HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA NGÂN HÀNG

BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG GDP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
2018-2022

Giáo viên giảng dạy: Nguyễn Thị Ngọc Loan
Lớp: K26NHE
Thành viên nhóm: Lê Thị Bích Diệp 26A4012735
Nguyễn Quỳnh Anh 26A4012272
Đinh Thị Quỳnh Hương 26A4010090
Nguyễn Khánh Linh 26A4010512
Nguyễn Bảo Châu 26A4012722
NHÓM 8
Tên thành viên Phân công công việc Mức độ hoàn thành
1.Lê Thị Bích Diệp Làm báo cáo cả bài
Nội dung chương I
Thuyết trình
20%
2.Nguyễn Quỳnh Anh Viết báo cáo nội dung
chương III
Thuyết trình
20%
3.Đinh Thị Quỳnh
Hương
Viết báo cáo nội dung
chương II (mục 1,2)
Thuyết trình
20%
4.Nguyễn Bảo Châu Viết báo cáo phần mở
đầu, kết luận và nội
dung mục 3 chương II
Thuyết trình
20%
5.Nguyễn Khánh Linh Duyệt nội dung và
làm Powerpoint
Thuyết trình
20%
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận của GDP
1. Khái niệm GDP và các thành phần của GDP
2. Phân loại GDP
3. Các nhân tố ảnh hưởng tới GDP
Chương II: Thực trạng GDP của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn
2018-2022.
1. Thống kê GDP Việt Nam trong giai đoạn 2018 – 2022
1.1. Thống kê GDP Việt Nam qua các năm từ 2018 – 2022
1.2. So sánh và nhận xét sự tăng trưởng GDP qua các năm
2. Nguyên nhân của sự thay đổi GDP trong giai đoạn 2018-
2022
3. So sánh GDP của Việt Nam với GDP của Thái Lan trong
giai đoạn 2018-2022
Chương III: Giải pháp
1. Kế sách kinh tế của Chính phủ
2. Giải pháp thúc đẩy kinh doanh của doanh nghiệp
3. Giải pháp kích cầu tiêu dùng của các hộ gia đình
PHẦN KẾT LUẬN
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tăng trưởng kinh tế đóng một vai trò cùng quan trọng đối với
sự phát triển của một đất nước, là yếu tố quyết định vì nó ảnh hưởng đến
nhiều khía cạnh của cuộc sống sự phát triển tổng thể của quốc
gia.Tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ sẽ tạo ra nhiều cơ hội được làm mới và
giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp. Cùng với đó sự gia tăng thu nhập quốc
gia, tăng trưởng kinh tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng quốc gia cũng như thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư
nước ngoài, tạo sở cho sự phát triển hội trình độ dân trí. Để so
sánh sự tăng trưởng kinh tế giữa năm nay với năm trước hay giữa quốc
gia này với quốc gia khác nhau đều cần đến một thước đo, một quy
chuẩn nhất định GDP chính thước đo quan trọng được Chính phủ
lựa chọn để đánh giá và so sánh sự tăng trưởng của các quốc gia trên thế
giới. Nghiên cứu về GDP của Việt Nam trong từng giai đoạn sẽ cung
cấp một cái nhìn tổng quan về sự phát triển của kinh tế của nước ta
những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế. vậy nên nhóm em
quyết định tìm hiểu về GDP Vệt Nam với đề tài: “Thực trạng GDP Việt
Nam trong giai đoạn từ năm 2018-2022”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu thực trạng GDP Việt Nam giai đoạn
2018-2022 sẽ giúp cho mọi người cái nhìn tổng quan nhất về sự phát
triển của GDP Việt Nam trong giai đoạn trước và sau thời kỳ Covid-19.
Từ đó đánh giá được những tác động hạn chế do Covid-19 đã để lại
những kế sách cũng như những giải pháp thích hợp đối với đất
nước.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng em GDP của Việt Nam trong
bốn năm liên tiếp từ năm 2018 đến năm 2022.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đ nghiên cứu về GDP của Việt Nam chúng em sử dụng các
phương pháp nghiên cứu như: thu thập dữ liệu từ các trang web, các bài
báo chính thống, thu thập số liệu từ tổng cục thốngViệt Nam (GSO),
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tham khảo các số liệu GDP của các quốc gia
trong khu vực, so sánh GDP của Việt Nam với các quốc gia khác,...sử
dụng những sơ đồ, hình ảnh minh họa để thấy được sự thay đổi của GDP
qua từng năm.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GDP
1.Khái niệm GDP và các thành phần của GDP
Lĩnh vực kinh tế luôn thị trường được phát triển quan tâm
nhất hiện nay một trong những chỉ số quan trọng không thể bỏ qua
trong một nền kinh tế đó chính GDP. GDP một chỉ số cực quan
trọng thể hiện sức mạnh của một nền kinh tế của quốc gia. Thật không
khó để mỗi chúng ta thể nghe thấy hay bắt gặp các thông tin về sự
tăng trưởng GDP của một quốc gia nào đó. Vậy GDP là gì?
Theo giáo trình Kinh tế mô, GDP (viết tắt của Gross Domestic
Product) tổng sản phẩm quốc nội. Đây là một chỉ số kinh tế quan
trọng để đo lường giá trị thị trường của tất cả hàng hóa, dịch vụ cuối
cùng được sản xuất ra một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất
định, thường là một năm. GDP biểu thị tất cả các hàng hóa sản xuất ra và
được bán hợp pháp các thị trường đặc biệt, GDP sẽ không bao gồm
các sản phẩm không thị trường (ví dụ như các mặt hàng bất hợp
pháp). thể thấy GDP chỉ số quan trọng được Chính phủ lựa chọn
để đánh giá so sánh sự tăng trưởng của các quốc gia trên thế giới.
Đây cũng một chỉ tiêu quan trọng để xây dựng chính sách điều hành
vĩ mô. GDP được xem là thước đo đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế và
phản ánh ràng sự biến động của hàng hóa, dịch vụ theo thời gian.
Chẳng hạn GDP tăng chứng tỏ nền kinh tế đang hoạt động tốt, các doanh
nghiệp tự tin đầu nhiều hơn. ngược lại, khi tăng trưởng GDP thấp
thể hiện cho nền kinh tế đi vào suy thoái dẫn đến tình trạng thất
nghiệp và các doanh nghiệp hạn chế việc đầu tư,... Tính toán GDP có thể
dựa trên các phương pháp khác nhau như phương pháp chi tiêu, phương
pháp sản xuất hay phương pháp thu nhập.
Bóc tách các thành phần của GDP đóng vai trò quan trọng trong
việc phân tích hiểu về sức khỏe kinh tế của một đất nước. Để thực
hiện việc bóc tách đó, GDP cần được phân chia thành nhiều thành phần,
đại diện cho một khía cạnh cụ thể của nền kinh tế. Chẳng hạn như khi ta
xét các thành phần của GDP dựa trên nền tảng của phương pháp chi tiêu
thì GDP bao gồm 4 thành phần: Tiêu dùng (C); Đầu (I); Chi tiêu
Chính phủ (G) và Xuất khẩu ròng (NX)
Tiêu dùng (C): bao gồm tổng chi tiêu của các hộ gia đình
nhân cho hàng hóa dịch vụ. Tổng chi tiêu của hộ gia đình đóng
vai trò phản ánh động lực tiêu dùng của người dân trong một nền
kinh tế.
Đầu (I): bao gồm chi tiêu của các doanh nghiệp cho các tài sản
như máy móc, thiết bị,... và tổng đầu tư tư nhân.
Chi tiêu Chính phủ (G): các chi phí chính phủ phải trả, bao
gồm mua sắm hàng hóa cung cấp dịch vụ công. Chi tiêu của
Chính phủ thường vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Xuất khẩu ròng (NX): đây con số được tính bằng sự chênh lệch
giữa giá trị xuất khẩu và giá trị nhập khẩu của một quốc gia.
2. Phân loại GDP
Tổng sản phẩm quốc nội GDP được phân loại thành 4 loại bản
sau: GDP bình quân đầu người, GDP danh nghĩa, GDP thực tế, GDP
xanh
a) GDP bình quân đầu người :
- GDP bình quân đầu người là chỉ tiêu được tính dựa trên kết quả
sản xuất kinh doanh của bình quân trên đầu người một quốc gia
trong năm. Để tính GDP bình quân đầu người của một quốc gia
tại thời điểm cụ thể ta thể lấy số liệu GDP của quốc gia đó
chia cho tổng số dân số (lưu ý: số liệu cần phải được thống nhất
trong cùng một thời điểm).
- Chỉ số GDP bình quân đầu người sẽ tỷ lệ thuận với mức thu
nhập, đời sống của người dân ở quốc gia đó. Tuy nhiên quốc gia
có chỉ số GDP cao chưa chắc thể hiện được quốc gia đó mức
sống cao.
b) GDP danh nghĩa :
- GDP danh nghĩa viết tắt của Nominal Gross Domestic Product
một chỉ tiêu phản ánh tổng sản phẩm quốc nội GDP của một
quốc gia, được tính theo giá trị thị trường hiện tại.
- GDP danh nghĩa cũng thể hiện sự thay đổi mức giá do lạm phát
tốc độ tăng giá của một nền kinh tế. Nếu mức giá của các
hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế tăng hoặc giảm cùng nhau
thì GDP danh nghĩa sẽ thay đổi cao hơn hoặc thấp hơn.
c) GDP thực tế :
- Khác với GDP danh nghĩa, GDP thực tế (Real Gross Domestic
Product) chỉ tiêu dựa trên tổng sản phẩm dịch vụ trong
nước đã điều chỉnh theo tốc độ lạm phát.
- Trong trường hợp lạm phát, GDP thực tế sẽ thấp hơn GDP
danh nghĩa ngược lại do GDP thực tế tính theo mức độ tăng
trưởng thực tế của nền kinh tế sau khi điều chỉnh do lạm phát.
d) GDP xanh :
- GDP xanh ( Green Gross Domestic Product ) một khái niệm
mới chưa được định nghĩa một cách chính thức. Tuy nhiên,
chúng ta thể hiểu GDP xanh phần GDP còn lại sau khi đã
trừ đi các chi phí cần thiết để phục hồi môi trường do quá trình
sản xuất gây ra.
- thể coi GDP xanh một cách tiếp cận đối với việc đánh giá
tác động của hoạt động kinh tế đến môi trường.
3. Các nhân tố ảnh hưởng tới GDP
Chỉ số kinh tế GDP chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác
nhau trong nền kinh tế của một quốc gia nhưng trong đó 3 yếu tố
chính, có tầm ảnh hướng lớn đến chỉ số GDP đó là: yếu tố dân số, yêu tố
đầu từ FDI, yếu tố lạm phát
a) Yếu tố dân số :
Trong một nền kinh tế, mối quan hệ giữa chỉ số GDP dân số
không thể tách rời, chúng mối liên quan mật thiết với nhau.
Trong mối quan hệ đó, dân số nguồn lực để sản xuất ra hàng
hóa, dịch vụ đồng thời đối tượng tiêu thụ số hàng hóa, dịch
vụ đó. Chính thế, yếu tố dân số được xem yếu tố ảnh
hưởng quan trọng đến GDP.
b) Yếu tố đầu tư FDI :
Với tên gọi khác Foreign Direct Investment, FDI chỉ số phản
ánh mức độ đầu trực tiếp từ nước ngoài. Đây một hình thức
đầu tư dài hạn của nhân, tổ chức của quốc gia này vào quốc gia
khác bao gồm các khoản đầu như tiền mặt, phương thức sản
xuất, công nghệ, sở hạ tầng,... Khi chỉ số FDI càng tăng sẽ làm
mở rộng quy sản xuất của các ngành kinh tế, tạo điều kiện cho
chỉ số GDP được tăng cao.
c) Yếu tố lạm phát :
Trong kinh doanh và đầu tư, “lạm phát” là yếu tố được nhiều người
quan tâm bởi ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế. Lạm phát
được hiểusự tăng mức giá chung liên tục của hàng hóa, dịch vụ
theo thời gian điều này khiến cho giá trị của đồng tiền tại một
nước nào đó. Lạm phát một yếu tố ảnh hưởng cùng tiêu
cực đến GDP làm giảm năng suất lao động. Nếu lạm phát vượt
ngưỡng cho phép, nền kinh tế rất dễ dẫn đến khủng hoảng.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG GDP CỦA NỀN
KINH TẾ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
2018-2022
1. Thống kê GDP Việt Nam trong giai đoạn 2018-2022
1.1 Thống kê GDP Việt Nam qua các năm từ 2018-2022.
Theo thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam, GDP cả năm 2018
đã tăng 7,08% cụ thể quý I năm 2018 tăng 7,38%, quý II tăng khoảng
6,3%, quý III tăng 6,88% quý IV tăng 7,31%. Đây thể coi một
mức tăng trưởng vượt vọng của Chính phủ hồi đầu năm khi mục tiêu
Chính phủ đặt ra6,7%. Theo Tổng cục Thống kê năm 2018 là năm
mức tăng GDP cao nhất trong thập kỉ qua (từ năm 2008 đến năm 2018).
Theo đó tỷ lệ đóng góp của các khu vực nông, lâm, ngư nghiệp; công
nghiệp và dịch vụ trong GDP đã có sự chuyển đổi lớn, khẳng định xu thế
chuyển đổi cơ cấu đã và đang phát huy hiệu quả.
Tiếp nối phong độ của năm 2018, bước sang năm 2019 nền kinh tế
Việt Nam cũng đã những kết quả ấn tượng. Mặc cuối năm 2019
trên Thế giới xuất hiện dịch bệnh mới làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự
phát triển kinh tế của hầu hết các quốc gia nhưng Việt Nam vẫn đạt tốc
độ tăng trưởng 7,02% vượt mức Quốc hội đề ra (dao động trong khoảng
từ 6,6% - 6,8%). Cụ thể GDP quý I tăng 6,82%, quý II tăng 6,73%, quý
III tăng 7,48%, quý IV tăng 6,97%. Theo Tổng cục Thống kê, ước tính
GDP của cả năm 2019 đạt khoảng 330,4 tỷ USD. Với thành tựu này,
năm 2019 chính năm thứ hai liên tiếp 12/12 chỉ tiêu được hoàn
thành, trong đó có 7 chỉ tiêu vượt.
Năm 2020 được các nhà kinh tế học coi nhận định năm chỉ số
GDP khó đoán nhất do những tác động to lớn của đại dịch Covid-19
cũng như thiên tai hoành hành. Đây quả một năm khó khăn đối với
nền kinh tế Việt Nam tuy nhiên nền kinh tế của nước ta vẫn đứng vững
trước “cơn sóng thần” của đại dịch để đạt được tốc độ tăng trưởng
dương với GDP cả năm 2019 2,91%. Cụ thể quý I tăng 3,82%, quý II
tăng 0,36%, quý III tăng 2,21%, quý IV tăng 4,48%.
Theo Tổng cụ Thống Việt Nam ước tính GDP năm 2021 của
nước ta tăng 2,58% với quý I tăng 4,72%, quý II tăng 6,73%, quý III
tăng 6,02% quý IV tăng 5,22%. Theo đó GDP năm 2021 của Việt
Nam là 362,6 tỷ USD.
Mục tiêu tăng trưởng GDP của năm 2022 rơi vào khoảng từ 6-6,5%
tuy nhiên thực tế GDP năm 2022 của Việt Nam ước tính tăng khoảng
8,02% với quý I tăng 5,03%, quý II tăng 7,72%, quý III tăng 13,67%,
quý IV tăng 5,92%. Năm 2022 được coi năm đầu tiên sau nhiều thập
kỉ GDP Việt Nam đã vượt qua mức 8%. Theo thống cho thấy GDP
năm 2022 của Việt Nam rơi vào khoảng 408,8 tỷ USD.
2018 2019 2020 2021 2022
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Tốc độ tăng GDP qua các năm giai đoạn 2018
- 2022
Tốc độ tăng GDP
1.2. So sánh và nhận xét sự tăng trưởng GDP qua các năm
Năm 2018 được coi là một năm vô cùng thành công của nước ta khi
nền kinh tế - hội khá khởi sắc với tăng trưởng GDP đạt mức cao nhất
trong 8 năm qua với mức tăng 7.08%. Năm 2019 cũng một năm
thành tựu cùng ấn tượng khi chúng ta đã đạt tăng trưởng 7,02%, đây
cũng là năm thứ 2 liên tiếp tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt trên 7% kể
từ năm 2011. thể thấy, hai năm 2018 2019 chính 2 năm thành
công của nền kinh tế Việt Nam phải chịu những tác động của cuộc
chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc hay dịch bệnh mới đang
phát triển nhanh chóng Trung Quốc. Nền kinh tế trong 2 năm
này được đánh giá khá ổn định tình hình lạm phát được kiểm soát
thấp nhất trong 3 năm qua, giúp cho tỉ lệ thất nghiệp giảm, thu nhập của
người dân tăng lên, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực.
Đến năm 2020, tốc độ tăng trưởng sự sụt giảm mạnh so với các
năm 2018 2019. Tuy nhiên Việt Nam vẫn được coi một trong
những số ít nước tăng trưởng kinh tế dương trong khi cả thế giới rơi
vào suy thoái bởi các tác động không hề nhỏ của đại dịch Covid-19. Với
thành tựu này, thể thấy đất nước ta đã đạt được “mục tiêu kép” khi
vừa phòng chống dịch Covid-19 vừa duy trì tăng trưởng kinh tế. Việc
này đòi hỏi sự cố gắng không ngừng của Chính phủ nhà nước Việt Nam
ta.
Có thể thấy GDP năm 2021 tăng ít hơn so với năm 2020 do mọi lĩnh
vực của nền kinh tế đều bị dịch Covid -19 ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc
biệt trong quý III nhiều thành phố lớn của nước ta phải thực hiện dãn
cách hội để phòng chống dịch nên đâyquý duy nhất GDP giảm
mạnh trong năm 2021.
Tuy nhiên sang năm 2022, nền kinh tế Việt Nam lại trở thành một
điểm sáng với sự tăng trưởng ngoạn mục khi tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao (8,02%) do nền kinh tế có sự phục hồi dần và có xu hướng phát triển
mạnh mẽ.
2. Nguyên nhân của sự thay đổi GDP trong giai đoạn 2018-
2022
a, Nguyên nhân khách quan
Sự thay đổi GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2018-2022 một
phần do sự tác động của các biến động kinh tế Thế giới nồi bật
cuộc chiến tranh thương mại giữa Trung Quốc vào những năm
2018 và 2019. Cuộc chiến thương mại này đã ảnh hưởng sâu sắc đến nền
kinh tế Việt Nam. Thông qua sự kiện này, Việt Nam được tin tưởng lựa
chọn là nhà cung cấp thay cho Trung Quốc. Nhờ đó mà ngành xuất khẩu
của chúng ta nhận được nhiều lợi thế nhất định để tăng trưởng, tuy nhiên
cuộc chiến này cũng gây ít nhiều ảnh hưởng đến ta ở một số lĩnh vực nói
riêng như xuất khẩu điện thoại di động và thủy sản sang Trung Quốc.
Ngoài ra, chúng ta không thể không nhắc đến sự thay đổi của công
nghệ nói chung trên toàn thế giới. Bên cạnh những lợi ích mang
lại thì sự thay đổi này cũng đem lại không ít các thách thức cho nền kinh
tế Việt Nam, yêu cầu chúng ta phải liên tục cập nhật các xu hướng phát
triển công nghệ để tránh bị bỏ lại phía sau đồng thời phải vận dụng một
cách khéo léo vào môi trường kinh tế Việt Nam. Nhờ đó tạo ra một nền
kinh tế Việt Nam đầy năng động, thúc đẩy GDP phát triển.
thể thấy trong giai đoạn 2018-2022, nền kinh tế Thế giới bị ảnh
hưởng nghiêm trọng bởi đại dịch Covid-19 khi nhiều doanh nghiệp phải
đóng cửa trong đó Việt Nam. Tuy nhiên dịch bệnh này cũng đem đến
một làn gió mới cho nền kinh tế Việt Nam nói riêng nền kinh tế của
Thế giới nói chung khi nhiều ngành nghề mới ra đời phát triển mạnh
mẽ như thương mại điện tử,...Các ngành nghề này chính hội tiềm
năng cho sự phát triển kinh tế Việt Nam sau này.
b, Nguyên nhân chủ quan
được những thành công trong tăng trưởng kinh tế bên cạnh
những nguyên nhân khách quan thì một phần còn nhờ các định hướng
phát triển phù hợp Chính phủ đề ra, sự can thiệp kịp thời của Đảng
Nhà nước thông qua các chính sách khác nhau như: chính sách tài
khóa, chính sách tiền tệ, các chính sách giúp nền kinh tế nước ta
giữ vững được tỷ giá hối đoái, lãi suất, thị trường tiền tệ, tín dụng ổn
định qua đó thúc đẩy tăng trưởng gắn với cấu nền kinh tế đổi mới
hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng hàng hóa dịch
vụ. Đồng thời hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện góp phần
tạo nên một nền kinh tế công bằng hiệu quả, bền vững.
Năm 2018 nước ta mức tăng GDP cao nhất kể từ năm 2008 đến
năm 2018. Để đạt được thành tựu này thì Chính phủ đã tiến hành kịp
thời các cải cách về kinh tế, chú trọng vào cải cách môi trường đầu tư.
Đặc biệt, trong năm này, Chính phủ đã kiên quyết cắt giảm các giấy
phép con để tạo điều kiện thông thoáng cho môi trường đầu , từ đó
giúp cho các nhà đầu tư có động lực lớn phát triển kinh tế.
Xét về mặt chủ quan thì các chính sách tác động trực tiếp đến
nền kinh tế phải kể đến như: chính sách thúc đẩy kinh tế nhân, đổi
mới mô hình tăng trưởng, môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện,
Các chính sách ấy đã trực tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp. thể thấy,
chính việc làm của Chính phủsự đồng lòng của các doanh nghiệp đã
tạo nên nội lực phát triển to lớn cho kinh tế nước ta.
Năm 2020 giống như một phép thử cho nền kinh tế Việt Nam. Trong
khi các nền kinh tế của các nước khác trên thế giới đều rơi vào tình trạng
suy thoái thì kinh tế Việt Nam lại đạt tăng trưởng dương. Đó chính là kết
quả từ những chỉ đạo kịp thời của Chính phủ trong việc ngăn chặn,
phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh Covid-19. Nếu như vào quý II Chính
phủ ban hành các biện pháp phòng dịch nghiêm ngặt làm mức tăng
trưởng GDP chỉ còn 0,93% thì đến cuối năm nhờ lực cầu nội địa tăng
mạnh đã tạo đà cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Việc điều chỉnh chính
sách tiền tệ giúp cho các đối tượng bị ảnh hưởng của dịch Covid được
hỗ trợ phần nào khi đang loay hoay bước ra khỏi khủng hoảng. Qua đó
giúp doanh nghiệp tránh rơi vào bế tắc để chuẩn bị cho sự phục hồi vào
những năm sau. Ngoài ra, sự phát triển này còn nhờ vào lực lượng lao
động dồi dào, môi trường FDI thân thiện và mô hình vĩ mô ổn định,...
Năm 2021, dịch Covid đã những ảnh hưởng nghiêm trọng đến
các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, đặc biệt quý III, nhiều thành
phố lớn ở nước ta phải giãn cách kéo dài. Chính những ảnh hưởng to lớn
của dịch bệnh đã phần nào tác động đến tốc độ tăng trưởng của nước ta.
Tuy nhiên vào cuối năm 2021 thì các hoạt động sản xuất, kinh doanh mở
cửa trở lại đã giúp cho doanh nghiệp dần phục hồi.
Năm 2022, tình hình thế giới nhiều biến động, đặc biệt lạm
phát tăng lên mức cao nhất trong nhiều thập kỉ buộc các quốc gia phải
thắt chặt chính sách tiền tệ. Kinh tế thế giới giảm tốc tưởng chừng rơi
vào suy thoái. Thế nhưng nền kinh tế Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng
8,02% nhờ các chính sách kinh tế ổn định, lạm phát được nhà
nước kiểm soát phù hợp. Bên cạnh đó việc cung cầu hàng hóa thiết yếu
cũng được đảm bảo; hoạt động mua sắm hàng hóa, tiêu dùng xuất
khẩu tăng cao, thu hút và giải ngân vốn đầu tư tốt.
3. So sánh GDP của Việt Nam với GDP của Thái Lan trong giai
đoạn 2018-2022
a, GDP của Việt Nam và Thái Lan trong năm 2018
Năm 2018 một năm đáng chú ý về sự phát triển kinh tế của cả
Việt Nam Thái Lan. Trong năm 2018 chỉ số GDP của Thái Lan đã
tăng lên 4,1%, sự phát triển nhanh chóng nhất trong 6 năm qua còn đối
với Việt Nam 7,08% mức tăng GDP cao nhất trong gần một thập kỷ.
vậy, GDP của Thái Lan vẫn nhiều hơn Việt Nam gấp hai lần vào
khoảng 506,75 tỷ USD trong khi đó Việt Nam chỉ khoảng 310,11 tỷ
USD. Tuy sự cách biệt khá ràng này nhưng Việt Nam lại được
đánh giá có thể vượt qua Thái Lan trong thời gian sắp tới.
b, GDP của Việt Nam và Thái Lan trong năm 2019
Trong năm 2019, cả Việt Nam Thái Lan đều ghi nhận tăng
trưởng kinh tế khá tích cực. Nền kinh tế của Thái Lan tăng trưởng 2,3%
vào khoảng 543,98 tỷ USD so với cùng kỳ năm ngoái đây là tốc độ tăng
trưởng kinh tế chậm nhất trong 5 năm qua. Còn đối với Việt Nam nền
kinh tế vẫn đạt được mức tăng trưởng quốc hội đã đề ra 7,02%
khoảng 334,37 tỷ USD. Điều này cho thấy khả năng Việt Nam vượt qua
Thái Lan là có thể xảy ra và đang có dấu hiệu khởi sắc.
c, GDP của Việt Nam và Thái Lan trong năm 2020
Năm 2020 là một năm hết sức khó khăn đối với các quốc gia vì phải
hứng chịu sự tác động nặng nề của dịch Covid 19. Đặc biệt đối với Thái
Lan một đất nước nổi tiếng với dịch vụ du lịch, một số các biện pháp
chống dịch năm 2020 GDP của nước này đã giảm 6,2% sâu nhất trong
hai thập kỷ cụ thể là 500,46 tỷ USD. Dù trong bối cảnh ấy Việt Nam vẫn
đạt thành công lớn khi vẫn duy trì được sự tăng trưởng GDP đạt 2,91%
vào khoảng 346,62 tỷ USD. Điều này đã cho thấy sự linh hoạt khả
năng ứng phó của Việt Nam trong việc đối phó với đại dịch Covid-19.
Tuy vậy cả hai quốc gia đều vẫn đang phải đối mặt với những thách thức
kinh tế lớn với sự suy giảm doanh thu do các biện pháp phong tỏa
hạn chế kinh doanh.
d, GDP của Việt Nam và Thái Lan trong năm 2021
Nền kinh tế năm 2021, các quốc gia vẫn phải đối mặt với đại dịch
kéo dài làm suy thoái kinh tế, thất nghiệp tăng cao. Thái Lan đã không
ngừng tung ra những ý tưởng mới để thu hút du lịch, tuy vậy nhưng
GDP tăng trưởng dương nhưng chỉ đạt 1,5% vào khoảng 505,57 tỷ
USD. Đối với Việt Nam đây cũng khoảng thời gian khó khăn chưa
từng có, tuy vậy 2,58% khoảng 366,14 tỷ USD vẫn một thành công
lớn trong bối cảnh đại dich Covid-19. GDP của Thái Lan giờ đây chỉ gấp
1,4 lần GDP của Việt Nam từ đấy thể thấy ta đang dần bắt kịp với
Thái Lan và sẽ vượt lên trong tương lai gần.
e, GDP của Việt Nam và Thái Lan trong năm 2022
Sau những biến động do đại dịch Covid gây ra, nền kinh tế Thế giới
đang dần được khôi phục. Đối với Thái Lan nền kinh tế đã tăng 2,6%
vào khoảng 495,34 tỷ USD. Việt Nam đã cho ta thấy điểm sáng nổi bật
khi ước tính 8,02% khoảng 408,8 tỷ USD đạt tăng trưởng cao nhất kể từ
năm 2011. GDP của Thái Lan từng gấp 10 lần giờ chỉ gấp 1,32 lần GDP
của Việt Nam qua đó thấy đươc tốc độ phát triển kinh tế vượt bậc của
Việt Nam và hướng đi đúng đắn từ nhà nước.
f, So sánh nhận xét sự thay đổi của GDP giữa Việt Nam Thái
Lan trong giai đoạn 2018-2022
Việt Nam Thái Lan đều hai quốc gia nền kinh tế phát triển
trong khu vực Đông Nam Á. Tuy vậy, vẫn còn sự khác biệt trong mức
tăng trưởng của hai quốc gia. Trong năm 2018, Thái Lan có sự phát triển
kinh tế mạnh hơn với mức GDP cách khá xa so với Việt Nam. Tuy
nhiên, tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam lại phần vượt trội hơn, một
trong những quốc gia có sự tăng trưởng cao nhất khu vực.
Khi đại dịch Covid xảy ra nền kinh tế của cả Thái LanViệt Nam
đều chịu ảnh hưởng. vậy, hai nước lại những cách đối mặt khác
nhau. Nếu nền kinh tế của Thái Lan phải trải qua sự suy thoái kinh tế
nghiêm trọng sự phụ thuộc mạnh mẽ vào ngành du lịch công
nghiệp du lịch thì Việt Nam lại được chú ý khả năng kiểm soát dịch
tốt triển khai biện pháp kích thích kinh tế hiệu quả. Điều này đã góp
phần giúp kinh tế của Việt Nam phục hồi nhanh chóng hơn so với nhiều
quốc gia trong khu vực. Tuy vậy, do ảnh hưởng của đại dịch Covid, cả
Thái Lan Việt Nam đã ghi nhận ảnh hưởng tiêu cực đến nền tăng
trưởng của mình.
Bước sang năm 2022, nền kinh tế của Thái Lan đã sự hồi phục
sau khoảng thời gian khó khăn nhưng không đáng kể vẫn còn phải
đối mặt với những thách thức liên quan đến việc kiểm soát dịch bệnh
tình trạng nợ công, cũng như tiếp tục phát triển các lĩnh vực mới như
công nghệ dịch vụ. Đối với Việt Nam, trong bối cảnh kinh tế
nhiều biến động nhưng đã ớc tiến ngoạn mục khi trở thành một
trong những đất nước tăng trưởng GDP thuộc diện cao nhất thế giới.
Cả hai nền kinh tế đều được đánh giá tiềm năng lớn đều được
xem là các nền kinh tế mới nổi.
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP
1. Kế sách kinh tế của Chính phủ qua các năm
a, Năm 2018
Mặc còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng với tinh thần quyết
tâm cao cùng sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tình hình
kinh tế hội của Việt Nam tiếp tục sự chuyển biến ch cực, đạt
được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, hoàn
thành toàn bộ 12/12 chỉ tiêu kế hoạch. Phó Thủ tướng cho biết, năm
2018, việc thực hiện ba đột phá chiến lược đã đạt nhiều kết quả tích cực;
thể chế kinh tế thị trường hội chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện; sản
xuất và cung ứng điện tăng mạnh, đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu
dùng. Trong năm 2018, Chính phủ đã chỉ đạo triển khai quyết liệt các
chương trình các chương trình hành động, các Nghị quyết Trung ương
về tiếp tục đổi mới hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động,
sức cạnh tranh của nền kinh tế. Qua đó, chất lượng tăng trưởng kinh tế
ngày càng được cải thiện, giảm dần sự phụ thuộc của nền kinh tế vào
khai thác tài nguyên.
b, Năm 2019
Những đặc điểm nổi bật về sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam
trong năm 2018 đã tạo nền tảng cho kinh tế hội bứt phá trong năm
2019, góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế hội 5
năm giai đoạn 2016-2020. Chính vì vậy, Nhiệm vụ năm 2019 là nặng nề,
đòi hỏi nỗ lực, quyết tâm cao và sự vào cuộc quyết liệt của toàn hệ thống
chính trị, doanh nghiệp, nhân dân cả nước.
Phát huy kết quả đạt được của năm 2018, các cấp các ngành cần tập
trung khắc phục những hạn chế, chung sức đồng lòng giữ vứng ổn định
kinh tế để môi trường kinh doanh đầu được cải thiện, giúp
giải phóng mọi tiềm năng của kinh tế.
Bên cạnh đó, việc thực hiện các chính sách để kiềm chế lạm phát
cũng cần được thực hiện một cách nghiêm túc để giảm bớt những lo ngại
về sự bất ổn định của thị trường hàng hóa, các rủi ro trong biến động
kinh tế Thế giới. Từ đó có thể điều chỉnh các chính sách giá trong nước.
Với việc thực hiện một loạt các chính sách, các biện pháp giúp tăng
trưởng kinh tế của Chính phủ, năm 2019 GDP đạt 7,02%, góp phần
hoàn thành kế hoạch 5 năm mà Nhà nước đề ra.
c, Năm 2020
Với mục tiêu thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công để phục hồi tốc độ
tăng trưởng, Chính phủ đã ban hành nhiều giải pháp quyết liệt thông qua
các văn bản chỉ đạo sát sao về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách nhằm
tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh
hội ứng phó với dịch Covid-19.
Để đối phó với ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19, các chính
sách tiền tệ năm 2020 đã được điều chỉnh liên tục theo hướng nới lỏng
nhằm ổn định giá đồng nội tệ, duy trì mặt bằng lãi suất ưu đãi để thúc
đẩy các hoạt động đầu của doanh nghiệp giúp kiểm soát lạm phát.
Các biện pháp tài khóa mạnh tay của Chính phủ đã thúc đẩy quá trình
phục hồi nền kinh tế trong năm 2020 tạo đà cho tăng trưởng kinh tế
năm 2021.
Với những chính sách đó, GDP năm 2020 của Việt Nam tăng
2,91%, tuy mức tăng thấp nhất trong các năm giai đoạn 2011-2020
nhưng trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng
tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - hội thì đây thành công lớn của
Việt Nam với mức tăng trưởng năm 2020 thuộc nhóm cao nhất thế giới.
d, Năm 2021

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA NGÂN HÀNG 
BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG GDP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2018-2022 
Giáo viên giảng dạy: Nguyễn Thị Ngọc Loan Lớp: K26NHE
Thành viên nhóm: Lê Thị Bích Diệp 26A4012735
Nguyễn Quỳnh Anh 26A4012272
Đinh Thị Quỳnh Hương 26A4010090
Nguyễn Khánh Linh 26A4010512
Nguyễn Bảo Châu 26A4012722 NHÓM 8 Tên thành viên Phân công công việc Mức độ hoàn thành 1.Lê Thị Bích Diệp Làm báo cáo cả bài 20% Nội dung chương I Thuyết trình
2.Nguyễn Quỳnh Anh Viết báo cáo nội dung 20% chương III Thuyết trình 3.Đinh Thị Quỳnh
Viết báo cáo nội dung 20% Hương chương II (mục 1,2) Thuyết trình 4.Nguyễn Bảo Châu
Viết báo cáo phần mở 20%
đầu, kết luận và nội dung mục 3 chương II Thuyết trình
5.Nguyễn Khánh Linh Duyệt nội dung và 20% làm Powerpoint Thuyết trình MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận của GDP
1. Khái niệm GDP và các thành phần của GDP 2. Phân loại GDP
3. Các nhân tố ảnh hưởng tới GDP

Chương II: Thực trạng GDP của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2018-2022.
1. Thống kê GDP Việt Nam trong giai đoạn 2018 – 2022
1.1. Thống kê GDP Việt Nam qua các năm từ 2018 – 2022
1.2. So sánh và nhận xét sự tăng trưởng GDP qua các năm
2. Nguyên nhân của sự thay đổi GDP trong giai đoạn 2018- 2022
3. So sánh GDP của Việt Nam với GDP của Thái Lan trong giai đoạn 2018-2022 Chương III: Giải pháp
1. Kế sách kinh tế của Chính phủ
2. Giải pháp thúc đẩy kinh doanh của doanh nghiệp
3. Giải pháp kích cầu tiêu dùng của các hộ gia đình
PHẦN KẾT LUẬN PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tăng trưởng kinh tế đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với
sự phát triển của một đất nước, là yếu tố quyết định vì nó ảnh hưởng đến
nhiều khía cạnh của cuộc sống và sự phát triển tổng thể của quốc
gia.Tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ sẽ tạo ra nhiều cơ hội được làm mới và
giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp. Cùng với đó là sự gia tăng thu nhập quốc
gia, tăng trưởng kinh tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư và phát triển
cơ sở hạ tầng quốc gia cũng như thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư
nước ngoài, tạo cơ sở cho sự phát triển xã hội và trình độ dân trí. Để so
sánh sự tăng trưởng kinh tế giữa năm nay với năm trước hay giữa quốc
gia này với quốc gia khác nhau đều cần đến một thước đo, một quy
chuẩn nhất định và GDP chính là thước đo quan trọng được Chính phủ
lựa chọn để đánh giá và so sánh sự tăng trưởng của các quốc gia trên thế
giới. Nghiên cứu về GDP của Việt Nam trong từng giai đoạn sẽ cung
cấp một cái nhìn tổng quan về sự phát triển của kinh tế của nước ta và
những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế. Vì vậy nên nhóm em
quyết định tìm hiểu về GDP Vệt Nam với đề tài: “Thực trạng GDP Việt
Nam trong giai đoạn từ năm 2018-2022”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu thực trạng GDP Việt Nam giai đoạn
2018-2022 sẽ giúp cho mọi người có cái nhìn tổng quan nhất về sự phát
triển của GDP Việt Nam trong giai đoạn trước và sau thời kỳ Covid-19.
Từ đó đánh giá được những tác động và hạn chế do Covid-19 đã để lại
và có những kế sách cũng như những giải pháp thích hợp đối với đất nước.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng em là GDP của Việt Nam trong
bốn năm liên tiếp từ năm 2018 đến năm 2022.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu về GDP của Việt Nam chúng em sử dụng các
phương pháp nghiên cứu như: thu thập dữ liệu từ các trang web, các bài
báo chính thống, thu thập số liệu từ tổng cục thống kê Việt Nam (GSO),
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tham khảo các số liệu GDP của các quốc gia
trong khu vực, so sánh GDP của Việt Nam với các quốc gia khác,...sử
dụng những sơ đồ, hình ảnh minh họa để thấy được sự thay đổi của GDP qua từng năm. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GDP
1.Khái niệm GDP và các thành phần của GDP
Lĩnh vực kinh tế luôn là thị trường được phát triển và quan tâm
nhất hiện nay và một trong những chỉ số quan trọng không thể bỏ qua
trong một nền kinh tế đó chính là GDP. GDP là một chỉ số cực kì quan
trọng thể hiện sức mạnh của một nền kinh tế của quốc gia. Thật không
khó để mỗi chúng ta có thể nghe thấy hay bắt gặp các thông tin về sự
tăng trưởng GDP của một quốc gia nào đó. Vậy GDP là gì?
Theo giáo trình Kinh tế Vĩ mô, GDP (viết tắt của Gross Domestic
Product) là tổng sản phẩm quốc nội. Đây là một chỉ số kinh tế quan
trọng để đo lường giá trị thị trường của tất cả hàng hóa, dịch vụ cuối
cùng được sản xuất ra ở một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất
định, thường là một năm. GDP biểu thị tất cả các hàng hóa sản xuất ra và
được bán hợp pháp ở các thị trường và đặc biệt, GDP sẽ không bao gồm
các sản phẩm không có thị trường (ví dụ như các mặt hàng bất hợp
pháp). Có thể thấy GDP là chỉ số quan trọng được Chính phủ lựa chọn
để đánh giá và so sánh sự tăng trưởng của các quốc gia trên thế giới.
Đây cũng là một chỉ tiêu quan trọng để xây dựng chính sách điều hành
vĩ mô. GDP được xem là thước đo đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế và
phản ánh rõ ràng sự biến động của hàng hóa, dịch vụ theo thời gian.
Chẳng hạn GDP tăng chứng tỏ nền kinh tế đang hoạt động tốt, các doanh
nghiệp tự tin đầu tư nhiều hơn. Và ngược lại, khi tăng trưởng GDP thấp
thể hiện cho nền kinh tế đi vào suy thoái và dẫn đến tình trạng thất
nghiệp và các doanh nghiệp hạn chế việc đầu tư,... Tính toán GDP có thể
dựa trên các phương pháp khác nhau như phương pháp chi tiêu, phương
pháp sản xuất hay phương pháp thu nhập.
Bóc tách các thành phần của GDP đóng vai trò quan trọng trong
việc phân tích và hiểu rõ về sức khỏe kinh tế của một đất nước. Để thực
hiện việc bóc tách đó, GDP cần được phân chia thành nhiều thành phần,
đại diện cho một khía cạnh cụ thể của nền kinh tế. Chẳng hạn như khi ta
xét các thành phần của GDP dựa trên nền tảng của phương pháp chi tiêu
thì GDP bao gồm 4 thành phần: Tiêu dùng (C); Đầu tư (I); Chi tiêu
Chính phủ (G) và Xuất khẩu ròng (NX)
Tiêu dùng (C): bao gồm tổng chi tiêu của các hộ gia đình và cá
nhân cho hàng hóa và dịch vụ. Tổng chi tiêu của hộ gia đình đóng
vai trò phản ánh động lực tiêu dùng của người dân trong một nền kinh tế.
Đầu tư (I): bao gồm chi tiêu của các doanh nghiệp cho các tài sản
như máy móc, thiết bị,... và tổng đầu tư tư nhân.
Chi tiêu Chính phủ (G): là các chi phí mà chính phủ phải trả, bao
gồm mua sắm hàng hóa và cung cấp dịch vụ công. Chi tiêu của
Chính phủ thường có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh và
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Xuất khẩu ròng (NX): đây là con số được tính bằng sự chênh lệch
giữa giá trị xuất khẩu và giá trị nhập khẩu của một quốc gia. 2. Phân loại GDP
Tổng sản phẩm quốc nội GDP được phân loại thành 4 loại cơ bản
sau: GDP bình quân đầu người, GDP danh nghĩa, GDP thực tế, GDP xanh a) GDP bình quân đầu người :
- GDP bình quân đầu người là chỉ tiêu được tính dựa trên kết quả
sản xuất kinh doanh của bình quân trên đầu người một quốc gia
trong năm. Để tính GDP bình quân đầu người của một quốc gia
tại thời điểm cụ thể ta có thể lấy số liệu GDP của quốc gia đó
chia cho tổng số dân số (lưu ý: số liệu cần phải được thống nhất
trong cùng một thời điểm).
- Chỉ số GDP bình quân đầu người sẽ tỷ lệ thuận với mức thu
nhập, đời sống của người dân ở quốc gia đó. Tuy nhiên quốc gia
có chỉ số GDP cao chưa chắc thể hiện được quốc gia đó có mức sống cao. b) GDP danh nghĩa :
- GDP danh nghĩa viết tắt của Nominal Gross Domestic Product
là một chỉ tiêu phản ánh tổng sản phẩm quốc nội GDP của một
quốc gia, được tính theo giá trị thị trường hiện tại.
- GDP danh nghĩa cũng thể hiện sự thay đổi mức giá do lạm phát
và tốc độ tăng giá của một nền kinh tế. Nếu mức giá của các
hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế tăng hoặc giảm cùng nhau
thì GDP danh nghĩa sẽ thay đổi cao hơn hoặc thấp hơn. c) GDP thực tế :
- Khác với GDP danh nghĩa, GDP thực tế (Real Gross Domestic
Product) là chỉ tiêu dựa trên tổng sản phẩm và dịch vụ trong
nước đã điều chỉnh theo tốc độ lạm phát.
- Trong trường hợp có lạm phát, GDP thực tế sẽ thấp hơn GDP
danh nghĩa và ngược lại do GDP thực tế tính theo mức độ tăng
trưởng thực tế của nền kinh tế sau khi điều chỉnh do lạm phát. d) GDP xanh :
- GDP xanh ( Green Gross Domestic Product ) là một khái niệm
mới và chưa được định nghĩa một cách chính thức. Tuy nhiên,
chúng ta có thể hiểu GDP xanh là phần GDP còn lại sau khi đã
trừ đi các chi phí cần thiết để phục hồi môi trường do quá trình sản xuất gây ra.
- Có thể coi GDP xanh là một cách tiếp cận đối với việc đánh giá
tác động của hoạt động kinh tế đến môi trường.
3. Các nhân tố ảnh hưởng tới GDP
Chỉ số kinh tế GDP chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác
nhau trong nền kinh tế của một quốc gia nhưng trong đó có 3 yếu tố
chính, có tầm ảnh hướng lớn đến chỉ số GDP đó là: yếu tố dân số, yêu tố
đầu từ FDI, yếu tố lạm phát a) Yếu tố dân số :
Trong một nền kinh tế, mối quan hệ giữa chỉ số GDP và dân số là
không thể tách rời, chúng có mối liên quan mật thiết với nhau.
Trong mối quan hệ đó, dân số là nguồn lực để sản xuất ra hàng
hóa, dịch vụ và đồng thời là đối tượng tiêu thụ số hàng hóa, dịch
vụ đó. Chính vì thế, yếu tố dân số được xem là yếu tố có ảnh
hưởng quan trọng đến GDP. b) Yếu tố đầu tư FDI :
Với tên gọi khác là Foreign Direct Investment, FDI là chỉ số phản
ánh mức độ đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Đây là một hình thức
đầu tư dài hạn của cá nhân, tổ chức của quốc gia này vào quốc gia
khác bao gồm các khoản đầu tư như tiền mặt, phương thức sản
xuất, công nghệ, cơ sở hạ tầng,... Khi chỉ số FDI càng tăng sẽ làm
mở rộng quy mô sản xuất của các ngành kinh tế, tạo điều kiện cho
chỉ số GDP được tăng cao. c) Yếu tố lạm phát :
Trong kinh doanh và đầu tư, “lạm phát” là yếu tố được nhiều người
quan tâm bởi nó ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế. Lạm phát
được hiểu là sự tăng mức giá chung liên tục của hàng hóa, dịch vụ
theo thời gian và điều này khiến cho giá trị của đồng tiền tại một
nước nào đó. Lạm phát là một yếu tố có ảnh hưởng vô cùng tiêu
cực đến GDP vì làm giảm năng suất lao động. Nếu lạm phát vượt
ngưỡng cho phép, nền kinh tế rất dễ dẫn đến khủng hoảng.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG GDP CỦA NỀN
KINH TẾ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2018-2022
1. Thống kê GDP Việt Nam trong giai đoạn 2018-2022
1.1. Thống kê GDP Việt Nam qua các năm từ 2018-2022
Theo thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam, GDP cả năm 2018
đã tăng 7,08% cụ thể quý I năm 2018 tăng 7,38%, quý II tăng khoảng
6,3%, quý III tăng 6,88% và quý IV tăng 7,31%. Đây có thể coi là một
mức tăng trưởng vượt kì vọng của Chính phủ hồi đầu năm khi mục tiêu
Chính phủ đặt ra là 6,7%. Theo Tổng cục Thống kê năm 2018 là năm có
mức tăng GDP cao nhất trong thập kỉ qua (từ năm 2008 đến năm 2018).
Theo đó tỷ lệ đóng góp của các khu vực nông, lâm, ngư nghiệp; công
nghiệp và dịch vụ trong GDP đã có sự chuyển đổi lớn, khẳng định xu thế
chuyển đổi cơ cấu đã và đang phát huy hiệu quả.
Tiếp nối phong độ của năm 2018, bước sang năm 2019 nền kinh tế
Việt Nam cũng đã có những kết quả ấn tượng. Mặc dù cuối năm 2019
trên Thế giới xuất hiện dịch bệnh mới làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự
phát triển kinh tế của hầu hết các quốc gia nhưng Việt Nam vẫn đạt tốc
độ tăng trưởng 7,02% vượt mức Quốc hội đề ra (dao động trong khoảng
từ 6,6% - 6,8%). Cụ thể GDP quý I tăng 6,82%, quý II tăng 6,73%, quý
III tăng 7,48%, quý IV tăng 6,97%. Theo Tổng cục Thống kê, ước tính
GDP của cả năm 2019 đạt khoảng 330,4 tỷ USD. Với thành tựu này,
năm 2019 chính là năm thứ hai liên tiếp có 12/12 chỉ tiêu được hoàn
thành, trong đó có 7 chỉ tiêu vượt.
Năm 2020 được các nhà kinh tế học coi nhận định là năm có chỉ số
GDP khó đoán nhất do những tác động to lớn của đại dịch Covid-19
cũng như thiên tai hoành hành. Đây quả là một năm khó khăn đối với
nền kinh tế Việt Nam tuy nhiên nền kinh tế của nước ta vẫn đứng vững
trước “cơn sóng thần” của đại dịch để đạt được tốc độ tăng trưởng
dương với GDP cả năm 2019 là 2,91%. Cụ thể quý I tăng 3,82%, quý II
tăng 0,36%, quý III tăng 2,21%, quý IV tăng 4,48%.
Theo Tổng cụ Thống kê Việt Nam ước tính GDP năm 2021 của
nước ta tăng 2,58% với quý I tăng 4,72%, quý II tăng 6,73%, quý III
tăng 6,02% và quý IV tăng 5,22%. Theo đó GDP năm 2021 của Việt Nam là 362,6 tỷ USD.
Mục tiêu tăng trưởng GDP của năm 2022 rơi vào khoảng từ 6-6,5%
tuy nhiên thực tế GDP năm 2022 của Việt Nam ước tính tăng khoảng
8,02% với quý I tăng 5,03%, quý II tăng 7,72%, quý III tăng 13,67%,
quý IV tăng 5,92%. Năm 2022 được coi là năm đầu tiên sau nhiều thập
kỉ GDP Việt Nam đã vượt qua mức 8%. Theo thống kê cho thấy GDP
năm 2022 của Việt Nam rơi vào khoảng 408,8 tỷ USD.
Tốc độ tăng GDP qua các năm giai đoạn 2018 - 2022 Tốc độ tăng GDP 9 8 7 6 5 4 3 2 1 0 2018 2019 2020 2021 2022
1.2. So sánh và nhận xét sự tăng trưởng GDP qua các năm
Năm 2018 được coi là một năm vô cùng thành công của nước ta khi
nền kinh tế - xã hội khá khởi sắc với tăng trưởng GDP đạt mức cao nhất
trong 8 năm qua với mức tăng là 7.08%. Năm 2019 cũng là một năm có
thành tựu vô cùng ấn tượng khi chúng ta đã đạt tăng trưởng 7,02%, đây
cũng là năm thứ 2 liên tiếp tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt trên 7% kể
từ năm 2011. Có thể thấy, hai năm 2018 và 2019 chính là 2 năm thành
công của nền kinh tế Việt Nam dù phải chịu những tác động của cuộc
chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc hay dịch bệnh mới đang
phát triển nhanh chóng ở Trung Quốc. Nền kinh tế vĩ mô trong 2 năm
này được đánh giá là khá ổn định và tình hình lạm phát được kiểm soát
thấp nhất trong 3 năm qua, giúp cho tỉ lệ thất nghiệp giảm, thu nhập của
người dân tăng lên, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực.
Đến năm 2020, tốc độ tăng trưởng có sự sụt giảm mạnh so với các
năm 2018 và 2019. Tuy nhiên Việt Nam vẫn được coi là một trong
những số ít nước có tăng trưởng kinh tế dương trong khi cả thế giới rơi
vào suy thoái bởi các tác động không hề nhỏ của đại dịch Covid-19. Với
thành tựu này, có thể thấy đất nước ta đã đạt được “mục tiêu kép” khi
vừa phòng chống dịch Covid-19 vừa duy trì tăng trưởng kinh tế. Việc
này đòi hỏi sự cố gắng không ngừng của Chính phủ nhà nước Việt Nam ta.
Có thể thấy GDP năm 2021 tăng ít hơn so với năm 2020 do mọi lĩnh
vực của nền kinh tế đều bị dịch Covid -19 ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc
biệt trong quý III nhiều thành phố lớn của nước ta phải thực hiện dãn
cách xã hội để phòng chống dịch nên đây là quý duy nhất có GDP giảm mạnh trong năm 2021.
Tuy nhiên sang năm 2022, nền kinh tế Việt Nam lại trở thành một
điểm sáng với sự tăng trưởng ngoạn mục khi tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao (8,02%) do nền kinh tế có sự phục hồi dần và có xu hướng phát triển mạnh mẽ.
2. Nguyên nhân của sự thay đổi GDP trong giai đoạn 2018- 2022 a, Nguyên nhân khách quan
Sự thay đổi GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2018-2022 có một
phần là do sự tác động của các biến động kinh tế Thế giới mà nồi bật là
cuộc chiến tranh thương mại giữa Mĩ và Trung Quốc vào những năm
2018 và 2019. Cuộc chiến thương mại này đã ảnh hưởng sâu sắc đến nền
kinh tế Việt Nam. Thông qua sự kiện này, Việt Nam được tin tưởng lựa
chọn là nhà cung cấp thay cho Trung Quốc. Nhờ đó mà ngành xuất khẩu
của chúng ta nhận được nhiều lợi thế nhất định để tăng trưởng, tuy nhiên
cuộc chiến này cũng gây ít nhiều ảnh hưởng đến ta ở một số lĩnh vực nói
riêng như xuất khẩu điện thoại di động và thủy sản sang Trung Quốc.
Ngoài ra, chúng ta không thể không nhắc đến sự thay đổi của công
nghệ nói chung trên toàn thế giới. Bên cạnh những lợi ích mà nó mang
lại thì sự thay đổi này cũng đem lại không ít các thách thức cho nền kinh
tế Việt Nam, yêu cầu chúng ta phải liên tục cập nhật các xu hướng phát
triển công nghệ để tránh bị bỏ lại phía sau đồng thời phải vận dụng một
cách khéo léo vào môi trường kinh tế Việt Nam. Nhờ đó tạo ra một nền
kinh tế Việt Nam đầy năng động, thúc đẩy GDP phát triển.
Có thể thấy trong giai đoạn 2018-2022, nền kinh tế Thế giới bị ảnh
hưởng nghiêm trọng bởi đại dịch Covid-19 khi nhiều doanh nghiệp phải
đóng cửa trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên dịch bệnh này cũng đem đến
một làn gió mới cho nền kinh tế Việt Nam nói riêng và nền kinh tế của
Thế giới nói chung khi nhiều ngành nghề mới ra đời và phát triển mạnh
mẽ như thương mại điện tử,...Các ngành nghề này chính là cơ hội tiềm
năng cho sự phát triển kinh tế Việt Nam sau này. b, Nguyên nhân chủ quan
Có được những thành công trong tăng trưởng kinh tế bên cạnh
những nguyên nhân khách quan thì một phần còn là nhờ các định hướng
phát triển phù hợp mà Chính phủ đề ra, sự can thiệp kịp thời của Đảng
và Nhà nước thông qua các chính sách khác nhau như: chính sách tài
khóa, chính sách tiền tệ, các chính sách vĩ mô giúp nền kinh tế nước ta
giữ vững được tỷ giá hối đoái, lãi suất, thị trường tiền tệ, tín dụng ổn
định qua đó thúc đẩy tăng trưởng gắn với cơ cấu nền kinh tế và đổi mới
mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng hàng hóa và dịch
vụ. Đồng thời hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện góp phần
tạo nên một nền kinh tế công bằng hiệu quả, bền vững.
Năm 2018 nước ta có mức tăng GDP cao nhất kể từ năm 2008 đến
năm 2018. Để đạt được thành tựu này thì Chính phủ đã tiến hành kịp
thời các cải cách về kinh tế, chú trọng vào cải cách môi trường đầu tư.
Đặc biệt, trong năm này, Chính phủ đã kiên quyết cắt giảm các giấy
phép con để tạo điều kiện thông thoáng cho môi trường đầu tư, từ đó
giúp cho các nhà đầu tư có động lực lớn phát triển kinh tế.
Xét về mặt chủ quan thì các chính sách có tác động trực tiếp đến
nền kinh tế phải kể đến như: chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân, đổi
mới mô hình tăng trưởng, môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện,
… Các chính sách ấy đã trực tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp. Có thể thấy,
chính việc làm của Chính phủ và sự đồng lòng của các doanh nghiệp đã
tạo nên nội lực phát triển to lớn cho kinh tế nước ta.
Năm 2020 giống như một phép thử cho nền kinh tế Việt Nam. Trong
khi các nền kinh tế của các nước khác trên thế giới đều rơi vào tình trạng
suy thoái thì kinh tế Việt Nam lại đạt tăng trưởng dương. Đó chính là kết
quả từ những chỉ đạo kịp thời của Chính phủ trong việc ngăn chặn,
phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh Covid-19. Nếu như vào quý II Chính
phủ ban hành các biện pháp phòng dịch nghiêm ngặt làm mức tăng
trưởng GDP chỉ còn 0,93% thì đến cuối năm nhờ có lực cầu nội địa tăng
mạnh đã tạo đà cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Việc điều chỉnh chính
sách tiền tệ giúp cho các đối tượng bị ảnh hưởng của dịch Covid được
hỗ trợ phần nào khi đang loay hoay bước ra khỏi khủng hoảng. Qua đó
giúp doanh nghiệp tránh rơi vào bế tắc để chuẩn bị cho sự phục hồi vào
những năm sau. Ngoài ra, sự phát triển này còn nhờ vào lực lượng lao
động dồi dào, môi trường FDI thân thiện và mô hình vĩ mô ổn định,...
Năm 2021, dịch Covid đã có những ảnh hưởng nghiêm trọng đến
các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, đặc biệt là quý III, nhiều thành
phố lớn ở nước ta phải giãn cách kéo dài. Chính những ảnh hưởng to lớn
của dịch bệnh đã phần nào tác động đến tốc độ tăng trưởng của nước ta.
Tuy nhiên vào cuối năm 2021 thì các hoạt động sản xuất, kinh doanh mở
cửa trở lại đã giúp cho doanh nghiệp dần phục hồi.
Năm 2022, tình hình thế giới có nhiều biến động, đặc biệt là lạm
phát tăng lên mức cao nhất trong nhiều thập kỉ buộc các quốc gia phải
thắt chặt chính sách tiền tệ. Kinh tế thế giới giảm tốc tưởng chừng rơi
vào suy thoái. Thế nhưng nền kinh tế Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng
8,02% nhờ có các chính sách kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được nhà
nước kiểm soát phù hợp. Bên cạnh đó việc cung cầu hàng hóa thiết yếu
cũng được đảm bảo; hoạt động mua sắm hàng hóa, tiêu dùng và xuất
khẩu tăng cao, thu hút và giải ngân vốn đầu tư tốt.
3. So sánh GDP của Việt Nam với GDP của Thái Lan trong giai đoạn 2018-2022
a, GDP của Việt Nam và Thái Lan trong năm 2018
Năm 2018 là một năm đáng chú ý về sự phát triển kinh tế của cả
Việt Nam và Thái Lan. Trong năm 2018 chỉ số GDP của Thái Lan đã
tăng lên 4,1%, sự phát triển nhanh chóng nhất trong 6 năm qua còn đối
với Việt Nam là 7,08% mức tăng GDP cao nhất trong gần một thập kỷ.
Dù vậy, GDP của Thái Lan vẫn nhiều hơn Việt Nam gấp hai lần vào
khoảng 506,75 tỷ USD trong khi đó Việt Nam chỉ khoảng 310,11 tỷ
USD. Tuy có sự cách biệt khá rõ ràng này nhưng Việt Nam lại được
đánh giá có thể vượt qua Thái Lan trong thời gian sắp tới.
b, GDP của Việt Nam và Thái Lan trong năm 2019
Trong năm 2019, cả Việt Nam và Thái Lan đều ghi nhận tăng
trưởng kinh tế khá tích cực. Nền kinh tế của Thái Lan tăng trưởng 2,3%
vào khoảng 543,98 tỷ USD so với cùng kỳ năm ngoái đây là tốc độ tăng
trưởng kinh tế chậm nhất trong 5 năm qua. Còn đối với Việt Nam nền
kinh tế vẫn đạt được mức tăng trưởng mà quốc hội đã đề ra là 7,02%
khoảng 334,37 tỷ USD. Điều này cho thấy khả năng Việt Nam vượt qua
Thái Lan là có thể xảy ra và đang có dấu hiệu khởi sắc.
c, GDP của Việt Nam và Thái Lan trong năm 2020
Năm 2020 là một năm hết sức khó khăn đối với các quốc gia vì phải
hứng chịu sự tác động nặng nề của dịch Covid 19. Đặc biệt đối với Thái
Lan một đất nước nổi tiếng với dịch vụ du lịch, vì một số các biện pháp
chống dịch năm 2020 GDP của nước này đã giảm 6,2% sâu nhất trong
hai thập kỷ cụ thể là 500,46 tỷ USD. Dù trong bối cảnh ấy Việt Nam vẫn
đạt thành công lớn khi vẫn duy trì được sự tăng trưởng GDP đạt 2,91%
vào khoảng 346,62 tỷ USD. Điều này đã cho thấy sự linh hoạt và khả
năng ứng phó của Việt Nam trong việc đối phó với đại dịch Covid-19.
Tuy vậy cả hai quốc gia đều vẫn đang phải đối mặt với những thách thức
kinh tế lớn với sự suy giảm doanh thu do các biện pháp phong tỏa và hạn chế kinh doanh.
d, GDP của Việt Nam và Thái Lan trong năm 2021
Nền kinh tế năm 2021, các quốc gia vẫn phải đối mặt với đại dịch
kéo dài làm suy thoái kinh tế, thất nghiệp tăng cao. Thái Lan đã không
ngừng tung ra những ý tưởng mới để thu hút du lịch, tuy vậy nhưng
GDP có tăng trưởng dương nhưng chỉ đạt 1,5% vào khoảng 505,57 tỷ
USD. Đối với Việt Nam đây cũng là khoảng thời gian khó khăn chưa
từng có, tuy vậy 2,58% khoảng 366,14 tỷ USD vẫn là một thành công
lớn trong bối cảnh đại dich Covid-19. GDP của Thái Lan giờ đây chỉ gấp
1,4 lần GDP của Việt Nam từ đấy có thể thấy ta đang dần bắt kịp với
Thái Lan và sẽ vượt lên trong tương lai gần.
e, GDP của Việt Nam và Thái Lan trong năm 2022
Sau những biến động do đại dịch Covid gây ra, nền kinh tế Thế giới
đang dần được khôi phục. Đối với Thái Lan nền kinh tế đã tăng 2,6%
vào khoảng 495,34 tỷ USD. Việt Nam đã cho ta thấy điểm sáng nổi bật
khi ước tính 8,02% khoảng 408,8 tỷ USD đạt tăng trưởng cao nhất kể từ
năm 2011. GDP của Thái Lan từng gấp 10 lần giờ chỉ gấp 1,32 lần GDP
của Việt Nam qua đó thấy đươc tốc độ phát triển kinh tế vượt bậc của
Việt Nam và hướng đi đúng đắn từ nhà nước.
f, So sánh và nhận xét sự thay đổi của GDP giữa Việt Nam và Thái
Lan trong giai đoạn 2018-2022
Việt Nam và Thái Lan đều là hai quốc gia có nền kinh tế phát triển
trong khu vực Đông Nam Á. Tuy vậy, vẫn còn sự khác biệt trong mức
tăng trưởng của hai quốc gia. Trong năm 2018, Thái Lan có sự phát triển
kinh tế mạnh hơn với mức GDP cách khá xa so với Việt Nam. Tuy
nhiên, tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam lại có phần vượt trội hơn, là một
trong những quốc gia có sự tăng trưởng cao nhất khu vực.
Khi đại dịch Covid xảy ra nền kinh tế của cả Thái Lan và Việt Nam
đều chịu ảnh hưởng. Dù vậy, hai nước lại có những cách đối mặt khác
nhau. Nếu nền kinh tế của Thái Lan phải trải qua sự suy thoái kinh tế
nghiêm trọng vì sự phụ thuộc mạnh mẽ vào ngành du lịch và công
nghiệp du lịch thì Việt Nam lại được chú ý vì khả năng kiểm soát dịch
tốt và triển khai biện pháp kích thích kinh tế hiệu quả. Điều này đã góp
phần giúp kinh tế của Việt Nam phục hồi nhanh chóng hơn so với nhiều
quốc gia trong khu vực. Tuy vậy, do ảnh hưởng của đại dịch Covid, cả
Thái Lan và Việt Nam đã ghi nhận ảnh hưởng tiêu cực đến nền tăng trưởng của mình.
Bước sang năm 2022, nền kinh tế của Thái Lan đã có sự hồi phục
sau khoảng thời gian khó khăn nhưng không đáng kể và vẫn còn phải
đối mặt với những thách thức liên quan đến việc kiểm soát dịch bệnh và
tình trạng nợ công, cũng như tiếp tục phát triển các lĩnh vực mới như
công nghệ và dịch vụ. Đối với Việt Nam, dù trong bối cảnh kinh tế
nhiều biến động nhưng đã có bước tiến ngoạn mục khi trở thành một
trong những đất nước có tăng trưởng GDP thuộc diện cao nhất thế giới.
Cả hai nền kinh tế đều có được đánh giá có tiềm năng lớn và đều được
xem là các nền kinh tế mới nổi.
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP
1. Kế sách kinh tế của Chính phủ qua các năm a, Năm 2018
Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng với tinh thần quyết
tâm cao cùng sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tình hình
kinh tế xã hội của Việt Nam tiếp tục có sự chuyển biến tích cực, đạt
được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, hoàn
thành toàn bộ 12/12 chỉ tiêu kế hoạch. Phó Thủ tướng cho biết, năm
2018, việc thực hiện ba đột phá chiến lược đã đạt nhiều kết quả tích cực;
thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện; sản
xuất và cung ứng điện tăng mạnh, đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu
dùng. Trong năm 2018, Chính phủ đã chỉ đạo triển khai quyết liệt các
chương trình các chương trình hành động, các Nghị quyết Trung ương
về tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động,
sức cạnh tranh của nền kinh tế. Qua đó, chất lượng tăng trưởng kinh tế
ngày càng được cải thiện, giảm dần sự phụ thuộc của nền kinh tế vào khai thác tài nguyên. b, Năm 2019
Những đặc điểm nổi bật về sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam
trong năm 2018 đã tạo nền tảng cho kinh tế xã hội bứt phá trong năm
2019, góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5
năm giai đoạn 2016-2020. Chính vì vậy, Nhiệm vụ năm 2019 là nặng nề,
đòi hỏi nỗ lực, quyết tâm cao và sự vào cuộc quyết liệt của toàn hệ thống
chính trị, doanh nghiệp, nhân dân cả nước.
Phát huy kết quả đạt được của năm 2018, các cấp các ngành cần tập
trung khắc phục những hạn chế, chung sức đồng lòng giữ vứng ổn định
kinh tế vĩ mô để môi trường kinh doanh và đầu tư được cải thiện, giúp
giải phóng mọi tiềm năng của kinh tế.
Bên cạnh đó, việc thực hiện các chính sách để kiềm chế lạm phát
cũng cần được thực hiện một cách nghiêm túc để giảm bớt những lo ngại
về sự bất ổn định của thị trường hàng hóa, các rủi ro trong biến động
kinh tế Thế giới. Từ đó có thể điều chỉnh các chính sách giá trong nước.
Với việc thực hiện một loạt các chính sách, các biện pháp giúp tăng
trưởng kinh tế của Chính phủ, năm 2019 có GDP đạt 7,02%, góp phần
hoàn thành kế hoạch 5 năm mà Nhà nước đề ra. c, Năm 2020
Với mục tiêu thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công để phục hồi tốc độ
tăng trưởng, Chính phủ đã ban hành nhiều giải pháp quyết liệt thông qua
các văn bản chỉ đạo sát sao về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách nhằm
tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã
hội ứng phó với dịch Covid-19.
Để đối phó với ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19, các chính
sách tiền tệ năm 2020 đã được điều chỉnh liên tục theo hướng nới lỏng
nhằm ổn định giá đồng nội tệ, duy trì mặt bằng lãi suất ưu đãi để thúc
đẩy các hoạt động đầu tư của doanh nghiệp và giúp kiểm soát lạm phát.
Các biện pháp tài khóa mạnh tay của Chính phủ đã thúc đẩy quá trình
phục hồi nền kinh tế trong năm 2020 và tạo đà cho tăng trưởng kinh tế năm 2021.
Với những chính sách đó, GDP năm 2020 của Việt Nam tăng
2,91%, tuy là mức tăng thấp nhất trong các năm giai đoạn 2011-2020
nhưng trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng
tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội thì đây là thành công lớn của
Việt Nam với mức tăng trưởng năm 2020 thuộc nhóm cao nhất thế giới. d, Năm 2021