



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ - LUẬT BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP
HỌC PHẦN LUẬT KINH TẾ 2 Hà Nội, 2021
NỘI DUNG THẢO LUẬN HỌC PHẦN LUẬT KINH TẾ 2
PHẦN 1: HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ MUA BÁN HÀNG HOÁ
1.1. Hợp đồng thương mại Tình huống 1:
Anh Hùng vào cửa hàng Thế giới di động chọn mua một Laptop Apple Macbook
Air MD231 với các thông tin được niêm yết trên gian hàng như sau:” CPU: Intel Core i5,
1700GHz; RAM/SSD: 4GB/128GB; Màn hình LED, 13.3”; Card MH: Intel HD 4000;
HDH: MAC OS X; Bộ sản phẩm gồm: Máy, Pin, Sạc, Sách HD; Gía bán 27.999.0000đ’’.
Sau khi được nhân viên phụ trách gian hàng giới thiệu rất chi tiết về loại laptop này, anh
quyết định mua 2 chiếc cho hai vợ chồng. Nhân viên gian hàng hướng dẫn anh đến quầy
thu ngân và kho hàng và để làm thủ tục thanh toán và nhận hàng. Tuy nhiên, tại quầy thu
ngân anh được trả lời là loại laptop anh chọn đã hết nên không bán và đề nghị anh chọn mua cái khác.
Theo anh/chị, nếu không nhận được chiếc laptop như mình đã chọn, anh Hùng
có quyền kiện Thế giới di động hay không?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự của Bộ luật dân sự 2015
1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu
theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
Và căn cứ theo khoản 1 Điều 134. Đại diện của Bộ luật dân sự 2015:
1. Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân
danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được
đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
Tuy nhiên nhân viên gian hàng không phải là đại diện cho TGDĐ vì vậy không
có hợp đồng thương mại, vì vậy anh Hùng không có quyền kiện TGDĐ. Tình huống 2:
Cháu an (10) tuổi được bố mẹ cho 30.000 để mua sữa tươi Vinamilk tại của hàng
gần nhà, sau khi uống sữa được khoảng 10 phút, cháu bị đau bụng, bác sỹ cho biết
nguyên nhân cháu bị đau bụng là do uống sữa không đảm bảo chất lượng
Gia đình cháu An chủ trương đi kiện cửa hàng tạp hoá. Tuy nhiên, cửa hàng tạp
hoá cho rằng, họ không chịu trách nhiệm gì, nếu muốn kiện thì gia đình hãy kiện Vinamilk.
Anh/chị có đồng ý với ý kiến của cửa hàng tạp hoá hay không? Trả lời: Vấn đề pháp lý:
Cửa hàng tạp hoá có chịu trách nhiệm cho việc cháu An bị đau bụng do uống sữa
không đảm bảo chất lượng mua tại của hàng hay Gia đình cháu an có quyền khởi kiện đối
với của hàng tạp hoá không? Để xác định được cần xem xét giữa cháu An và của hàng
tạp hoá có xác lập một hợp đồng nào hay không? Căn cứ pháp lý:
Điều 8. Căn cứ xác lập quyền dân sự
Quyền dân sự được xác lập từ các căn cứ sau đây: 1. Hợp đồng.
Điều 385. Khái niệm hợp đồng
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự.
Điều 24. Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá
1. Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc
được xác lập bằng hành vi cụ thể.
Điều 401. Hiệu lực của hợp đồng
1. Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường
hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
2. Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối
với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của
các bên hoặc theo quy định của pháp luật.
Điều 40. Trách nhiệm đối với hàng hoá không phù hợp với hợp đồng
Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, trách nhiệm đối với hàng hóa không
phù hợp với hợp đồng được quy định như sau:
1. Bên bán không chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá nếu
vào thời điểm giao kết hợp đồng bên mua đã biết hoặc phải biết về những khiếm khuyết đó;
2. Trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, trong thời hạn khiếu nại theo quy
định của Luật này, bên bán phải chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng
hoá đã có trước thời điểm chuyển rủi ro cho bên mua, kể cả trường hợp khiếm khuyết đó
được phát hiện sau thời điểm chuyển rủi ro;
3. Bên bán phải chịu trách nhiệm về khiếm khuyết của hàng hóa phát sinh sau thời
điểm chuyển rủi ro nếu khiếm khuyết đó do bên bán vi phạm hợp đồng.
Điều 166. Đại lý thương mại
Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý
thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý
hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao.
Điều 173. Nghĩa vụ của bên giao đại lý
2. Chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý mua bán hàng hóa, chất
lượng dịch vụ của đại lý cung ứng dịch vụ;
Điều 21. Người chưa thành niên
1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.
2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật
của người đó xác lập, thực hiện.
3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch
dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu
cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
Áp dụng pháp luật:
1. Cháu An và cửa hàng đã thiết lập một hợp đồng mua bán hàng hoá hợp pháp theo
quy định của pháp luật. Hàng hoá là sữa, trị giá 30.000. Hợp đồng được thiết lập bằng lời
nói. Hiệu lực của hợp đồng từ thời điểm giao kết.
2. Về mặt chủ thể: 2 bên giao kết hợp đồng gồm có:
- Bên mua: Cháu An mới 10 tuổi, tuy nhiên giao dịch này có sự đồng ý của bố mẹ
và phù hợp với nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.
- Bên bán: Thực tế, cửa hàng tạp hoá đã bán cho cháu An. Tuy nhiên, về mặt pháp
luật, có thể xảy ra 1 trong 2 trường họp sau đây:
+ TH1: Giữa Vinamilk hoặc trung gian thứ ba và cửa hàng tạp hoá tồn tại 1 hợp
đồng đại lý, do đó người chịu trách nhiệm về hàng hoá là bên giao đại lý, Vinamilk hoặc bên trung gian thứ ba.
+ TH2: Cửa hàng tạp hoá là chủ thể mua và sở hữu hàng hoá từ Vinamilk hoặc
trung gian thứ ba thì cửa hàng tạp hoá hoàn toàn chịu trách nhiệm về hàng hoá mà mình bán cho cháu An. Kết luận:
Việc xác định ai là người chịu trách nhiệm cho việc sức khoẻ của cháu An bị tổn hại
do sữa kém chất lượng phụ thuộc vào việc ai là chủ sở hữu hàng hoá của bên bán. Nếu
của hàng tạp hoá chứng minh được sữa bán cho cháu An không thuộc sở hữu của mình
thì hoàn toàn không phải chịu trách nhiệm và sẽ không phải là đối tượng bị khởi kiện. Tình huống 3
Chị Yến xem quảng cáo trên TV về một loại thuốc giảm béo mới xuất hiện trên thị
trường với các thông tin như sau: sử dụng liên tục 10 ngày sẽ giảm 5cm vòng bụng và
5kg toàn thân, thuốc có bán tại một số địa điểm cụ thể. Giá bán là 2.000.000/lọ. Chị quyết
định đến một trong những địa điểm được nói tới trong quảng cáo mua 2 lọ để dùng trong
20 ngày, nhưng kết quả sau 20 ngày vòng bụng không giảm một cm nào mà toàn thân tăng thêm 3kg.
Theo anh/chị, chị Yến có thể kiện ai?
Chị Yến đã mua sản phẩm giảm cân chính hãng và thực hiện đúng chỉ định và
hướng dẫn sử dụng như trên quảng cáo. Nhưng sản phẩm lại không mang đến hiệu quả
như nhà đài nói. Lúc này chị Yến hoàn toàn có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của
mình. Cần lưu ý mối quan hệ giữa nhà cung cấp và nhà sản xuất, nếu họ có mối quan hệ
đại lý thì nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm, còn nếu mua đứt bạn đoạn thì nhà cung cấp
phải chịu trách nhiệm. Nhà đài có thể không phải chịu trách nhiệm vì chỉ là trung gian
phát hành quảng cáo đó, không phải là người quảng cáo, người quảng cáo và thực hiện
quảng cáo mới là người phải chịu trách nhiệm
Theo luật quảng cáo 2012, nghị định 81/2018 –NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm:
“Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi Quảng cáo sai sự
thật, không đúng quy cách, chất lượng, công dụng, nhãn hiệu, kiểu dáng, chủng loại, bao
bì, xuất xứ, chỉ dẫn địa lý, phương thức phục vụ, thời hạn sử dụng, thời hạn bảo quản,
bảo hành của hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 3 Điều 68,
Điểm c Khoản 3 Điều 69, Điểm a Khoản 2 Điều 72, Điểm b Khoản 1 Điều 75 và Khoản
1 Điều 78 Nghị định này. Ở đây bên cung cấp sản phẩm đã quảng cáo sai chất lượng sản
phẩm làm ảnh hướng nghiêm trọng đến sức khỏe khách hàng
Luật quảng cáo, 2012 và nghị định 81/2018 ND-CP nêu rõ người kinh doanh dịch
vụ quảng cáo (trường hợp bán hàng qua truyền hình là nhà đài) phải yêu cầu bên quảng
cáo (doanh nghiệp bán hàng) cung cấp thông tin trung thực, chính xác về nội dung quảng
cáo và phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Hành vi để xảy ra “quảng cáo sai sự
thật” theo nghị định 120/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt
động xúc tiến thương mại, quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh quy định
cụ thể các mức phạt tiền đối với hành vi “đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho
khách hàng về giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày
sản xuất, thời hạn sử dụng...”. Ở đây nhà đài đã không kiểm định chất lượng, độ uy tín
sản phẩm và đơn vị sản xuất, nội dung quảng cáo mà đã cho chạy dịch vụ.
2. Khái Quát Chung Về Pháp Luật Điều Chỉnh Trong Hợp Đồng Thương Mại Tình huống 1
Ông Hậu là chủ 1 doanh nghiệp chuyên kinh doanh hàng nông sản và hàng tiêu
dùng. 1 trong những đối tác thường xuyên mua hàng của doanh nghiệp ông hậu là công
ty thực phẩm sạch Bình An. Để có nguồn hàng ổn định, thường xuyên, ông đặt mua sản
phẩm nông sản trực tiếp với các hộ nông dân trong vùng. Nhiều lần, ông cũng mang các
sản phẩm khác như giày dép, quần áo, bếp ga, xoong nồi trao cho các hộ nông dân thay vì
trả tiền để lấy các sản phẩm nông sản.
- Có những quan hệ hợp đồng nào phát sinh trong tình huống nói trên? Chủ
thể của các hợp đồng đó là ai?
Những quan hệ hợp đông phát sinh trong tình huống đã cho:
Hợp đồng 1: Hợp đồng mua bán hàng hoá giữa doanh nghiệp ông Hậu và công ty thực phẩm sạch Bình An.
Hợp đồng 2: Hợp đồng giữa ông Hậu với với các hộ nông dân trong vùng khi ông
đặt mua sản phẩm nông sản trực tiếp với các hộ nông dân trong vùng.
Hợp đồng 3: Hợp đồng trao đổi hàng hoá giữa công ty của ông Hậu với nông dân
Theo khoản 1 điều 3 Luật Thương mại 2005: Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm
mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương
mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
Theo khoản 1 điều 6 LTM 2005: Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập
hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doan
Trong quan hệ hợp đồng 1, chủ thể là ông Hậu và công ty Bình An là thương nhân, hoạt
động mua bán hàng hóa nhằm mục đích sinh lợi nên giữa họ phát sinh quan hệ hợp đồng thương mại.
Trong quan hệ hợp đồng 2 và 3, khi ông là thương nhân, thường mua các sản phẩm nông
sản sạch từ các các hộ nông dân trong vùng thì giữa ông Hậu và các hộ nông dân đã hình
thành hoạt động mua bán hàng, nhằm mục đích sinh lời, chủ thể là ông Hậu và các hộ
nông dân trong vùng, nên giữa họ phát sinh quan hệ hợp đồng thương mại (vì ông Hậu là
thương nhân, các hộ nông dân là các cá nhân hoạt động có liên quan đến thương mại,
theo điều 2 LMT 2005 về đối tượng áp )
- Giả sử, bác nông dân A mang nông sản mà mình trực tiêp nuôi trồng đến bán
lẻ tại các chợ thì PL điều chỉnh quan hệ trên có gì thay đổi?
Theo khoản 1 điều 6, Luật Thương Mại, 2005: Thương nhân bao gồm tổ chức kinh
tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường
xuyên và có đăng ký kinh doanh.
Theo định nghĩa trên, khi bác nông dân A trực tiếp mang nông sản mình nuôi trồng
ra bán lẻ tại các chợ, thì hoạt động đó không diễn ra một cách thường xuyên, liên tục nên
A không phải là thương nhân. Việc A mang nông sản mình nuôi trồng ra bán lẻ tại chợ
không phải là hành vi thương mại mà chỉ là hành vi dân sự thông thường. Do đó pháp
luật điều chỉnh hoạt động này của bác nông dân A là pháp luận Dân sự.
Tình huống 2: Liệu đã có một hợp đồng thương mại?
9h sáng ngày 20/04/2011, Công ty TNHH Việt Hưng nhận được catalog chào bán
2000 chiếc điều hòa Sam Sung của công ty Cổ phần thương mại Việt Á với giá 4.000.000
VNĐ/ Chiếc. Bên bán chịu trách nhiệm vận chuyển hàng đến kho bên mua, thời gian giao
nhận hàng là ngay 22/04/2011, thanh toán sau khi nhận đủ hàng. Trong chào hàng có nêu
rõ, sau một ngày kể từ ngày nhận được catalog chào hàng trên mà CT Việt Hưng không
trả lời coi như chấp thuận giao kết hợp đồng. Nhận được catalog trên, CT Việt Hưng
không có công văn trả lời. Nghĩ là CT Việt Hưng đã chấp nhận nên ngày 22/04/2011 CT
Việt Á đến giao hàng nhưng công ty Việt Hưng không nhận hàng vì cho rằng chưa có hợp đồng thương mại.
Theo điều 386 bộ luật dân sự năm 2015, về đề nghị giao kết hợp đồng:
1. Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự
ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công
chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị).
Vì vậy, trong tình huống trên, đã có đề nghị giao kết hợp đồng. Vì bên phía công ty
Cổ phần thương mại Việt Á có gửi catalog để chào bán 200 chiếc điều hòa với công ty
TNHH Việt Hưng với giá 4 triệu đồng/chiếc.
Căn cứ vào điều 393 bộ luật dân sự năm 2015:
1. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc
chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.
2. Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết
hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.
Vì vậy, nếu hai công ty này chưa từng thỏa thuận thì hoặc theo thói quen thì lúc này
hợp đồng chưa được giao kết, còn nếu như hai công ty này đã có thỏa thuận và theo thói
quen là công ty TNHH Việt Hưng không trả lời thì hợp đồng này đã được giao kết. Tình huống 3:
Ngày 30/12/2012 thương nhân A gửi email chào bán cho thương nhân B 1000 tấn
đường trắng tinh luyện, giá 10000/kg. Cuối giờ chiều ngày 31/12/2012, B email trả lời
đồng ý mua và nhận hàng vào ngày 2/1/2013 tại kho của bên A. Do vào dịp nghỉ tết
dương lịch bên A nghỉ lễ nên không biết có email trả lời của B, vì vậy không có hàng để
giao cho B vào ngày 2/1/2013. A lập luận rằng vì email của B gửi đến vào ngày nghỉ nên
A không thể mở email và nhận được thông tin trả lời của B. Do vậy, chưa có hợp đồng giữa A và B
- Theo anh/chị, lập luận của A hợp lý không?
Theo Bộ luật dân sự năm 2015, Hợp đồng mua bán là hợp đồng được hiểu là sự
thỏa thuận về việc chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa từ người bán sang người mua
thực hiện nghĩa vụ cam kết với người bán. Bên mua hàng có trách nhiệm nhận hàng hoá
và có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán hàng, việc giao hàng, thanh toán phải được thực
hiện theo thời gian, địa điểm, phương thức được thoả thuận trong hợp đồng.
Lập luận của A là hợp lý vì:
+ Thứ nhất, ngày 30/12/2012 A đã gửi email chào bán với bên B, do gần ngày nghỉ
lễ cuối năm nên bên B cần ý thức được việc trả lời hoặc từ chối với bên A trong ngày làm
việc nhưng bên B lại phản hồi vào sát ngày nghỉ như vậy khiến bên A không kịp xử lý.
+ Thứ hai, Các bên nên thảo thuận cụ thể thời hạn bắt đầu có hiệu lực của hợp
đồng; Thời hạn thực hiện hợp đồng (thời gian giao hàng, thời gian thực hiện dịch vụ,…);
Thời điểm kết thúc hợp đồng. Thời gian bên B trả lời bên A không xảy ra việc thoả thuận
thời hạn giao hàng giữa 2 bên mà chỉ đơn phương từ bên B yêu cầu thời gian giao hàng
nên chưa có hợp đồng giữa A và B. Tình huống 4:
Ngày 1/4/2011 Phó Giám đốc của Công ty TNHH Phương Anh có ngành nghề kinh
doanh là linh kiện điện tử ký hợp đồng mua 1000 tấn bột mỳ với Giám đốc công ty Cổ
phần Thương Mại Việt Long. Giao hàng vào ngày 5/4/2011 tại trụ sở của bên mua. Giá
cả được tính là 12.000đ/kg. Việc thanh toán được tiến hành theo 2 đợt: Đợt 1: 50% trước
khi giao hàng, thanh toán bằng tiền VNĐ; Đợt 2: 50% sau khi giao hàng, thanh toán bằng
tiền USD theo tỷ giá quy đổi tại thời điểm thanh toán.
Hợp đồng có hiệu lực và vô hiệu 1 phần do:
- Hợp đồng có hiệu lực do:
+ Chủ thể ký kết hợp đồng là Phó Giám độc của Công ty TNHH Phương Anh và
Giám đốc Công ty cổ phần thương mại Việt Long. Cả hai đều là chủ thể có hành vi năng
lực dân sự. Và việc ký kết hợp đồng đều là do hai bên tự nguyện
+ Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là ngày 1/4/2011 khi cả hai chủ thể là Phó
Giám đốc Công ty TNHH Phương Anh và Giám đốc Công ty Cổ phần Thương mại Việt
Long ký kết hợp đồng (theo khoản 1, điều 401, Bộ Luật dân sự 2015 về “Hiệu lực của
hợp đồng”), còn nghĩa vụ thanh toán sẽ là trước và sau ngày 5/4/2011 (tức là trước và sau khi giao hàng)
+ Hình thức ký kết hợp đồng: Bằng văn bản phù hợp với quy định của pháp luật
(Điều 199, Bộ Luật dân sự quy địng về “Hình thức giao dịch dân sự”)
- Hợp đồng vô hiệu lực 1 phần do: đợt hai thanh toán tiền hàng bằng tiền USD.
Điều này bị cấm theo pháp lệnh ngoại hối của NHNN. Tình huống 5:
Bà Vũ Thanh Nga là Phó giám đốc của công ty CNC, ký hợp đồng thuê gian hàng
bán tại trung tâm thương mại Tràng Tiền với công ty XNK Liên Thái Bình Dương. Sau
khi kinh doanh được 1 tháng, do khả năng tiêu thụ hàng hoá không khả thi, giá thuê lại
cao so với thị trường, công ty CNC đã thông báo cho công ty XNK Liên Thái Bình
Dương với nội dung: Hợp đồng do Phó giám đốc của CNC ký không có sự đồng ý của
giám đốc nên hợp đồng trên không có hiệu lực pháp luật.
Anh chị cho biết lập luận trên của CNC có hợp pháp không?
Lập luận trên của CNC không hợp pháp vì theo Khoản 6 Điều 1 Nghị định
09/2010/NĐ-CP quy định về ký thay như sau:
1. Ở cơ quan tổ chức làm việc theo chế độ thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền ký tất cả văn bản của cơ quan, tổ chức. Người đứng đầu cơ quan, tổ
chức có thể giao cho cấp phó của mình ký thay (KT.) các văn bản thuộc các lĩnh vực
được phân công phụ trách và một số văn bản thuộc thẩm quyền của người đứng đầu.
Cấp phó ký thay chịu trách nhiệm trước người đứng đầu cơ quan, tổ chức và trước pháp luật.
Theo đó, thông thường, tại công ty, người đứng đầu công ty là giám đốc có quyền kí
tất cả các văn bản của cơ quan, nhân danh công ty kí kết các hợp đồng kinh tế, chứng từ,
hóa đơn,… Tuy nhiên, giám đốc có thể giao cho cấp phó của mình, tức là phó giám đốc,
ki thay các văn bản thuộc các lĩnh vực được phân công phụ trách và một số văn bản thuộc
thẩm quyền của giám đốc, như kí các dự án đầu tư, hợp đồng giao dịch mua, bán và giao
dịch kinh doanh khác của công ty,…(ví dụ: kí các sổ sách, chứng từ kế toán liên quan đến
hoạt đông thu chi của công ty, kí kết các hợp đồng về nguyên vật liệu, tài sản và dịch vụ
công nghệ thông tin của công ty).
Như vậy, chủ thể có thẩm quyền kí thay giám đốc chính là phó giám đốc công ty, bà
Vũ Thanh Nga chính là đại diện của công ty ký kết hợp đồng này và nó có hiệu lực pháp luật.
Tình huống 6: Trách nhiệm trong hợp đồng thương mại
Công ty X bán 100 chiếc giường cho Bệnh viện Y. Trong hợp đồng có điều khoản
sau: “ Bên bán có trách nhiệm bù đắp tổn thất và phải làm cho bên mua không bị xâm hại
đối với bất kỳ sự hư hao hay mất mát nào, dù trực tiếp hay gián tiếp, mà người mua đã phải gánh chịu do
hậu quả của khuyết tật của hàng hóa trong thời hạn bảo hành ”. Công ty
X đã giao hàng. Trong thời hạn bảo hành, do Công ty X lắp ráp chưa đúng các khớp kỹ
thuật, một chiếc giường bị gãy, gây ra các hậu quả như sau:
1. Chiếc giường không thể sử dụng được nữa và đã phải thay thế bằng một chiếc giường tạm.
2. Bệnh nhân nằm trên giường bị thương phải điều trị mất 10 triệu.
3. Thiết bị y tế gắn quanh giường bị hư hỏng theo có giá trị 20 triệu.
4. Hộ lý và y tá cãi nhau về việc ai đã làm gãy giường, đánh nhau, gây hư hỏng vật ư y tế là 8 triệu.
5. Bệnh nhân nói trên là một nghệ sĩ kiêm chính trị gia, đã khiếu nại bệnh viện là
sau khi bị té vì giường gãy, ông ta đau đớn lẫn thể xác và tinh thần, yêu cầu bệnh viện
phải bồi thường 9 triệu.
6. Một hộ lý vì đánh nhau bị thương tích, phải điều trị mất 6 triệu.
7. Phòng bệnh nơi đặt giường là phòng riêng, chờ mất 5 ngày để thay chiếc giường
gãy bằng một chiếc giường phù hợp, bị thất thu 5 triệu.
8. Bệnh viện phải thuê luật sư bảo vệ quyền lợi khi khởi kiện công ty mất 7 triệu.
Theo bạn những khoản chi phí nào mà công ty chắc chắn phải bồi thường cho bệnh viện?
1. Chiếc giường không thể sử dụng được nữa và đã phải thay thế bằng một
chiếc giường tạm.
Ở đây không có thiệt hại trực tiếp đến tài sản của bệnh viện mà thể hiện trách nhiệm
hạn chế thiệt hại của bệnh viện
2. Bệnh nhân nằm trên giường bị thương phải điều trị mất 10 triệu.
Có thiệt hại trực tiếp, thực tế, công ty X sẽ phải bồi thường nếu bênh viện chứng
minh được thiệt hại khi cung cấp được các giấy tờ có liên quan đến thiệt hại. Công ty X
phải bồi thường, theo quy định tại điều 303 Luật thương mại 2005
3. Thiết bị y tế gắn quanh giường bị hư hỏng theo có giá trị 20 triệu.
Việc giường bị gãy là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại, bệnh viện chứng minh
được thiệt hại thực tế công ty X sẽ phải chịu trách nhiệm. Công ty X phải bồi thường,
theo quy định tại điều 303 Luật thương mại 2005:
“Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách
nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:
1. Có hành vi vi phạm hợp đồng;
2. Có thiệt hại thực tế;
3. Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại”
4. Hộ lý và y tá cãi nhau về việc ai đã làm gãy giường, đánh nhau, gây hư
hỏng vật tư y tế là 8 triệu.
Công ty X không phải bồi thường vì đây là do hộ lý và y tá của bênh viện gây ra,
thiệt hại là do bệnh viện và 2 nhân viên của mình. Về thiệt hại này, bệnh viện tự có
những hình thức xử lý với nhau về thiệt hại này.
5. Bệnh nhân nói trên là một nghệ sĩ kiêm chính trị gia, đã khiếu nại bệnh viện
là sau khi bị té vì giường gãy, ông ta đau đớn lẫn thể xác và tinh thần, yêu cầu bệnh
viện phải bồi thường 9 triệu.
Trong trường hợp này, bên phía công ty không phải bồi thường cho bệnh viện do
chiếc giường bị gãy thuộc quyền sở hữu của bệnh viện. Công ty X đã trao quyền sở hữu
cho bệnh viện nên bệnh viện phải chịu trách nhiệm với việc bệnh nhân kia bị té vì giường
gãy. Công ty X chỉ chịu trách nhiệm bồi thường chiếc giường bị gãy với bệnh viện. Còn
bệnh viện phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bệnh nhân kia là 9 triệu (Khoản 3, Điều
584, Bộ Luật dân sử 2015 quy định về “Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
và Điều 591, Bộ Luật dân sự 2015 về “Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm”). Bệnh viện
phải bồi thường chi phí điều trị cả về thể xác lẫn tinh thần cho bệnh nhân là nghệ sĩ kiêm chính trị gia kia.
6. Một hộ lý vì đánh nhau bị thương tích, phải điều trị mất 6 triệu
Trong trường hợp này, Công ty X KHÔNG phải bồi thường vì đây là lỗi do hộ lý
gây ra và hộ lý phải bồi thường cho bệnh viện.
7. Phòng bệnh nơi đạt giường là phòng riêng, chờ mất 5 ngày để thay chiếc
giường gãy bằng một chiếc giường phù hợp, bị thất thu 5 triệu
Trong trường hợp này, Công ty X có phải bồi thường cho bệnh viện do bệnh viện bị
thất thu 5 triệu trong quá trình thay chiếc giường gãy bằng chiếc giường phù hợp. Đây là
khoản lợi nhuận đáng lẽ bệnh viện nhận được nếu như không xảy ra tình trạng giường bị
gãy (Điều 302, Luật Thương mại 2005 quy định về “Bồi thường thiệt hại”). Công ty X
phải bồi thường chi phí chiếc giường gãy và chi phí mà bệnh viện bị thất thu 5 triệu (tức
là khoản lợi nhuận mà bệnh viện đáng ra phải được nhận)
8. Bệnh viện phải thuê luật sư bảo vệ quyền lợi khi khởi kiện công ty mất 7 triệu.
Trong trường hợp này, công ty không phải bồi thường thiệt hại cho bệnh viện vì đây
không phải là tổn thất trực tiếp, đây chỉ là lựa chọn chủ quan của bệnh viện do bệnh viện
có nhiều sự lựa chọn thay vì thuê luật sư thì bệnh viện có thể tự mình giải quyết vấn đề
để có thể bảo vệ quyền lợi của mình. Vì vậy, bệnh viện không nhận được khoản bồi
thường về chi phí thuê luật sư .(Khoản 2 Điều 168, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy
định.: “Chi phí cho luật sư là khoản tiền phải trả cho luật sư theo thỏa thuận của đương sự
với luật sư trong phạm vi quy định của tổ chức hành nghề luật sư và theo quy định của pháp luật”.) Tình huống 7:
Công ty cổ phần A là bạn hàng thân thiết của công ty TNHH B, vì vậy, công ty A
cho công ty B mượn 1 căn nhà làm trụ sở để kinh doanh. Khi cơ hội dến, công ty A đã
dùng căn nhà của mình thế chấp ngân hàng để vay tiền kinh doanh. Nhưng do viêc làm
ăn không thuận lợi, công ty A nợ nần quá nhiều, công ty B phải cho công ty A vay tiền để
trả ngân hàng và trang trải nợ nần. Trước tình hình đó, công ty A gợi ý bán căn nhà cho
công ty B. Sau nhiều lần thỏa thuận, 2 bên đã lập 4 văn bản mua bán nhà có đầy đủ chữ
kí của các bên nhưng không đem đi công chứng, chứng thực. Đang trong quá trình sang
tên sổ đỏ, công ty A lại làm đơn ra tòa yêu cầu hủy thỏa thuận mua bán căn nhà, buộc
công ty B phải trả lại nhà.
Theo điều 385 BLDS 2015, Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác
lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
Theo điều 430 BLDS 2015, Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các
bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán Theo khoản 1 đ 386 BLDS
2015, Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý
định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên
đã được xác định hoặc tới công chúng
Theo điều 393 BLDS 2015, Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của
bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.
Theo điều 401 BLDS 2015, Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị
nhận được chấp nhận giao kết, Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm
bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.
Vậy khi công ty A gợi ý bán căn nhà cho công ty , sau nhiều lần thỏa tuận, 2 bên đã
lập 4 văn bản mua bán nhà có đầy đủ chữ kí của các bên thì giữa công ty A và công ty B
đã xác lập và giao kết 1 hợp đồng dân sự về mua bán tài sản.
Theo khoản 1 điều 122 Luật nhà ở 2014, Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp
vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực
hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
Vậy khi công ty A và công ty B đã lập 4 văn bản mua bán nhà có đầy đủ chữ kí của
các bên nhưng không đem đi công chứng, chứng thực thì hợp đồng chưa có hiệu lực pháp
lý vì đã vi phạm quy định về hình thức hợp đồng.
Theo khoản 2 điều 129 BLDS 2015, Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn
bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các
bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một
bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong
trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
Theo điều 120 LNO 214, Trình tự, thủ tục thực hiện giao dịch về nhà ở như sau:
1. Các bên tham gia giao dịch nhà ở thỏa thuận lập hợp đồng mua bán, cho thuê,
thuê mua, tặng cho, đổi, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà
ở hoặc văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại (sau đây gọi chung
là hợp đồng về nhà ở) có các nội dung quy định tại Điều 121 của Luật này; trường hợp
tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương thì chỉ cần lập văn bản tặng cho.
2. Các bên thỏa thuận để một bên thực hiện nộp hồ sơ đề nghị cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở đó; trường hợp mua, thuê mua nhà ở của
chủ đầu tư dự án thì chủ đầu tư có trách nhiệm làm thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp Giấy chứng nhận cho bên mua, bên thuê mua, trừ trường hợp bên mua, bên
thuê mua tự nguyện làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận.
3. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi thực hiện cấp Giấy chứng nhận cho bên
mua, bên thuê mua, bên nhận tặng cho, nhận đổi, nhận góp vốn, nhận thừa kế nhà ở
cùng với nhận chuyển quyền sử dụng đất ở hợp pháp có nhà ở đó thì đồng thời công
nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho bên nhận quyền sở hữu nhà ở.
Có thể thấy, giao dịch đang trong quá trình sang tên sổ đỏ, đồng thời công ty B đã
phải cho công ty A vay tiền để trả ngân hàng và trang trải nợ nần, nghĩa là công ty B có
thể đã thực hiện 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch , nếu công ty B yêu cầu Tòa án công nhận
hiệu lực của hợp đồng thì Tòa án sẽ ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó
mà các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực, việc công ty A lại làm
đơn ra tòa yêu cầu hủy thỏa thuận mua bán căn nhà, buộc công ty B phải trả lại nhà sẽ không được chấp nhận.
Nếu công ty B không yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng thì theo
khoản 2 điều 131 BLDS 2015, Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại
tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, công ty B có thể gửi đơn khởi
kiện tới Tòa án nhân dân để yêu cầu công ty A phải hoàn trả cho công ty B khoản tiền mà
công ty B đã giao để mua căn nhà của công ty A.
1.2. Mua bán hàng hoá Tình huống 8:
Trần văn có một đàn trâu (gồm 3 con). Do không có tiền chi tiêu trong dịp tết, Trần
Văn dự định bán đàn trâu trên. Nguyễn Thị là hàng xóm của Trần Văn, làm nghề bán thịt
ở chợ, đang có ý định mua số tài sản trên của Trần Văn.
Hỏi: Khi nào thì mối quan hệ của Trần Văn được coi là mối quan hệ mua bán
hàng hóa với đối tượng là đàn trâu?
Mối quan hệ Trần Văn và Nguyễn Thị được coi là mối quan hệ mua bán hàng hóa
với đối tượng là đàn trâu khi bên bán (Trần Văn) có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở
hữu hàng hóa (đàn trâu) cho bên mua (Nguyễn Thị) và nhận thanh toán; bên mua có
nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận.
PHẦN 2: CÁC HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI CỤ THỂ
2.1. Cung Ứng Dịch Vụ Thương Mại Tình huống 9:
Ông A có một trại nuôi bò sữa ở Ba Vì, mỗi ngày, đàn bò của ông A cho 5000 lít
sữa tươi nguyên chất. Bà B là một thương nhân ở Hà Nội có đăng kí kinh doanh trong
ngành nghề mua bán vật liệu xây dựng.
- Ông A có thể bán sữa tươi của mình ra thị trường theo những cách nào?
Ông A có thể bán sữa tươi của mình ra thị trường theo những cách:
Trực tiếp bán sữa (rao bán và bán tại cơ sở sản xuất)
Tự bán sữa nhưng nhờ người khác tìm mối hàng
Tự đứng ra bán sữa nhưng nhờ người giao dịch hộ với người mua Nhờ người bán hộ
- Bà B có thể mua sữa tươi của ông A với những cách thức nào?
Bà B có thể mua sữa tươi của ông A với những cách:
Trực tiếp mua sữa của ông A với tư cách cá nhân dân sự B
Mua dưới tư cách các thương nhân, mục đích mua phải để phục vụ hoạt động bổ
trợ kinh doanh (Hội nghị khách hàng, Tổ chức ăn sáng cho cán bộ nhân viên…) Nhờ người mua hộ
- Giả sử ông A và bà B thiết lập được quan hệ mua bán 5000 lít sữa vào ngày
01/01/2013, những dịch vụ nào có thể được sử dụng trong quá trình kí kết và
thực hiện hợp đồng mua bán nói trên?
Những dịch vụ có thể được sử dụng trong quá trình ông A và bà B kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán: Vận chuyển sữa Giao nhận sữa Giám định sữa Lưu kho sữa Đại lý mua bán sữa Môi giới mua bán sữa Ủy thác mua bán sữa
Thuê người khác đại diện ký hợp đồng mua bán
2.2. Hoạt Động Xúc Tiến Thương Mại
Vào ngày 1/4/2009, bà Hồng ở quận Hoàn kiếm Hà Nội xem được 1 mẩu quảng cáo
dầu gội đầu trên VTV3 với nội dung: Dầu gội đầu Bồ kết đen là dầu gội tốt nhất có khả
năng làm mất dấu hiệu của gàu trong vòng 5 lần gội.
Bà Hồng vội ra đại lý hãng dầu gội này đặt trên địa bàn quận hoàn kiếm mua liền 5
chai dầu gội 500ml với giá 150.000 đ/chai.
Sau 3 ngày gội hết 1 chai đầu gội đầu (3 lần/ ngày), lượng tóc trên đầu bà hồng rụng
còn ¼ so với trước kia dùng loại dầu gội đầu này.
Bà Hồng phải kiện ai?
Sau khi kiện cáo không thành công, bà hồng quyết tâm mở cơ sở kinh doanh dầu
gội đầu vì cho rằng việc kinh doanh này quá dễ dàng và không rủi ro.