TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ 1 NĂM HỌC 2023 – 2024
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Thương mại điện tử căn bản
Mã số đề thi: 10
Ngày thi: 23/12/2023 Tổng số trang: 8
Số báo danh: 56
Mã số SV/HV: 23D140147
Lớp: 231_PCOM0111_07
Họ và tên: Quách Diệu Linh
Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………......
Bài làm
Câu 1 (5 điểm): Phân loại các loại hình thương mại điện tử theo các chủ
thể tham gia giao dịch. Lựa chọn một doanh nghiệp kinh doanh theo mô
hình B2C, phân tích và làm rõ mô hình kinh doanh của doanh nghiệp
này?
* Các loại hình thương mại điện tử theo các chủ thể tham gia giao dịch:
- Tất cả những bên tham gia trong TMĐT giữa các doanh nghiệp (B2B):
TMĐT giữa các doanh nghiệp hoặc là các doanh nghiệp, hoặc là các tổ chức.
Ví dụ, các giao dịch giữa công ty Dell và Marks & Spencer và các nhà cung
ứng của họ. Ngày nay, hơn 85% khối lượng TMĐT trên thế giới là B2B.
- TMĐTThương mại điện tử giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C):
B2C bao gồm các giao dịch bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp
đến khách hàng là cá nhân và các hộ gia đình, những người tiêu dùng cuối
cùng. Nội dung chủ yếu của loại hình TMĐT này là bán lẻ điện tử.
- Thương mại điện tử doanh nghiệp-doanh nghiệp-người tiêu dùng
(B2B2C): Một trường hợp đặc biệt của B2B. Một doanh nghiệp cung cấp một
số sản phẩm hoặc dịch vụ cho một khách hàng là một doanh nghiệp khác.
Doanh nghiệp khách hàng tiếp theo sẽ cung cấp những hàng hóa hoặc dịch vụ
Họ tên SV/HV: Quách Diệu Linh - Mã LHP: 231_PCOM0111_07 Trang 1/8
SV/HV không
được viết vào
cột này)
Điểm từng câu,
diểm thưởng
(nếu có) và điểm
toàn bài
GV chm 1:
Câu 1: đim
Câu 2: đim
.
.
Cộng …… điểm
GV chm 2:
Câu 1: đim
Câu 2: đim
.
.
Cộng …… điểm
đó cho khách hàng của họ, cũng có thể là nhân viên của họ mà không có bổ sung giá trị. Một ví
dụ cho hình thức này là một công ty sẽ trả cho AOL để tất cả các nhân viên của công ty có thể
truy cập được vào Internet thay vì mỗi công nhân phải tự trả cho AOL. Một ví dụ khác, các
hãng hàng không và du lịch chuyên cung cấp các dịch vụ du lịch như vé máy bay, phòng nghỉ
khách sạn sẽ bán cho các đối tác kinh doanh như các đại lý du lịch, để rồi sau đó, các đại lý này
sẽ bán các dịch vụ đó cho khách hàng. Một ví dụ cuối cùng, công ty Godiva bán sô cô la cho
các doanh nghiệp khách hàng. Các doanh nghiệp này sẽ biến những thanh sô cô la đó thành
những món quà cho nhân viên của mình hoặc cho các doanh nghiệp khác. Như vậy, thuật
ngữ B2B còn bao hàm cả B2B2C.
- Người tiêu dùng ở đây có thể sử dụng InternetNgười tiêu dùng-doanh nghiệp (C2B):
tiến hành bán sản phẩm hoặc dịch vụ của mình cho các doanh nghiệp hoặc các cá nhân
thông qua hình thức đấu giá sản phẩm hoặc dịch vụ. Price.com là trang web nổi tiếng của
giao dịch C2B này.
- Người tiêu dùng này giao dịch trực tiếp với người Người tiêu dùng-người tiêu dùng (C2C):
tiêu dùng khác. Ví dụ về loại này là một số cá nhân muốn bán một số tài sản riêng của họ như
bất động sản, ô tô, tranh nghệ thuật, đồ cổ v.v.. thì họ quảng cáo chúng trên những trang web
chuyên dụng. Quảng cáo các dịch vụ cá nhân thông qua trang web hay việc bán kiến thức và
kinh nghiệm chuyên môn là ví dụ khác về C2C. Ngoài ra có nhiều trang web đấu giá cho phép
các cá nhân đưa đồ của mình lên để đấu giá.
- Doanh nghiệp-nhân viên (B2E): Loại hình TMĐT doanh nghiệp nhân viên là một hệ
thống phụ của loại hình TMĐT nội bộ doanh nghiệp, trong đó tổ chức tiến hành phân
phát các dịch vụ, thông tin hay sản phẩm tới từng nhân viên như công ty. Một bộ phận
lớn nhân viên là nhân viên di động, họ làm đại diện của doanh nghiệp tại các tổ chức và
doanh nghiệp khác. TMĐT hỗ trợ cho các nhân viên như vậy được gọi là B2ME (doanh
nghiệp tới nhân viên di động).
* Tập đoàn đa quốc gia Amazon là một doanh nghiệp kinh doanh theo mô hình B2C:
a, Giá trị cho khách hàng
Mục tiêu giá trị chủ yếu của Amazon là mang tới cho khách hàng cơ hội chọn lựa
chưa từng có và sự thuận tiện trong giao dịch. Trước khi Amazon được thành lập, hầu
hết khách hàng đều phải tự mình tới các cửa hàng bán lẻ sách tìm và đặt mua. Nếu cuốn
Họ tên SV/HV: Quách Diệu Linh - Mã LHP: 231_PCOM0111_07 Trang 2/8
sách muốn mua chưa bày bán tại cửa hàng, khách hàng thường phải chờ đợi từ vài ngày
tới vài tuần và sau đó họ phải trở lại cửa hàng để nhận nó. Giờ đây, với những gì mà
Amazon cung cấp, người mua sách hoàn toàn có thể từ nhà hoặc từ công sở truy cập các
cửa hàng bán sách ảo bất cứ giờ nào, tìm kiếm và lựa chọn những cuốn sách mình muốn.
Với những cuốn sách chưa in, khách hàng sẽ nhận được thông báo ngay sau khi nó có
mặt tại cửa hàng. Những công việc sau đó sẽ do Amazon hoàn tất.
b, Sản phẩm và dịch vụ
• Hàng hóa có thương hiệu được thừa nhận rộng rãi
• Hàng hóa được bảo hành bởi những người bán hàng được tin cậy cao hoặc nổi
tiếng
• Sản phẩm số hóa (phần mềm, nhạc, video..)
• Hàng hóa giá trị không cao (đồ dùng văn phòng, vitamin…)
• Hàng hóa thường mua (tạp phẩm, thuốc theo đơn bác sỹ..)
Trường Đại học Thương mại 75
• Hàng hóa có các đặc trưng chuẩn (Sách, đĩa CD, vé máy bay...) mà việc kiểm tra
vật lý là không quan trọng
• Hàng hóa được bao gói phổ biến mà khi mua không cần mở bao bì (thực phẩm, sô
cô la, vitamin…)
c, Quy trình kinh doanh
- Sản phẩm và Dịch vụ: Amazon bắt đầu bằng việc cung cấp một loạt các sản phẩm và dịch vụ,
từ sách, đồ điện tử, thời trang đến dịch vụ như Amazon Web Services (AWS).
- Người Bán và Marketplace: Amazon cho phép cả người bán từ cá nhân đến doanh nghiệp lớn
tham gia vào Marketplace của họ để bán sản phẩm. Các người bán này có thể tạo các cửa hàng
trực tuyến riêng hoặc bán hàng trực tiếp thông qua trang web của Amazon.
- Quảng cáo và Tiếp thị: Amazon có các công cụ quảng cáo và tiếp thị mạnh mẽ để giúp người
bán quảng bá sản phẩm của họ. Họ cung cấp các dịch vụ quảng cáo trên trang web của mình,
cũng như qua các kênh như Amazon Advertising.
- Giao hàng và Vận chuyển: Amazon có một mạng lưới vận chuyển rộng lớn, từ các trung tâm
phân phối cho đến dịch vụ giao hàng nhanh như Amazon Prime. Họ cũng có các dịch vụ lưu trữ
và vận chuyển dành cho người bán trên Marketplace của họ.
Họ tên SV/HV: Quách Diệu Linh - Mã LHP: 231_PCOM0111_07 Trang 3/8
- Trải nghiệm Người dùng: Amazon chú trọng vào trải nghiệm mua sắm của người dùng. Họ sử
dụng trí tuệ nhân tạo để cá nhân hóa trải nghiệm mỗi người dùng, cung cấp gợi ý sản phẩm và
nền tảng mua sắm thuận tiện.
- Dịch vụ Khách hàng: Amazon cung cấp dịch vụ khách hàng toàn diện, từ hỗ trợ qua điện
thoại, trò chuyện trực tuyến đến các chính sách đổi trả linh hoạt.
- Hệ sinh thái Amazon: Ngoài thương mại điện tử, Amazon còn có các dịch vụ khác như AWS,
Amazon Prime Video, Audible, và nhiều dịch vụ khác, tạo nên một hệ sinh thái đa dạng và mở
rộng.
d, Thị trường của doanh nghiệp: Đa quốc gia
e, Mô hình doanh thu: Mô hình doanh thu bán hàng (Sales Revenue Model)
Câu 2 (5 điểm): Trình bày khái niệm và phân loại thẻ thông minh? Nêu các ứng dụng thẻ
thông minh và cho ví dụ? Tại sao các ngân hàng ở Việt Nam đang có xu hướng chuyển đổi
từ công nghệ thẻ sang thẻ chip?
- Khái niệm: Thẻ thông minh thường được sử dụng bên cạnh thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ truyền
thống. Chúng cũng được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ các ứng dụng phi tài chính và phi
bán lẻ. Một thẻ thông minh trông như một thẻ thanh toán nhựa, nhưng được phân biệt ở
chỗ là trên thẻ thông minh có gắn vi mạch điện tử (microchip). Con chip được gắn có thể
là mạch vi xử lý kết hợp với con chip lưu giữ thông tin hoặc chỉ có con chip lưu giữ
thông tin với logic phi chương trình. Thông tin trong thẻ có thể được thêm, bớt hoặc chịu
các xử lý khác. Thẻ có con chip lưu giữ thông tin thường là thẻ “chỉ đọc” tương tự như
thẻ tín dụng. Mặc dù bộ vi xử lý có khả năng chạy chương trình giống như một máy tính,
nhưng nó không phải là máy tính độc lập. Các chương trình và dữ liệu phải được tải về
và kích hoạt từ một số thiết bị khác (như một máy ATM).
- Phân loại: . Có hai loại thẻ thông minh. Loại thứ nhất là , loại thẻ này sẽ được kích thẻ tiếp xúc
hoạt khi đưa thẻ này vào thiết bị đọc thẻ. Loaị thứ hai là , có nghĩa là thẻthẻ phi tiếp xúc
chỉ phải đưa tới một khoảng cách nhất định so với thiết bị đọc thẻ để xử lý giao dịch. Các
thẻ lai là sự kết hợp của hai loại trên thành một.
Thẻ tiếp xúc có một tấm kim loại màu vàng có đường kính khoảng một inch rưỡi
được bố trí ở mặt trước. Khi đưa thẻ vào thiết bị đọc thẻ, tấm kim loại tạo ra sự tiếp xúc
điện tử và dữ liệu được truyền đến và lấy ra từ con chip. Thẻ tiếp xúc có thể có bộ nhớ
Họ tên SV/HV: Quách Diệu Linh - Mã LHP: 231_PCOM0111_07 Trang 4/8
chỉ đọc được (Electronically Programmable Read-Only Memory –EPROM) hoặc bộ nhớ
chỉ đọc có thể xóa bỏ điện tử (Electronically Erasable Programmable Read-Only
Memory –EEPROM). Thẻ EPROM có thể không bao giờ bị xóa bỏ. Thay vào đó, dữ liệu
được viết vào khoảng trống trong thẻ. Khi thẻ đầy, nó sẽ bị bỏ đi. Thẻ EEPROM có thể
xóa bỏ hoặc sửa đổi. Chúng có thể được sử dụng cho đến khi quá cũ hoặc hư hỏng. Hầu
hết thẻ tiếp xúc là EEPROM.
Bên cạnh con chip, thẻ phi tiếp xúc còn có một ăng ten được gắn vào. Dữ liệu và
các ứng dụng được truyền vào và lấy ra khỏi thẻ thông qua ăng ten của thẻ tới một ăng
ten khác rồi đến thiết bị đọc thẻ hoặc thiết bị khác. Thẻ phi tiếp xúc được sử dụng
trong những ứng dụng mà dữ liệu phải được xử lý thật nhanh (ví dụ như trả tiền xe buýt
hoặc tàu) hoặc khi khó tiếp xúc (ví dụ do cơ chế an ninh khi đi vào các toà nhà). Thẻ này
hoạt động ở khoảng cách gần, chỉ vài inch. Đối với một số ứng dụng như thanh toán ở
trạm thu tiền trên đường cao tốc, những thẻ này có thể hoạt động ở khoảng cách xa đáng
kể.
Đối với các thẻ thông minh hai giao diện hoặc lai thì hai loại giao diện thẻ được kết
hợp thành một. Thẻ thông minh lai có hai con chip tách rời nhau gắn ở trên thẻ. Ngược
lại, thẻ kết hợp hoặc thẻ hai giao diện có một con chip đơn hỗ trợ cho cả hai giao diện.
Lợi ích của cả hai loại thẻ này là loại bỏ sự cần thiết phải mang nhiều thẻ để hỗ trợ cho
những ứng dụng và thiết bị đọc thẻ khác nhau.
Đối với tất cả các loại thẻ, thiết bị đọc thẻ là rất quan trọng trong sự hoạt động của hệ
thống. Thiết bị đọc thẻ bản chất là một thiết bị đọc và ghi. Mục đích chủ yếu của thiết bị
đọc thẻ là hoạt động như thiết bị liên kết giữa thẻ và hệ thống chủ lưu giữ dữ liệu ứng
dụng và xử lý dữ liệu. Có hai loại thẻ cơ bản nên có hai loại thiết bị đọc thẻ (tiếp xúc và
phi tiếp xúc) phù hợp với các loại thẻ riêng.
Việc sử dụng rộng rãi các thẻ thông minh cho những ứng dụng phức tạp đòi hỏi sự
tiêu chuẩn hóa và khả năng tương tác của các loại thẻ và các công nghệ đọc thẻ khác
nhau. Nếu không như vậy, những người sử dụng cuối cùng sẽ phải mang những thẻ riêng
cho mỗi thiết bị đọc thẻ và ứng dụng. Global Platform (globalplatform.org) là một hiệp
hội thẻ thông minh quốc tế và phi lợi nhuận. Mục đích chính của Hiệp hội là tạo ra và
thúc đẩy các ứng dụng kỹ thuật tương tác cho thẻ tín dụng, thiết bị tiếp nhận và cơ sở hạ
Họ tên SV/HV: Quách Diệu Linh - Mã LHP: 231_PCOM0111_07 Trang 5/8
tầng của hệ thống. Nhiều tiêu chuẩn kỹ thuật về thẻ thông minh được thiết lập bởi tổ
chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO; iso.org). ISO/IEC 7816 và ISO/IEC 14443 là những tiêu
chuẩn chính liên quan đến thẻ tiếp xúc và phi tiếp xúc. Những tiêu chuẩn này là cơ sở
cho những tiêu chuẩn khác.
Giống như máy tính, thẻ thông minh có một hệ điều hành. Hệ điều hành thẻ thông
minh tiến hành quản lý các tệp tin, bảo mật, quản lý, nhập/xuất thông tin, thực thi các
câu lệnh và cung cấp giao diện chương trình ứng dụng (API) thẻ. Ban đầu, thẻ thông
minh và hệ điều hành được thiết kế để điều khiển con chip đặc biệt gắn trên thẻ. Ngày
nay, thẻ thông minh đang chuyển sang hệ điều hành ứng dụng mở và phức tạp như
MULTOS (multos.com) và Java Card (java.sun.com/products/javacard). Hệ điều hành
mới này có khả năng đưa thêm những ứng dụng mới vào trong quá trình hoạt động của
thẻ.
- Ứng dụng:
+ Thanh toán trong mua bán lẻ:
Các hiệp hội thẻ tín dụng và các tổ chức tài chính đang chuyển đổi các loại thẻ ghi nợ
và thẻ tín dụng truyền thống sang thẻ thông minh đa ứng dụng.
Thẻ thông minh an toàn hơn thẻ tín dụng truyền thống và có thể được mở rộng tới
nhiều dịch vụ thanh toán khác. Trong lĩnh vực bán lẻ, nhiều loại dịch vụ này hướng đến
những thị trường mà thanh toán thường được thực hiện bằng tiền mặt và tốc độ, sự tiện
lợi là rất quan trọng, ví dụ các cửa hàng tiện dụng, trạm xăng, nhà hàng dịch vụ nhanh và
thức ăn nhanh, rạp chiếu phim. Ví tiền điện tử và thanh toán phi tiếp xúc là ví dụ cho loại
hình dịch vụ giá trị gia tăng này.
+ Chuyển tiếp phí trong giao thông công cộng:
Trong những thành phố lớn ở Mỹ nhiều nước khác, người đi làm thường phải lái xe
tới nơi đậu xe, lên tàu và sau đó di chuyển qua một hoặc nhiều xe điện ngầm, xe buýt để
tới nơi làm việc. Nếu quá trình đó đòi hỏi sự kết hợp của tiền mặt và nhiều loại vé khác
nhau thì nó sẽ rất phức tạp và rắc rối. Sự bất tiện này đã không khuyến khích người đi
làm sử dụng phương tiện công cộng. Để loại bỏ sự bất tiện này, hầu hết người vận hành
chuyển tiếp chính ở Mỹ đang thực hiện những hệ thống vé phí thẻ thông minh. Chính
phủ Liên bang Mỹ cũng cũng khuyến khích những người chủ trợ cấp cho nhân viên sử
Họ tên SV/HV: Quách Diệu Linh - Mã LHP: 231_PCOM0111_07 Trang 6/8
dụng giao thông công cộng. Các nhà vận hành chuyển tiếp của nhiều thành phố lớn trên
thế giới đang chuyển từ hệ thống phí không hợp nhất, phức tạp sang hệ thống đòi hỏi chỉ
một thẻ phi tiếp xúc duy nhất, dù có bao nhiêu kiểu giao thông hoặc có bao nhiêu hãng
giao thông và các công ty liên quan tham gia.
Một số nhà vận hành chuyển tiếp ở Mỹ đang tìm kiếm đối tác là các đại lý bán lẻ và
các tổ chức tài chính để kết hợp thẻ chuyển tiếp của họ với thẻ thanh toán có thể được sử
dụng để mua hàng hóa và dịch vụ như bữa ăn nhỏ, phí qua cầu, phí đỗ xe, mua thức ăn
trong nhà hàng hoặc cửa hàng tạp phẩm gần trạm chuyển tiếp.
Bên cạnh việc giải quyết phí chuyển tiếp, thẻ thông minh và hệ thống thanh toán điện
tử khác được sử dụng cho những ứng dụng giao thông khác, ví dụ chấp nhận thanh toán
từ thẻ thông minh trả trước đối tới iền đỗ xe, phí giao thông.
+ Định dạng điện tử (electronic identification – e-ID):
Bởi vì thẻ thông minh có khả năng lưu trữ thông tin cá nhân bao gồm ảnh, nhận dạng
sinh trắc học, chữ ký số hóa và chìa khóa an toàn cá nhân nên chúng được sử dụng trong
nhiều loại nhận dạng, kiếm soát truy cập và ứng dụng xác nhận. Ví dụ, một vài nước như
Trung Quốc, Ấn Độ, Bỉ đã lên kế hoạch hoặc thử nghiệm đưa ra chương trình thẻ thông
minh định dạng quốc gia. Thẻ được thiết kế để giảm thủ tục ID và người dân có thể di
chuyển tự do hơn trong nước. Thẻ ID có kích thước như thẻ ngân hàng tiêu chuẩn và sẽ
sử dụng con chip phi tiếp xúc.
+ Bảo vệ sức khỏe:
Nói chung, thẻ thông minh được sử dụng để lưu trữ dữ liệu, định dạng và xác nhận
chủ thẻ, cho phép hoặc giới hạn khả năng truy cập tới các công trình vật lý hoặc nguồn
thông tin. Trong việc bảo vệ sức khỏe, thẻ thông minh có những khả năng khác nhau,
bao gồm:
- Lưu trữ thông tin y khoa cần thiết trong các trường hợp khẩn cấp.
- Tránh cho bệnh nhân phải cầm nhiều đơn thuốc của các bác sĩ khác nhau.
- Kiểm tra định dạng của bệnh nhân và thông tin về bảo hiểm
- Rút ngắn thời gian làm thủ tục nhập viện và khi giải quyết các trường hợp khẩn cấp.
- Cung cấp cho các bác sĩ đa khoa sự truy cập an toàn vào bệnh án của một bệnh
nhân.
Họ tên SV/HV: Quách Diệu Linh - Mã LHP: 231_PCOM0111_07 Trang 7/8
- Đấy nhanh quá trình thanh toán và khiếu nại.
- Bệnh nhân có thể truy cập vào hồ sơ bệnh án qua Internet.
Mặc dù thẻ thông minh bảo vệ sức khỏe đã được xúc tiến đối với việc lưu kho dữ liệu
(ví dụ lưu giữ thông tin y khoa cần thiết), nhưng trên thực tế hầu hết những thẻ này chỉ
được sử dụng để kiểm tra quyền đối với các dịch vụ bảo vệ sức khỏe. Đây là lĩnh vực sử
dụng trước hết của chúng, ví dụ ở Đức và Pháp có hai chương trình thẻ thông minh bảo
vệ sức khỏe lớn nhất thế giới.
- Có một số lý do chính khiến các ngân hàng ở Việt Nam đang chuyển đổi từ công nghệ thẻ
sang thẻ chip. Dưới đây là một số lợi ích chính của việc chuyển đổi này:
+ Tăng cường tính bảo mật: Thẻ chip được tích hợp một vi mạch thông minh (chip) có khả năng
mã hóa và giải mã thông tin. Điều này làm giảm nguy cơ lộ thông tin cá nhân và gian lận trong
giao dịch. So với thẻ từ truyền thống, thẻ chip khó bị sao chép và giả mạo hơn, tăng cường tính
bảo mật cho người dùng.
+ Giao dịch nhanh chóng và thuận tiện: Thẻ chip có thời gian xử lý giao dịch nhanh hơn so với
thẻ từ, giúp giảm thời gian chờ đợi cho khách hàng và ngân hàng. Hơn nữa, thẻ chip cũng có
khả năng lưu trữ thông tin cá nhân và lịch sử giao dịch của người dùng, giúp tăng tính tiện lợi
và quản lý tài chính cá nhân hiệu quả hơn.
+ Mở rộng khả năng sử dụng: Thẻ chip được chấp nhận rộng rãi trên toàn cầu, đảm bảo tính linh
hoạt khi người dùng đi du lịch hoặc giao dịch với các đối tác quốc tế. Điều này giúp khách hàng
có thể sử dụng thẻ của mình ở nhiều nơi khác nhau mà không gặp các rào cản kỹ thuật.
+ Chuẩn bị cho công nghệ thanh toán tiên tiến hơn: Chuyển đổi sang thẻ chip là một bước
chuẩn bị quan trọng để hỗ trợ sự phát triển của các công nghệ thanh toán tiên tiến hơn trong
tương lai, chẳng hạn như thanh toán không tiếp xúc hoặc thanh toán qua điện thoại di động. Thẻ
chip cung cấp nền tảng cần thiết để triển khai các tính năng thanh toán mới này.
+ Tuân thủ các quy định quốc tế: Hầu hết các quốc gia trên thế giới đã chuyển sang sử dụng thẻ
chip, và các tiêu chuẩn quốc tế đang yêu cầu các ngân hàng cung cấp thẻ chip cho khách hàng.
Việc chuyển đổi từ công nghệ thẻ sang thẻ chip giúp các ngân hàng ở Việt Nam tuân thủ các
quy định và tiêu chuẩn quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch và hợp tác với các đối tác
quốc tế.
---Hết---
Họ tên SV/HV: Quách Diệu Linh - Mã LHP: 231_PCOM0111_07 Trang 8/8

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ 1 NĂM HỌC 2023 – 2024
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Thương mại điện tử căn bản Số báo danh: 56 Mã số đề thi: 10 Mã số SV/HV: 23D140147
Ngày thi: 23/12/2023 Tổng số trang: 8 Lớp: 231_PCOM0111_07
Họ và tên: Quách Diệu Linh Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... Bài làm SV/HV không được viết vào
Câu 1 (5 điểm): Phân loại các loại hình thương mại điện tử theo các chủ cột này)
thể tham gia giao dịch. Lựa chọn một doanh nghiệp kinh doanh theo mô Điểm từng câu,
hình B2C, phân tích và làm rõ mô hình kinh doanh của doanh nghiệp diểm thưởng (nếu có) và điểm này? toàn bài
* Các loại hình thương mại điện tử theo các chủ thể tham gia giao dịch: GV chấm 1:
- TMĐT giữa các doanh nghiệp (B2B): Tất cả những bên tham gia trong Câu 1: ……… điểm
TMĐT giữa các doanh nghiệp hoặc là các doanh nghiệp, hoặc là các tổ chức. Câu 2: ……… điểm
Ví dụ, các giao dịch giữa công ty Dell và Marks & Spencer và các nhà cung ………………….
ứng của họ. Ngày nay, hơn 85% khối lượng TMĐT trên thế giới là B2B. …………………. Cộng …… điểm
- Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C): TMĐT
B2C bao gồm các giao dịch bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp GV chấm 2:
đến khách hàng là cá nhân và các hộ gia đình, những người tiêu dùng cuối Câu 1: ……… điểm
cùng. Nội dung chủ yếu của loại hình TMĐT này là bán lẻ điện tử. Câu 2: ……… điểm ………………….
- Thương mại điện tử doanh nghiệp-doanh nghiệp-người tiêu dùng ………………….
(B2B2C): Một trường hợp đặc biệt của B2B. Một doanh nghiệp cung cấp một Cộng …… điểm
số sản phẩm hoặc dịch vụ cho một khách hàng là một doanh nghiệp khác.
Doanh nghiệp khách hàng tiếp theo sẽ cung cấp những hàng hóa hoặc dịch vụ
Họ tên SV/HV: Quách Diệu Linh - Mã LHP: 231_PCOM0111_07 Trang 1/8
đó cho khách hàng của họ, cũng có thể là nhân viên của họ mà không có bổ sung giá trị. Một ví
dụ cho hình thức này là một công ty sẽ trả cho AOL để tất cả các nhân viên của công ty có thể
truy cập được vào Internet thay vì mỗi công nhân phải tự trả cho AOL. Một ví dụ khác, các
hãng hàng không và du lịch chuyên cung cấp các dịch vụ du lịch như vé máy bay, phòng nghỉ
khách sạn sẽ bán cho các đối tác kinh doanh như các đại lý du lịch, để rồi sau đó, các đại lý này
sẽ bán các dịch vụ đó cho khách hàng. Một ví dụ cuối cùng, công ty Godiva bán sô cô la cho
các doanh nghiệp khách hàng. Các doanh nghiệp này sẽ biến những thanh sô cô la đó thành
những món quà cho nhân viên của mình hoặc cho các doanh nghiệp khác. Như vậy, thuật
ngữ B2B còn bao hàm cả B2B2C.
- Người tiêu dùng-doanh nghiệp (C2B): Người tiêu dùng ở đây có thể sử dụng Internet
tiến hành bán sản phẩm hoặc dịch vụ của mình cho các doanh nghiệp hoặc các cá nhân
thông qua hình thức đấu giá sản phẩm hoặc dịch vụ. Price.com là trang web nổi tiếng của giao dịch C2B này.
- Người tiêu dùng-người tiêu dùng (C2C): Người tiêu dùng này giao dịch trực tiếp với người
tiêu dùng khác. Ví dụ về loại này là một số cá nhân muốn bán một số tài sản riêng của họ như
bất động sản, ô tô, tranh nghệ thuật, đồ cổ v.v.. thì họ quảng cáo chúng trên những trang web
chuyên dụng. Quảng cáo các dịch vụ cá nhân thông qua trang web hay việc bán kiến thức và
kinh nghiệm chuyên môn là ví dụ khác về C2C. Ngoài ra có nhiều trang web đấu giá cho phép
các cá nhân đưa đồ của mình lên để đấu giá.
- Doanh nghiệp-nhân viên (B2E): Loại hình TMĐT doanh nghiệp nhân viên là một hệ
thống phụ của loại hình TMĐT nội bộ doanh nghiệp, trong đó tổ chức tiến hành phân
phát các dịch vụ, thông tin hay sản phẩm tới từng nhân viên như công ty. Một bộ phận
lớn nhân viên là nhân viên di động, họ làm đại diện của doanh nghiệp tại các tổ chức và
doanh nghiệp khác. TMĐT hỗ trợ cho các nhân viên như vậy được gọi là B2ME (doanh
nghiệp tới nhân viên di động).
* Tập đoàn đa quốc gia Amazon là một doanh nghiệp kinh doanh theo mô hình B2C: a, Giá trị cho khách hàng
Mục tiêu giá trị chủ yếu của Amazon là mang tới cho khách hàng cơ hội chọn lựa
chưa từng có và sự thuận tiện trong giao dịch. Trước khi Amazon được thành lập, hầu
hết khách hàng đều phải tự mình tới các cửa hàng bán lẻ sách tìm và đặt mua. Nếu cuốn
Họ tên SV/HV: Quách Diệu Linh - Mã LHP: 231_PCOM0111_07 Trang 2/8
sách muốn mua chưa bày bán tại cửa hàng, khách hàng thường phải chờ đợi từ vài ngày
tới vài tuần và sau đó họ phải trở lại cửa hàng để nhận nó. Giờ đây, với những gì mà
Amazon cung cấp, người mua sách hoàn toàn có thể từ nhà hoặc từ công sở truy cập các
cửa hàng bán sách ảo bất cứ giờ nào, tìm kiếm và lựa chọn những cuốn sách mình muốn.
Với những cuốn sách chưa in, khách hàng sẽ nhận được thông báo ngay sau khi nó có
mặt tại cửa hàng. Những công việc sau đó sẽ do Amazon hoàn tất.
b, Sản phẩm và dịch vụ
• Hàng hóa có thương hiệu được thừa nhận rộng rãi
• Hàng hóa được bảo hành bởi những người bán hàng được tin cậy cao hoặc nổi tiếng
• Sản phẩm số hóa (phần mềm, nhạc, video..)
• Hàng hóa giá trị không cao (đồ dùng văn phòng, vitamin…)
• Hàng hóa thường mua (tạp phẩm, thuốc theo đơn bác sỹ..)
Trường Đại học Thương mại 75
• Hàng hóa có các đặc trưng chuẩn (Sách, đĩa CD, vé máy bay...) mà việc kiểm tra
vật lý là không quan trọng
• Hàng hóa được bao gói phổ biến mà khi mua không cần mở bao bì (thực phẩm, sô cô la, vitamin…) c, Quy trình kinh doanh
- Sản phẩm và Dịch vụ: Amazon bắt đầu bằng việc cung cấp một loạt các sản phẩm và dịch vụ,
từ sách, đồ điện tử, thời trang đến dịch vụ như Amazon Web Services (AWS).
- Người Bán và Marketplace: Amazon cho phép cả người bán từ cá nhân đến doanh nghiệp lớn
tham gia vào Marketplace của họ để bán sản phẩm. Các người bán này có thể tạo các cửa hàng
trực tuyến riêng hoặc bán hàng trực tiếp thông qua trang web của Amazon.
- Quảng cáo và Tiếp thị: Amazon có các công cụ quảng cáo và tiếp thị mạnh mẽ để giúp người
bán quảng bá sản phẩm của họ. Họ cung cấp các dịch vụ quảng cáo trên trang web của mình,
cũng như qua các kênh như Amazon Advertising.
- Giao hàng và Vận chuyển: Amazon có một mạng lưới vận chuyển rộng lớn, từ các trung tâm
phân phối cho đến dịch vụ giao hàng nhanh như Amazon Prime. Họ cũng có các dịch vụ lưu trữ
và vận chuyển dành cho người bán trên Marketplace của họ.
Họ tên SV/HV: Quách Diệu Linh - Mã LHP: 231_PCOM0111_07 Trang 3/8
- Trải nghiệm Người dùng: Amazon chú trọng vào trải nghiệm mua sắm của người dùng. Họ sử
dụng trí tuệ nhân tạo để cá nhân hóa trải nghiệm mỗi người dùng, cung cấp gợi ý sản phẩm và
nền tảng mua sắm thuận tiện.
- Dịch vụ Khách hàng: Amazon cung cấp dịch vụ khách hàng toàn diện, từ hỗ trợ qua điện
thoại, trò chuyện trực tuyến đến các chính sách đổi trả linh hoạt.
- Hệ sinh thái Amazon: Ngoài thương mại điện tử, Amazon còn có các dịch vụ khác như AWS,
Amazon Prime Video, Audible, và nhiều dịch vụ khác, tạo nên một hệ sinh thái đa dạng và mở rộng.
d, Thị trường của doanh nghiệp: Đa quốc gia
e, Mô hình doanh thu: Mô hình doanh thu bán hàng (Sales Revenue Model)
Câu 2 (5 điểm): Trình bày khái niệm và phân loại thẻ thông minh? Nêu các ứng dụng thẻ
thông minh và cho ví dụ? Tại sao các ngân hàng ở Việt Nam đang có xu hướng chuyển đổi
từ công nghệ thẻ sang thẻ chip?
- Khái niệm: Thẻ thông minh thường được sử dụng bên cạnh thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ truyền
thống. Chúng cũng được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ các ứng dụng phi tài chính và phi
bán lẻ. Một thẻ thông minh trông như một thẻ thanh toán nhựa, nhưng được phân biệt ở
chỗ là trên thẻ thông minh có gắn vi mạch điện tử (microchip). Con chip được gắn có thể
là mạch vi xử lý kết hợp với con chip lưu giữ thông tin hoặc chỉ có con chip lưu giữ
thông tin với logic phi chương trình. Thông tin trong thẻ có thể được thêm, bớt hoặc chịu
các xử lý khác. Thẻ có con chip lưu giữ thông tin thường là thẻ “chỉ đọc” tương tự như
thẻ tín dụng. Mặc dù bộ vi xử lý có khả năng chạy chương trình giống như một máy tính,
nhưng nó không phải là máy tính độc lập. Các chương trình và dữ liệu phải được tải về
và kích hoạt từ một số thiết bị khác (như một máy ATM).
- Phân loại: . Có hai loại thẻ thông minh. Loại thứ nhất là
thẻ tiếp xúc, loại thẻ này sẽ được kích
hoạt khi đưa thẻ này vào thiết bị đọc thẻ. Loaị thứ hai là thẻ phi tiếp xúc, có nghĩa là thẻ
chỉ phải đưa tới một khoảng cách nhất định so với thiết bị đọc thẻ để xử lý giao dịch. Các
thẻ lai là sự kết hợp của hai loại trên thành một.
Thẻ tiếp xúc có một tấm kim loại màu vàng có đường kính khoảng một inch rưỡi
được bố trí ở mặt trước. Khi đưa thẻ vào thiết bị đọc thẻ, tấm kim loại tạo ra sự tiếp xúc
điện tử và dữ liệu được truyền đến và lấy ra từ con chip. Thẻ tiếp xúc có thể có bộ nhớ
Họ tên SV/HV: Quách Diệu Linh - Mã LHP: 231_PCOM0111_07 Trang 4/8
chỉ đọc được (Electronically Programmable Read-Only Memory –EPROM) hoặc bộ nhớ
chỉ đọc có thể xóa bỏ điện tử (Electronically Erasable Programmable Read-Only
Memory –EEPROM). Thẻ EPROM có thể không bao giờ bị xóa bỏ. Thay vào đó, dữ liệu
được viết vào khoảng trống trong thẻ. Khi thẻ đầy, nó sẽ bị bỏ đi. Thẻ EEPROM có thể
xóa bỏ hoặc sửa đổi. Chúng có thể được sử dụng cho đến khi quá cũ hoặc hư hỏng. Hầu
hết thẻ tiếp xúc là EEPROM.
Bên cạnh con chip, thẻ phi tiếp xúc còn có một ăng ten được gắn vào. Dữ liệu và
các ứng dụng được truyền vào và lấy ra khỏi thẻ thông qua ăng ten của thẻ tới một ăng
ten khác rồi đến thiết bị đọc thẻ hoặc thiết bị khác. Thẻ phi tiếp xúc được sử dụng
trong những ứng dụng mà dữ liệu phải được xử lý thật nhanh (ví dụ như trả tiền xe buýt
hoặc tàu) hoặc khi khó tiếp xúc (ví dụ do cơ chế an ninh khi đi vào các toà nhà). Thẻ này
hoạt động ở khoảng cách gần, chỉ vài inch. Đối với một số ứng dụng như thanh toán ở
trạm thu tiền trên đường cao tốc, những thẻ này có thể hoạt động ở khoảng cách xa đáng kể.
Đối với các thẻ thông minh hai giao diện hoặc lai thì hai loại giao diện thẻ được kết
hợp thành một. Thẻ thông minh lai có hai con chip tách rời nhau gắn ở trên thẻ. Ngược
lại, thẻ kết hợp hoặc thẻ hai giao diện có một con chip đơn hỗ trợ cho cả hai giao diện.
Lợi ích của cả hai loại thẻ này là loại bỏ sự cần thiết phải mang nhiều thẻ để hỗ trợ cho
những ứng dụng và thiết bị đọc thẻ khác nhau.
Đối với tất cả các loại thẻ, thiết bị đọc thẻ là rất quan trọng trong sự hoạt động của hệ
thống. Thiết bị đọc thẻ bản chất là một thiết bị đọc và ghi. Mục đích chủ yếu của thiết bị
đọc thẻ là hoạt động như thiết bị liên kết giữa thẻ và hệ thống chủ lưu giữ dữ liệu ứng
dụng và xử lý dữ liệu. Có hai loại thẻ cơ bản nên có hai loại thiết bị đọc thẻ (tiếp xúc và
phi tiếp xúc) phù hợp với các loại thẻ riêng.
Việc sử dụng rộng rãi các thẻ thông minh cho những ứng dụng phức tạp đòi hỏi sự
tiêu chuẩn hóa và khả năng tương tác của các loại thẻ và các công nghệ đọc thẻ khác
nhau. Nếu không như vậy, những người sử dụng cuối cùng sẽ phải mang những thẻ riêng
cho mỗi thiết bị đọc thẻ và ứng dụng. Global Platform (globalplatform.org) là một hiệp
hội thẻ thông minh quốc tế và phi lợi nhuận. Mục đích chính của Hiệp hội là tạo ra và
thúc đẩy các ứng dụng kỹ thuật tương tác cho thẻ tín dụng, thiết bị tiếp nhận và cơ sở hạ
Họ tên SV/HV: Quách Diệu Linh - Mã LHP: 231_PCOM0111_07 Trang 5/8
tầng của hệ thống. Nhiều tiêu chuẩn kỹ thuật về thẻ thông minh được thiết lập bởi tổ
chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO; iso.org). ISO/IEC 7816 và ISO/IEC 14443 là những tiêu
chuẩn chính liên quan đến thẻ tiếp xúc và phi tiếp xúc. Những tiêu chuẩn này là cơ sở
cho những tiêu chuẩn khác.
Giống như máy tính, thẻ thông minh có một hệ điều hành. Hệ điều hành thẻ thông
minh tiến hành quản lý các tệp tin, bảo mật, quản lý, nhập/xuất thông tin, thực thi các
câu lệnh và cung cấp giao diện chương trình ứng dụng (API) thẻ. Ban đầu, thẻ thông
minh và hệ điều hành được thiết kế để điều khiển con chip đặc biệt gắn trên thẻ. Ngày
nay, thẻ thông minh đang chuyển sang hệ điều hành ứng dụng mở và phức tạp như
MULTOS (multos.com) và Java Card (java.sun.com/products/javacard). Hệ điều hành
mới này có khả năng đưa thêm những ứng dụng mới vào trong quá trình hoạt động của thẻ. - Ứng dụng:
+ Thanh toán trong mua bán lẻ:
Các hiệp hội thẻ tín dụng và các tổ chức tài chính đang chuyển đổi các loại thẻ ghi nợ
và thẻ tín dụng truyền thống sang thẻ thông minh đa ứng dụng.
Thẻ thông minh an toàn hơn thẻ tín dụng truyền thống và có thể được mở rộng tới
nhiều dịch vụ thanh toán khác. Trong lĩnh vực bán lẻ, nhiều loại dịch vụ này hướng đến
những thị trường mà thanh toán thường được thực hiện bằng tiền mặt và tốc độ, sự tiện
lợi là rất quan trọng, ví dụ các cửa hàng tiện dụng, trạm xăng, nhà hàng dịch vụ nhanh và
thức ăn nhanh, rạp chiếu phim. Ví tiền điện tử và thanh toán phi tiếp xúc là ví dụ cho loại
hình dịch vụ giá trị gia tăng này.
+ Chuyển tiếp phí trong giao thông công cộng:
Trong những thành phố lớn ở Mỹ nhiều nước khác, người đi làm thường phải lái xe
tới nơi đậu xe, lên tàu và sau đó di chuyển qua một hoặc nhiều xe điện ngầm, xe buýt để
tới nơi làm việc. Nếu quá trình đó đòi hỏi sự kết hợp của tiền mặt và nhiều loại vé khác
nhau thì nó sẽ rất phức tạp và rắc rối. Sự bất tiện này đã không khuyến khích người đi
làm sử dụng phương tiện công cộng. Để loại bỏ sự bất tiện này, hầu hết người vận hành
chuyển tiếp chính ở Mỹ đang thực hiện những hệ thống vé phí thẻ thông minh. Chính
phủ Liên bang Mỹ cũng cũng khuyến khích những người chủ trợ cấp cho nhân viên sử
Họ tên SV/HV: Quách Diệu Linh - Mã LHP: 231_PCOM0111_07 Trang 6/8
dụng giao thông công cộng. Các nhà vận hành chuyển tiếp của nhiều thành phố lớn trên
thế giới đang chuyển từ hệ thống phí không hợp nhất, phức tạp sang hệ thống đòi hỏi chỉ
một thẻ phi tiếp xúc duy nhất, dù có bao nhiêu kiểu giao thông hoặc có bao nhiêu hãng
giao thông và các công ty liên quan tham gia.
Một số nhà vận hành chuyển tiếp ở Mỹ đang tìm kiếm đối tác là các đại lý bán lẻ và
các tổ chức tài chính để kết hợp thẻ chuyển tiếp của họ với thẻ thanh toán có thể được sử
dụng để mua hàng hóa và dịch vụ như bữa ăn nhỏ, phí qua cầu, phí đỗ xe, mua thức ăn
trong nhà hàng hoặc cửa hàng tạp phẩm gần trạm chuyển tiếp.
Bên cạnh việc giải quyết phí chuyển tiếp, thẻ thông minh và hệ thống thanh toán điện
tử khác được sử dụng cho những ứng dụng giao thông khác, ví dụ chấp nhận thanh toán
từ thẻ thông minh trả trước đối tới iền đỗ xe, phí giao thông.
+ Định dạng điện tử (electronic identification – e-ID):
Bởi vì thẻ thông minh có khả năng lưu trữ thông tin cá nhân bao gồm ảnh, nhận dạng
sinh trắc học, chữ ký số hóa và chìa khóa an toàn cá nhân nên chúng được sử dụng trong
nhiều loại nhận dạng, kiếm soát truy cập và ứng dụng xác nhận. Ví dụ, một vài nước như
Trung Quốc, Ấn Độ, Bỉ đã lên kế hoạch hoặc thử nghiệm đưa ra chương trình thẻ thông
minh định dạng quốc gia. Thẻ được thiết kế để giảm thủ tục ID và người dân có thể di
chuyển tự do hơn trong nước. Thẻ ID có kích thước như thẻ ngân hàng tiêu chuẩn và sẽ
sử dụng con chip phi tiếp xúc. + Bảo vệ sức khỏe:
Nói chung, thẻ thông minh được sử dụng để lưu trữ dữ liệu, định dạng và xác nhận
chủ thẻ, cho phép hoặc giới hạn khả năng truy cập tới các công trình vật lý hoặc nguồn
thông tin. Trong việc bảo vệ sức khỏe, thẻ thông minh có những khả năng khác nhau, bao gồm:
- Lưu trữ thông tin y khoa cần thiết trong các trường hợp khẩn cấp.
- Tránh cho bệnh nhân phải cầm nhiều đơn thuốc của các bác sĩ khác nhau.
- Kiểm tra định dạng của bệnh nhân và thông tin về bảo hiểm
- Rút ngắn thời gian làm thủ tục nhập viện và khi giải quyết các trường hợp khẩn cấp.
- Cung cấp cho các bác sĩ đa khoa sự truy cập an toàn vào bệnh án của một bệnh nhân.
Họ tên SV/HV: Quách Diệu Linh - Mã LHP: 231_PCOM0111_07 Trang 7/8
- Đấy nhanh quá trình thanh toán và khiếu nại.
- Bệnh nhân có thể truy cập vào hồ sơ bệnh án qua Internet.
Mặc dù thẻ thông minh bảo vệ sức khỏe đã được xúc tiến đối với việc lưu kho dữ liệu
(ví dụ lưu giữ thông tin y khoa cần thiết), nhưng trên thực tế hầu hết những thẻ này chỉ
được sử dụng để kiểm tra quyền đối với các dịch vụ bảo vệ sức khỏe. Đây là lĩnh vực sử
dụng trước hết của chúng, ví dụ ở Đức và Pháp có hai chương trình thẻ thông minh bảo
vệ sức khỏe lớn nhất thế giới.
- Có một số lý do chính khiến các ngân hàng ở Việt Nam đang chuyển đổi từ công nghệ thẻ
sang thẻ chip. Dưới đây là một số lợi ích chính của việc chuyển đổi này:
+ Tăng cường tính bảo mật: Thẻ chip được tích hợp một vi mạch thông minh (chip) có khả năng
mã hóa và giải mã thông tin. Điều này làm giảm nguy cơ lộ thông tin cá nhân và gian lận trong
giao dịch. So với thẻ từ truyền thống, thẻ chip khó bị sao chép và giả mạo hơn, tăng cường tính
bảo mật cho người dùng.
+ Giao dịch nhanh chóng và thuận tiện: Thẻ chip có thời gian xử lý giao dịch nhanh hơn so với
thẻ từ, giúp giảm thời gian chờ đợi cho khách hàng và ngân hàng. Hơn nữa, thẻ chip cũng có
khả năng lưu trữ thông tin cá nhân và lịch sử giao dịch của người dùng, giúp tăng tính tiện lợi
và quản lý tài chính cá nhân hiệu quả hơn.
+ Mở rộng khả năng sử dụng: Thẻ chip được chấp nhận rộng rãi trên toàn cầu, đảm bảo tính linh
hoạt khi người dùng đi du lịch hoặc giao dịch với các đối tác quốc tế. Điều này giúp khách hàng
có thể sử dụng thẻ của mình ở nhiều nơi khác nhau mà không gặp các rào cản kỹ thuật.
+ Chuẩn bị cho công nghệ thanh toán tiên tiến hơn: Chuyển đổi sang thẻ chip là một bước
chuẩn bị quan trọng để hỗ trợ sự phát triển của các công nghệ thanh toán tiên tiến hơn trong
tương lai, chẳng hạn như thanh toán không tiếp xúc hoặc thanh toán qua điện thoại di động. Thẻ
chip cung cấp nền tảng cần thiết để triển khai các tính năng thanh toán mới này.
+ Tuân thủ các quy định quốc tế: Hầu hết các quốc gia trên thế giới đã chuyển sang sử dụng thẻ
chip, và các tiêu chuẩn quốc tế đang yêu cầu các ngân hàng cung cấp thẻ chip cho khách hàng.
Việc chuyển đổi từ công nghệ thẻ sang thẻ chip giúp các ngân hàng ở Việt Nam tuân thủ các
quy định và tiêu chuẩn quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch và hợp tác với các đối tác quốc tế. ---Hết---
Họ tên SV/HV: Quách Diệu Linh - Mã LHP: 231_PCOM0111_07 Trang 8/8