



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
BÀI THẢO LUẬN CHỦ ĐỀ 1 NHÓM: 5 LỚP HP: TLAW0111_37 HÀ NỘI, 2024-2025 Cộng hòa xã hội ch ủ n ghĩa V iệt Nam Độc lậ
p – Tự do
– Hạn h phúc
Ngày 28 tháng 10 năm 2024 BIÊN BẢN HỌP NH ÓM
Kính gửi: Cô Tạ Thị Thùy Trang – giảng viên dạy học phần Luật kinh tế 1
Hôm nay ngày 14/10/ 2021 nhóm 11 họp thảo luận:
Địa điểm họp: trên Google M ee t
Nội dung họp: Nhóm trưởng phân công công việc sau đó bàn và thống nhất nội dung phần lý thuyết
Thành phần tham dự: tất cả thành viên nhóm 11
Các thành viên trong nhóm tích cực đóng góp ý kiến, buổi họp kéo dài từ 8h – 1 0 h 2 0 p Nhóm tr ư ởng Th ả o Phạm Thị Thảo
MỤC L ỤC
PHẦN 1: HÌNH THỨC CẤU TRÚC NHÀ NƯỚC 1 LỜI MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1
I. Hình thức cấu trúc nhà nước ................................................... .. ... ... .. ... ... .. ... .. .1
1. Cấu trúc nhà nước đơn nhất
2. Cấu trúc nhà nước liên bang
3. Cấu trúc nhà nước liên minh
II . Hình thức cấu trúc nhà nước CHXHCNVN qua các bản Hiến pháp ...........4
1. Hiến pháp năm 1946
2. Hiến pháp năm 1959
3. Hiến pháp năm 1980
4. Hiến pháp năm 1992
5. Hiến pháp năm 2013 KẾT LUẬN PHẦN 2: PHẦN BÀI TẬP TÌNH HUỐN
G ............................................ ... ... ..11 LỜI MỞ ĐẦU
Nhiều nhà nước chủ nô khi mới hình thành, chưa biết tổ chức quyền lực nhà
nước thành các cấp theo đơn vị hành chính lãnh thổ. Cùng với sự phát triển của chế
độ chiếm hữu nô lệ, lãnh thổ quốc gia được mở rộng, dần cư ngày càng đông đảo
hơn, chức năng nhà nước trở nên phức tạp hơn... các nhà nước từng bước tổ chức
chính quyền theo đơn vị hành chính lãnh thổ, hình thành nên bộ máy nhà nước từ
trung ương xuống địa phương. Ở nhiều nhà nước chủ nô, ngay từ đầu đã thiết lập
chế độ trung ương tập quyền, địa phương là cấp dưới của trung ương, phục tùng
trung ương một cách tuyệt đối. Ở một số quốc gia phương Đông, ngay trong thời kì
cổ đại đã tồn tại chế độ phân quyền cát cứ. Các thế lực chư hầu ban đầu được nhà
vua trung ương phong chức tước và ban cấp đất đai, trực tiếp cai quản phần lãnh thổ
được phân phong đó. Tuy nhiên, về sau, thế lực của các chư hầu ngày càng lớn
mạnh, chèn ép các chư hầu khác, lấn át chính quyền nhà vua trung ương.
Trong nhà nước phong kiến, ở phương Đông, trong suốt quá trình phát triển của chế
độ phong kiến, mặc dù yếu tố phân quyền cát cứ có xuất hiện và tồn tại trong những
thời gian nhất định, tuy nhiên xu hướng chung đều là trung ương tập quyền với sự
phục tùng tuyệt đối của chính quyền địa phương đối với chính quyền trung ương.
Ngược lại, ở phương Tây, nhà nước phong kiến đã phát triển qua hai giai đoạn, ban
đầu là thời kì phân quyền cát cứ, về sau yếu tố trung ương tập quyền mới được thiết lập.
Tuy nhiên, mỗi quốc gia sẽ theo một hình thức cấu trúc nhà nước nhất định, phù
hợp với từng đặc điểm, sự phát triển của đất nước, chế độ chính trị và các yếu tố
khác của từng quốc gia. Hình thức cấu trúc nhà nước là một trong ba yếu tố cấu
thành hình thức nhà nước.
Nhà nước đơn nhất được biểu hiện qua các đặc điểm, cụ thể:
1. Thể hiện sự thống nhất cao của nhà nước, các đơn vị hợp thành chỉ là những
đơn vị hành chính – lãnh thổ không có dấu hiệu chủ quyền quốc gia.
2. Mối quan hệ quyền lực giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa
phương mang tính trực thuộc rõ ràng, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa
phương phục tùng trung ương.
3. Nhà nước và xã hội tổ chức và hoạt động trên cơ sở 1 hiến pháp và 1 hệ
thống pháp luật thống nhất, trong đó các đạo luật chỉ do cơ quan quyền lực tối cao ban hành.
Ngày nay, trong thời đại dân chủ và đổi mới, các nước xã hội chủ nghĩa đều có
xu hướng phát triển tính năng động, sáng tạo cho các chính quyền cơ sở, đại phương
được mở rộng quyền hạn trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: kinh tế, văn hóa, xã hội;
trung ương là bộ phận tập trung chủ yếu giải quyết những vấn đề lướn, những vấn đề
liên ngành, thường mang tính chiến lược, hướng dần tới việc chuyển dần dịch vụ hành
chính cho cá nhân, tổ chức xã hội thực hiện.
2. Cấu trúc nhà nước liên bang:
Do sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, ngày nay
trong các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới không có nhà nước nào có cấu trúc
nhà nước liên bang. Trong quá khứ, Nhà nước liên bang xã hội chủ nghĩa có những đặc điểm sau:
-Nhà nước liên bang xã hội chủ nghĩa được hình thành trên cơ sở của nguyên
tắc tự nguyện, bình đẳng của các quốc gia độc lập có chủ quyền. Bản thân
mỗi nước cộng hoà là những cấu trúc nhà nước hoàn chỉnh, có tổ chức bộ
máy riêng, có hiến pháp và hệ thống pháp luật riêng.
-Trong nhà nước liên bang tồn tại hai hình thức quyền lực nhà nước: chính
quyền liên bang và chính quyền của các nước cộng hoà.
-Các đạo luật của liên bang là cơ sở pháp lý có tính nguyên tắc cho việc ban
hành các đạo luật ở các nước cộng hoà.
-Nhà nước tổ hoạt động trên cơ sở nguyên tắc tập trung – dân chủ.
-Nhà nước liên bang thực hiện chính sách bình đẳng giữa các dân tộc.
-Khi còn tự nguyên đứng trong nhà nước liên bang các nước cộng hoà không
phải là chủ thể độc lập của các quan hệ quốc tế, mặc dù họ vẫn có quyền
tham gia vào các quan hệ quốc tế.
-Các nước cộng hoà có thể ra khỏi nhà nước liên bang để trở thành nhà nước độc lập.
Hình thức cấu trúc nhà nước liên bang là những nhà nước có từ hai hay nhiều
nước thành viên hợp lại. Nhà nước liên bang có hai hệ thống cơ quan quyền lực và
quản lý; một hệ thống chung cho toàn liên bang và một hệ thống trong mỗi nước
thành viên; có chủ quyền quốc gia chung của nhà nước liên bang và đồng thời mỗi
thành viên cũng có chủ quyền riêng về lãnh thổ, văn hóa, dân tộc. Có chính phủ riêng,
có Hiến pháp quy định về cấu trúc, hình thái nhà nước.
Tuy vậy, các thành viên liên bang vẫn bị hạn chế một số chủ quyền nhất định.
Nhà nước liên bang có thể có nhiều Chính phủ, nhiều Hiến pháp, nhiều hệ thống pháp
luật và có thể có nhiều truyền thống pháp luật khác nhau, nhiều quy chế công dân,
nhiều hệ thống cơ quan chính quyền, nhiều hệ thống tòa án và có hiệu lực trên phạm
vi rộng trên toàn lãnh thổ liên bang, mỗi bang thành viên lại có một hệ thống pháp
luật, một bản hiến pháp riêng và chỉ có hiệu lực pháp lý trong phạm vi bang đó. Sự
phân chia quyền lực của nhà nước liên bang và nhà nước thành viên được thể hiện rõ
trong cả ba lĩnh vực: Lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Có thể nhận biết nhà nước liên bang qua các đặc trưng:
-Chỉ có nhà nước liên bang mới có chủ quyền hoàn toàn, mới được đại diện cho
toàn quốc gia, dân tộc để thực hiện chủ quyền quốc gia và mới là chủ thể
độc lập của luật quốc tế. Các nhà nước thành viên phải phụ thuộc vào nhà
nước liên bang; Trong nhà nước liên bang có nhiều hệ thống cơ quan nhà
nước, trong đó một hệ thống là chung cho toàn liên bang, có thẩm quyền tối
cao trên toàn lãnh thổ, mỗi bang thành viên lại có một hệ thống cơ quan nhà
nước có thẩm quyền trong phạm vi bang đó;
-Tính độc lập của các nhà nước thành viên cao hơn so với trong nhà nước liên
bang vì mỗi nhà nước thành viên vẫn là chủ thể độc lập của luật quốc tế.
(Nguồn: https://luathoangphi.vn/hinh-thuc-cau-truc-nha-nuoc/)
II. HÌNH THỨC CẤU TRÚC NHÀ NƯỚC CHXHCNVN QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP.
Hình thức cấu trúc Nhà nước là sự tổ chức Nhà nước theo đơn vị hành chính
lãnh thổ và tính chất quan hệ giữa các bộ phận cấu thành Nhà nước, giữa các cơ
quan Nhà nước trung ương và cơ quan Nhà nước địa phương.
Hình thức cấu trúc Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Nhà
nước đơn nhất, được Hiến pháp 2013 quy định tại điều 1: “Nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.”
Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Nhà nước đơn nhất, có độc
lập, chủ quyền, có một hệ thống pháp luật thống nhất, có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc.
Nhà nước Việt Nam có lãnh thổ thống nhất, không phân chia thành các tiểu
bang hoặc cộng hòa tự trị mà chia thành các đơn vị hành chính trực thuộc. Tương
ứng mỗi đơn vị hành chính là cơ quan hành chính Nhà nước. Các đơn vị hành chính
không có chủ quyền quốc gia và đặc điểm như Nhà nước.
Nhà nước Việt Nam là tổ chức duy nhất trong hệ thống chính trị có chủ quyền
quốc gia, là chủ thể quan hệ quốc tế toàn quyền đối nội, đối ngoại, quyết định mọi
vấn đề của đất nước.
Một hệ thống pháp luật thống nhất với một Hiến pháp, hiệu lực Hiến pháp và
pháp luật trải rộng trên phạm vi toàn quốc. Các cơ quan Nhà nước trong khi thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của mình có quyền ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật trên cơ sở cụ thể hóa Hiến pháp, pháp luật, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật.
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc trên lãnh thổ Việt
Nam. Nhà nước thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, giữ gìn và phát huy
phong tục, tập quán của dân tộc.
Như vậy, cấu trúc nước ta là một thể thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, cùng chung
một thể chế chính trị và đặc biệt là dưới sự quản lý của một một Đảng duy nhất là
Đảng cộng sản Việt Nam. Tất cả những hoạt động trong bất kỳ một lĩnh vực nào
cũng chịu sự điều chỉnh và giám sát của pháp luật, đảm bảo công bằng, văn mình và
vì lợi ích chung của cả cộng đồng dân cư chứ không riêng bất kỳ một tổ chức hay một cá nhân nào.
Sau khi bản “ Tuyên ngôn độc lập” được đọc và phát toàn quốc ngày 2/9/1945,
với niềm vui hân hoan của cả nước, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chính thức
khai sinh ra. Vào ngày 3/9/1945, ngày diễn ra phiên họp đầu tiên của Chính phủ,
Chủ tịch nước Hồ Chí Minh đã quyết định xác lập việc xây dựng một bản Hiến
pháp dân chủ đưa ra 6 nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ.
Hiến pháp là kim chỉ nam xác định những vấn đề cơ bản, quan trọng nhất của
nhà nước và xã hội, thể hiện được ý chí trong giai cấp công nhân và nhân dân lao
động, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tổng kết thành quả của cách mạng, vừa
đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn kế tiếp. Kể
từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay, nước ta đã có 05 bản
Hiến pháp, đó là Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1992
(sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001), Hiến pháp năm 2013. Các bản Hiến pháp
này đều ra đời trong những bối cảnh và ở những thời điểm lịch sử nhất định nhằm
thể chế hóa đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam cho mỗi giai đoạn
phát triển của đất nước. Do đó, chế định về Quốc hội trong các bản Hiến pháp có
những thay đổi khác nhau. Trước những năm 1945, Việt Nam không có hiến pháp,
từ sau khi thành lập nhà nước cộng hòa đầu tiên hiến pháp đầu tiên của nước ta
được ban hành vào ngày 9/11/1946. Khẳng định rõ quan điểm của Đảng và nhà
nước ta; “Nghị viện nhân dân là do cơ quan có quyền lực cao nhất của nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa” (điều 22 Hiến pháp 1946 ).
( Nguồn: https://luatduonggia.vn/hinh-thuc-cau-truc-nha-nuoc-va-bo-may -
nha-nuoc-chxhcn-viet-nam/)
1 . Hiến pháp 1946:
Dù đã nhiều năm trôi qua nhưng tư tưởng vượt thời đại của bản hiến pháp này
vẫn còn được khen ngợi cho đến tận bây giờ. Chế độ dân chủ được hình thành
được gọi là Nhà nước dân chủ nhân dân , khẳng định mạnh mẽ quyền lực thuộc về nhân dân:
- Hiến pháp quy định tất cả công dân từ Bắc đến Nam, không phân biệt giới tí nh,
cấp bậc, giai cấp hay tôn giáo; các quyền tự do dân chủ đều được đảm bảo, các
công dân Việt Nam ngang quyền về mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa và đều
bình đẳng trước pháp luật. Người dân được quyền hưởng các quyền do Hiến pháp
nhưng phải có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiếp pháp và tuân theo pháp luật.
- Nhà nước được tổ chức theo hình thức dân chủ với Quốc hội với tên gọi là Nghị
viện nhân dân là cơ quan đại diện cao nhất, có nhiệm vụ lập pháp, giải quyết vấn
đề mọi vấn đề chung cho toàn quốc và kiểm soát chính phủ.
+ Quyền lập pháp (Điều 23- Nghị viện nhân dân có quyền ban hành pháp luật ) tuy
không quy định Nghị viện nhân dân là cơ quan lập hiến, lập pháp nhưng bản thân
điều 23 của Hiến pháp đã quy định thẩm quyền của Nghị viện nhân dân.
+ Quyền hành pháp (Điều 43- Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc)
+ Quyền tư pháp (Điều 63- Hệ thống toà án nhân dân chuyên xét xử các vụ án hình sự)
+ Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (Điều 22)
Điều này thể hiện r õ được khát vọng độc lập, tự do và sự tham gia của nhân dân
trong quản lý nhà nước và khẳng định được sự tiến bộ so với thực tiễn lịch sử.
2 . Hiến pháp 1959
Trong kỳ họp lần thứ 6, Quốc hội khóa I đã sửa đổi Hiến pháp 1946, bản Hiến
pháp 1959 đã phát huy được tinh thần của bản Hiến pháp đầu tiên. Nhà nước xã hội
chủ nghĩa cũng ra đời từ và được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản: -
Hiến pháp 1959 tiếp nối và khẳng định rõ rằng Quốc hội là “cơ quan quyền
lực nhà nước cao nhất” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và còn coi là “Cơ quan
duy nhất có quyền lập pháp”. 17 quyền hạn trong lĩnh vực khác nhau của đời sống
nhà nước từ việc lập hiến, lập pháp; quyết định các vấn đề quan trọng đến thi hành
Hiếp pháp đều do Quốc hội tham gia vào. Theo Hiến pháp 1959, không còn thiết lập
Nghị trưởng, Phó Nghị. Cơ quan Thường trực của Quốc hội được xác định là Uỷ ban
thường vụ Quốc hội với thành phần gồm: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký
và các Uỷ viên (Điều 51, Hiến pháp năm 1959), Ủy ban thường trực cũng có quyền
hạn rộng hơn với 18 quyền hạn khác nhau. -
Ngoài Uỷ ban thường vụ Quốc hội với tính cách là cơ quan thường trực Quốc
hội, trong tổ chức bộ máy của Quốc hội còn có các Uỷ ban. Theo Điều 57, Hiến pháp
năm 1959, “Quốc hội thành lập Uỷ ban dự án pháp luật, Uỷ ban kế hoạch ngân sách,
và những Uỷ ban khác mà Quốc hội xét thấy cần thiết để giúp Quốc hội và Uỷ ban
thường vụ Quốc hội”. 3. Hiến pháp 1980
Sau chiến thắng vĩ đại của Chiên dịch Hồ Chí Minh mùa xuân 1975 đã mở ra
một giai đoạn mới trong lịch sử. Nước ta hoàn toàn độc lập, tự do chính là điều kiện
thuận lợi để thống nhất hai miền Nam-Bắc, tập trung đưa cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. -
Lần này vai trò của lãnh đạo của Đảng Cộng sản được khẳng định mãnh mẽ
nhất vai trò lãnh đạo. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, vai trò của Đảng
được ghi nhận trong Hiến pháp: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ
tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học
thuyết Mác - Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là
nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.
Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp.” ( điều 4) -
Hai tính chất quan trọng của Quốc hội được khẳng định là “quyền lực nhà
nước cao nhất” và “đại biểu cho nhân dân”. Tính chất đại biểu của nhân dân cho
thấy rằng Quốc hội không chỉ đơn thuần là cơ quan lập pháp, mà còn là cầu nối
giữa nhân dân và nhà nước, thể hiện quyền lực của nhân dân thông qua các đại biểu được bầu cử. -
Quốc hội giữ vị trí tối cao trong cấu trúc bộ máy nhà nước, và từ đó toàn bộ
quyền lực nhà nước tập trung vào Quốc hội. Điều này nhấn mạnh vai trò trung tâm
của Quốc hội trong việc tổ chức và quản lý nhà nước, đồng thời khẳng định rằng
các cơ quan khác đều là phái sinh từ Quốc hội. Bên cạnh đó Quốc hội còn được quy
định có quyền “giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”, đồng
thời hạn chế sự tự do của các tổ chức cá nhân trong xã hội. 4. Hiến pháp 1992
Nhận thấy nhiều quy định không còn phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của
đất nước, đòi hỏi một bản hiến pháp phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu mới và thúc
đẩy sự tiến bộ của xã hội và xây dựng cuộc sống đầy đủ cho Nhân dân. Dưới sự
lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam,
Quốc hội khóa VIII, kì họp thứ XI đã biểu quyết nhất trí thông qua Hiến pháp 1992.
Đây được coi là san rphaamr trí tuệ của toàn dân, thể hiện ý chí và nguyện vọng của
nhân dân, đồng thời thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng, đánh dấu sự chuyển
mình của Việt Nam trong quá trình phát triển. -
Nhà nước vẫn khẳng định là Nhà nước chuyên chính vô sản, với mọi quyền
lực thuộc về tay Nhân dân, Nhân dân sử dụng quyền lực thông qua Quốc hội và Hội
đồng Nhân dân chịu trách nhiệm trước toàn dân. -
Quốc hội vẫn giữ những quyền hạn tối cao và tiếp tục phục vụ nhân dân, tiếp
tục khẳng định vai trò lãnh đạo của nhà nước, xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bên cạnh những chức năng và thẩm quyền vẫn được kế thừa, Quốc hội trong Hiến
pháp nắm 1992 có sự đổi mới quan trọng trên phương diện tổ chức. -
Điều đáng chú ý là Hiến pháp 1992 khôi phục lại Ủy ban Thường vụ Quốc
hội với quy định rằng thành viên của Ủy ban không thể đồng thời là thành viên
Chính phủ, tạo sự phân công rõ ràng giữa các quyền lập pháp và hành pháp. Điều
này tạo sự phân công rành mạch giữa các nhánh quyền lực, đảm bảo tính độc lập và
giám sát lẫn nhau. Các chức vụ như Chủ tịch và Phó Chủ tịch Quốc hội vẫn được
duy trì nhưng vai trò của Chủ tịch Quốc hội đã có sự thay đổi lớn, không còn chỉ
mang tính chính hành chính mà còn được nâng cao mang tính chất quyền lực. Điều
88 quy định rõ: “ Chủ tịch Quốc hội là người đúng đầu Quốc hội, thay mặt Quốc
hội ký các nghị quyết của Quốc hội”. -
Quốc hội bầu ra Hội đồng dân tộc nhưng đã không còn quy định về Hội
đồng Quốc phòng như Hiến pháp 1980. Các Ủy ban của Quốc hội không được xem
là cơ quan thường trực nữa mà thay vào đó là mỗi Ủy ban có một số thành viên làm
việc theo chế độ chuyên trách, thể hiện sự chuyên nghiệp của đại biểu, giúp nâng
cao hiệu quả hoạt động và tính chuyên nghiệp trong quản lý. Cấu trúc giừo nước
giờ đây được hương theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đảm bảo được mọi sự kiện
của bộ máy nhà nước đều hướng đến lợi ích của công dân và được thực hiện trong
khuân khổ pháp luật, quy định tại điều 8.
Hiến pháp 1992 không phân rõ ràng quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp
theo thuyết “Tam quyền phân lập” mà thay vào đó là quy định có sự phân công và
phân nhiệm rõ ràng giữa Quốc hội, Chính phủ và Tòa án. Thiếp lập một hệ thống
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tập trung vào tầm quan trọng của thực thi
quyền lực nhà nước và đại diện cho nhân dân. 5. Hiến pháp 2013
Sau 20 năm thực hiện Hiến pháp 1992, đất nước ta đã đạt được những thành
tựu và trái ngọt đáng kể mang đến ý nghĩa lịch sử. Nhận thấy đất nước có sự thay
đổi to lớn và phứ tạp, ngày 28/11/2013, tại kỳ họp thứ VI, Quốc hội khóa XII đã
thống qua bản Hiến pháp 2013. Là bản hiến pháp phản ánh được ý chí, nguyện
vọng củ Nhân dân, đảm bảo quyền lợi vững chắc cho dân tộc ta, kế tưhaf được đủ
các giá trị to lớn của các bản hiến pháp trước đó.
Xác định Việt Nam là một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, với vai trò
của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội,với vai trò của pháp luật
trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.Quốc hội có định hình rõ hơn về vị trí,
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Nhận thấy được điểm yếu của mình như sau:
(1)Quyền lực và vai trò bị hạn chế, mặc dù hiến pháp đã nhận định Quốc hội là cơ
quan nhà nước cao nhất nhưng vẫn bị hạn chế bởi sự ảnh ảnh hưởng to lớn từ Đảng
Cộng sản Việt Nam, làm mất đi sự độc lập trong giám sát. (2)
Khó khăn trong việc giám sát hành pháp, mặc dù nămc trong tay chức năng
giám sát hoạt động của Chính phủ, nhưng trong thực tế chức năng này cũng bị hạn
chế do sự thiếu hụt thông tin và ảnh hưởng của các yếu tố chính trị làm giảm đi hiệu quả của việc này. (3)
Với số lượng đông đảo của đại biểu nhưng chất lượng vẫn còn ở mức thấp,
không có đủ trình độ chuyện môn hay là kinh nghiệm cần thiết để thực hiện vai trò
của mình, hậu quả dẫn đến không xem xét được kỹ lưỡng các sự việc. (4)
Những buổi họp có thời gian không đủ để bàn luận kéo theo châts lượng
cuộc họp giảm, không đủ để thảo luận đầy đủ, cặn kẽ vấn đề đưa ra. (5)
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nắm giữ quyền lực lớn trong việc điều hành các
hoạt động của Quốc hội. Tuy nhiên, sự tập trung quyền lực vào Uỷ ban này có thể
dẫn đến tính minh bạch không được đảm bảo và khó khăn trong việc kiểm soát quyền lực.
Qua những khuyết điểm được nhìn nhận rõ, Quốc hội đã có những sửa đổi để
đem đến những lợi ích tốt nhất cho xã hội và nhân dân: (1)
Hiến pháp 2013 cũng quy định bổ sung theo hướng đầy đủ, chặt chẽ hơn về
thẩm quyền của Quốc hội không chỉ giới hạn ở việc thành lập, giải thể đơn vị hành
chính - kinh tế đặc biệt, mà còn bổ sung cả việc nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành
chính của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; bổ sung quy định việc Quốc hội có
thẩm quyền thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật (điểm 9 Điều 70). (2)
quy định theo hướng rõ và hợp lý hơn về trách nhiệm, thẩm quyền của Quốc
hội trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Quốc hội có thẩm
quyền “quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước” (điểm 3 Điều 70) thay thế cho việc quy định thẩm quyền
chung về “quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” như tại
điểm 3 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001). (3)
tiếp tục quy định thẩm quyền của Quốc hội trong việc quyết định chính sách
cơ bản về đối ngoại, đã có sự điều chỉnh cụ thể, hợp lý hơn. Sự minh định này là
cần thiết, là nền tảng hiến định cho việc tạo lập hành lang pháp lý theo hướng chuẩn
mực, hoàn thiện hơn cho việc bảo đảm, thực thi chủ quyền quốc gia, thực thi chính
sách đối ngoại... trong thời gian tới. (4)
một số thẩm quyền của UBTVQH liên quan đến việc bổ sung cơ quan Hội
đồng Bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước (Chương X), việc bổ sung nội dung cơ
quan khác do Quốc hội thành lập, bãi bỏ (Điều 70) Hiến pháp 2013 cũng đã được
quy định, như việc giám sát hoạt động của cơ quan khác do Quốc hội thành lập
(điểm 3 Điều 74); đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng
Bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán Nhà nước (điểm 6 Điều 74)...
Cấu trúc nhà nước trong Hiến pháp 2013 thể hiện sự phát triển của tư duy về
quản lý nhà nước, với việc nhấn mạnh quyền lực thuộc về nhân dân, vai trò của
Quốc hội, Chính phủ, và các cơ quan tư pháp. Mặc dù vẫn còn tồn tại một số hạn
chế, Hiến pháp 2013 đã tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xây dựng và phát
triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
(Nguồn: https://vksnd.gialai.gov.vn/Tuyen-truyen-ve-Cuoc-bau-cu-Dai-bieu-
Quochoi-HDND-cac-cap/Quoc-hoi-Viet-Nam-qua-cac-ban-Hien-phap- 1388.html) 2