả mọi người sẽ nghiên cứu các cách
thức tốt nhất để hoàn thành. Nhờ đó, trong các tổ chức đi theo xu hướng này xuất hiện nhiều
phong trào chất lượng với sự tham gia của các thành viên
Chìa khóa để nâng cao chất lượng ở đây không chỉ là những vấn đề liên quan đến công
nghệ, kỹ thuật kiểm tra, kiểm soát mà còn bao gồm các kỹ năng quản trị, điều hành một hệ
thống, một quá trình thích ứng với những thay đổi của thị trường. Vì vậy, các chuyên gia về
chất lượng phải là những người có kiến thức cần thiết về kỹ thuật, về quản lý, đồng thời họ cũng
phải là người có thẩm quyền để có thể tham gia vào việc kiểm soát mọi lĩnh vực liên quan đến
chất lượng chứ không phải chỉ là cán bộ của các phòng ban hỗ trợ. TQM đã trở thành một triết
lý mới trong kinh doanh của thập niên 90 và đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế
Họ tên SV: Nguyễn Thị Huyền - Mã LHP: 231_QMGM0911_05 Trang 4/7
giới. Qua thực tiễn áp dụng phương pháp này, càng ngày người ta càng nhận thấy rõ tính hiệu
quả của nó trong việc nâng cao chất lượng ở bất kỳ loại hình tổ chức nào. TQM là một sự kết
hợp tính chuyên nghiệp cao và khả năng quản lý, tổ chức một cách khoa học.
Các xu hướng xây dựng mô hình quản trị chất lượng tại Việt Nam Tại Việt Nam: các tổ
chức đã và đang đi theo cả 2 hướng tiếp cận nói trên để thiết lập hệ thống quản trị chất lượng
cho tổ chức mình. Tuy nhiên, trong số các tổ chức đã và đang áp dụng các mô hình quản trị chất
lượng mới, hầu hết các tổ chức lựa chọn ưu tiên việc áp dụng hệ thống quản trị chất lượng dựa
theo tiêu chuẩn như ISO-9000, ISO-14000, SA 8000. Sau khi áp dụng thành công hệ thống
quản trị chất lượng theo ISO 9000, một số tổ chức tiếp tục cải tiến hệ thống quản trị chất lượng
và dần tiếp cận với mô hình quản trị chất lượng toàn diện (TQM). Ngoài ra một số tổ chức lựa
chọn áp dụng hệ thống quản trị chất lượng tích hợp hoặc đồng thời áp dụng nhiều hệ thống cho
quá trình sản xuất, kinh doanh của mình. Tùy thuộc lĩnh vực hoạt động và nhu cầu của thị
trường, các tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam rất linh hoạt trong việc lựa chọn cho mình một mô
hình quản trị chất lượng đặc trưng trên cơ sở tầm nhìn, mục tiêu, văn hóa và nguồn lực cụ thể của tổ chức.
Như nhiều chuyên gia chất lượng đã khẳng định, lịch sử chất lượng và quản trị chất
lượng là một quá trình lâu dài chưa khép lại. Những năm gần đây, thực tế áp dụng mô hình quản
trị chất lượng trong các tổ chức không chỉ dừng lại ở việc lựa chọn, xây dựng hay áp dụng một
hệ thống đơn lẻ, độc lập, cho dù theo xu hướng tiếp cận nào. Để đáp ứng nhu cầu của các bên
quan tâm, bao gồm cả cơ quan quản lý nhà nước, khách hàng, đối tác và xã hội, các tổ chức phải
quan tâm đến nhiều nội dung hoạt động khác bên cạnh việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sản
phẩm. Các mối quan tâm khác ở đây bao gồm an toàn vệ sinh, môi trường sinh thái, trách nhiệm
xã hội, bảo hộ lao động, bảo mật thông tin, tiết kiệm năng lượng. Do đó thực tế quản trị chất
lượng hiện nay là sự tích hợp các nội dung quản lý trên vào cùng một hệ thống quản lý hay còn
gọi là mô hình quản lý tích hợp. Đây có lẽ là sự khởi đầu cho một xu hướng tiếp cận mới trong
tương lai không xa trên thế giới cũng như tại Việt Nam.
Lý do sâu xa muốn nói đến là hiện nay các doanh nghiệp cần chú trọng việc xây
dựng mô hình quản lý chất lượng để mang lại hiệu quả lâu dài. Cần giáo dục về quản trị
chất lượng đến toàn bộ hệ thống từ cấp trên đến cấp dưới trong doanh nghiệp chứ không
chỉ cần giáo dục mỗi cấp dưới. Đồng thời cần giáo dục 1 cách liên tục và toàn diện để có
thể phát triển chất lượng xuyên suốt quá trình kinh doanh. Đồng thời cần phát triển sự
sáng tạo của con người để tăng năng suất lao động chứ không “máy móc hóa con ngươi.”
a. Phương pháp Taylor có thể nâng cao năng suất lao động trong một thời gian ngắn là do:
- Phân chia công việc thành các thao tác đơn giản, lặp đi lặp lại, giúp công nhân dễ dàng tiếp thu và thực hiện.
- Sử dụng các phương pháp khoa học để xác định thời gian, phương pháp thực hiện công
việc tối ưu, giúp công nhân tiết kiệm thời gian và công sức.
Họ tên SV: Nguyễn Thị Huyền - Mã LHP: 231_QMGM0911_05 Trang 5/7
- Sử dụng máy móc, thiết bị hiện đại để thay thế sức lao động của con người, giúp tăng năng suất.
Tuy nhiên, trong thời gian dài và nhất là hiện nay, năng suất lao động theo phương pháp
Taylor giảm đi do một số nguyên nhân sau:
- Mất cân bằng công việc: Phương pháp Taylor tập trung vào phân chia công việc chi tiết
và chuyên môn hóa, tạo ra các công việc đơn giản và lặp lại. Tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến
mất cân bằng công việc, làm cho công nhân trở nên khá nhàm chán và mất hứng thú. Điều này
có thể dẫn đến sự thiếu động lực và giảm năng suất lao động.
- Phương pháp Taylor thiếu sự tận dụng tài năng và ý kiến đóng góp từ công nhân. Các
công việc được phân chia rất cụ thể, và công nhân không được khuyến khích tham gia vào việc
quyết định hoặc cải tiến quy trình làm việc. Điều này có thể dẫn đến mất mát tiềm năng và sáng
tạo, khi công nhân không được động viên và đánh giá cao về ý kiến và đóng góp của mình.
- Thiếu sáng tạo và linh hoạt: Phương pháp Taylor tách rời các công việc thành các phần
nhỏ hơn và giao cho các công nhân chuyên môn, thiên về việc áp dụng quy trình làm việc chuẩn
và không đổi. Điều này có thể làm giảm sự linh hoạt và sáng tạo của công nhân, khi họ chỉ tập
trung vào một công việc cụ thể mà không có sự hiểu biết rõ về toàn bộ quy trình hoặc mục tiêu
lớn hơn của tổ chức. Từ đó có thể dẫn đến sự mất động lực và thiếu sự cam kết của công nhân
đối với công việc của mình. Trong một môi trường kinh doanh ngày nay, sự sáng tạo và linh
hoạt là rất quan trọng để thích ứng với sự thay đổi và cạnh tranh. Phương pháp Taylor có thể
giới hạn khả năng thích ứng này và dẫn đến giảm năng suất lao động.
Phương pháp của Taylor là một phương pháp quản trị mang tính khoa học hóa một
cách thuần túy như “máy móc hóa con người”, gắn chặt con người vào 1 dây chuyền công
nghệ để quản trị và tăng năng suất lao động. Ngày nay, khi môi trường kinh doanh ngày
càng cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp cần phải nâng cao chất lượng sản phẩm và
dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Phương pháp Taylor không đáp ứng được
yêu cầu này, do đó năng suất lao động theo phương pháp này giảm đi.
b.Giáo dục về quản trị chất lượng là một quá trình lâu dài và liên tục, nhằm nâng cao nhận thức
và kỹ năng của mọi người trong doanh nghiệp về quản trị chất lượng. Mục tiêu của giáo dục là
giúp mọi người hiểu rõ tầm quan trọng của chất lượng, biết cách thực hiện các nguyên tắc và
phương pháp quản trị chất lượng, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp. Vì vậy, giáo dục phải chú ý tới cả các cấp quản lý lãnh đạo và nhân
viên cấp dưới vì sự thành công của một tổ chức không chỉ phụ thuộc vào năng lực của một
nhóm nhỏ người. Để đạt được chất lượng và hiệu suất cao, cả hai nhóm này cần được trang bị
kiến thức và kỹ năng về quản trị chất lượng.
Họ tên SV: Nguyễn Thị Huyền - Mã LHP: 231_QMGM0911_05 Trang 6/7
- Tầng lớp quản lý và lãnh đạo cấp trên có vai trò quan trọng trong việc xác định và triển
khai các chiến lược, chính sách và quy trình quản lý chất lượng. Họ cần được giáo dục về quản
trị chất lượng để hiểu rõ vai trò và trách nhiệm của mình trong việc xây dựng và duy trì một hệ
thống quản lý chất lượng và truyền đạt phương pháp, tri thức và giá trị của nó cho toàn bộ tổ
chức. Từ đó, biết cách lãnh đạo và tạo động lực cho nhân viên, cùng với khả năng định hướng
và đưa ra quyết định chiến lược cho tổ chức. Giáo dục cho các cấp quản lý lãnh đạo cần tập
trung vào các nội dung sau:
+ Tầm quan trọng của chất lượng đối với doanh nghiệp
+ Các nguyên tắc và phương pháp quản trị chất lượng
+ Cách thức triển khai quản trị chất lượng trong doanh nghiệp
- Nhân viên cấp dưới, bao gồm cả công nhân, cũng đóng vai trò quan trọng trong quá
trình sản xuất và cung cấp dịch vụ. Họ cần được giáo dục và đào tạo về quy trình làm việc, kỹ
năng chất lượng và khái niệm về quản trị chất lượng để đảm bảo rằng công việc của họ đáp ứng
được các tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu của khách hàng. Đồng thời, họ cũng cần được giáo
dục về quản trị chất lượng để hiểu và tham gia vào quy trình quản lý chất lượng. Điều này giúp
họ hiểu rõ tiêu chuẩn chất lượng, quy trình làm việc và cách đóng góp vào cải tiến liên tục.
Công nhân cấp dưới có thể đóng vai trò quan trọng trong việc xác định và giải quyết các vấn đề
chất lượng hàng ngày và cung cấp thông tin phản hồi cần thiết cho cấp quản lý lãnh đạo. Giáo
dục cho nhân viên, công nhân cấp dưới cần tập trung vào các nội dung sau:
+ Các yêu cầu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ
+ Các kỹ năng thực hành đảm bảo chất lượng
+ Cách thức tham gia vào hoạt động quản trị chất lượng
- Giáo dục từ cả hai phía sẽ tạo ra một nền tảng chung và đồng nhất về quản trị chất
lượng trong toàn bộ tổ chức. Điều này giúp tạo ra sự nhất quán và hiệu quả trong quản lý chất
lượng và đảm bảorằng mọi người trong tổ chức đều hiểu và thực hiện các quy trình và tiêu
chuẩn chất lượng một cách nhất quán. Ngoài ra, giáo dục cũng giúp tạo ra một môi trường học
tập và cải tiến liên tục, nơi mọi người có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và ý tưởng để nâng
cao chất lượng và hiệu suất công việc.
Tóm lại, giáo dục về quản trị chất lượng cần được thực hiện trên cả hai mặt, từ cấp quản
lý lãnh đạo đến nhân viên cấp dưới, nhằm đảm bảo sự nhất quán và hiệu quả trong quản lý chất
lượng và thúc đẩy sự cải tiến liên tục trong tổ chức.
Họ tên SV: Nguyễn Thị Huyền - Mã LHP: 231_QMGM0911_05 Trang 7/7
Họ tên SV: Nguyễn Thị Huyền - Mã LHP: 231_QMGM0911_05 Trang 8/7