Deloitte đã ci cách qun trị hiu sut
ca h như thế nào?
Deloitte là mt trong những công ty toàn cu cung cp dch v kim toán/ tư vn tài chính ln nht
thế gii, xét v c doanh thu và s lượng chuyên gia. Trong hai năm 2013 2014, doanh thu ca
h đã đt đến 34,2 t đô la Mỹ, do đó, khi mt trong những công ty ln nht trên thế gii quyết
đnh ci cách qun tr hiu sut, h s thực hin theo cách tht ln.
Deloitte nhn ra rng vi phương thức hin ti lúc đó ca h - feedback 360 đ hàng năm làm
lãng phí 2 triu gi mi năm, mt con s khiến các nhà lãnh đo Deloitte thực skinh ngc. Không
những thế, phương thức này vừa không to ra cm hứng cho nhân viên khi làm vic, mà còn làm
gim kh năng nâng cao hiu sut ca mi cá nhân. Vi n lực xoay chuyn, Deloitte đã quyết
đnh xây dựng mt mô hình qun lý linh đng, cp nht theo thi gian thực, được cá nhân hóa,
mt phương pháp mi tp trung vào thúc đy hiu sut hơn là ch đơn thun đánh giá.
Trước khi bước vào cách tiếp cn mi, chúng ta hãy cùng xem h đi đến kết lun gì khi h thay
đi.
Trước kia, các mc tiêu ca h được thiết lp và đánh giá mt năm mt ln. Cách thức này gp
vn đ đó là những mc tiêu c năm này quá ln dn ti vic khó nm bt khi không được chia
nh, làm tn thi gian khi đánh giá hiu sut. thay vào đó, thi gian nên được dùng đ nhà
qun lý và nhân viên gp g, trao đi v những gì đã đt được và hoch đnh kế hoch tiếp theo.
Bài hc: Hãy tp trung vào hin ti, dành nhiu thi gian đ đánh giá quá kh s không giúp
công ty tiến b hơn
Phát hin tiếp theo ca h là vic đánh giá k năng ca ai đó thực ra rt ch quan, nó phn nh v
người đánh giá nhiu hơn là ngưi được đánh giá. Đây được gi là hiu ứng đánh giá ch quan.
Khám phá này đã khiến các v lãnh đo Deloitte rt lúng túng. H hiu đ có được phn hi v
nhân viên bt k nào đó, cách tt nht là thông qua trưởng b phn, nhưng làm thế nào đ x lý
được hiu ứng đánh giá ch quan?
Bài hc: Vic đánh giá nói nhiu v người đánh giá hơn là người được đánh giá
Deloitte đã thực hin mt cuc kho sát trên 1,4 triu nhân viên ca Gallup đ tìm ra stương
đng giữa các nhóm làm vic có kết qu làm vic xut sc vi các nhóm có kết qu chưa đt. Các
thành viên trong nhóm xut sc đu có mt đim tương đng quan trng nht là h cm thy được
làm vic hết sức mi ngày.
Dựa vào đó, Deloitte tiếp tc lc ra 60 nhóm làm vic xut sc ca h và làm thêm mt cuc kho
sát vi 6 yếu t khác nhau giữa các thành viên đ tìm ra đim tương đng tiếp theo.
Bài hc: Đim chung giữa các nhóm có thành tích xut sc ti Deloitte là stin tưởng rng
h đang được phát huy đim mnh mi ngày
Kết qu ca cuc kho sát trên ch cho thy: đim chung kế tiếp ca h là vic mi thành viên đu
thy mình được phát huy ti đa đim mnh trong công vic. Chúng ta có rút ra được kết lun gì t
những kết qu này? Deloitte đã vch mc tiêu rt rõ ràng: Chúng tôi mun dành thi gian nhiu
hơn đ giúp mi người tn dng đim mnh ca mình. Là người lãnh đo doanh nghip mt
nhà kinh doanh, liu bn có đang tn dng đim mnh ca từng nhân viên?
Gi đây Deloitte đã nhn ra những đim đ gia tăng hiu sut làm vic nhân viên, bài toán cn gii
quyết tr thành: Làm thế nào đ h có th đánh giá những thế mnh đó ca nhân viên?. Những
hiu biết, thông tin quan trng vn s phi tnhững người trưởng b phn, nhưng làm sao đ tránh
được hiu ứng đánh giá ch quan? Đây là câu hi đáng giá triu (thm chí c t) đô la.
Bài hc: Điu quan trng là mi người đánh giá k năng ca người khác mt cách không
nht quán, nhưng chúng phù hp nht khi đánh giá k năng ca h
Đ gii quyết bài toán đánh giá, Deloitte đã không hi thành viên trong nhóm nghĩ gì v các thành
viên khác. Thay vào đó, h yêu cu trưởng b phn đánh giá các hot đng tương lai ca chính h
đi vi từng thành viên trong nhóm.
Bài hc: Hãy hi những gì các trưởng b phn s làm, không phi những gì h nghĩ
H gi đó là quá trình đánh giá hiu sut thay vì đánh giá đơn thun như trước kia, vì cách tiếp
cn mi tuân theo thi gian thực. Hin nay, h đã có h thng đo lưng hiu sut. Câu hi tiếp
theo là: làm thế nào chúng ta có th ci thin nó?
Đ xut ci tiến qun tr hiu sut - OKR
Một yếu t ni bt nht nghiên cứu ttrường hp ca Deloitte đó là Tn sut. Deloitte ch ra rng
tn sut ti ưu ca các đánh giá hiu sut mi này nên được thực hin hàng tun. H cũng gi ý
rng cách tt nht đ đm bo tn sut đó là thực hin check-in thường xuyên v những công vic
gn nht mà các thành viên đ xut, ph trách.
Tóm li, Deloitte cho rng các cuc kho sát truyn thng, mi năm mt ln, đánh giá 360 không
thực shiu qu và cũng không cung cp cái nhìn minh bch v tình hình công vic thực ti, đã
đến lúc cn phi ci cách quá trình qun tr hiu sut liên tc OKR.
Áp dng OKR, h đã chia nh mc tiêu ln c năm thành các mc tiêu nh hơn theo quý và tháng.
Tt c các mc tiêu này liên kết vi nhau thành mt cây tng th. Vic đánh giá kết qu công vic
cũng được thực hin đnh k theo quý, theo năm. Nhân viên s cp nht kết qu then cht (Key
Result) trước khi hp vi trưởng b phn. Stương tác này được lp li tcp thp nht đến cp
cao nht.
Tuy là công ty đi sau, nhưng so vi Google hay Linkedln, Deloitte đã thu được kết qu kh quan
khi áp dng OKR: Ch s happiness ca nhân viên tăng 25%; Tính ch đng trong công vic
tăng 41%; S tương tác tăng 53%.
OKR thực slà phương pháp qun tr hin đi các doanh nghip nên áp dng.

Preview text:

Deloitte đã cải cách quản trị hiệu suất của họ như thế nào?
Deloitte là một trong những công ty toàn cầu cung cấp dịch vụ kiểm toán/ tư vấn tài chính lớn nhất
thế giới, xét về cả doanh thu và số lượng chuyên gia. Trong hai năm 2013 – 2014, doanh thu của
họ đã đạt đến 34,2 tỷ đô la Mỹ, do đó, khi một trong những công ty lớn nhất trên thế giới quyết
định cải cách quản trị hiệu suất, họ sẽ thực hiện theo cách thật lớn.
Quản trị hiệu suất – cách tiếp cận cũ và mới
Deloitte nhận ra rằng với phương thức hiện tại lúc đó của họ - feedback 360 độ hàng năm – làm
lãng phí 2 triệu giờ mỗi năm, một con số khiến các nhà lãnh đạo Deloitte thực sự kinh ngạc. Không
những thế, phương thức này vừa không tạo ra cảm hứng cho nhân viên khi làm việc, mà còn làm
giảm khả năng nâng cao hiệu suất của mỗi cá nhân. Với nỗ lực xoay chuyển, Deloitte đã quyết
định xây dựng một mô hình quản lý linh động, cập nhật theo thời gian thực, được cá nhân hóa,
một phương pháp mới tập trung vào thúc đẩy hiệu suất hơn là chỉ đơn thuần đánh giá.
Trước khi bước vào cách tiếp cận mới, chúng ta hãy cùng xem họ đi đến kết luận gì khi họ thay đổi.
Trước kia, các mục tiêu của họ được thiết lập và đánh giá một năm một lần. Cách thức này gặp
vấn đề đó là những mục tiêu cả năm này quá lớn dẫn tới việc khó nắm bắt khi không được chia
nhỏ, làm tốn thời gian khi đánh giá hiệu suất. Mà thay vào đó, thời gian nên được dùng để nhà
quản lý và nhân viên gặp gỡ, trao đổi về những gì đã đạt được và hoạch định kế hoạch tiếp theo.
Bài học: “Hãy tập trung vào hiện tại, dành nhiều thời gian để đánh giá quá khứ sẽ không giúp công ty tiến bộ hơn”
Phát hiện tiếp theo của họ là việc đánh giá kỹ năng của ai đó thực ra rất chủ quan, nó phản ảnh về
người đánh giá nhiều hơn là người được đánh giá. Đây được gọi là hiệu ứng “đánh giá chủ quan”.
Khám phá này đã khiến các vị lãnh đạo Deloitte rất lúng túng. Họ hiểu để có được phản hồi về
nhân viên bất kỳ nào đó, cách tốt nhất là thông qua trưởng bộ phận, nhưng làm thế nào để xử lý
được hiệu ứng “đánh giá chủ quan”?
Bài học: “Việc đánh giá nói nhiều về người đánh giá hơn là người được đánh giá”
Deloitte đã thực hiện một cuộc khảo sát trên 1,4 triệu nhân viên của Gallup để tìm ra sự tương
đồng giữa các nhóm làm việc có kết quả làm việc xuất sắc với các nhóm có kết quả chưa đạt. Các
thành viên trong nhóm xuất sắc đều có một điểm tương đồng quan trọng nhất là họ cảm thấy được
làm việc hết sức mỗi ngày.
Dựa vào đó, Deloitte tiếp tục lọc ra 60 nhóm làm việc xuất sắc của họ và làm thêm một cuộc khảo
sát với 6 yếu tố khác nhau giữa các thành viên để tìm ra điểm tương đồng tiếp theo.
Bài học: “Điểm chung giữa các nhóm có thành tích xuất sắc tại Deloitte là sự tin tưởng rằng
họ “đang được phát huy điểm mạnh mỗi ngày”
Kết quả của cuộc khảo sát trên chỉ cho thấy: điểm chung kế tiếp của họ là việc mỗi thành viên đều
thấy mình được phát huy tối đa điểm mạnh trong công việc. Chúng ta có rút ra được kết luận gì từ
những kết quả này? Deloitte đã vạch mục tiêu rất rõ ràng: “ Chúng tôi muốn dành thời gian nhiều
hơn để giúp mọi người tận dụng điểm mạnh của mình”. Là người lãnh đạo doanh nghiệp – một
nhà kinh doanh, liệu bạn có đang tận dụng điểm mạnh của từng nhân viên?
Giờ đây Deloitte đã nhận ra những điểm để gia tăng hiệu suất làm việc nhân viên, bài toán cần giải
quyết trở thành: “Làm thế nào để họ có thể đánh giá những thế mạnh đó của nhân viên?”. Những
hiểu biết, thông tin quan trọng vẫn sẽ phải từ những người trưởng bộ phận, nhưng làm sao để tránh
được hiệu ứng “đánh giá chủ quan”? Đây là câu hỏi đáng giá triệu (thậm chí cả tỷ) đô la.
Bài học: “Điều quan trọng là mọi người đánh giá kỹ năng của người khác một cách không
nhất quán, nhưng chúng phù hợp nhất khi đánh giá kỹ năng của họ”
Để giải quyết bài toán đánh giá, Deloitte đã không hỏi thành viên trong nhóm nghĩ gì về các thành
viên khác. Thay vào đó, họ yêu cầu trưởng bộ phận đánh giá các hoạt động tương lai của chính họ
đối với từng thành viên trong nhóm.
Bài học: “Hãy hỏi những gì các trưởng bộ phận sẽ làm, không phải những gì họ nghĩ”
Họ gọi đó là quá trình đánh giá hiệu suất thay vì đánh giá đơn thuần như trước kia, vì cách tiếp
cận mới tuân theo thời gian thực. Hiện nay, họ đã có hệ thống đo lường hiệu suất. Câu hỏi tiếp
theo là: làm thế nào chúng ta có thể cải thiện nó?
Đề xuất cải tiến quản trị hiệu suất - OKR
Một yếu tố nổi bật nhất nghiên cứu từ trường hợp của Deloitte đó là Tần suất. Deloitte chỉ ra rằng
tần suất tối ưu của các đánh giá hiệu suất mới này nên được thực hiện hàng tuần. Họ cũng gợi ý
rằng cách tốt nhất để đảm bảo tần suất đó là thực hiện check-in thường xuyên về những công việc
gần nhất mà các thành viên đề xuất, phụ trách.
Tóm lại, Deloitte cho rằng các cuộc khảo sát truyền thống, mỗi năm một lần, đánh giá 360 không
thực sự hiệu quả và cũng không cung cấp cái nhìn minh bạch về tình hình công việc thực tại, đã
đến lúc cần phải cải cách quá trình quản trị hiệu suất liên tục – OKR.
Áp dụng OKR, họ đã chia nhỏ mục tiêu lớn cả năm thành các mục tiêu nhỏ hơn theo quý và tháng.
Tất cả các mục tiêu này liên kết với nhau thành một cây tổng thể. Việc đánh giá kết quả công việc
cũng được thực hiện định kỳ theo quý, theo năm. Nhân viên sẽ cập nhật kết quả then chốt (Key
Result) trước khi họp với trưởng bộ phận. Sự tương tác này được lặp lại từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất.
Tuy là công ty đi sau, nhưng so với Google hay Linkedln, Deloitte đã thu được kết quả khả quan
khi áp dụng OKR: Chỉ số “happiness” của nhân viên tăng 25%; Tính chủ động trong công việc
tăng 41%; Sự tương tác tăng 53%.
OKR thực sự là phương pháp quản trị hiện đại các doanh nghiệp nên áp dụng.