



















Preview text:
THƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI NHÓM 1
Đề tài: Bản chất pháp lý của công ty cổ phần Môn: Luật kinh tế 1 Lớp: 23107PLAW0321
Giáo viên: Phùng Bích Ngọc Mục lục
Lời mở đầu...............................................................................................................2
Danh sách từ viết tắt.................................................................................................3
Nội dung...................................................................................................................4
Phần 1. Cơ sở lý luận về CTCP................................................................................4
1.1 Khái niệm về CTCP............................................................................................4
1.2 Đặc điểm của công ty cổ phần............................................................................4
1.3 Các loại cổ phần.................................................................................................5
1.4 Thủ tục CTCP.....................................................................................................6
1.5 Cơ cấu tổ chức của CTCP..................................................................................7
1.6 Quy chế pháp lý Quyền và nghĩa vụ của cổ đông phổ thông CTCP..................8
Kết luận..................................................................................................................10
Bài tập tình huống..................................................................................................11
Tình huống 1...........................................................................................................11
Tình huống 2...........................................................................................................12
Tình huống 3...........................................................................................................16
Tình huống 4...........................................................................................................17
Tình huống 5...........................................................................................................24 LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế quốc tế hay, một doanh nghiệp có cơ
sở vật chất lớn mạnh, có nguồn vốn lớn, có nhiều công nhân làm việc vẫn chưa
đủ. Để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước và với doanh nghiệp
nước ngoài, bên cạnh những yếu tố trên thì bộ máy quản lý giữ vai trò đặc biệt
quan trọng. Bộ máy quản lý được ví như người cầm lái con thuyền, nếu người cầm
lái con thuyền xác định đúng hướng thì con thuyền đó sẽ tới đích mong muốn còn
nếu xác định sai hướng thì con thuyền đó có thể sẽ không đi đến đâu cả.
Bộ máy quản lý được coi như vị trí trung tâm đầu não cho mọi hoạt động của
doanh nghiệp, đó là nơi đưa ra các chủ trương, chiến lược, sách lược để phát triển
doanh nghiệp. Do vậy, việc xem xét kiểm tra tính thực tế hoạt động và tìm ra
những biện pháp cải tiến, hoàn thiện lại bộ máy quản lý cho phù hợp với từng giai
đoạn phát triển, từng chủ trương chiến lược mới rất cần thiết đối với một doanh nghiệp.
Hơn nữa, hiện nay khi khoa học công nghệ trên thế giới đang ngày càng phát
triển mạnh thì việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý sẽ làm hoàn thiện
hơn nữa quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tiết kiệm tối
đa thời gian sử dụng lao động, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn có của doanh
nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể tồn tại, đứng vững và ngày càng
phát triển trên thị trường trong nước và quốc tế.
Bước ngoặt lớn nhất đó là đưa nước ta thật sự bước vào thời kỳ hội nhập cùng
nền kinh tế thế giới đầy năng động. Chính vì lẽ đó cần phải đòi hỏi các doanh
nghiệp trong nước cần phải chuẩn bị cho mình những công cụ hữu hiệu nhằm đối
phó với thế lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài. Xuất phát từ thực tế
đó, nó đòi hỏi sự hình thành và phát triển của các công ty tư nhân và cả doanh
nghiệp nhà nước. Đặc biệt là việc hình thanh các công ty cổ phần (CTCP) và vấn
đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là tất yếu đối với quá trình phát
triển ngày căng mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường. Danh sách từ viết tắt CTCP: Công ty cổ phần DN: doanh nghiệp
HĐQT: Hội đồng quản trị
ĐHĐCĐ: Đại hội đồng cổ đông BKS: Ban kiểm soát
HĐCĐ: Hội đồng cổ đông
CĐPT: Cổ đông phổ thông NỘI DUNG
Phần 1. Cơ sở lý luận về CTCP: 1.1 Khái niệm về CTCP:
- Công ty cổ phần là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành
lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Vốn của công ty được
chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành huy
động vốn tham gia của các nhà đầu tư.
* Theo quy định tại Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020, Công ty cổ phần
(Công ty CP) là doanh nghiệp, trong đó:
– Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
– Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và
không hạn chế số lượng tối đa;
– Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
– Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật này.
– Công ty cp có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
– Công ty cp có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn
1.2. Đặc điểm của công ty cổ phần:
1.2.1. Về thành viên Cổ đông CTCP:
- Luật Doanh nghiệp chỉ hạn định số lượng tối thiểu mà không giới hạn số
lượng tối đa các cổ đông của công ty cổ phần, theo đó công ty này phải có ít nhất
3 cổ đông trong suốt quá trình hoạt động. 1.2.2 Về Vốn điều lệ:
- Công ty cổ phần có cấu trúc vốn “mở”. Đặc điểm về cấu trúc vốn của công ty
cổ phần thể hiện trước hết ở vốn điều lệ của công ty. Vốn điều lệ của công ty
phải được chia thành những phần nhỏ nhất bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị mỗi
cổ phần gọi là mệnh giá (giá trị danh nghĩa) của cổ phần và có thể được phản
ánh trong cổ phiếu. Tư cách cổ đông của công ty được xác định dựa trên căn cứ
quyền sở hữu cổ phần. Các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần trừ
một số trường hợp bị Pháp luật cấm chuyển nhượng hoặc hạn chế chuyển
nhượng. Mức độ tự do chuyển nhượng cổ phần phụ thuộc vào tính chất của từng
loại cổ phần. Với tính tự do chuyển nhượng cổ phần, cơ cấu cổ đông của công ty
có thể thay đổi linh hoạt mà không ảnh hưởng đến sự tồn tại cũng như bản chất của công ty.
- Cấu trúc vốn của công ty cổ phần còn thể hiện ở khả năng huy động vốn bằng
phát hành chứng khoán. Công ty có thể phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ
hoặc phát hành trái phiếu để tăng vốn vay (vốn tín dụng) theo quy định của Pháp luật.
1.2.3. Về tư cách pháp lý:
- Công ty cổ phần là chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân. Theo Luật doanh
nghiệp , công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh 1.3 Các loại cổ phần:
* Theo điều 114 Luật Doanh nghiệp 2020 (của Việt Nam), các loại cổ phần bao gồm:
Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần phổ
thông là cổ đông phổ thông.
Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi. Người sở hữu cổ phần ưu đãi
gọi là cổ đông ưu đãi. Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây: cổ phần ưu
đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại, và cổ
phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định và pháp luật về chứng khoán
Trong các loại cổ phần ưu đãi trên thì cổ phần ưu đãi biểu quyết chịu
một số ràng buộc như: chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ
đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết. Hoặc
ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba năm,
kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau
thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi
thành cổ phần phổ thông.
Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại
và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội
đồng cổ đông quyết định. Các cổ phần còn lại (ưu đãi cổ tức, ưu đãi
hoàn lại và ưu đãi khác) thường tuân theo các quy tắc do Đại hội đồng cổ đông quyết định.
Ngoài ra, cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi;
trong khi cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông theo
quyết định của Đại hội đồng cổ đông. Mỗi cổ phần của cùng một loại
đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau. 1.4 Thủ tục CTCP :
* Để thành lập CTCP nhanh chóng, đầy đủ theo quy định pháp luật, thủ tục
thành lập công ty cổ phần phải tuân thủ các bước sau:
Bước 1: Xem xét công ty của mình có đủ điều kiện về chủ sở hữu, ngành
nghề khi đăng ký, tên công ty, trụ sở chính của doanh nghiệp, vốn và con dấu
theo quy định Luật Doanh nghiệp.
Bước 2: xác định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Bước 3: Chuẩn bị đủ hồ sơ yêu cầu thành lập công ty cổ phần. * Hồ sơ bao gồm:
– Giấy đề nghị Đăng ký doanh nghiệp. – Điều lệ Công ty.
– Danh sách cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài hoặc danh
sách người đại diện theo ủy quyền đối với cổ đông nước ngoài là tổ chức.
– Bản sao hợp lệ các giấy tờ sau đây:
Giấy tờ chứng thực cá nhân đối với trường hợp người thành lập doanh nghiệp là cá nhân;
Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là tổ chức
Bước 4: Nộp những giấy tờ đã chuẩn bị và lệ phí đăng ký cho Phòng Đăng ký
kinh doanh – Sở Kế hoạch & Đầu tư theo 2 phương thức: nộp qua mạng hoặc nộp trực tiếp.
Bước 5: Cơ quan đăng ký kinh doanh tiếp nhận, giải quyết hồ sơ theo yêu
cầu. Trong thời gian không quá 03 ngày làm việc, cơ quan đăng ký kinh doanh
cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp. Bước
6 : Công bố thông tin doanh nghiêp trên Cổng thông tin quốc gia về
đăng ký doanh nghiêp và khắc con dấu.
1.5 Cơ cấu tổ chức của CTCP:
- Theo điều 134, Luật doanh nghiệp 2020. Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần:
- Công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một
trong hai mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác:
+) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc
Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông
là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát.
+) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên
độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị. Các thành viên
độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc
quản lý điều hành công ty.
- Trường hợp chỉ có một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng
quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của
công ty; trường hợp Điều lệ không có quy định khác thì Chủ tịch Hội đồng quản
trị là người đại diện theo pháp luật của công ty. Trường hợp có hơn một người đại
diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
- Đại hội đồng cổ đông: gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết (bao gồm cổ
đông phổ thông và cổ đông ưu đãi biểu quyết), là cơ quan quyết định cao nhất
của công ty cổ phần. Cổ đông là tổ chức có quyền cử một hoặc một số người đại
diện theo uỷ quyền thực hiện các quyền cổ đông của mình theo quy định của
pháp luật; trường hợp có nhiều hơn một người đại diện theo uỷ quyền được cử
thì phải xác định cụ thể số cổ phần và số phiếu bầu của mỗi người đại diện.
- Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý công ty cổ phần, có toàn quyền nhân
danh công ty quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công
ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Hội đồng
quản trị có không ít hơn ba thành viên, không quá mười một thành viên, nếu
Điều lệ công ty không có quy định khác. Thành viên Hội đồng quản trị không
nhất thiết phải là cổ đông của công ty.
- Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty: là người điều hành công việc kinh
doanh hằng ngày của công ty. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty do Hội
đồng quản trị bổ nhiệm một người trong số họ hoặc thuê người khác, chịu sự
giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và
trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao. Trường hợp
Điều lệ công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện
theo pháp luật thì Giám đốc hoặc TGĐ là người đại diện theo pháp luật của công
ty. Nhiệm kỳ của Giám đốc hoặc TGĐ không quá năm năm; có thể được bổ
nhiệm lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.
- Ban kiểm soát: Đối với công ty cổ phần có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc có
cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có BKS.
BKS có từ 03 đến 05 thành viên nếu Điều lệ công ty không có quy định khác;
nhiệm kỳ của Ban kiểm soát không quá năm năm; thành viên BKS có thể được
bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. BKS phải có hơn một nửa số thành viên
thường trú ở Việt Nam. Trưởng BKS phải là kế toán viên hoặc kiểm toán viên
chuyên nghiệp và phải làm việc chuyên trách tại công ty, trừ trường hợp Điều lệ
công ty quy định tiêu chuẩn khác cao hơn.
1.6 Quy chế pháp lý Quyền và nghĩa vụ của cổ đông phổ thông CTCP :
1.6.1 Quyền của cổ đông phổ thông:
* Căn cứ Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020
- Quyền tham dự và phát biểu tại ĐHCĐ. Các CĐPT có quyền được tham
dự cuộc họp của ĐHĐCĐ và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông
qua người đại diện theo ủy quyền hoặc hình thức khác do Điều lệ công ty, pháp
luật quy định. Mỗi cổ phần phổ thông có một biểu quyết; -
Quyền được cổ tức : Các cổ đông phổ thông sẽ được nhận cổ tức khi công
ty làm ăn thuận lợi, sinh lời. Mức cổ tức này sẽ do ĐHCĐ quy định. Ngoài ra,
khi công ty giải thể hoặc phá sản, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng
với tỷ lệ sở hữu cổ phần tại công ty. -
Quyền được ưu tiên mua cổ phần. CĐPT được quyền ưu tiên mua cổ phần
mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông công ty. -
Quyền chuyển nhượng cổ phần. Cổ đông phổ thông có quyền tự do trong
việc chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác. Trừ trường hợp về cổ
phần phổ thông của cổ đông sáng lập hoặc Điều lệ công ty đó có quy định hạn
chế chuyển nhượng cổ phần. -
Quyền tiếp cận thông tin: CĐPT có quyền xem xét, tra cứu và trích lục
các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi
các thông tin không chính xác. Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ
công ty, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của ĐHĐCĐ.
- Một số quyền khác: Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số
cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ
công ty có quyền sau đây:
Xem xét, tra cứu, trích lục số biên bản và nghị quyết, quyết định của Hội
đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm, báo cáo của Ban kiểm
soát, hợp đồng, giao dịch phải thông qua Hội đồng quản trị và tài liệu khác, trừ
tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của công ty
Yêu cầu BKS kiểm tra từ vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt
động của công ty khi xét thấy cần thiết. Yêu cầu phải bằng văn bản và phải bao
gồm các nội dung sau đây: họ và tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý
của cá nhân đối với cổ đông là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ
pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với cổ đông là tổ chức; số lượng cổ
phần và thời điểm đăng ký cổ phần của từng cổ đông, tổng số cổ phần của cả
nhóm cổ đông và tỷ lệ sở hữu trong tổng số cổ phần của công ty; vấn đề cần kiểm tra, mục đích kiểm tra .
Quyền khác theo quy định của Luật và Điều lệ công ty.
1.6.2 Nghĩa vụ của cổ đông phổ thông:
Căn cứ Điều 119 Luật Doanh nghiệp 2020:
Thanh toán đầy đủ và đúng thời hạn số cổ phần cam kết mua. Cổ đông phổ thông
có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày,
kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Trừ trường hợp
Điều lệ công ty hay hợp đồng đăng ký mua cổ phần quy định tại một thời hạn khác ngắn hơn.
Không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình
thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần. Trường hợp
có cổ đông rút rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp trái với quy định tại
khoản này thì cổ đông đó và người có lợi ích liên quan trong công ty phải cùng
liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty
trong phạm vi giá trị cổ phần đã bị rút và các thiệt hại xảy ra.
Tuân thủ Điều lệ công ty và quy chế quản lý nội bộ của công ty. Chấp hành nghị
quyết, quyết định của ĐHCĐ, Hội đồng quản trị.
Bảo mật các thông tin được công ty cung cấp theo quy định tại Điều lệ công ty và
pháp luật; chỉ sử dụng thông tin được cung cấp để thực hiện và bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình; nghiêm cấm phát tán hoặc sao, gửi thông tin được
công ty cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác.
Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty. KẾT LUẬN
Để ổn định cơ cấu quản lý dựa trên tính ổn định và tuân thủ pháp luật là một
trong những điều kiện kiên quyết đối với một Tập đoàn lớn mạnh. Để có thể
hoạt động một cách minh bạch, chặt chẽ và có trách nhiệm thì phải lớn mạnh từ
đội ngũ quản lý, phải luôn tuân thủ nguyên tắc của Luật doanh nghiệp hay của
nhà nước và còn phải luôn biết giữa mình liên khiết, không cho phép bản thân vì
cái lợi trước mặt mà đánh đổi sức khỏe, sự an toàn và tính minh bạch của người
lao động cũng như của luật pháp.
Cơ cấu công ty là một bộ máy dùng để quản trị công ty theo chuẩn mực quốc
tế là một yếu tố quan trọng giúp công ty nâng cao năng lực cạnh tranh, đa dạng
hóa được nguồn lực phát triển đặc biệt là nguồn lực tài chính trong một môi
trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Trên bình diện quốc gia, việc tạo ra một
khuôn khổ pháp lý và thực thi tốt khâu thực hiện và tạo ra một cơ cấu vững
mạnh giúp quản trị công ty có một ý nghĩa hết sức to lớn trong việc thu hút đầu
tư, đa dạng hóa các quan hệ hợp tác và liên kết kinh tế quốc tế. Sự gia tăng
nhanh về số lượng, tuy nhiên năng lực cạnh tranh vẫn còn hạn chế của các công
ty Việt Nam trong thời gian qua có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân
quan trọng là vấn đề xây dựng cơ cấu công ty còn hết sức yếu kém. Điều này
được thể hiện dưới nhiều khía cạnh khác nhau: Cơ cấu tổ chức hết sức đơn giản
nặng về quản lý theo kiểu gia đình, cơ chế quản lý chủ yếu theo kiểu thuận tiện;
chưa phân biệt rạch ròi quyền và nghĩa vụ của các bộ phận cấu thành như: Hội
đồng quản trị, Ban điều hành, Ban kiểm soát và nhân viên,... Chức năng hoạch
định và điều hành chưa được phân biệt, công ty hoạt động mang tính ngắn hạn,
điều hành chủ yếu theo tư duy tác nghiệp. Tính minh bạch còn hạn chế và chưa
có cơ chế để đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động; Quyền lợi của cổ đông nhỏ
và người lao động trong doanh nghiệp chưa được quan tâm đầy đủ; Các hoạt
động quản trị chức năng còn nhiều hạn chế và đơn giản. Những hạn chế này đã
đặt ra những rào cản cho sự lớn mạnh của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp
phát triển thiếu định hướng dài hạn và thiếu bền vững.
Phần giải quyết tình huống * Trường hợp 1:
1. Trước hết, ta xem xét vấn đề ông Hải đã nhân danh công ty H ký một hợp
đồng mua bán thiết bị y tế với một doanh nghiệp Trung Quốc. Theo
Đ117K1Đb/ LND2020: “thành viên hợp danh phải là các nhân, chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty”
=> Ông Hải nhân danh công ty H ký một hợp đồng mua bán thiết bị y tế với một
doanh nghiệp Trung Quốc là hoàn toàn đúng pháp luật, việc ký kết hợp đồng có
thể nhằm tạo thêm vốn cho hoạt động của công ty H một mục đích nào đó mà ông
Hải thấy rằng có lợi cho công ty đều có hiệu lực và giá trị pháp lý.
- Sau khi ông Hải bị tai nạn. Theo Đ181K1Đb / LDN2020: “nhân danh công ty
kinh doanh vào ngành, nghề kinh doanh của công ty; đàm phán và ký kết hợp
đồng, giao dịch hoặc giao ước với những điều kiện mà thành viên hợp danh đó
cho là có lợi nhất cho công ty”.
=> Ông Nam cũng hoàn toàn có thể nhân danh công ty đàm phán hoặc ký kết hợp
đồng vì lợi ích của công ty.
- Đến thời hạn giao hàng, ông Nam không nhận hàng và thanh toán tiền cho bên
doanh nghiệp Trung Quốc, vì vậy, Doanh nghiệp Trung Quốc đã khởi kiện Công ty hợp danh H ra Toà án.
Vì ông Hải đang bị tai nạn giao thông nên ông Nam sẽ là người đại
diện công ty H ra toàn án.
- Vì ông Hải nhân danh công ty H nên mối quan hệ trong hợp đồng này là giữa
doanh nghiệp Trung Quốc và công ty hợp danh H. Nhưng trách nhiệm tài sản của
các thành viên hợp danh đối với các nghĩa vụ của công ty là trách nhiệm theo
Đ181K1Đd và Đ181K2Đđ / LDN2020.
- Vì ông Hải đứng lên ký hợp đồng cho công ty H mà ông Nam không nhận hàng
và thanh toán tiền cho bên doanh nghiệp Trung Quốc,. Theo Đ181K1Đd /
LDN2020: “Yêu cầu công ty bù đắp thiệt hại từ hoạt động kinh doanh trong phạm
vi nhiệm vụ được phân công nếu thiệt hại đó xảy ra không phải do sai sót cá nhân của thành viên đó”.
=> Đây là sai sót của ông Nam nên ông nam sẽ phải chịu toàn bộ thiệt hại.
2. Bà Bình không đương nhiên trở thành thành viên hợp danh của công ty. Căn
cứ tại khoản 3 điều 180 Luật doanh nghiệp 2020 “Thành viên hợp danh
không được chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công
ty cho tổ chức, cá nhân khác nếu không được sự chấp thuận của các thành
viên hợp danh còn lại.” Căn cứ tại khoản 1 điều 186 “Công ty có thể tiếp
nhận thêm thành viên hợp danh hoặc thành viên góp vốn; việc tiếp nhận
thành viên mới của công ty phải được Hội đồng thành viên chấp thuận.”
=>Việc tặng cho của Nam với bà Bình là không đúng theo quy định của
pháp luật. Vì không có sự đồng ý của Hải. =>Nếu muốn Bình là thành viên
hợp danh của công ty hợp danh H thì buộc tất cả thành viên hợp danh còn lại đồng ý.
3. Căn cứ tại điểm b khoản 1 điều 177 Luật doanh nghiệp 2020 “b) Thành viên
hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
về các nghĩa vụ của công ty;” =>giới hạn trách nhiệm là bằng toàn bộ tài
sản đang có của mình. Căn cứ tại điểm đ khoản 2 điều 181 Luật doanh
nghiệp 2020 “đ) Liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của
công ty nếu tài sản của công ty không đủ để trang trải số nợ của công ty;”
=>mặc dù tổng nợ là 5 tỷ nhưng do Tài sản còn lại của Nam và Hải là 1,5 tỷ
do đó giới hạn trách nhiệm là 1,5 tỷ.
4.Theo luật Doanh nghiệp 2020, điều 180 khoản 3: “Thành viên hợp danh không
được chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho tổ
chức, cá nhân khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại.”
=> Bởi chưa có sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại nên Ông Nam
chuyển nhượng phần vốn góp cho ông Hoàng là không hợp pháp. * Tình huống 2: 1.
Căn cứ pháp lý: Điều 8 Luật phá sản 2014
“Điều 8. Thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân
1. Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là
Tòa án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh
nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh
doanh hoặc đăng ký hợp tác xã tại tỉnh đó và thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài;
b) Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có chi nhánh, văn phòng
đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;
c) Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ở nhiều
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;
d) Vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) mà Tòa
án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết do tính chất phức tạp của vụ việc.
2. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh
nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó
và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.”
Như vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 8 Luật phá sản 2014, Tòa án nhân dân tỉnh Hà
Nam không có quyền ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với công ty X do công
ty X có trụ sở chính tại quận Đống Đa, Hà Nội. 2.
Căn cứ pháp lý: Điều 28 Luật phá sản 2014
“Điều 28. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán
1. Doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 5 của
Luật này phải làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chủ yếu sau: a) Ngày, tháng, năm;
b) Tên Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết phá sản;
c) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã;
d) Tên, địa chỉ của người làm đơn;
đ) Căn cứ yêu cầu mở thủ tục phá sản.
3. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải kèm theo các giấy tờ, tài liệu sau:
a) Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, hợp tác xã trong 03 năm gần nhất.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập và hoạt động chưa đủ 03
năm thì kèm theo báo cáo tài chính của doanh nghiệp, hợp tác xã trong toàn bộ thời gian hoạt động;
b) Bản giải trình nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán; báo
cáo kết quả thực hiện các biện pháp khôi phục doanh nghiệp, hợp tác xã mà vẫn
không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán;
c) Bảng kê chi tiết tài sản, địa điểm có tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
d) Danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ, trong đó phải ghi rõ tên, địa chỉ
của chủ nợ, người mắc nợ, khoản nợ, khoản cho vay có bảo đảm, không có bảo
đảm, có bảo đảm một phần đến hạn hoặc chưa đến hạn;
đ) Giấy tờ, tài liệu liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã;
e) Kết quả thẩm định giá, định giá giá trị tài sản còn lại (nếu có).
4. Trường hợp có đề xuất chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý
tài sản thì đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ghi rõ tên, địa chỉ của Quản tài viên,
doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
5. Những người theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 5 của Luật này không
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng
thanh toán thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trường hợp có thiệt hại
phát sinh sau thời điểm doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán do
việc không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản gây ra thì phải bồi thường.”
Như vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 thì để mở thủ tục phá sản, công ty X
cần phải tiến hành làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Luật phá sản năm 2014 quy định các chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản tại hai khoản của Điều 5 Luật này.
Thứ nhất, Khoản 3 Điều 5 Luật phá sản 2014 quy định:
“người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán”.
Thứ hai, khoản 4 Điều 5 Luật phá sản 2014 quy định:
“Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cỏ phần,
Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở
lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh
của công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh
nghiệp mất khả năng thanh toán”.
Theo đó, chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bao gồm:
- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã
- Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cỏ
phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai
thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên,
thành viên hợp danh của công ty hợp danh 3.
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối
với công ty X. Vì căn cứ vào điểm 1 khoản 1 Điều 8 Luật phá sản 2014, ta có:
“Điều 8. Thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân
1. Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là
Tòa án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh
nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh
doanh hoặc đăng ký hợp tác xã tại tỉnh đó và thuộc một trong các trường hợp sau:
b) Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có chi nhánh, văn phòng
đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;”
Như vậy, công ty X có trụ sở chính tại quận Đống Đa, Hà Nội nên Tòa án nhân
dân Thành phố Hà Nội có
thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp
đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tại Hà Nội. 4.
Quyết định này của doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản là hợp pháp. Vì, trên cơ
sở quy định về nhiệm vụ quyền hạn của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý,
thanh lý tài sản tại Luật phá sản, tại Điều 13 Nghị định 22/2015/NĐ-CP hướng
dẫn Luật Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản, cụ thể
nghĩa vụ của doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong hoạt động hành nghề.
Căn cứ vào Điều 13 Nghị định 22/2015/NĐ-CP:
“Điều 13. Nghĩa vụ của doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong hoạt động hành nghề
1. Quản lý Quản tài viên hành nghề trong doanh nghiệp.
2. Chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với hoạt động nghề nghiệp do Quản tài
viên mà doanh nghiệp cử quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 16 của Nghị định này.
3. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có
trách nhiệm xem xét, ký các văn bản do Quản tài viên hành nghề trong doanh nghiệp mình thực hiện.
4. Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho các Quản tài viên hành nghề trong
doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
5. Báo cáo Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đăng ký hành
nghề về hoạt động hành nghề quản lý, thanh lý tài sản theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.
6. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.”
Mặt khác, căn cứ vào khoản 1 Điều 70 Nghị định 22/2015/NĐ-CP:
“Điều 70. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Trong quá trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản, người có quyền, nghĩa
vụ nộp đơn theo quy định tại Điều 5 của Luật này, Quản tài viên, doanh nghiệp
quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền tiến
hành thủ tục phá sản ra quyết định áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp
tạm thời để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh
toán, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động sau đây:
a) Cho bán hàng hóa dễ bị hư hỏng, hàng hóa sắp hết thời hạn sử dụng, hàng hóa
không bán đúng thời điểm sẽ khó có khả năng tiêu thụ; cho thu hoạch, cho bán
hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác;
b) Kê biên, niêm phong tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
c) Phong tỏa tài khoản của doanh nghiệp, hợp tác xã tại ngân hàng; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ;
d) Niêm phong kho, quỹ, thu giữ và quản lý sổ kế toán, tài liệu liên quan của
doanh nghiệp, hợp tác xã;
đ) Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán;
e) Cấm thay đổi hiện trạng đối với tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán;
g) Cấm hoặc buộc doanh nghiệp, hợp tác xã, cá nhân, tổ chức khác có liên quan
thực hiện một số hành vi nhất định;
h) Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường,
trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động;
i) Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác theo quy định của pháp luật.”
Như vậy, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản của công ty X hoàn toàn có quyền
yêu cầu Thẩm phán áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với công ty TNHH Y
do công ty này đang có dấu hiệu tẩu tán tài sản mà công ty Y (công ty Y là con nợ
của công ty X). Mặt khác, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản của công ty X có
quyền yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với giao dịch thanh toán 1 tỷ đồng với công ty
Z có trụ sở tại Hà Nội. *Tình huống 3:
1. Cuộc họp ngày 27/01/2021 hợp pháp. Dựa theo điều 140, khoản a, luật doanh
nghiệp năm 2020: “Hội đồng quản trị triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông thường
niên và bất thường. Hội đồng quản trị triệu tập họp bất thường Đại hội đồng cổ
đông trong trường hợp sau đây:
a) Hội đồng quản trị xét thấy cần thiết vì lợi ích của công ty”
=> Đại hội đồng cổ đông nhất trí sẽ họp tiếp vào ngày 27/01/2021 vì ngày
20/01/2001 chưa họp xong do điều kiện đã quá muộn.
2. Việc kiến nghị nội dung cuộc họp là không hợp lệ. Căn cứ vào điều 142, khoản
2: “Cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 điều 115 của Luật này có
quyền kiến nghị vấn đề đưa vào chương trình họp Đại hội đồng cổ ddoong. Kiến
nghị phải bằng văn bản và được gửi đến công ty chậm nhất là 03 ngày làm việc
trước ngày khai mạc, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định thời hạn khác.
Kiến nghị phải ghi rõ tên cổ đông, số lượng từng loại cổ phần của cổ đông, vấn
đề kiến nghị đưa vào chương trình họp.”
=> Một số cổ đông của Công ty (chiếm 15% tổng số cổ phần có biểu quyết của
công ty) đã đề nghị bổ sung nội dung mới vào cuộc họp và bị từ chối với lí do đề
nghị đó không phù hợp với thủ tục quy định tại Điều lệ Công ty và Luật doanh
nghiệp do không có văn bản gửi đến cho công ty chậm nhất 03 ngày làm việc trước khai mạc.
3. Việc từ chối kiến nghị là hợp pháp. Căn cứ vào điều 142, khoản 3, điểm a):
“ Trường hợp người triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông từ chối kiến nghị quy
định tại khoản 2 điều này thì chậm nhất là 02 ngày làm việc trước ngày khai mạc
cuộc họp Đại hội đồng cổ công phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người
triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông chỉ được từ chối kiến nghị nếu thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
a) Kiến nghị được gửi đến không đúng quy định tại khoản 2 Điều này”
=> Chủ tịch hội đồng quản trị không chấp nhận kiến nghị của một vài cổ đông vì
kiến nghị họ gửi đến không đúng quy định khoản 2 là kiến nghị phải được gửi
trước 03 ngày trước ngày khai mạc và Đại hội đồng cổ đông phải trả lời rõ lý ro từ
chối bằng văn bản trước ngày khai mạc 02 ngày. 4.
Quyết định bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát là không hợp pháp
Vì theo Điều 148 khoản 1 LDN 2020: “1. Nghị quyết về nội dung sau đây được
thông qua nếu được sổ cổ đông đại diện từ 65% tổng số phiếu biểu quyết trở lên
của tất cả cổ đông dự họp tán thành, trừ trường hợp quy định tại các khoản 3, 4
và 6 Điều này; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định:
a) Loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại;
b) Thay đổi ngành, nghề và lĩnh vực kinh doanh;
c) Thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý công ty;
d) Dự án đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị từ 35% tổng giá trị tài sản trở lên
được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, trừ trường hợp Điều lệ
công ty quy định tỷ lệ hoặc giá trị khác;
đ) Tổ chức lại, giải thể công ty;
e) Vấn đề khác do Điều lệ công ty quy định.”
=> Vì 10 cổ đông của Công ty đã bỏ về, do đó, số cổ đông đại diện cho số cổ
phần tại cuộc họp chỉ còn 55,6% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của Công
ty (không hợp lệ theo điều luật là ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết tham dự)
=>Việc bầu bổ sung Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát là không hợp pháp. * Tình huống 4:
1. Thủ tục tiến hành cuộc họp Đại hội HTX có phù hợp pháp luật không? Giải thích.
1.1. Xác định vấn đề pháp lý cần giải quyết: Cuộc họp chỉ có 5/20 xã viên
biểu quyết việc tán thành khai trừ xã viên và ông A nhận được giấy mời họp xã
viên bất thường trước ngày Đại hội 1 ngày và không thông báo trước nội dung
cuộc họp có đúng với thủ tục tiến hành cuộc họp Đại hội HTX hay không?
- Thủ tục tiến hành cuộc họp Đại hội HTX là không phù hợp pháp luật. * Giải thích: 1.2. Căn cứ pháp lý:
- Căn cứ khoản 1 Điều 31 Luật Hợp tác xã 2012:
“ Điều 31: Triệu tập đại hội thành viên:
1.Đại hội thành viên bất thường do hội đồng quản trị, ban kiểm soát hoặc kiểm
soát viên hoặc thành viên đại diện của ít nhất một phần ba tổng số thành viên,
hợp tác xã thành viên triệu tập theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.”
- Căn cứ khoản 2,3,4 Điều 31 Luật Hợp tác xã 2012:
“ Điều 31: Triệu tập đại hội thành viên:
2. Hội đồng quản trị triệu tập đại hội thành viên bất thường trong những trường hợp sau đây:
a) Giải quyết những vấn đề vượt quá thẩm quyền của hội đồng quản trị;
b) Hội đồng quản trị không tổ chức được cuộc họp định kỳ sau hai lần triệu tập;
c) Theo đề nghị của ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên;
d) Theo đề nghị của ít nhất một phần ba tổng số thành viên, hợp tác xã thành viên.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của ban kiểm soát, kiểm
soát viên hoặc đề nghị của ít nhất một phần ba tổng số thành viên, hợp tác xã
thành viên, hội đồng quản trị phải triệu tập đại hội thành viên bất thường.
3.Trường hợp quá thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của ban
kiểm soát, kiểm soát viên hoặc đề nghị của ít nhất một phần ba tổng số thành