TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
-------- --------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG
BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM HIỆN TẠI
Nhóm: Nhóm 11
Lớp học phần: 2326EFIN2811
Người hướng dẫn:
Hà Nội, tháng 4 năm 2023
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU…………………………..……….......……….…............….1
PHẦN NỘI DUNG……………………......………………......…….………..3
CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN…………………………………......………………….......…..3
1.1. Phạm trù lý luận và thực tiễn…………......…...………………......…...3
1.1.1. Phạm trù thực tiễn…………………..…………………………......…3
1.1.2. Phạm trù lý luận………………….……………….…………….....…4
1.2. Những nguyên tắc cơ bản của sự thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn.............................................................................................................…5
1.2.1. Thực tiễn s*, đô .ng lực, m/c đ0ch tiêu chu1n của luận,
luận
hình thành và phát triển từ sản xuất, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.............5
1.2.2. Thực tiễn phải được chỉ đạo b*i lý luận; ngược lại, lý luận phải được
vận d/ng vào thực tiễn, tiếp t/c bổ sung và phát triển trong thực tiễn..........6
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận..................................................................…7
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM
TRONG THỜI KÌ HIỆN NAY……………...................……………..…...9
2.1. T0ch cực……………………………………..............…………..……..9
2.2. Hạn chế………………………………………................……..…..….10
2.3. Nguyên nhân..……..…….......….……………..............………..…….12
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT
……………..........………….….15
3.1. Vận d/ng mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình
học tập của sinh viên………………………………..........…....……….….15
3.2. Giải pháp để nâng cao thành t0ch của sinh viên……....….…..........….16
PHẦN KẾT LUẬN……………....………………………......………………19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………..........…………….20
2
PHẦN MỞ ĐẦU
Từ xa xưa trong cuộc sống cũng như trong sản xuất con người luôn nguy
cơ gặp phải những rủi ro vì những nguyên nhân khác nhau như bão l/t, hạn hán,
tai nạn, ốm đau, bệnh tật…ảnh hư*ng rất nhiều đến đời sống, sản xuất, sức khỏe
của con người. vậy, ngay từ sớm con người đã tìm cách bảo vệ ch0nh bản
thân và tài sản của mình trước những rủi ro trong cuộc sống cũng như trong sản
xuất. Tuy nhiên hình thức vẫn còn đơn giản nhiều hạn chế, dần dần con
người ngày càng khắc ph/c được những nhược điểm và cho ra hình thức mới đó
ch0nh là bảo hiểm.
Trong thời đại hiện nay, việc mua bảo hiểm đang dần tr* thành một nhu cầu
thiết yếu đối với mỗi người dân, đặc biệt trong bối cảnh đời sống hội
kinh tế ngày càng phát triển. Mặc phải đối mặt với những thách thức như
xung đột quốc gia và đại dịch toàn cầu, thị trường bảo hiểm tại Việt Nam đã cho
thấy sự tăng trư*ng t0ch cực trong những năm gần đây. Tuy nhiên, vẫn còn tồn
tại một vài thử thách khó khăn khiến cho thị trường bảo hiểm * Việt Nam
vẫn chưa phát triển mạnh mẽ như mong đợi, cùng với nhu cầu bảo hiểm của
người dân doanh nghiệp càng càng tăng cao, Việt Nam cần phải đưa ra
những giải pháp nhanh chóng để đáp ứng đầy đủ và hiệu quả nhu cầu này.
vậy, để tìm hiểu hơn về thị trường bảo hiểm cũng như đánh giá được về
thực trạng của thị trường bảo hiểm Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp hợp
và hiệu quả để nâng cao chất lượng và t0nh bền vững của thị trường bảo hiểm
trong tương lai, nhóm chúng em đã chọn đề tài “Đánh giá về thực trạng của thị
trường bảo hiểm * Việt Nam”
Trong quá trình làm bài thảo luận trên lớp, chắc chắn không tránh khỏi
thiếu sót, nhóm em rất mong nhận được sự góp ý của cô giáo và các bạn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
1
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM VÀ THỊ TRƯỜNG BẢO
HIỂM THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về bảo hiểm
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, bản chất của bảo hiểm
rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm. Các định nghĩa thường
thiên về góc độ xã hội, kinh tế, kĩ thuật,… tuy nhiên chưa phải là một khái niệm
bao quát, hoàn chỉnh. Tập đoàn bảo hiểm AIG (Mỹ) định nghĩa:
“Bảo hiểm một chế, theo chế này, một người, một doanh nghiệp
hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi
thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm phân
chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm”.
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (Ban hành ngày
09/12/2000) :
“Kinh doanh bảo hiểm hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm
mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người
được bảo hiểm, trên sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh
nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho
người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm."
Như vậy, để một khái niệm chung nhất về bảo hiểm, chúng ta thể
đưa ra định nghĩa: “Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm
với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do
một rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo
hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là ph0 bảo hiểm”.
2
* Đặc điểm: Bảo hiểmviệc bảo đảm bằng hợp đồng, theo đó, bên bảo
hiểm sẽ chỉ trả tiền hoặc bổi thường vật chất khi xảy ra sự kiện do các bên thoả
thuận hoặc do pháp luật quy định trênsở người tham gia bảo hiểm đóng phí
bảo hiểm. Việc trả tiền hoặc bồi thường được thể hiện bằng một hợp đồng giữa
tổ chức bảo hiểm và người bảo hiểm.
Bảo hiểm đóng vai trò là một phương thức lập quỹ tiền tệ (quỹ bảo hiểm)
để bù đắp những thiệt hại do rủi ro (Thiên tai, tai nạn...) hoặc do các sự kiện liên
quan đến đời sống con người (Sự kiện chết, ốm đau...).
Hình thức khai của bảo hiểm mang t0nh cộng đồng lập quỹ tương
trợ. Quỹ này do những người quan hệ nghề nghiệp lập ra để,giúp đỡ thành
viên gặp rủi ro. Hơn 4.000 năm trước Công nguyên, các thợ đá * Ai Cập, các
thương nhân đ Trung Quốc đã biết liên kết cộng đồng để bảo hiểm thông qua
việc lập các quỹ tương trợ. Hình thức bảo hiểm nhằm m/c đ0ch thương mại đầu
tiên xuất hiện * Babylon vào khoảng 1.700 năm trước Công nguyên.
Khác với phương thức tổ chức hoạt động của các quỹ tương trợ, bảo
hiểm nhằm m/c đ0ch thương mại, do các tổ chức chuyên nghiệp thực hiện. Cùng
với sự ra đời của các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp, phương thức thuật
thực hiện kinh doanh bảo hiểm cũng ngày càng phát triển.
- Bảo hiểm vừa mang tính chất bồi hoàn, vừa mang tính chất không bồi
hoàn.
Sự ra đời phát triển của chủ nghĩa bản đã thúc đ1y kinh doanh bảo
hiểm tr* thành ngành kinh doanh dịch v/ với nhiều loại hình bảo hiểm (có tới
100 được chia thành ba loại lớn: bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản, bảo
hiểm trách nhiệm) mang lại lợi nhuận khổng lồ cho các nhà bản. Trong
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện nguyên
tắc nhà nước độc quyền kinh doanh bảo hiểm nên hoạt động bảo hiểm mang t0nh
thương mại gọi bảo hiểm nhà nước. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhà
nước cho phép các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh kinh doanh bảo hiểm,
do đó, hoạt động kinh doanh bảo hiểm không thuần tuý mang t0nh nhà nước như
3
trước. Hợp đồng bảo hiểm được k0 kết giữa bên bảo hiểm và người tham gia bảo
hiểm. Bên bảo hiểm là bên nhận ph0 bảo hiểm và có trách nhiệm chỉ trả tiền bảo
hiểm hoặc đền bù vật chất bị tổn thất khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
* Bản chất
Bằng sự đóng góp của số đông người vào một quĩ chung, khi rủi ro,
quĩ sẽ đủ khả năng trang trải đắp cho những tổn thất của số 0t. Mỗi
nhân hay đơn vị chỉ cần đóng góp một khoản tiền tr0ch từ thu nhập cho các công
ty bảo hiểm. Khi tham gia một nghiệp v/ bảo hiểm nào đó, nếu gặp tổn thất do
rủi ro được bảo hiểm gây ra, người được bảo hiểm sẽ được bồi thường. Khoản
tiền bồi thường này được lấy từ số ph0 mà tất cả những người tham gia bảo hiểm
đã nộp. Tất nhiên, chỉ một số người tham gia bảo hiểm gặp tổn thất, còn
những người không gặp tổn thất sẽ mất không số ph0 bảo hiểm. Như vậy, có thể
thấy, thực chất của bảo hiểm việc phân chia tổn thất của một hoặc một số
người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu. Do đó, một nghiệp
v/ bảo hiểm muốn tiến hành được phải nhiều người tham gia, tức là, bảo
hiểm chỉ hoạt động được trên s* luật số đông, càng nhiều người tham gia thì
xác suất xảy ra rủi ro đối với mỗi người càng nhỏ và bảo hiểm càng có lãi.
Với hình thức số đông bù cho số 0t người bị thiệt hại, tổ chức bảo hiểm sẽ
giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế của từng cá nhân hay đơn vị khi gặp rủi ro, tiết
kiệm được nguồn chi cho ngân sách nhà nước. Như vậy, thực chất mối quan hệ
trong hoạt động bảo hiểm không chỉ mối quan hệ giữa người bảo hiểm
người được bảo hiểm, suy rộng ra, tổng thể các mối quan hệ giữa
những người được bảo hiểm trong cộng đồng xoay quanh việc hình thành s
d/ng quĩ bảo hiểm. Quĩ bảo hiểm được tạo lập thông qua việc huy động ph0 bảo
hiểm, số người tham gia càng đông thì quĩ càng lớn. Quĩ được sử d/ng trước hết
chủ yếu để đắp những tổn thất cho người được bảo hiểm, không làm
ảnh hư*ng đến sự liên t/c của đời sống hội hoạt động sản xuất - kinh
doanh trong nền kinh tế. Ngoài ra, quĩ còn được dùng để trang trải chi ph0, tạo
nên nguồn vốn đầu cho hội. Bảo hiểm thực chất hệ thống các quan hệ
4
kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại tổng sản ph1m hội dưới hình
thái giá trị, nhằm hình thành sử d/ng quĩ bảo hiểm cho m/c đ0ch đắp tổn
thất do rủi ro bất ngờ xảy ra với người được bảo hiểm, đảm bảo quá trình tái sản
xuất được thường xuyên, liên t/c.
1.1.2. Các hình thức của bảo hiểm
a. Căn cứ vào phương thức xử lý rủi ro
Tự bảo hiểm: hình thức bảo hiểm các tổ chức, nhân thành lập
các quỹ riêng để đắp các tổn thất thể xảy ra đối với quá trình sản xuất
đời sống. Việc tự bảo hiểm thường được thực hiện khi họ đủ khả năng về tài
ch0nh.
Bảo hiểm thông qua các tổ chức bảo hiểm: hình thức bảo hiểm
người tham gia sẽ chuyển giao, phân tán rủi ro cho các tổ chức bảo hiểm thông
qua việc tr0ch nộp một phần thu nhập của mình cho các tổ chức bảo hiểm dưới
dạng ph0 bảo hiểm. Các tổ chức bảo hiểm hoạt động chuyên nghiệp trong phân
t0ch rủi ro, ước lượng mức độ rủi ro phân tán rủi ro đồng thời họ trách
nhiệm trong việc bảo toàn tăng trư*ng quỹ. Hình thức bảo hiểm này được
xem là hình thức bảo hiểm hoạt động có hiệu quả trên mọi phương diện của nền
kinh tế.
b. Căn cứ vào mục đích hoạt động
Bảo hiểm m/c đ0ch kinh doanh: hình thức chủ thể tiến hành
nhằm m/c tiêu lợi nhuận. thể chia loại bảo hiểm này thành 3 loại bảo hiểm
khác như: Bảo hiểm kinh doanh, bảo hiểm thương mại hay bảo hiểm rủi ro.
Người bảo hiểm tìm kiếm lợi 0ch kinh tế trên s* thu ph0 bảo hiểm khi xảy ra
sự kiện thông qua hợp đồng bảo hiểm.
Bảo hiểm không m/c đ0ch kinh doanh: hình thức bảo hiểm do chủ
thể tiến hành không nhằm m/c đ0ch lợi nhuận, chỉ nhằm tương trợ giữa các
thành viên tham gia. Bên cạnh đó quỹ tài ch0nh cũng không m/c tiêu lợi
nhuận mà ph/c v/ cho ch0nh sách xã hội.
5
1.2. Khái quát về thị trường bảo hiểm thương mại
1.2.1. Khái niệm bảo hiểm thương mại
Bảo hiểm thương mại (Hay còn gọi là bảo hiểm kinh doanh hay bảo hiểm
rủi ro) là hình thức bảo hiểm do các tổ chức kinh doanh bảo hiểm tiến hành trên
cơ s* huy động sự đóng góp của các chủ thể để tạo nên quỹ bảo hiểm, phân phối
sử d/ng chúng để trả tiền bảo hiểm, bồi thường những tổn thất do các đối
tượng được bảo hiểm khi các rủi ro được bảo hiểm xảy ra.
1.2.2. Phân loại bảo hiểm thương mại
a. Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm
- Bảo hiểm tài sản: một loại bảo hiểm thuộc nhóm bảo hiểm phi nhân
thọ, đã được quy định c/ thể tại Điều 7 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000.
Theo đó, ph0a công ty bảo hiểm sẽ tiến hành thu ph0 bảo hiểm của bên mua bảo
hiểm và cam kết bồi thường cho bên được bảo hiểm khi tài sản bảo hiểm gặp rủi
ro trong phạm vi bảo hiểm dẫn đến tổn thất.
Đối tượng bảo hiểm tài sản bao gồm: Vật thực, tiền, các giấy tờ trị
giá được bằng tiền và các quyền về tài sản.
Bảo hiểm con người: Hay còn gọi bảo hiểm thân thể loại bảo hiểm
tương đối giống với bảo hiểm nhân thọ. Mang cùng m/c đ0ch bảo vệ người
sử d/ng loại bảo hiểm này trước những tai nạn hay bệnh tật bất ngờ, họ
không lường trước. Đặc biệt loại bảo hiểm này chuyên dành cho người lao động
* các nhà máy, x0 nghiệp. Ngoài ra, nhân viên văn phòng, học sinh, sinh viên,
giáo viên cũng được khuyến kh0ch tham gia để đề phòng những vấn đề bất trắc
về thân thể, sức khỏe.
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Được định nghĩa loại hình bảo hiểm
cho trách nhiệm dân sự của nhân hoặc tổ chức đối với bên thứ ba khi xảy ra
rủi ro. Trong đó, đối tượng của hợp đồng bảo hiểm sẽ là trách nhiệm dân sự của
người được bảo hiểm với người thứ ba.
b. Căn cứ vào tính chất hoạt động
6
Bảo hiểm bắt buộc: Khoản 2 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 định
nghĩa " Bảo hiểm hội bắt buộc loại hình bảo hiểm hội do Nhà nước tổ
chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia."
Sự xuất hiện của bảo hiểm bắt buộc là một tất yếu khách quan khi mà mọi
thành viên trong hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống bảo
hiểm. Từ kh0a cạnh kinh tế thì tham gia bảo hiểm bắt buộc và được bảo hiểm bắt
buộc sự phản ánh một quy luật t0nh khách quan: quy luật cung - cầu.
vậy, bảo hiểm bắt buộc đã tr* thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động và
được thừa nhận một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi
của con người như trong Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp
quốc đã nêu.
Bảo hiểm tự nguyện: loại hình bảo hiểm hội do Nhà nước tổ chức
mà người tham gia bảo hiểm được quyền lựa chọn mức đóng, phương thức đóng
phù hợp với tài ch0nh của mình.
Căn cứ theo Khoản 4, Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 ban
hành ngày 20/11/2014 quy định công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi tr* lên, không
nằm trong nhóm đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đều thể tham gia
BHXH tự nguyện. Và khi nào cần tham gia BHXH tự nguyện thì người lao động
căn cứ theo đúng quy định nêu trên xem mình thuộc nhóm đối tượng nào để
thể đóng BHXH.
1.2.3. Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm thương mại
- Nguyên tắc sàng lọc rủi ro
Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, không phải bất cứ rủi ro nào cũng có
thể chấp nhận sẽ liên quan đến số tiền doanh nghiệp phải chi trả trong
tơng lai. Do đó, các doanh nghiệp bảo hiểm cố gắng sàng lọc rủi ro trầm trọngvà
những phơng thức tập hợp thông tin để tránh nhầm lẫn trong tiếp nhận bảo
hiểm.
- Nguyên tắc định ph0 bảo hiểm phải trên cơ s* “giá” của các rủi ro
7
Dựa trên giá của các rủi ro để định ph0 bảo hiểm mới bảo đảm đợc sựcông
bằng đối với ngời tham gia bảo hiểm. Với những rủi ro xác xuất xảy ra lớn,
thiệt hại nhiều thì ngời tham gia bảo hiểm phải trả ph0 cao và ngợc lại.
- Nguyên tắc đảm bảo an toàn
Tổ chức bảo hiểm luôn con nợ đối với người tham gia bảo hiểm, cho
nên vấn đề an toàn tài ch0nh luôn đặt lên hàng đầu. Do đó người quản bảo
hiểm phải thận trọng như đánh giá rủi ro hoặc điều kiện chấp nhận bảo hiểm,…
Mặt khác trong hoạt động đầu tư, bảo hiểm thương mại cũng được các tổ chức
quan tâm nhằm bảo toàn phát triển quỹ bảo hiểm đảm bảo khả năng chi trả
trong tương lại.
- Nguyên tắc số đông bù số 0t
Hoạt động của bảo hiểm thương mại đều dựa theo nguyên tắc số đông
số 0t. Nguyên tắc số đông bù số 0t trong bảo hiểm được hiểu là: Trong cộng đồng
thì nhiều người cùng rủi ro sẽ cùng nhau đóng góp vào quỹ dự phòng tài
ch0nh do doanh nghiệp bảo hiểm quản nhằm chia sẻ hỗ trợ tài ch0nh cho
những người không may mắn trong số đó. Khoản hỗ trợ kịp thời sẽ giúp những
người không may khắc ph/c sự cố, giảm tối đa tổn thất sớm ổn định cuộc
sống.
8
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Quá trình hình thành và phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam.
2.1.1. Khái quát sự phát triển của ngành bảo hiểm trên thế giới.
Trên thế giới, ngành bảo hiểm đã được hình thành từ rất lâu phát triển
một cách mạnh mẽ, thịnh vượng. Trước Công Nguyên, * Ai Cập, những người
thợ đẽo đá đã biết thành lập “quỹ tương trợ” để giúp đỡ nạn nhân trong các v/
tai nạn. Từ đó, các hoạt động mang t0nh chất của bảo hiểm phát triển dần theo sự
phát triển của xã hội loài người và bắt đầu bằng hình thức các quỹ dự trữ, tương
trợ đơn giản. Vào thế kỷ XIV, * Floren, Genoa nước Ý, đã xuất hiện các hợp
đồng bảo hiểm hàng hải đầu tiên theo đó người bảo hiểm cam kết với người
được bảo hiểm sẽ bồi thường thiệt hại về tài sản người được bảo hiểm phải
chịu khi thiệt hại xảy ra trên biển, được nhận một khoản ph0. Bảo hiểm
hàng hải được coi lịch sử phát triển sớm nhất trong các ngành bảo hiểm
còn tồn tại đến ngày nay, và nó đã đặt nền móng cho sự phát triển của ngành bảo
hiểm sau này. Sau bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm hỏa hoạn ra đời lĩnh vực
hoạt động chủ yếu của các công ty bảo hiểm trong thời kỳ đầu. Vào thế kỷ
XVII, * Châu Âu, nhà cửa chủ yếu được xây bằng gỗ, còn lửa được dùng nhiều
để sư*i ấm, chiếu sáng… Do vậy, rủi ro cháy là rất cao. Ch0nh vì vậy, sự ra đời
của các công ty bảo hiểm cung cấp các dịch v/ chữa cháy bồi thường thiệt
hại cho người được bảo hiểm khi xảy ra cháy. Ngoài ra, vào năm 100 trước
Công Nguyên, một hình thức khai của bảo hiểm nhân thọ đã hình thành. Họ
lập ra “quỹ tử tuất” nhằm hỗ trợ binh sĩ hi sinh trong chiến trận. Nhưng rồi hình
thức bảo hiểm này lại bị lãng quên. Ngày nay, tại các nước phát triển, tỉ lệ tham
gia bảo hiểm ngày càng tăng đạt trên 90% góp phần rất lớn vào đảm bảo an ninh
xã hội.
2.1.2. Nguồn gốc và lịch sử hình thành bảo hiểm ở Việt Nam.
9
nước ta, ngành bảo hiểm mới thực sự phát triển cách đây khoảng 10
năm về trước khi vị thế độc quyền kinh doanh bảo hiểm được xóa bỏ theo
nghị định 100 CP theo ch0nh phủ ban hành ngày 18/12/1993. Từ đó, ngành bảo
hiểm đã những bước tiến đáng kể nếu như được phát triển theo đúng
hướng thì bảo hiểm sẽ góp phần t0ch cực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước trong thế kỷ mới. Ngành bảo hiểm * Việt Nam ra đời tương đối
muộn so với sự phát triển chung của ngành bảo hiểm trên thế giới nhiều điều
kiện chủ quan lẫn khách quan tác động. Tuy nhiên, hiện nay, ngành bảo hiểm *
nước ta đang dần dần bắt kịp với xu thế phát triển chung của bảo hiểm trong khu
vực lẫn quốc tế ngày càng chứng tỏ vai trò không thể thiếu của mình đối với
nền kinh tế. Chúng ta thể dễ dàng nhận thấy điều này khi tìm hiểu về quá
trình phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam từ ngày đầu đến nay.
* Từ trước những năm 1986
Hoạt động bảo hiểm * nước ta 0t nhiều cũng đã những bước phát triển
ngay từ thời thực dân Pháp. Cho tới khi miền Bắc được giải phóng, đất nước bị
chia cắt, hoạt động kinh doanh bảo hiểm * miền Nam khá phát triển dưới chế độ
Ng/y quyền.
+ Miền Nam trước năm 1975
thời kỳ này hơn 52 công ty trong ngoài nước đã triển khai các
loại hình nghiệp v/ khá đa dạng như bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm chuyên ch*,
bảo hiểm xe tự động, bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tai nạn lao động… Các
công ty hoạt động khá mạnh mẽ, đáp ứng được phần nào nhu cầu về bảo hiểm
trên toàn thị trường miền Nam. Các công ty bảo hiểm trong nước thường được
thành lập dưới dạng Hội danh Hội tương hỗ. Các công ty nước ngoài
thành lập * Việt Nam dưới hình thức công ty chi nhánh. Hầu hết các công ty đều
đặt tr/ s* ch0nh * Sài Gòn. Mạng lưới trung gian bảo hiểm là môi giớiđại lý
bảo hiểm được sử d/ng phổ biến để kinh doanh bảo hiểm trên phạm vi toàn
miền Nam. Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được trôi chảy, cạnh tranh
lành mạnh, các công ty bảo hiểm đã sớm thành lập hiệp hội nghề nghiệp bảo
10
hiểm của mình. Hiệp hội có chức năng thông tin tư vấn, đào tạo, tạo ra một môi
trường hợp tác. Việc quản nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm được thực
hiện thông qua Bộ Tài ch0nh. Các văn bản pháp luật điều chỉnh như Luật bảo
hiểm cũng sớm ra đời. Ngoài ra, Hội đồng vấn bảo hiểm quốc gia cũng đóng
vai trò khá quan trọng.
+ Miền Bắc trước năm 1975
Hoạt động bảo hiểm chỉ thực sự được bắt đầu khi sự ra đời của Bảo
Việt. Để đáp ứng nhu cầu về bảo hiểm trong hoạt động ngoại thương, ngày
17/12/1964, Thủ tướng Ch0nh phủ đã ra quyết định thành lập Công ty Bảo hiểm
Việt Nam, gọi tắt là Bảo Việt. Đến ngày 15/01/1965, Bảo Việt ch0nh thức đi vào
hoạt động. Đây cũng là công ty bảo hiểm Nhà nước duy nhất đại diện cho ngành
bảo hiểm Việt Nam. Từ ngày thành lập cho đến trước năm 1975, do những điều
kiện khó khăn của chiến tranh, hoạt động của Bảo Việt * miền Bắc chưa phát
triển. Lúc bấy giờ, Bảo Việt chỉ tr/ s* * Nội chi nhánh * Hải Phòng
thực hiện chủ yếu 3 nghiệp v/: bảo hiểm hàng hóa xuất nhập kh1u, bảo hiểm
thân tàu tái bảo hiểm. Tỉ lệ tái bảo hiểm cho Trung Quốc, Bắc Triều Tiên
Ba Lan lúc đó cũng tương đối cao.
+ Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng
Cũng như tất cả các ngành kinh tế khác, các công ty bảo hiểm của
miền Nam được tiến hành quốc hữu hoá. Công ty Bảo hiểm Tái bảo hiểm
Việt Nam được thành lập để thực hiện tiếp trách nhiệm của các công ty đối
với những người được bảo hiểm muốn tiếp t/c hợp đồng. Đối với các công ty
bảo hiểm nước ngoài, công ty trách nhiệm thanh toán đòi nợ theo đúng
hợp đồng. Năm 1976, khi hoàn toàn thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, công
ty được chuyển thành chi nhánh của công ty bảo hiểm Việt Nam tại thành phố
Hồ Ch0 Minh. Thời kỳ này, Bảo Việt công ty duy nhất hoạt động kinh doanh
bảo hiểm * Việt Nam theo chế độ hạch toán kế toán kinh tế thống nhất toàn
ngành. Công ty trực thuộc Bộ Tài ch0nh, chức năng giúp Bộ Tài ch0nh thống
nhất quản công tác bảo hiểm Nhà nước trực tiếp tiến hành nghiệp v/ bảo
11
hiểm trong cả nước. Trong giai đoạn này, * Việt Nam, Bảo Việt độc quyền kinh
doanh bảo hiểm nên các sản ph1m của Bảo Việt chưa đa dạng, chủ yếu thực
hiện các nghiệp v/ bảo hiểm phi nhân thọ với khoảng 20 sản ph1m bảo hiểm.
Có thể nói, thời gian này, hoạt động bảo hiểm * nước ta vẫn chưa phát triển.
* Từ năm 1986 đến nay
Năm 1986 năm đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp phát triển
kinh tế của nước ta. Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI
diễn ra vào năm này đã đưa ra ch0nh sách đổi mới, tạo thuận lợi cho các thành
phần kinh tế tham gia kinh doanh theo các quy định của pháp luật. Đồng thời,
Việt Nam cũng đã tiến hành m* cửa nền kinh tế, thu hút đầu từ nhiều quốc
gia, khu vực. Hoạt động sản xuất kinh doanh từng bước phát triển, đời sống
nhân dân được nâng cao đòi hỏi ngành bảo hiểm cũng phải đổi mới để đáp ứng
nhu cầu, th0ch hợp với hoàn cảnh mới. Sự xuất hiện của các công ty bảo hiểm
mới, công ty liên doanh, công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài… sẽ có
ý nghĩa rất lớn đối với quá trình phát triển bảo hiểm * nước ta.
Ngày 18/12/1993, nghị định 100 CP về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã
được Ch0nh phủ ban hành, m* ra bước phát triển mới cho ngành bảo hiểm Việt
Nam. Nó phá vỡ thế độc quyền đang tồn tại, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ
chức bảo hiểm với nhiều hình thức khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế.
Mặc vậy, phải từ sau năm 1995, một loạt các công ty kinh doanh bảo hiểm
mới ra đời: Bảo Minh, VINARE, PVI, PJICO… các công ty liên doanh bảo
hiểm như: UIC, VIA,… Ngoài ra, với khoảng 40 văn phòng đại diện của các
công ty bảo hiểm nước ngoài và hơn 70.000 đại lý bảo hiểm thị trường bảo hiểm
Việt Nam đang phát triển ngày một sôi động.
Việc m* cửa thị trường bảo hiểm cùng với sự xuất hiện của các công ty
mới đã tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm phát triển mạnh mẽ trong một môi
trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Các công ty liên t/c hoàn thiện những
sản ph1m cũ, đồng thời nghiên cứu giới thiệu những loại hình nghiệp v/ bảo
hiểm mới đa dạng hấp dẫn hơn. Người tham gia bảo hiểm thể tự do lựa
12
chọn người bảo hiểm, loại hình dịch v/ bảo hiểm với mức ph0 cạnh tranh nhất.
Trong tương lai, nhu cầu bảo hiểm sẽ ngày càng đa dạng hơn và số lượng, chủng
loại sản ph1m chắc chắn s còn được rộng m*. Không chỉ vậy, để nâng cao
t0nh cạnh tranh, công tác chăm sóc khách hàng cũng ngày càng được chú trọng.
Bảo hiểm Việt Nam được đánh giá một trong những thị trường rất giàu tiềm
năng để phát triển.
2.2. Thực trạng hoạt động thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam hiện
nay.
2.2.1. Thực trạng sự biến động của nền bảo hiểm thương mại trong các
năm trở lại đây.
* Tình hình chung của thị trường bảo hiểm thương mại trong 3 năm qua
Một thị trường bảo hiểm phát triển sẽ được biểu hiện * số lượng doanh
nghiệp bảo hiểm (DNBH) ngày càng tăng, sản ph1m về bảo hiểm thì ngày càng
phong phú và đa dạng. Những kênh phân phối sản ph1m bảo hiểm ngày càng tr*
nên đông đảo đáp ứng nhu cầubản về bảo hiểm của nền kinh tế xã hội
dân cư.
Trong 3 năm tr* lại đây ( 2020, 2021, 2022 ), nền kinh tế thế giới nói
chung kinh tế Việt Nam nói riêng đều đang phải hứng chịu hậu quả nặng nề
b*i sự càn quét, tàn phá của đại dịch Covid-19. Đây cũng thời điểm đầy khó
khăn, thách thức đối với nền kinh tế thương mại trên khắp thế giới. Trong bối
cảnh đó, những cơ chế và ch0nh sách trong lĩnh vực bảo hiểm tiếp t/c được hoàn
thiện theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm,
tăng cường công tác quản lý tài ch0nh, quản trị doanh nghiệp,… đã giúp cho các
doanh nghiệp bảo hiểm thương mại, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân
thọ nước ngoài đứng vững trước những khó khăn do ảnh *ng của đại dịch
Covid-19.
13
So sánh số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại trong 3 năm
2020, 2021, 2022 ta sẽ thấy rõ được sự tăng trư*ng đáng kinh ngạc trong thời
đại dịch Covid-19.
Bảng 1: Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại trong 3 năm
Loại DN
Năm 2020 2021 2022
Tổng số doanh
nghiệp kinh
doanh bảo hiểm
69 76 78
Doanh nghiệp
bảo hiểm phi
nhân thọ
31 31 31
Doanh nghiệp
bảo hiểm nhân
thọ
18 19 19
Doanh nghiệp
tái bảo hiểm 02 02 02
Doanh nghiệp
môi giới bảo
hiểm
18 24 26
Chi nhánh doanh
nghiệp bảo hiểm
nhân thọ nước
ngoài
01 01 01
=> Ta nhận thấy trong 3 năm chìm trong đại dịch Covid-19, số lượng các
doanh nghiệp bảo hiểm thương mại vẫn không ngừng phát triển tăng thêm.
14
Đặc biệt từ năm 2020 đến năm 2021, tổng số doanh nghiệp trên cả nước đã tăng
lên 7 doanh nghiệp ( trong đó doanh nghiệp nhân thọ tăng lên 1 doanh nghiệp,
doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tăng lên 1 doanh nghiệp). Đây có thể nói là một
mức tăng “trong mơ” khi nhiều ngành đang phải chịu rất nhiều tác động tiêu cực
từ đại dịch Covid-19. Sang đến năm 2022, khi toàn ngành kinh tế nói chung
trong quá trình ph/c hồi sản xuất kinh doanh, ngành bảo hiểm nói riêng cũng
không còn bị ảnh hư*ng quá nhiều b*i COVID-19, tuy nhiên tốc độ tăng trư*ng
phần chững lại không nhiều sự đột biến. Tổng các doanh nghiệp năm
2022 chỉ tăng thêm 2 doanh nghiệp so với năm 2021 (Tăng thêm 2 doanh nghiệp
* doanh nghiệp môi giới bảo hiểm). Còn lại doanh nghiệp phi nhân thọ, doanh
nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ * nước ngoài là
không đổi qua 3 năm.
Xét về năng lực tài ch0nh của các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại
cũng có sự biến động trong 3 năm tr* lại đây. Tình hình tài ch0nh của các doanh
nghiệp bảo hiểm cũng tác động rất lớn tới nền kinh tế Việt Nam hiện tại.
Bảng 2: Năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại
trong 3 năm.
( đơn vị: tỷ đồng )
2020 2021 2022
Tổng tài sản của
các doanh
nghiệp bảo hiểm
556.669 710.002 811.312
Tổng số tiền đầu
tư tr* lại nền
kinh tế của các
doanh nghiệp
457.982 577.069 Trên 656.000
15
bảo hiểm
Tổng dự phòng
nghiệp v/ của
các doanh
nghiệp bảo hiểm
352.318 455.606 526.559
Tổng doanh thu
ph0 182.654 214.958 245.877
Tổng nguồn vốn
chủ s* hữu 115.945 152.484 162.814
Tổng số tiền bồi
thường và trả
tiền bảo hiểm
45.675 49.561 64.000
Tổng ph0 bảo
hiểm thu xếp
qua môi giới
9.679 12.715 15.751
Theo số liệu của C/c quản giám sát bảo hiểm, so với cùng kỳ năm
2020, năm 2021, các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại có:
+ Tổng số tài sản toàn thị trường đạt 710.002 tỷ đồng, tăng 23,86%.
+ Các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư tr* lại nền kinh tế tăng 22,24%.
+ Tổng dự phòng nghiệp v/ bảo hiểm năm đạt 455.606 tỷ đồng, tăng
24,89%.
+ Tổng nguồn vốn chủ s* hữu của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng 19,34%.
+ Tổng doanh thu ph0 bảo hiểm đạt 214.958 tỷ đồng, tăng 15,59%.
+ Tổng số tiền bồi thường trả tiền bảo hiểm đạt 49.561 tỷ đồng, tăng
1,68%.
16
+ Tổng số ph0 bảo hiểm thu xếp qua môi giới bảo hiểm tăng 14,8%.
( Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam )
( Nguồn: Tổng c/c thống kê )
=> So với cùng kỳ năm 2020, năm 2021 thị trường bảo hiểm thương mại
* nước ta phát triển một cách nhanh chóng rệt * tất cả các mặt. Theo C/c
Quản lý, giám sát bảo hiểm, mặc dù tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp,
còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng C/c đã hoàn thành tốt nhiệm v/ năm
2021, từ công tác xây dựng hoàn thiện thể chế, đến công tác phát triển thị
trường nâng cao chất lượng dịch v/ bảo hiểm, cũng như nhiều nhiệm v/
khác. Ch0nh vậy, thị trường bảo hiểm luôn đạt mức tăng trư*ng dương giữa
đại dịch.
17
Bước sang năm 2022, mặc dù thị trường bảo hiểm Việt Nam đối diện với
nhiều khó khăn, thách thức, nhưng các chỉ tiêu quan trọng của thị trường bảo
hiểm thương mại đều duy trì mức tăng trư*ng khả quan. So với cùng kỳ năm
2021, bảo hiểm thương mại năm 2022 có sự tăng trư*ng ổn định nhưng chưa đột
phá.
+ Tổng doanh thu ph0 bảo hiểm đạt 245.877 tỷ đồng, tăng khoảng 15% so
với 2021.
+ Tổng tài sản của các doanh nghiệp bảo hiểm ước đạt 811.312 tỷ đồng
(Tăng 14,51% so với cùng kỳ năm 2021).
+ Tổng dự phòng nghiệp v/ bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm đạt
526.559 tỷ đồng (Tăng 14,60% so với cùng kỳ năm 2021).
+ Tổng nguồn vốn chủ s* hữu của các doanh nghiệp bảo hiểm ước đạt
162.814 tỷ đồng (Tăng 3,83% so với cùng kỳ năm 2021).
+ Các doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm khoảng trên
64.000 tỷ đồng (Tăng 23,29% so với cùng kỳ năm 2021).
( Nguồn: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam)
=> Năm 2022, bảo hiểm thương mại phát triển một cách ổn định bền
vững trong thời kỳ ph/c hồi sau đại dịch. Đồng thời, các doanh nghiệp bảo hiểm
cũng t0ch cực triển khai bảo hiểm thực hiện chủ trương ch0nh sách của nhà nước
18

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN -------- -------- 
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG
BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM HIỆN TẠI Nhóm: Nhóm 11
Lớp học phần: 2326EFIN2811 Người hướng dẫn:

Hà Nội, tháng 4 năm 2023 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU…………………………..……….......……….…............….1
PHẦN NỘI DUNG……………………......………………......…….………..3
CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN
…………………………………......………………….......…..3
1.1. Phạm trù lý luận và thực tiễn…………......…...………………......…...3
1.1.1. Phạm trù thực tiễn…………………..…………………………......…3
1.1.2. Phạm trù lý luận………………….……………….…………….....…4
1.2. Những nguyên tắc cơ bản của sự thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn.............................................................................................................…5
1.2.1. Thực tiễn là cơ s*, đô .ng lực, m/c đ0ch và tiêu chu1n của lý luận, lý luận
hình thành và phát triển từ sản xuất, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.............5
1.2.2. Thực tiễn phải được chỉ đạo b*i lý luận; ngược lại, lý luận phải được
vận d/ng vào thực tiễn, tiếp t/c bổ sung và phát triển trong thực tiễn..........6
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận..................................................................…7
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM
TRONG THỜI KÌ HIỆN NAY
……………...................……………..…...9
2.1. T0ch cực……………………………………..............…………..……..9
2.2. Hạn chế………………………………………................……..…..….10
2.3. Nguyên nhân..……..…….......….……………..............………..…….12
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT
……………..........………….….15
3.1. Vận d/ng mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình
học tập của sinh viên………………………………..........…....……….….15
3.2. Giải pháp để nâng cao thành t0ch của sinh viên……....….…..........….16
PHẦN KẾT LUẬN……………....………………………......………………19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………..........…………….20 2 PHẦN MỞ ĐẦU
Từ xa xưa trong cuộc sống cũng như trong sản xuất con người luôn có nguy
cơ gặp phải những rủi ro vì những nguyên nhân khác nhau như bão l/t, hạn hán,
tai nạn, ốm đau, bệnh tật…ảnh hư*ng rất nhiều đến đời sống, sản xuất, sức khỏe
của con người. Vì vậy, ngay từ sớm con người đã tìm cách bảo vệ ch0nh bản
thân và tài sản của mình trước những rủi ro trong cuộc sống cũng như trong sản
xuất. Tuy nhiên hình thức vẫn còn đơn giản và nhiều hạn chế, dần dần con
người ngày càng khắc ph/c được những nhược điểm và cho ra hình thức mới đó ch0nh là bảo hiểm.
Trong thời đại hiện nay, việc mua bảo hiểm đang dần tr* thành một nhu cầu
thiết yếu đối với mỗi người dân, đặc biệt là trong bối cảnh đời sống xã hội và
kinh tế ngày càng phát triển. Mặc dù phải đối mặt với những thách thức như
xung đột quốc gia và đại dịch toàn cầu, thị trường bảo hiểm tại Việt Nam đã cho
thấy sự tăng trư*ng t0ch cực trong những năm gần đây. Tuy nhiên, vẫn còn tồn
tại một vài thử thách và khó khăn khiến cho thị trường bảo hiểm * Việt Nam
vẫn chưa phát triển mạnh mẽ như mong đợi, cùng với nhu cầu bảo hiểm của
người dân và doanh nghiệp càng càng tăng cao, Việt Nam cần phải đưa ra
những giải pháp nhanh chóng để đáp ứng đầy đủ và hiệu quả nhu cầu này.
Vì vậy, để tìm hiểu hơn về thị trường bảo hiểm cũng như đánh giá được về
thực trạng của thị trường bảo hiểm Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp hợp
lý và hiệu quả để nâng cao chất lượng và t0nh bền vững của thị trường bảo hiểm
trong tương lai, nhóm chúng em đã chọn đề tài “Đánh giá về thực trạng của thị
trường bảo hiểm * Việt Nam”
Trong quá trình làm bài và thảo luận trên lớp, chắc chắn không tránh khỏi
thiếu sót, nhóm em rất mong nhận được sự góp ý của cô giáo và các bạn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! 1 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM VÀ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về bảo hiểm
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, bản chất của bảo hiểm
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm. Các định nghĩa thường
thiên về góc độ xã hội, kinh tế, kĩ thuật,… tuy nhiên chưa phải là một khái niệm
bao quát, hoàn chỉnh. Tập đoàn bảo hiểm AIG (Mỹ) định nghĩa:
“Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp
hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi
thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân
chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm”.
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (Ban hành ngày 09/12/2000) :
“Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm
mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người
được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh
nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho
người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm."
Như vậy, để có một khái niệm chung nhất về bảo hiểm, chúng ta có thể
đưa ra định nghĩa: “Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm
với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do
một rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo
hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là ph0 bảo hiểm”. 2
* Đặc điểm: Bảo hiểm là việc bảo đảm bằng hợp đồng, theo đó, bên bảo
hiểm sẽ chỉ trả tiền hoặc bổi thường vật chất khi xảy ra sự kiện do các bên thoả
thuận hoặc do pháp luật quy định trên cơ sở người tham gia bảo hiểm đóng phí
bảo hiểm. Việc trả tiền hoặc bồi thường được thể hiện bằng một hợp đồng giữa
tổ chức bảo hiểm và người bảo hiểm.
Bảo hiểm đóng vai trò là một phương thức lập quỹ tiền tệ (quỹ bảo hiểm)
để bù đắp những thiệt hại do rủi ro (Thiên tai, tai nạn...) hoặc do các sự kiện liên
quan đến đời sống con người (Sự kiện chết, ốm đau...).
Hình thức sơ khai của bảo hiểm mang t0nh cộng đồng là lập quỹ tương
trợ. Quỹ này do những người có quan hệ nghề nghiệp lập ra để,giúp đỡ thành
viên gặp rủi ro. Hơn 4.000 năm trước Công nguyên, các thợ đá * Ai Cập, các
thương nhân đ Trung Quốc đã biết liên kết cộng đồng để bảo hiểm thông qua
việc lập các quỹ tương trợ. Hình thức bảo hiểm nhằm m/c đ0ch thương mại đầu
tiên xuất hiện * Babylon vào khoảng 1.700 năm trước Công nguyên.
Khác với phương thức tổ chức và hoạt động của các quỹ tương trợ, bảo
hiểm nhằm m/c đ0ch thương mại, do các tổ chức chuyên nghiệp thực hiện. Cùng
với sự ra đời của các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp, phương thức và kĩ thuật
thực hiện kinh doanh bảo hiểm cũng ngày càng phát triển.
- Bảo hiểm vừa mang tính chất bồi hoàn, vừa mang tính chất không bồi hoàn.
Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã thúc đ1y kinh doanh bảo
hiểm tr* thành ngành kinh doanh dịch v/ với nhiều loại hình bảo hiểm (có tới
100 và được chia thành ba loại lớn: bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản, bảo
hiểm trách nhiệm) và mang lại lợi nhuận khổng lồ cho các nhà tư bản. Trong
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện nguyên
tắc nhà nước độc quyền kinh doanh bảo hiểm nên hoạt động bảo hiểm mang t0nh
thương mại gọi là bảo hiểm nhà nước. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhà
nước cho phép các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh kinh doanh bảo hiểm,
do đó, hoạt động kinh doanh bảo hiểm không thuần tuý mang t0nh nhà nước như 3
trước. Hợp đồng bảo hiểm được k0 kết giữa bên bảo hiểm và người tham gia bảo
hiểm. Bên bảo hiểm là bên nhận ph0 bảo hiểm và có trách nhiệm chỉ trả tiền bảo
hiểm hoặc đền bù vật chất bị tổn thất khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. * Bản chất
Bằng sự đóng góp của số đông người vào một quĩ chung, khi có rủi ro,
quĩ sẽ có đủ khả năng trang trải và bù đắp cho những tổn thất của số 0t. Mỗi cá
nhân hay đơn vị chỉ cần đóng góp một khoản tiền tr0ch từ thu nhập cho các công
ty bảo hiểm. Khi tham gia một nghiệp v/ bảo hiểm nào đó, nếu gặp tổn thất do
rủi ro được bảo hiểm gây ra, người được bảo hiểm sẽ được bồi thường. Khoản
tiền bồi thường này được lấy từ số ph0 mà tất cả những người tham gia bảo hiểm
đã nộp. Tất nhiên, chỉ có một số người tham gia bảo hiểm gặp tổn thất, còn
những người không gặp tổn thất sẽ mất không số ph0 bảo hiểm. Như vậy, có thể
thấy, thực chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số
người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu. Do đó, một nghiệp
v/ bảo hiểm muốn tiến hành được phải có nhiều người tham gia, tức là, bảo
hiểm chỉ hoạt động được trên cơ s* luật số đông, càng nhiều người tham gia thì
xác suất xảy ra rủi ro đối với mỗi người càng nhỏ và bảo hiểm càng có lãi.
Với hình thức số đông bù cho số 0t người bị thiệt hại, tổ chức bảo hiểm sẽ
giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế của từng cá nhân hay đơn vị khi gặp rủi ro, tiết
kiệm được nguồn chi cho ngân sách nhà nước. Như vậy, thực chất mối quan hệ
trong hoạt động bảo hiểm không chỉ là mối quan hệ giữa người bảo hiểm và
người được bảo hiểm, mà suy rộng ra, nó là tổng thể các mối quan hệ giữa
những người được bảo hiểm trong cộng đồng xoay quanh việc hình thành và sử
d/ng quĩ bảo hiểm. Quĩ bảo hiểm được tạo lập thông qua việc huy động ph0 bảo
hiểm, số người tham gia càng đông thì quĩ càng lớn. Quĩ được sử d/ng trước hết
và chủ yếu là để bù đắp những tổn thất cho người được bảo hiểm, không làm
ảnh hư*ng đến sự liên t/c của đời sống xã hội và hoạt động sản xuất - kinh
doanh trong nền kinh tế. Ngoài ra, quĩ còn được dùng để trang trải chi ph0, tạo
nên nguồn vốn đầu tư cho xã hội. Bảo hiểm thực chất là hệ thống các quan hệ 4
kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại tổng sản ph1m xã hội dưới hình
thái giá trị, nhằm hình thành và sử d/ng quĩ bảo hiểm cho m/c đ0ch bù đắp tổn
thất do rủi ro bất ngờ xảy ra với người được bảo hiểm, đảm bảo quá trình tái sản
xuất được thường xuyên, liên t/c.
1.1.2. Các hình thức của bảo hiểm
a. Căn cứ vào phương thức xử lý rủi ro
Tự bảo hiểm: Là hình thức bảo hiểm mà các tổ chức, cá nhân thành lập
các quỹ riêng để bù đắp các tổn thất có thể xảy ra đối với quá trình sản xuất và
đời sống. Việc tự bảo hiểm thường được thực hiện khi họ có đủ khả năng về tài ch0nh.
Bảo hiểm thông qua các tổ chức bảo hiểm: Là hình thức bảo hiểm mà
người tham gia sẽ chuyển giao, phân tán rủi ro cho các tổ chức bảo hiểm thông
qua việc tr0ch nộp một phần thu nhập của mình cho các tổ chức bảo hiểm dưới
dạng ph0 bảo hiểm. Các tổ chức bảo hiểm hoạt động chuyên nghiệp trong phân
t0ch rủi ro, ước lượng mức độ rủi ro và phân tán rủi ro đồng thời họ có trách
nhiệm trong việc bảo toàn và tăng trư*ng quỹ. Hình thức bảo hiểm này được
xem là hình thức bảo hiểm hoạt động có hiệu quả trên mọi phương diện của nền kinh tế.
b. Căn cứ vào mục đích hoạt động
Bảo hiểm có m/c đ0ch kinh doanh: Là hình thức có chủ thể tiến hành
nhằm m/c tiêu lợi nhuận. Có thể chia loại bảo hiểm này thành 3 loại bảo hiểm
khác như: Bảo hiểm kinh doanh, bảo hiểm thương mại hay bảo hiểm rủi ro.
Người bảo hiểm tìm kiếm lợi 0ch kinh tế trên cơ s* thu ph0 bảo hiểm khi xảy ra
sự kiện thông qua hợp đồng bảo hiểm.
Bảo hiểm không vì m/c đ0ch kinh doanh: Là hình thức bảo hiểm do chủ
thể tiến hành không nhằm m/c đ0ch lợi nhuận, mà chỉ nhằm tương trợ giữa các
thành viên tham gia. Bên cạnh đó quỹ tài ch0nh cũng không vì m/c tiêu lợi
nhuận mà ph/c v/ cho ch0nh sách xã hội. 5
1.2. Khái quát về thị trường bảo hiểm thương mại
1.2.1. Khái niệm bảo hiểm thương mại
Bảo hiểm thương mại (Hay còn gọi là bảo hiểm kinh doanh hay bảo hiểm
rủi ro) là hình thức bảo hiểm do các tổ chức kinh doanh bảo hiểm tiến hành trên
cơ s* huy động sự đóng góp của các chủ thể để tạo nên quỹ bảo hiểm, phân phối
và sử d/ng chúng để trả tiền bảo hiểm, bồi thường những tổn thất do các đối
tượng được bảo hiểm khi các rủi ro được bảo hiểm xảy ra.
1.2.2. Phân loại bảo hiểm thương mại
a. Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm
- Bảo hiểm tài sản: Là một loại bảo hiểm thuộc nhóm bảo hiểm phi nhân
thọ, đã được quy định c/ thể tại Điều 7 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000.
Theo đó, ph0a công ty bảo hiểm sẽ tiến hành thu ph0 bảo hiểm của bên mua bảo
hiểm và cam kết bồi thường cho bên được bảo hiểm khi tài sản bảo hiểm gặp rủi
ro trong phạm vi bảo hiểm dẫn đến tổn thất.
Đối tượng bảo hiểm là tài sản bao gồm: Vật có thực, tiền, các giấy tờ trị
giá được bằng tiền và các quyền về tài sản.
Bảo hiểm con người: Hay còn gọi là bảo hiểm thân thể là loại bảo hiểm
tương đối giống với bảo hiểm nhân thọ. Mang cùng m/c đ0ch là bảo vệ người
sử d/ng loại bảo hiểm này trước những tai nạn hay bệnh tật bất ngờ, mà họ
không lường trước. Đặc biệt loại bảo hiểm này chuyên dành cho người lao động
* các nhà máy, x0 nghiệp. Ngoài ra, nhân viên văn phòng, học sinh, sinh viên,
giáo viên cũng được khuyến kh0ch tham gia để đề phòng những vấn đề bất trắc
về thân thể, sức khỏe.
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Được định nghĩa là loại hình bảo hiểm
cho trách nhiệm dân sự của cá nhân hoặc tổ chức đối với bên thứ ba khi xảy ra
rủi ro. Trong đó, đối tượng của hợp đồng bảo hiểm sẽ là trách nhiệm dân sự của
người được bảo hiểm với người thứ ba.
b. Căn cứ vào tính chất hoạt động 6
Bảo hiểm bắt buộc: Khoản 2 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 định
nghĩa "Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ
chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia
."
Sự xuất hiện của bảo hiểm bắt buộc là một tất yếu khách quan khi mà mọi
thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống bảo
hiểm. Từ kh0a cạnh kinh tế thì tham gia bảo hiểm bắt buộc và được bảo hiểm bắt
buộc là sự phản ánh một quy luật có t0nh khách quan: quy luật cung - cầu. Vì
vậy, bảo hiểm bắt buộc đã tr* thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động và
được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi
của con người như trong Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã nêu.
Bảo hiểm tự nguyện: Là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức
mà người tham gia bảo hiểm được quyền lựa chọn mức đóng, phương thức đóng
phù hợp với tài ch0nh của mình.
Căn cứ theo Khoản 4, Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 ban
hành ngày 20/11/2014 quy định công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi tr* lên, không
nằm trong nhóm đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đều có thể tham gia
BHXH tự nguyện. Và khi nào cần tham gia BHXH tự nguyện thì người lao động
căn cứ theo đúng quy định nêu trên xem mình thuộc nhóm đối tượng nào để có thể đóng BHXH.
1.2.3. Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm thương mại
- Nguyên tắc sàng lọc rủi ro
Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, không phải bất cứ rủi ro nào cũng có
thể chấp nhận vì nó sẽ liên quan đến số tiền mà doanh nghiệp phải chi trả trong
tơng lai. Do đó, các doanh nghiệp bảo hiểm cố gắng sàng lọc rủi ro trầm trọngvà
có những phơng thức tập hợp thông tin để tránh nhầm lẫn trong tiếp nhận bảo hiểm.
- Nguyên tắc định ph0 bảo hiểm phải trên cơ s* “giá” của các rủi ro 7
Dựa trên giá của các rủi ro để định ph0 bảo hiểm mới bảo đảm đợc sựcông
bằng đối với ngời tham gia bảo hiểm. Với những rủi ro có xác xuất xảy ra lớn,
thiệt hại nhiều thì ngời tham gia bảo hiểm phải trả ph0 cao và ngợc lại.
- Nguyên tắc đảm bảo an toàn
Tổ chức bảo hiểm luôn là con nợ đối với người tham gia bảo hiểm, cho
nên vấn đề an toàn tài ch0nh luôn đặt lên hàng đầu. Do đó người quản lý bảo
hiểm phải thận trọng như đánh giá rủi ro hoặc điều kiện chấp nhận bảo hiểm,…
Mặt khác trong hoạt động đầu tư, bảo hiểm thương mại cũng được các tổ chức
quan tâm nhằm bảo toàn và phát triển quỹ bảo hiểm đảm bảo khả năng chi trả trong tương lại.
- Nguyên tắc số đông bù số 0t
Hoạt động của bảo hiểm thương mại đều dựa theo nguyên tắc số đông bù
số 0t. Nguyên tắc số đông bù số 0t trong bảo hiểm được hiểu là: Trong cộng đồng
thì nhiều người có cùng rủi ro sẽ cùng nhau đóng góp vào quỹ dự phòng tài
ch0nh do doanh nghiệp bảo hiểm quản lý nhằm chia sẻ và hỗ trợ tài ch0nh cho
những người không may mắn trong số đó. Khoản hỗ trợ kịp thời sẽ giúp những
người không may khắc ph/c sự cố, giảm tối đa tổn thất và sớm ổn định cuộc sống. 8 CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Quá trình hình thành và phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam.
2.1.1. Khái quát sự phát triển của ngành bảo hiểm trên thế giới.
Trên thế giới, ngành bảo hiểm đã được hình thành từ rất lâu và phát triển
một cách mạnh mẽ, thịnh vượng. Trước Công Nguyên, * Ai Cập, những người
thợ đẽo đá đã biết thành lập “quỹ tương trợ” để giúp đỡ nạn nhân trong các v/
tai nạn. Từ đó, các hoạt động mang t0nh chất của bảo hiểm phát triển dần theo sự
phát triển của xã hội loài người và bắt đầu bằng hình thức các quỹ dự trữ, tương
trợ đơn giản. Vào thế kỷ XIV, * Floren, Genoa nước Ý, đã xuất hiện các hợp
đồng bảo hiểm hàng hải đầu tiên mà theo đó người bảo hiểm cam kết với người
được bảo hiểm sẽ bồi thường thiệt hại về tài sản mà người được bảo hiểm phải
chịu khi có thiệt hại xảy ra trên biển, và được nhận một khoản ph0. Bảo hiểm
hàng hải được coi là có lịch sử phát triển sớm nhất trong các ngành bảo hiểm
còn tồn tại đến ngày nay, và nó đã đặt nền móng cho sự phát triển của ngành bảo
hiểm sau này. Sau bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm hỏa hoạn ra đời và là lĩnh vực
hoạt động chủ yếu của các công ty bảo hiểm trong thời kỳ đầu. Vào thế kỷ
XVII, * Châu Âu, nhà cửa chủ yếu được xây bằng gỗ, còn lửa được dùng nhiều
để sư*i ấm, chiếu sáng… Do vậy, rủi ro cháy là rất cao. Ch0nh vì vậy, sự ra đời
của các công ty bảo hiểm cung cấp các dịch v/ chữa cháy và bồi thường thiệt
hại cho người được bảo hiểm khi xảy ra cháy. Ngoài ra, vào năm 100 trước
Công Nguyên, một hình thức sơ khai của bảo hiểm nhân thọ đã hình thành. Họ
lập ra “quỹ tử tuất” nhằm hỗ trợ binh sĩ hi sinh trong chiến trận. Nhưng rồi hình
thức bảo hiểm này lại bị lãng quên. Ngày nay, tại các nước phát triển, tỉ lệ tham
gia bảo hiểm ngày càng tăng đạt trên 90% góp phần rất lớn vào đảm bảo an ninh xã hội.
2.1.2. Nguồn gốc và lịch sử hình thành bảo hiểm ở Việt Nam. 9
Ở nước ta, ngành bảo hiểm mới thực sự phát triển cách đây khoảng 10
năm về trước khi mà vị thế độc quyền kinh doanh bảo hiểm được xóa bỏ theo
nghị định 100 CP theo ch0nh phủ ban hành ngày 18/12/1993. Từ đó, ngành bảo
hiểm đã có những bước tiến đáng kể và nếu như được phát triển theo đúng
hướng thì bảo hiểm sẽ góp phần t0ch cực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước trong thế kỷ mới. Ngành bảo hiểm * Việt Nam ra đời tương đối
muộn so với sự phát triển chung của ngành bảo hiểm trên thế giới vì nhiều điều
kiện chủ quan lẫn khách quan tác động. Tuy nhiên, hiện nay, ngành bảo hiểm *
nước ta đang dần dần bắt kịp với xu thế phát triển chung của bảo hiểm trong khu
vực lẫn quốc tế và ngày càng chứng tỏ vai trò không thể thiếu của mình đối với
nền kinh tế. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy điều này khi tìm hiểu về quá
trình phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam từ ngày đầu đến nay.
* Từ trước những năm 1986
Hoạt động bảo hiểm * nước ta 0t nhiều cũng đã có những bước phát triển
ngay từ thời thực dân Pháp. Cho tới khi miền Bắc được giải phóng, đất nước bị
chia cắt, hoạt động kinh doanh bảo hiểm * miền Nam khá phát triển dưới chế độ Ng/y quyền.
+ Miền Nam trước năm 1975
Ở thời kỳ này có hơn 52 công ty trong và ngoài nước đã triển khai các
loại hình nghiệp v/ khá đa dạng như bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm chuyên ch*,
bảo hiểm xe tự động, bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tai nạn lao động… Các
công ty hoạt động khá mạnh mẽ, đáp ứng được phần nào nhu cầu về bảo hiểm
trên toàn thị trường miền Nam. Các công ty bảo hiểm trong nước thường được
thành lập dưới dạng Hội vô danh và Hội tương hỗ. Các công ty nước ngoài
thành lập * Việt Nam dưới hình thức công ty chi nhánh. Hầu hết các công ty đều
đặt tr/ s* ch0nh * Sài Gòn. Mạng lưới trung gian bảo hiểm là môi giới và đại lý
bảo hiểm được sử d/ng phổ biến để kinh doanh bảo hiểm trên phạm vi toàn
miền Nam. Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được trôi chảy, cạnh tranh
lành mạnh, các công ty bảo hiểm đã sớm thành lập hiệp hội nghề nghiệp bảo 10
hiểm của mình. Hiệp hội có chức năng thông tin tư vấn, đào tạo, tạo ra một môi
trường hợp tác. Việc quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm được thực
hiện thông qua Bộ Tài ch0nh. Các văn bản pháp luật điều chỉnh như Luật bảo
hiểm cũng sớm ra đời. Ngoài ra, Hội đồng tư vấn bảo hiểm quốc gia cũng đóng vai trò khá quan trọng.
+ Miền Bắc trước năm 1975
Hoạt động bảo hiểm chỉ thực sự được bắt đầu khi có sự ra đời của Bảo
Việt. Để đáp ứng nhu cầu về bảo hiểm trong hoạt động ngoại thương, ngày
17/12/1964, Thủ tướng Ch0nh phủ đã ra quyết định thành lập Công ty Bảo hiểm
Việt Nam, gọi tắt là Bảo Việt. Đến ngày 15/01/1965, Bảo Việt ch0nh thức đi vào
hoạt động. Đây cũng là công ty bảo hiểm Nhà nước duy nhất đại diện cho ngành
bảo hiểm Việt Nam. Từ ngày thành lập cho đến trước năm 1975, do những điều
kiện khó khăn của chiến tranh, hoạt động của Bảo Việt * miền Bắc chưa phát
triển. Lúc bấy giờ, Bảo Việt chỉ có tr/ s* * Hà Nội và chi nhánh * Hải Phòng
thực hiện chủ yếu 3 nghiệp v/: bảo hiểm hàng hóa xuất nhập kh1u, bảo hiểm
thân tàu và tái bảo hiểm. Tỉ lệ tái bảo hiểm cho Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và
Ba Lan lúc đó cũng tương đối cao.
+ Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng
Cũng như tất cả các ngành kinh tế khác, các công ty bảo hiểm cũ của
miền Nam được tiến hành quốc hữu hoá. Công ty Bảo hiểm và Tái bảo hiểm
Việt Nam được thành lập để thực hiện tiếp trách nhiệm của các công ty cũ đối
với những người được bảo hiểm muốn tiếp t/c hợp đồng. Đối với các công ty
bảo hiểm nước ngoài, công ty có trách nhiệm thanh toán và đòi nợ theo đúng
hợp đồng. Năm 1976, khi hoàn toàn thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, công
ty được chuyển thành chi nhánh của công ty bảo hiểm Việt Nam tại thành phố
Hồ Ch0 Minh. Thời kỳ này, Bảo Việt là công ty duy nhất hoạt động kinh doanh
bảo hiểm * Việt Nam theo chế độ hạch toán kế toán kinh tế thống nhất toàn
ngành. Công ty trực thuộc Bộ Tài ch0nh, có chức năng giúp Bộ Tài ch0nh thống
nhất quản lý công tác bảo hiểm Nhà nước và trực tiếp tiến hành nghiệp v/ bảo 11
hiểm trong cả nước. Trong giai đoạn này, * Việt Nam, Bảo Việt độc quyền kinh
doanh bảo hiểm nên các sản ph1m của Bảo Việt chưa đa dạng, chủ yếu thực
hiện các nghiệp v/ bảo hiểm phi nhân thọ với khoảng 20 sản ph1m bảo hiểm.
Có thể nói, thời gian này, hoạt động bảo hiểm * nước ta vẫn chưa phát triển.
* Từ năm 1986 đến nay
Năm 1986 là năm đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp phát triển
kinh tế của nước ta. Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI
diễn ra vào năm này đã đưa ra ch0nh sách đổi mới, tạo thuận lợi cho các thành
phần kinh tế tham gia kinh doanh theo các quy định của pháp luật. Đồng thời,
Việt Nam cũng đã tiến hành m* cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư từ nhiều quốc
gia, khu vực. Hoạt động sản xuất – kinh doanh từng bước phát triển, đời sống
nhân dân được nâng cao đòi hỏi ngành bảo hiểm cũng phải đổi mới để đáp ứng
nhu cầu, th0ch hợp với hoàn cảnh mới. Sự xuất hiện của các công ty bảo hiểm
mới, công ty liên doanh, công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài… sẽ có
ý nghĩa rất lớn đối với quá trình phát triển bảo hiểm * nước ta.
Ngày 18/12/1993, nghị định 100 CP về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã
được Ch0nh phủ ban hành, m* ra bước phát triển mới cho ngành bảo hiểm Việt
Nam. Nó phá vỡ thế độc quyền đang tồn tại, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ
chức bảo hiểm với nhiều hình thức khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế.
Mặc dù vậy, phải từ sau năm 1995, một loạt các công ty kinh doanh bảo hiểm
mới ra đời: Bảo Minh, VINARE, PVI, PJICO… và các công ty liên doanh bảo
hiểm như: UIC, VIA,… Ngoài ra, với khoảng 40 văn phòng đại diện của các
công ty bảo hiểm nước ngoài và hơn 70.000 đại lý bảo hiểm thị trường bảo hiểm
Việt Nam đang phát triển ngày một sôi động.
Việc m* cửa thị trường bảo hiểm cùng với sự xuất hiện của các công ty
mới đã tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm phát triển mạnh mẽ trong một môi
trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Các công ty liên t/c hoàn thiện những
sản ph1m cũ, đồng thời nghiên cứu và giới thiệu những loại hình nghiệp v/ bảo
hiểm mới đa dạng và hấp dẫn hơn. Người tham gia bảo hiểm có thể tự do lựa 12
chọn người bảo hiểm, loại hình dịch v/ bảo hiểm với mức ph0 cạnh tranh nhất.
Trong tương lai, nhu cầu bảo hiểm sẽ ngày càng đa dạng hơn và số lượng, chủng
loại sản ph1m chắc chắn sẽ còn được rộng m*. Không chỉ có vậy, để nâng cao
t0nh cạnh tranh, công tác chăm sóc khách hàng cũng ngày càng được chú trọng.
Bảo hiểm Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường rất giàu tiềm năng để phát triển.
2.2. Thực trạng hoạt động thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam hiện nay.
2.2.1. Thực trạng sự biến động của nền bảo hiểm thương mại trong các năm trở lại đây.
* Tình hình chung của thị trường bảo hiểm thương mại trong 3 năm qua
Một thị trường bảo hiểm phát triển sẽ được biểu hiện * số lượng doanh
nghiệp bảo hiểm (DNBH) ngày càng tăng, sản ph1m về bảo hiểm thì ngày càng
phong phú và đa dạng. Những kênh phân phối sản ph1m bảo hiểm ngày càng tr*
nên đông đảo và đáp ứng nhu cầu cơ bản về bảo hiểm của nền kinh tế xã hội và dân cư.
Trong 3 năm tr* lại đây ( 2020, 2021, 2022 ), nền kinh tế thế giới nói
chung và kinh tế Việt Nam nói riêng đều đang phải hứng chịu hậu quả nặng nề
b*i sự càn quét, tàn phá của đại dịch Covid-19. Đây cũng là thời điểm đầy khó
khăn, thách thức đối với nền kinh tế thương mại trên khắp thế giới. Trong bối
cảnh đó, những cơ chế và ch0nh sách trong lĩnh vực bảo hiểm tiếp t/c được hoàn
thiện theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm,
tăng cường công tác quản lý tài ch0nh, quản trị doanh nghiệp,… đã giúp cho các
doanh nghiệp bảo hiểm thương mại, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân
thọ nước ngoài đứng vững trước những khó khăn do ảnh hư*ng của đại dịch Covid-19. 13
So sánh số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại trong 3 năm
2020, 2021, 2022 ta sẽ thấy rõ được sự tăng trư*ng đáng kinh ngạc trong thời kì đại dịch Covid-19.
Bảng 1: Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại trong 3 năm Loại DN Năm 2020 2021 2022 Tổng số doanh nghiệp kinh 69 76 78 doanh bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm phi 31 31 31 nhân thọ Doanh nghiệp bảo hiểm nhân 18 19 19 thọ Doanh nghiệp tái bảo hiểm 02 02 02 Doanh nghiệp môi giới bảo 18 24 26 hiểm Chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm 01 01 01 nhân thọ nước ngoài
=> Ta nhận thấy trong 3 năm chìm trong đại dịch Covid-19, số lượng các
doanh nghiệp bảo hiểm thương mại vẫn không ngừng phát triển và tăng thêm. 14
Đặc biệt từ năm 2020 đến năm 2021, tổng số doanh nghiệp trên cả nước đã tăng
lên 7 doanh nghiệp ( trong đó doanh nghiệp nhân thọ tăng lên 1 doanh nghiệp,
doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tăng lên 1 doanh nghiệp). Đây có thể nói là một
mức tăng “trong mơ” khi nhiều ngành đang phải chịu rất nhiều tác động tiêu cực
từ đại dịch Covid-19. Sang đến năm 2022, khi toàn ngành kinh tế nói chung
trong quá trình ph/c hồi sản xuất kinh doanh, ngành bảo hiểm nói riêng cũng
không còn bị ảnh hư*ng quá nhiều b*i COVID-19, tuy nhiên tốc độ tăng trư*ng
có phần chững lại và không có nhiều sự đột biến. Tổng các doanh nghiệp năm
2022 chỉ tăng thêm 2 doanh nghiệp so với năm 2021 (Tăng thêm 2 doanh nghiệp
* doanh nghiệp môi giới bảo hiểm). Còn lại doanh nghiệp phi nhân thọ, doanh
nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ * nước ngoài là không đổi qua 3 năm.
Xét về năng lực tài ch0nh của các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại
cũng có sự biến động trong 3 năm tr* lại đây. Tình hình tài ch0nh của các doanh
nghiệp bảo hiểm cũng tác động rất lớn tới nền kinh tế Việt Nam hiện tại.
Bảng 2: Năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại trong 3 năm. ( đơn vị: tỷ đồng ) 2020 2021 2022 Tổng tài sản của các doanh 556.669 710.002 811.312 nghiệp bảo hiểm Tổng số tiền đầu 457.982 577.069 Trên 656.000 tư tr* lại nền kinh tế của các doanh nghiệp 15 bảo hiểm Tổng dự phòng nghiệp v/ của 352.318 455.606 526.559 các doanh nghiệp bảo hiểm Tổng doanh thu ph0 182.654 214.958 245.877 Tổng nguồn vốn chủ s* hữu 115.945 152.484 162.814 Tổng số tiền bồi thường và trả 45.675 49.561 64.000 tiền bảo hiểm Tổng ph0 bảo hiểm thu xếp 9.679 12.715 15.751 qua môi giới
Theo số liệu của C/c quản lý giám sát bảo hiểm, so với cùng kỳ năm
2020, năm 2021, các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại có:
+ Tổng số tài sản toàn thị trường đạt 710.002 tỷ đồng, tăng 23,86%.
+ Các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư tr* lại nền kinh tế tăng 22,24%.
+ Tổng dự phòng nghiệp v/ bảo hiểm năm đạt 455.606 tỷ đồng, tăng 24,89%.
+ Tổng nguồn vốn chủ s* hữu của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng 19,34%.
+ Tổng doanh thu ph0 bảo hiểm đạt 214.958 tỷ đồng, tăng 15,59%.
+ Tổng số tiền bồi thường và trả tiền bảo hiểm đạt 49.561 tỷ đồng, tăng 1,68%. 16
+ Tổng số ph0 bảo hiểm thu xếp qua môi giới bảo hiểm tăng 14,8%.
( Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam )
( Nguồn: Tổng c/c thống kê )
=> So với cùng kỳ năm 2020, năm 2021 thị trường bảo hiểm thương mại
* nước ta phát triển một cách nhanh chóng và rõ rệt * tất cả các mặt. Theo C/c
Quản lý, giám sát bảo hiểm, mặc dù tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp,
còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng C/c đã hoàn thành tốt nhiệm v/ năm
2021, từ công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, đến công tác phát triển thị
trường và nâng cao chất lượng dịch v/ bảo hiểm, cũng như nhiều nhiệm v/
khác. Ch0nh vì vậy, thị trường bảo hiểm luôn đạt mức tăng trư*ng dương giữa đại dịch. 17
Bước sang năm 2022, mặc dù thị trường bảo hiểm Việt Nam đối diện với
nhiều khó khăn, thách thức, nhưng các chỉ tiêu quan trọng của thị trường bảo
hiểm thương mại đều duy trì mức tăng trư*ng khả quan. So với cùng kỳ năm
2021, bảo hiểm thương mại năm 2022 có sự tăng trư*ng ổn định nhưng chưa đột phá.
+ Tổng doanh thu ph0 bảo hiểm đạt 245.877 tỷ đồng, tăng khoảng 15% so với 2021.
+ Tổng tài sản của các doanh nghiệp bảo hiểm ước đạt 811.312 tỷ đồng
(Tăng 14,51% so với cùng kỳ năm 2021).
+ Tổng dự phòng nghiệp v/ bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm đạt
526.559 tỷ đồng (Tăng 14,60% so với cùng kỳ năm 2021).
+ Tổng nguồn vốn chủ s* hữu của các doanh nghiệp bảo hiểm ước đạt
162.814 tỷ đồng (Tăng 3,83% so với cùng kỳ năm 2021).
+ Các doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm khoảng trên
64.000 tỷ đồng (Tăng 23,29% so với cùng kỳ năm 2021).
( Nguồn: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam)
=> Năm 2022, bảo hiểm thương mại phát triển một cách ổn định và bền
vững trong thời kỳ ph/c hồi sau đại dịch. Đồng thời, các doanh nghiệp bảo hiểm
cũng t0ch cực triển khai bảo hiểm thực hiện chủ trương ch0nh sách của nhà nước 18