



















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA TÀI CHÍNH BÀI TẬP LỚN
MÔN: KINH TẾ VĨ MÔ
ĐỀ TÀI: LẠM PHÁT Ở ĐỨC
GIAI ĐOẠN 2022 ĐẾN
THÁNG 9 – 2023 VÀ GIẢI
PHÁP CỦA CHÍNH PHỦ
NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 1 LỚP: K26TCC ST THọ và tên Mã sinh viên Phần trăm đóng góp 1 Đỗ Tam Nguyên 19% 2 Nguyễn Khánh Ngọc 10% 3 Nguyễn Việt Anh 10% 4 Hồ Thị Phương Mai 9% 5 Nguyễn Đức Lộc 17% 6 Hà Phương Chi 13% 7 Lê Thùy Linh 12% 8 Vũ Hoàng Quân 10%
Bảng phân công nhiệm vụ của nhóm ST THọ và tên Mã sinh viên Vai trò Nhiệm vụ Deadli ne 1 Đỗ Tam Nguyên 26A40129 09 Nhóm Làm báo 2/11/2 trưởn cáo Word, 023 g Mục 1.2, 1.3, 2.4 Chương 2 2 Nguyễn Ngọc Khánh 26A40129 03 Thàn h viên Mục 2.1, 30/10/ 2.2 2023 Chương 2 3 Nguyễn Anh Việt 26A40110 66 Thàn h viên Mục 2 Chương 3 30/10/ 2023 4 Hồ MaiThị Phương 26A40124 44 Thàn h viên Mục 1.1 Chương 2 30/10/ 2023 5 Nguyễn Đức Lộc 26A40124 38 Thàn h viên Làm 3/11/2 powerpoin 023 t, mục 1,2 Chương 1 6 Hà Phương Chi 26A401 78 10 Thàn h viên Mục Chương 3 1 30/10/ 2023 7 Lê Thùy Linh 26A401 96 19 Thàn h viên Mục Chương 2.3 2 30/10/ 2023 8 Vũ Hoàng Quân 26A40129 28 Thàn h viên Mục 3, 4, 30/10/ 5 Chương 2023 1
PHẦN TỰ ĐÁNH GIÁ CỦA NHÓM ST THọ và tên Mã sinh viên Đánh giá của Điểm cá nhóm về từng nhân = thành viên Điểm của Chất lượng Tiến nhóm*(%c độ hất lượng*60% + %tiến độ*40%) 1 Đỗ Tam Nguyên 26A40129 09 100% 100% 2 Nguyễn Ngọc Khánh 26A40129 03 85% 90% 3 Nguyễn Việt Anh 26A401 66 10 80% 90% 4 Hồ Mai Thị Phương 26A40124 44 70% 90% 5 Nguyễn Đức Lộc 26A 38 40124 100% 100% 6 Hà Phương Chi 26A401 78 10 100% 100% 7 Lê Thùy Linh 26A401 96 19 95% 100% 8 Vũ Hoàng Quân 26A40129 80% 100% 28 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Đức luôn là một trong những nền kinh tế hàng đầu thế giới và là
đầu tàu của châu Âu. Nền kinh tế Đức khá ổn định với các chỉ
số kinh tế vĩ mô như tỷ lệ lạm phát, tỉ lệ thất nghiệp được duy
trì ở mức thấp. Lạm phát có thể là động lực giúp một nền kinh
tế phát triển song nó cũng là nguyên nhân phá vỡ sự phát triển
của nền kinh tế một quốc gia, gây nên những bất ổn từ kinh tế
dẫn đến đời sống và ảnh hưởng đến lĩnh vực chính trị- xã hội.
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới bị ảnh hưởng nặng nề bởi
cuộc xung đột Nga – Ukraine, nền kinh tế Đức dù là nền kinh tế
hàng đầu cũng không tránh khỏi sự suy thoái. Đặc biệt là vấn
đề lạm phát tăng cao đột biến đã gây những tác động không
nhỏ tới nền kinh tế này. Và để giải quyết vấn đề đó, chính phủ
Đức đã có những biện pháp cụ thể để kiềm chế lạm phát, ổn
định nền kinh tế. Với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về vấn đề
này, nhóm 1 chúng em đã chọn đề tài: “Lạm phát ở Đức giai
đoạn 2022 đến tháng 9 – 2023 và giải pháp của chính
phủ nhằm kiểm soát lạm phát”. Bài nghiên cứu gồm 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận về lạm phát.
Chương 2: Thực trạng tình hình lạm phát ở Đức giai đoạn 2022 đến tháng 9 – 2023.
Chương 3: Giải pháp của Đức nhằm kiểm soát lạm phát. 2. Mục tiêu.
-Hiểu được các vấn đề cơ bản về lạm phát.
-Phân tích được thực trạng tình hình lạm phát và ảnh hưởng
của lạm phát đến nền kinh tế.
-Hiểu được các chính sách kiểm soát lạm phát, từ đó đưa ra
được các nhận định, khuyến nghị cơ bản về cách thức kiểm soát lạm phát.
3. Đối tượng nghiên cứu.
-Lạm phát tại Đức và chính sách kiểm soát lạm phát của Đức
4. Phạm vi nghiên cứu.
-Nước Đức giai đoạn 2022 đến tháng 9 – 2023.
-Giá cả các mặt hàng tiêu dung, năng lượng,…
5. Phương pháp nghiên cứu.
Sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, tham khảo
thông tin từ các trang web, bài báo, lấy số liệu thống kê từ
trang web của Cục Thống kê Liên bang Đức “destatis”,…
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT. 1. Khái niệm.
Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng
hóa và dịch vụ theo thời gian và đi kèm là sự mất giá trị của
một loại tiền tệ. Khi mức giá chung tăng cao, tiền của bạn sẽ
mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây.
Tỷ lệ lạm phát là thước đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ. Quy mô
và sự biến động của nó phản ánh quy mô và xu hướng lạm phát
2. Nguyên nhân.
2.1. Tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế có thể gây ra lạm phát trong một số trường
hợp vì sự tăng cung tiền tệ và tăng cầu tiêu dùng. Khi kinh tế
phát triển, nguồn tiền trong hệ thống tăng lên, điều này sẽ tạo
áp lực lên giá cả của hàng hóa và dịch vụ. Đồng thời, thu nhập
tăng của người dân cũng thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng gia tăng.
Nếu không có tăng trưởng sản xuất hàng hóa và dịch vụ đáp
ứng đủ nhu cầu (tăng cầu mà không có sự tăng cung tương
ứng) sẽ dẫn đến lạm phát.
2.2. Tăng chi tiêu.
Tăng chi tiêu có thể góp phần vào sự gia tăng lạm phát trong
một số tình huống. Khi chính phủ tăng chi tiêu mà không đi kèm
với tăng trưởng sản xuất hàng hóa và dịch vụ tương ứng sẽ
khiến cho lượng tiền trong hệ thống tăng lên, điều này sẽ tạo
áp lực lên giá cả và dẫn đến lạm phát. Sự gia tăng chi tiêu của
chính phủ có thể tạo ra tiền tệ mới hoặc vay mượn từ ngân
hàng, gây thêm nguồn cung tiền trong nền kinh tế. Đồng thời,
tăng chi tiêu cũng tạo ra sự gia tăng cầu tiêu dùng, đẩy giá cả
lên cao và góp phần vào lạm phát.
2.3. Tăng cung tiền tệ
Tăng cung tiền tệ có thể dẫn đến lạm phát trong nền kinh tế vì
việc gia tăng lượng tiền trong hệ thống vượt quá tốc độ tăng
trưởng sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Khi cung tiền tăng mà
không có sự tăng trưởng tương ứng trong nền kinh tế, nguồn 1
cung hàng hóa và dịch vụ không đáp ứng đủ nhu cầu, dẫn đến
áp lực lên giá cả. Với giá cả tăng, người tiêu dùng và doanh
nghiệp sẽ phải trả nhiều hơn cho hàng hóa và dịch vụ, tạo ra hiện tượng lạm phát.
2.4. Các nguyên nhân phi kinh tế: Chiến tranh, đói kém, thiên tai,…
Trong tình huống chiến tranh, đói kém hoặc thiên tai có thể xảy
ra gián đoạn cung cấp hàng hóa và dịch vụ và gây ra lạm phát.
Sự gián đoạn này xảy ra khi nguồn cung không đáp ứng đủ nhu
cầu cầu tiêu dùng và doanh nghiệp. Do đó, giá cả của hàng hóa
và dịch vụ tăng cao. Thêm vào đó, sự ổn định dần mất đi và
mức độ rủ ro tăng cao trong các tình huống này cũng có thể tạo
áp lực lên giá cả và góp phần vào lạm phát. Nguồn:
https://www.wigroup.vn/post/tim-hieu-ve-lam-phat-nguyen-
nhan-va-anh-huong-den-nen-kinh-te#:~:text=L%E1%BA%A1m
%20ph%C3%A1t%20l%C3%A0%20t%C3%ACnh%20tr%E1%BA
%A1ng,c%E1%BB%B1c%20%C4%91%E1%BA%BFn%20n
%E1%BB%81n%20kinh%20t%E1%BA%BF.
3. Các chỉ tiêu đo lường lạm phát.
Các nhà kinh tế thường dùng hai chỉ tiêu để đánh giá lạm phát
của nền kinh tế: chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số giảm phát
tổng sản phẩm trong nước (GDP). CPI biểu thị biến động về mức
giá chung của một rổ hàng hóa và dịch vụ cố định dùng cho
tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình. Chỉ số giảm phát tổng sản
phẩm trong nước (GDP) biểu thị sự biến động về mặt bằng giá
chung của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra trong lãnh
thổ kinh tế của quốc gia.
CPI nhằm giúp theo dõi mức tăng giảm giá của hàng hóa tiêu
dùng, các nhóm hàng quan trọng nhất có ảnh hưởng đến đời
sống cũng như tâm lý của dân chúng. CPI có thể đo lường hằng
tháng, không như chỉ số giảm phát cho GDP có tính tổng hợp
hơn nên chỉ có thể đo lường hằng quý ở mức tin cậy hạn chế và
nếu muốn đạt độ tin cậy cao thì phải là chỉ số hằng năm vì lúc
đó thống kê mới có thể thu thập đầy đủ. CPI thường theo rất sát 2
chỉ số giảm phát GDP vì tiêu dùng chiếm một tỷ lệ rất lớn trong
GDP. Vì vậy CPI được coi là thước đo lạm phát, các nước trên thế
giới cũng đang sử dụng chỉ tiêu này để xác định tỷ lệ lạm phát.
Lạm phát hay tăng giá đối với các nhà kinh tế là đồng nghĩa.
Nguồn:https://nhandan.vn/chi-so-gia-tieu-dung-thuoc-do-lam-
phat-post499827.html#:~:text=C%C3%A1c%20nh
%C3%A0%20kinh%20t%E1%BA%BF%20th%C6%B0%E1%BB
%9Dng,c%C3%B9ng%20c%E1%BB%A7a%20h%E1%BB %99%20gia%20%C4%91%C3%ACnh.
4. Tác động của lạm phát đến nền kinh tế.
4.1. Ảnh hưởng tích cực.
Với những cá nhân, tổ chức có tài sản hữu hình như bất động
sản hoặc tài sản dự trữ khác, được định giá bằng đồng nội tệ thì
lạm phát có thể làm tăng giá tài sản của họ lên, họ có thể bán chúng với giá cao hơn.
Một mức độ lạm phát vừa phải (dưới 5% ở các nước phát triển
và dưới 10% ở các nước đang phát triển) thường được thúc đẩy
để khuyến khích chi tiêu ở một mức độ nhất định thay vì tiết
kiệm. Nếu sức mua của đồng tiền giảm dần theo thời gian thì có
thể sẽ có động cơ lớn hơn để chi tiêu thay vì tiết kiệm rồi chi tiêu trong tương lai.
Chi tiêu tăng thì thúc đẩy và kích thích tăng trưởng các hoạt
động kinh tế khác, hoạt động đầu tư vay nợ cũng sôi động hơn,
các doanh nghiệp phát triển tốt thì người lao động cũng có việc
làm ổn định, tỷ lệ thất nghiệp cũng giảm xuống.
Về phía Nhà nước và Chính phủ, có thêm khả năng để lựa chọn
các công cụ kích thích đầu tư ở những mảng kém ưu tiên bằng
cách mở rộng tín dụng, phân phối lại thu nhập và các nguồn lực
trong xã hội theo các định hướng mục tiêu và trong khoảng thời gian nhất định.
4.2. Ảnh hưởng tiêu cực.
Thứ nhất, ảnh hưởng tới lãi suất. 3
Tác động đầu tiên của lạm phát đó là lãi suất, khi tỷ lệ lạm phát
tăng cao, nếu muốn lãi suất ở mức ổn định và thực dương thì lãi
suất danh nghĩa phải tăng lên theo tỷ lệ lạm phát, do lãi suất
thực bằng lãi suất danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát. Việc tăng lãi
suất danh nghĩa có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là suy
thoái kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.
Thứ hai, ảnh hưởng đến thu nhập thực tế.
Khi lạm phát tăng lên nhưng thu nhập danh nghĩa không thay
đổi thì thu nhập thực tế của người lao động sẽ bị giảm xuống.
Lạm phát không chỉ làm mất đi giá trị thật của những tài sản
không có lãi mà còn làm hao mòn cả giá trị của các tài sản có
lãi. Do chính sách thuế của Nhà nước dựa trên cơ sở của thu
nhập danh nghĩa, nên các khoản lãi và lợi nhuận cũng giảm sút, từ đó thu nhập giảm.
Thứ ba, ảnh hưởng đến sự phân phối thu nhập.
Lạm phát càng tăng thì giá trị của đồng tiền càng giảm, người
đi vay sẽ có lợi hơn, do vậy, nhu cầu vay vốn càng tăng thêm
đẩy lãi suất lên cao. Giai cấp tư bản hoặc những người giàu có
sẽ có xu hướng dùng tiền để vơ vét tài sản và hàng hóa nhằm
mục đích đầu cơ, tình trạng này sẽ làm mất cân đối nghiêm
trọng quan hệ cung-cầu hàng hóa trên thị trường khiến giá cả ngày một “sốt” hơn.
Cuối cùng, người nghèo càng nghèo hơn, họ không mua nổi các
hàng hóa thiết yếu phục vụ cho đời sống, trong khi người giàu
lại ngày càng giàu hơn. Tình trạng này nếu kéo dài có thể gây
ra bất ổn trong xã hội, căng thẳng giữa giai cấp vô sản và giai
cấp tư bản, xung đột leo thang giữa người giàu và người nghèo.
Thứ tư, ảnh hưởng đến nợ quốc gia.
Chính phủ sẽ được lợi do đánh thuế thu nhập của người dân khi
lạm phát gia tăng, nhưng những khoản nợ nước ngoài sẽ trở
nên “khổng lồ” hơn. Nguyên nhân là do lạm phát khiến tỷ giá
hối đoái tăng và đồng nội tệ đã bị mất giá nhanh hơn đồng ngoại tệ.
https://topi.vn/lam-phat-la-gi.html 4
5. Các phương pháp kiểm soát lạm phát.
Đối với mỗi một quốc gia việc kiểm soát lạm phát để bảo vệ
nền kinh tế luôn được đặt lên hàng đầu. Có rất nhiều cách để
kìm chế lạm phát được áp dụng bao gồm:
Giảm bớt lượng tiền trong lưu thông
+ Ngừng phát hành tiền vào trong lưu thông nhằm giảm lượng
tiền đưa vào lưu thông trong xã hội.
+ Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Đây là biện pháp nhằm giảm
lượng cung tiền vào thị trường. Biện pháp này tác động đến tất
cả các ngân hàng và bình đằng giữa các ngân hàng với nhau.
+ Nâng lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tiền gửi: Biện pháp
này sẽ làm hạn chế các ngân hàng thương mại mang các giấy
tờ có giá đến ngân hàng nhà nước để chiết khấu. Ngoài ra việc
nâng lãi suất tiền gửi sẽ hút khiến người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn.
+ Ngân hàng trung ương áp dụng nghiệp vụ thị trường mở
nhằm bán các chứng từ có giá cho các ngân hàng thương mại.
+ Ngân hàng trung ương bán vàng và ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại.
+ Giảm chi ngân sách: Đó là giảm chi tiêu thường xuyên và cắt giảm đầu tư công.
+ Tăng tiền thuế tiêu dùng nhằm giảm bớt nhu cầu chi tiêu cá
nhân trong xã hội, tăng hàng hóa dịch vụ cung cấp trong xã hội.
Tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng nhằm cân bằng với tiền
trong lưu thông.
+ Khuyến khích tự do mậu dịch. + Giảm thuế.
+ Các biện pháp cho hàng hóa nhập khẩu.
Đi vay viện trợ nước ngoài.
Cải cách tiền tệ.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở ĐỨC
GIAI ĐOẠN 2022 ĐẾN THÁNG 9 – 2023.
1. Tình hình lạm phát ở Đức năm 2022. 5
1.1. Giai đoạn trước và bắt đầu xảy ra xung đột Nga – Ukraine.
1.1.1. Tháng 1 năm 2022.
Tình hình lạm phát.
Tỷ lệ lạm phát ở Đức so với cùng tháng năm ngoái là +4,9%
vào tháng 1 năm 2022. Vào tháng 12 năm 2021, con số này ở
mức 5,3%. Tỷ lệ lạm phát suy yếu phần nào trong tháng 1 sau
khi đạt mức cao nhất trong gần 30 năm vào tháng 12 năm 2021. Nguyên nhân.
Mặc dù các hiệu ứng cơ sở tăng giá ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm
phát năm 2021 do tạm thời giảm thuế VAT và giảm giá các sản
phẩm xăng dầu năm 2020 sẽ không còn áp dụng từ tháng 1
năm 2022 nhưng tỷ lệ lạm phát vẫn ở mức cao. Các tác động
liên quan đến khủng hoảng tiếp tục có ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm
phát hiện tại, chẳng hạn như tắc nghẽn giao hàng và tăng giá
đáng kể ở chi phí sản xuất và đối với các sản phẩm năng lượng.
Ảnh hưởng về giá cả.
Giá năng lượng tăng 20,5% trong vòng một năm.
Giá các sản phẩm năng lượng tăng +20,5%, cao hơn đáng kể so
với lạm phát chung (tháng 12 năm 2021: +18,3%). Trong vòng
một năm, giá nhiên liệu tăng 24,8% và giá năng lượng hộ gia
đình tăng 18,3%. Trong số các sản phẩm năng lượng gia dụng,
dầu sưởi nhẹ (+51,9%), khí đốt tự nhiên (+32,2%) và điện (+11,1%) đặc biệt đắt.
Giá thực phẩm tăng 5,0% trong vòng một năm.
Giá thực phẩm tăng 5,0% trong tháng 1 năm 2022 so với cùng
tháng năm ngoái (tháng 12 năm 2021: +6,0%). Đặc biệt, rau
tươi (+8,3%) cũng như các sản phẩm từ sữa và bơ (+6,3%) trở
nên đắt hơn rõ rệt đối với người tiêu dùng. Nhìn chung, hàng
tiêu dùng, bao gồm thực phẩm, năng lượng và các hàng hóa
hàng ngày khác, tăng 9,6% so với tháng 1 năm 2021. 6
Dịch vụ tăng giá 2,9% trong vòng một năm.
Giá dịch vụ nói chung vào tháng 1 năm 2022 cao hơn 2,9% so
với cùng tháng năm trước. Giá thuê ròng, vốn rất quan trọng do
chi tiêu tiêu dùng của các hộ gia đình tư nhân chiếm tỷ trọng
lớn, đã tăng 1,4% và do đó làm giảm lạm phát chung. Ngoài ra,
giá viễn thông (-1,0%) và giá dịch vụ thể chế xã hội (-1,3%) đã
giảm, nguyên nhân sau đó là do việc thực hiện cải cách chăm
sóc được thông qua vào tháng 6 năm 2021. Ngược lại, một số
giá dịch vụ lại tăng đáng kể như bảo trì, sửa chữa căn hộ, nhà ở
(+9,4%) và phương tiện đi lại (+4,9%).
1.1.2. Tháng 2 năm 2022.
Tình hình lạm phát.
Tỉ lệ lạm phát ở Đức vào tháng 2 năm 2022 so với cùng tháng
năm trước là 5,1%. Tỉ lệ lạm phát vẫn ở mức cao. Nguyên nhân.
Nguyên nhân chính dẫn tới lạm phát vẫn ở mức cao vẫn chủ
yếu do tắc nghẽn giao hàng và sự gia tăng đáng kể của chi phí
sản xuất. Ngoài ra, tiến sĩ John nhấn mạnh : “Những tác động
liên quan đến corona ngày càng bị lu mờ bởi ảnh hưởng từ cuộc
tấn công của Nga vào Ukraine”. Georg Thiel, Chủ tịch Văn
phòng Thống kê Liên bang. “Việc tăng giá hiện tại, đặc biệt là
đối với các sản phẩm dầu mỏ, vẫn chưa được phản ánh trong
kết quả tháng 2 năm 2022.”
Ảnh hưởng về giá cả.
Giá năng lượng tăng 22,5% trong vòng một năm.
Giá các sản phẩm năng lượng tăng +22,5%, cao hơn đáng kể
so với lạm phát chung (tháng 1 năm 2022: +20,5%). Trong
vòng một năm, giá nhiên liệu tăng 25,8% và giá năng lượng
hộ gia đình tăng 20,8%. Đặc biệt, dầu sưởi nhẹ (+52,6%), khí
đốt tự nhiên (+35,7%) và điện (+13,0%) tăng giá.
Giá thực phẩm tăng 5,3% trong vòng một năm. 7
Giá thực phẩm tăng 5,3% trong tháng 2 năm 2022 so với
cùng tháng năm ngoái (tháng 1 năm 2022: +5,0%). Người
tiêu dùng phải trả nhiều tiền hơn, đặc biệt cho rau quả tươi
(+11,0%) cũng như các sản phẩm từ sữa và bơ
(+6,7%). Ngoài năng lượng và thực phẩm, thực vật và hoa
(+8,7%), phương tiện đi lại (+7,8%) và các sản phẩm cà phê
(+6,7%) cũng trở nên đắt đỏ hơn rõ rệt. Nhìn chung, hàng
tiêu dùng tăng giá 10,5% và hàng lâu bền tăng 3,0%.
1.2. Giai đoạn sau khi xảy ra xung đột Nga – Ukraine.
1.2.1. Giai đoạn tháng 3 – tháng 8 2022.
Tình hình lạm phát.
Tình hình lạm phát tại Đức từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2023
được cho bởi biểu đồ dưới đây:
BIỂU ĐỒ TỈ LỆ LẠM PHÁT TẠI ĐỨC SO VỚI CÙNG THÁNG NĂM TRƯỚC 8.00% 7.90% 7.90% 7.80% 7.60% 7.60% 7.50% 7.40% 7.40% 7.30% 7.20% 7.00% 6.80%
T3/2022 T4/2022 T5/2022 T6/2022 T7/2022 T8/2022
Tỉ lệ lạm phát tại Đức
Từ biểu đồ trên, thông tin về tình hình lạm phát tại Đức trong
giai đoạn này cụ thể như sau: Tháng 3 2022 8
Tỷ lệ lạm phát ở Đức so với cùng tháng năm ngoái là
+7,3% vào tháng 3 năm 2022. Vào tháng 2 năm 2022 con số này là +5,1%. Tháng 4 2022
Tỷ lệ lạm phát ở Đức so với cùng tháng năm ngoái - là
+7,4% vào tháng 4 năm 2022. Điều đáng chú ý vào tháng
4 năm 2022 là mức tăng giá thực phẩm trên mức trung
bình. Những ảnh hưởng của cuộc chiến ở Ukraine ngày
càng trở nên rõ ràng ở đây. Như Văn phòng Thống kê Liên
bang cũng báo cáo, giá tiêu dùng đã tăng 0,8% so với tháng 3 năm 2022. Tháng 5 2022
Tỷ lệ lạm phát ở so với cùng tháng năm trước là +7,9%
vào tháng 5 năm 2022. “Tỷ lệ lạm phát đạt mức cao mới ở
nước Đức thống nhất trong tháng thứ ba liên tiếp. Tháng 6/2022
Tỷ lệ lạm phát ở so với cùng tháng năm trước là +7,6%
vào tháng 6 năm 2022. Do đó, tỷ lệ lạm phát đã giảm nhẹ
nhưng vẫn ở mức cao trên 7% Tháng 7/2022
Tỷ lệ lạm phát ở Đức so với cùng tháng năm trước là +7,5% vào tháng 7 năm 2022. Tháng 8/2022
Tỷ lệ lạm phát ở Đức so với cùng tháng năm trước là
+7,9% vào tháng 8 năm 2022. Do đó, tỉ lệ này vẫn duy trì
ở mức trên 7% trong sáu tháng đầu năm 2022. Nguyên nhân.
Do ảnh hưởng bởi cuộc xung đột Nga – Ukraine.
Kể từ khi bắt đầu cuộc chiến ở Ukraine, giá năng lượng nói
riêng đã tăng lên đáng kể và có tác động đáng kể đến tỷ
lệ lạm phát. Lần cuối cùng tỷ lệ lạm phát cao tương tự ở
Đức là vào mùa thu năm 1981, khi giá dầu khoáng cũng
tăng mạnh do Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất giữa Iraq và Iran.
Ngoài ra, còn có tình trạng tắc nghẽn giao hàng do chuỗi
cung ứng bị gián đoạn do ảnh hưởng của hậu Đại dịch
Covid và giá cả tăng đáng kể. Không chỉ các sản phẩm
năng lượng, mà cả những hàng hóa khác như thực phẩm 9
cũng ngày càng trở nên đắt đỏ hơn đối với người tiêu dùng
do tình hình chiến tranh và khủng hoảng.
Ảnh hưởng về giá cả.
BIỂU ĐỒ MỨC TĂNG GIÁ CỦA MỘT SỐ SẢN PHẨM SO VỚI CÙNG KÌ NĂM TRƯỚC 45.00% 39.50% 40.00% 38.30% 38.00% 35.70% 35.60% 35.30% 35.00% 30.00% 25.00% 20.00% 12.70% 12.70% 14.80% 16.60% 15.00% 6.20% 8.60% 10.00% 5.00%
2.80% 3.20% 2.10% 2.10% 2.00% 2.20% 0.00%
T3/2022 T4/2022 T5/2022 T6/2022 T7/2022 T8/2022
Giá sản phẩm năng lượng Giá thực phẩm Giá dịch vụ
Giá các sản phẩm năng lượng
Giá các sản phẩm năng lượng liên tục tăng cao so với cùng
tháng năm trước. Mức tăng trong các tháng luôn ở mức 35.3% - 39.5%.
Giá năng lượng hộ gia đình tăng đặc biệt mạnh ở mức +46,4%:
giá dầu sưởi nhẹ tăng hơn gấp đôi trong vòng một năm lên
+111,5% và mức tăng giá khí đốt tự nhiên là +83,8%.
Giá điện tăng 16,6%. Lạm phát nhiên liệu là +16,5% trong
tháng 8 năm 2022, sau khi +23,0% trong tháng 7 và +33,2%
trong tháng 6. Trong tháng 5, lạm phát nhiên liệu là 41,0%.
Do đó, mức tăng giá của các sản phẩm năng lượng cao
hơn lạm phát chung bất chấp các biện pháp cứu
trợ. Nguyên nhân là do nhiều yếu tố, đặc biệt là giá
mua quốc tế tăng mạnh.
Giá thực phẩm 10
Tính đến tháng 8 năm 2022, giá thực phẩm đã tăng 16.6% so
với cùng tháng năm 2021, mức này cũng cao hơn mức lạm phát
chung. Điều này có nghĩa là lạm phát giá đã tăng tháng thứ sáu liên tiếp.
Giá tăng một lần nữa xảy ra đối với tất cả các nhóm thực
phẩm vào tháng 8 năm 2022: dầu và mỡ nấu ăn (+44,5%) cũng
như các sản phẩm từ sữa và trứng (+26,8%) trở nên đắt hơn đáng kể.
Giá thịt và các sản phẩm từ thịt (+18,6%) cũng như giá bánh mì
và các sản phẩm ngũ cốc (+17,1%) cũng tăng rõ rệt đối với người tiêu dùng. Giá dịch vụ
Dịch vụ chỉ tăng giá 2,2% trong vòng một năm, với tác động
giảm giá của tấm vé 9 euro có hiệu lực lần cuối
Giá dịch vụ nói chung trong tháng 8 năm 2022 cao hơn 2,2% so
với cùng tháng năm trước (Tháng 7: +2,0%; Tháng 6:
+2,1%). Nguyên nhân chính khiến lạm phát giảm từ tháng 6
năm 2022 là sự ra đời của loại vé 9 euro. Điều này dẫn đến
việc giảm giá đáng kể trong giao thông công cộng khu vực và
địa phương: giá giảm trong vòng một năm vào tháng 8 năm
2022 cho cả vé tàu địa phương (-43,9%) và vé kết hợp cho tàu
hỏa, xe buýt và các loại tương tự (-63,0%).
Ngoài ra, ví dụ, dịch vụ của các tổ chức xã hội (-2,1%) rẻ hơn so
với một năm trước. Tuy nhiên, giá thuê ròng, vốn rất đáng kể do
chi tiêu tiêu dùng của hộ gia đình tư nhân chiếm tỷ trọng lớn, đã tăng 1,8%.
Giá bảo trì và sửa chữa căn hộ và nhà ở (+14,4%), tour du lịch
trọn gói (+12,5%) và dịch vụ nhà hàng (+8,3%) tăng đáng kể, cùng những thứ khác. 1.2.1.
Giai đoạn tháng 9 – tháng 11 năm 2022.
1.2.1.1. Tháng 9/2022. 11
Tình hình lạm phát
Tỉ lệ lạm phát tại Đức trong tháng 9 năm 2022 so với cùng
tháng năm ngoái là 10%. Tỷ lệ lạm phát đã tăng mạnh sau khi
đạt mức +7,9% vào tháng 8 năm 2022 và duy trì ở mức trên
7% trong bảy tháng. Tiến sĩ John C. cho biết: “Tỷ lệ lạm phát
đạt mức cao mới ở nước Đức thống nhất ở mức +10,0%”. Nguyên nhân
Georg Thiel, Chủ tịch Văn phòng Thống kê Liên bang, giải thích:
“Nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát cao tiếp tục là do giá
các sản phẩm năng lượng tăng mạnh. Nhưng chúng ta cũng
ngày càng chứng kiến nhiều mặt hàng khác tăng giá, đặc biệt
là thực phẩm. Ngoài ra, “vé 9 euro” hết hạn và giảm giá xăng
đã tăng giá vào tháng 9 năm 2022. Các biện pháp tạm thời này
của gói cứu trợ thứ hai đã có tác dụng làm giảm lạm phát tổng
thể từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2022.” Như Văn phòng Thống
kê Liên bang (Destatis) cũng báo cáo, giá tiêu dùng đã tăng
đáng kể 1,9% trong tháng 9 năm 2022 so với tháng 8 năm 2022.
Ảnh hưởng về giá cả
Các sản phẩm năng lượng đắt hơn 43,9% trong vòng một năm
Giá các sản phẩm năng lượng trong tháng 9 năm 2022 cao hơn
43,9% so với cùng tháng năm trước (tháng 8 năm 2022:
+35,6%). Giá năng lượng hộ gia đình tăng đặc biệt mạnh ở mức
+51,8%: giá dầu sưởi nhẹ tăng hơn gấp đôi trong vòng một
năm lên +108,4% và mức tăng giá khí đốt tự nhiên là
+95,1%. Giá điện tăng 21,0%; việc bãi bỏ phụ phí EEG kể từ
tháng 7 năm 2022 chỉ làm giảm nhẹ mức tăng giá điện. Lạm
phát nhiên liệu là +30,5% vào tháng 9 năm 2022, sau +16,5%
vào tháng 8 năm 2022 (tháng 7 năm 2022: +23,0%; tháng 6
năm 2022: +33,2%). Vào tháng 5 năm 2022, trước khi chính
sách giảm giá nhiên liệu có hiệu lực, lạm phát nhiên liệu là
+41,0%. Tuy nhiên, việc giảm thuế dầu khoáng hết hạn có lẽ
chỉ là một nguyên nhân khiến giá nhiên liệu tăng
mạnh. Nguyên nhân khiến các sản phẩm năng lượng đắt đỏ,
đặc biệt là do giá mua quốc tế tăng mạnh. 12
Giá thực phẩm tăng 18,7% trong vòng một năm
Giá thực phẩm đã tăng 18,7% vào tháng 9 năm 2022 so với
cùng tháng năm ngoái và do đó cao hơn lạm phát chung. Nhìn
chung, mức tăng giá đã tăng dần kể từ đầu năm (tháng 8:
+16,6%). Giá tăng một lần nữa xảy ra đối với tất cả các nhóm
thực phẩm vào tháng 9 năm 2022: dầu và mỡ nấu ăn (+49,0%)
cũng như các sản phẩm từ sữa và trứng (+29,1%) trở nên đắt
hơn đáng kể. Giá thịt và các sản phẩm từ thịt (+19,5%) cũng
như giá bánh mì và các sản phẩm ngũ cốc (+18,5%) cũng tăng
rõ rệt đối với người tiêu dùng.
Dịch vụ chỉ tăng giá 3,6% trong vòng một năm
Giá dịch vụ nói chung vào tháng 9 năm 2022 cao hơn 3,6% so
với cùng tháng năm trước. Trong số này, giá thuê ròng tăng
1,8%, mức tăng đáng kể do tỷ trọng chi tiêu tiêu dùng của các
hộ gia đình tư nhân chiếm tỷ trọng lớn. Giá bảo trì, sửa chữa
căn hộ và nhà ở (+13,9%), tour du lịch trọn gói (+10,4%) và
dịch vụ nhà hàng (+8,5%) tăng đáng kể. Ngoài ra, “vé 9 euro”
hết hạn đồng nghĩa với việc việc giảm giá trong giao thông
công cộng khu vực và địa phương không còn nữa: Trong vòng
một năm, vào tháng 9 năm 2022, giá cho cả vé tàu địa phương
(+2,4%) và vé kết hợp vé tàu lại tăng Vé tàu, xe buýt và các
loại vé tương tự (+1,9%). Tuy nhiên, chỉ có một số dịch vụ có
giá rẻ hơn như viễn thông (-1,5%) và dịch vụ xã hội (-1,4%).
So sánh giữa các tháng, có thể thấy mức tăng giá
mạnh do loại bỏ vé 9 euro và giảm giá nhiên liệu
So với tháng 8 năm 2022, chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 năm
2022 tăng đáng kể 1,9%. Giá vé tàu địa phương (+82,5%) và vé
vận chuyển hành khách kết hợp (+175,3%) tăng mạnh do vé 9
euro hết hạn. Giá năng lượng chung tăng 6,9%. Đặc biệt, giá
nhiên liệu tăng (+12,5%) do bãi bỏ chiết khấu nhiên liệu. Khi
nói đến năng lượng hộ gia đình, giá gas nói riêng đã tăng
6,7%. Ngoài ra, các hộ gia đình tư nhân phải trả nhiều tiền hơn
cho thực phẩm (+1,8%, bao gồm rau: +3,9%; sản phẩm từ sữa:
+2,2%). Ngoài ra, còn có sự biến động giá theo mùa vào tháng
9 năm 2022: đặc biệt ở đây, giá quần áo tăng (+5,7%) được bù
đắp bằng sự sụt giảm của giá các kỳ nghỉ lễ trọn gói (-10,9%). 13
1.2.1.2. Tháng 10 và tháng 11 năm 2022
Tỉ lệ lạm phát
So với cùng tháng năm ngoái là +10,0% vào tháng 11 năm
2022. Do đó, tỷ lệ lạm phát đã suy yếu đôi chút sau mức
+10,4% vào tháng 10 năm 2022. Tiến sĩ John C. cho biết: “Mặc
dù giá năng lượng giảm nhẹ nhưng tỷ lệ lạm phát vẫn ở mức
cao +10,0%. Georg Thiel, Chủ tịch Văn phòng Thống kê Liên
bang, giải thích: “Chúng tôi ngày càng nhận thấy nhiều hàng
hóa khác ngoài năng lượng tăng giá. Giá thực phẩm tiếp tục
tăng đặc biệt đáng chú ý đối với các hộ gia đình tư nhân.” Như
Văn phòng Thống kê Liên bang (Destatis) cũng báo cáo, giá tiêu
dùng đã giảm 0,5% vào tháng 11 năm 2022 so với tháng 10 năm 2022.
Ảnh hưởng về giá cả
Các sản phẩm năng lượng đắt hơn 38,7% trong vòng một năm
Bất chấp các biện pháp cứu trợ, giá sản phẩm năng lượng trong
tháng 11 năm 2022 vẫn cao hơn 38,7% so với cùng tháng năm
trước, nhưng mức tăng giá đã phần nào yếu đi (tháng 10 năm
2022: +43,0%). Giá năng lượng hộ gia đình tiếp tục tăng đặc
biệt mạnh ở mức +53,2%: giá khí đốt tự nhiên tăng hơn gấp đôi
ở mức +112,2% và mức tăng giá sưởi ấm của khu vực là
+36,6%. Việc sưởi ấm bằng các nguồn năng lượng khác cũng
trở nên đắt đỏ hơn: giá củi, viên gỗ và các nhiên liệu rắn khác
tăng 96,3%, giá dầu sưởi nhẹ cao hơn 55,0% so với cùng tháng
năm ngoái. Giá điện tăng 27,1%. Người tiêu dùng phải trả nhiều
tiền hơn không chỉ cho năng lượng gia đình mà còn cho nhiên
liệu (+14,6%). Nguyên nhân chính khiến các sản phẩm năng
lượng đắt đỏ nói chung là do giá mua quốc tế. Ngoài ra, thuế
CO 2 tăng vào đầu năm (từ 25 lên 30 euro/tấn) tiếp tục tác động
đến việc tăng giá các sản phẩm năng lượng.
Giá thực phẩm tăng 21,1% trong vòng một năm
Giá thực phẩm đã tăng 21,1% trong tháng 11 năm 2022 so với
cùng tháng năm ngoái, nghĩa là mức tăng giá cao hơn gấp đôi
so với lạm phát chung. Nhìn chung, mức tăng giá thực phẩm đã 14