TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA MARKETING
---------o0o---------
BÀI THẢO LUẬN
BỘ MÔN: LUẬT KINH TẾ 1
ĐỀ TÀI: Bằng các kiến thức đã học, hãy trình bày ý kiến về việc số lượng công
ty thành lập theo mô hình công ty hợp danh chiếm số lượng khá ít tại Việt
Nam hiện nay.
HÀ NỘI, 2024
Giảng viên hướng dẫn: Trần Ngọc Diệp
Nhóm: 11
Mã lớp học phần: 232_PLAW0321_08
BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ CÁC THÀNH VIÊN NHÓM 11
STT Họ và tên Vai trò Công việc Đánh
giá
Chữ ký
xác
nhận
1Nguyễn Thị Trang Thành viên
Trình bày đặc điểm
thành viên và tài sản
của công ty hợp
danh
10
2Nông Huyền Trang Thành viên Trình bày thực trạng 10
3Trần Yến Trang Thành viên Đề xuất giải pháp. 10
4Hà Minh Triết Thành viên Trình bày nguyên
nhân 10
5Trần Đức Tùng Thành viên Trình bày thực trạng 10
6Nguyễn Phương Uyên Thành viên
Trình bày khái niệm
và tư cách pháp
nhân, đại diện cho
pháp luật của công
ty hợp danh
10
7Nguyễn Hoàng Vũ Thành viên
Trình bày nhận xét,
đánh giá và thuyết
trình
10
8Trần Ánh Xuân Nhóm trưởng
Trình bày nguyên
nhân, viết kết luận
và làm word và làm
slide
10
9Lưu Như ý Thành viên
Trình bày đặc điểm
cơ cấu tổ chức, quản
lý và chế độ chịu
trách nhiệm của
công ty hợp danh
10
10 Đào Thị Hương Quỳnh Thành viên Đề xuất giải pháp. 10
11 Nguyễn Thảo Nhi Thành viên Trình bày nhận xét,
đánh giá. 10
I. Cơ sở lý thuyết.
2
Hà Nội, ngày 23 tháng 3 năm 2024
Chữ ký nhóm trưởng
(ký và ghi rõ họ tên)
1. Khái niệm về công ty hợp danh.
Theo :khoản 1, điều 177. Công ty hợp danh (Luật doanh nghiệp 2020)
1. Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
a. Phải ít nhất 02 thành viên chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh
doanh dưới một tên chung (sau đây gọi thành viên hợp danh). Ngoài các thành viên
hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn;
b. Thành viên hợp danh phải nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về các nghĩa vụ của công ty;
c. Thành viên góp vốn tổ chức, nhân chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ
của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty.
2. Đặc điểm của công ty hợp danh.
2.1. Đặc điểm thành viên.
- Căn cứ : Thành viên hợp danhđiểm b, khoản 1 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2020
phải nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của
công ty.
- Căn cứ tại : Thành viên góp vốnđiểm c khoản 1 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2020
là tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi
số vốn đã cam kết góp vào công ty.
2.2. Đặc điểm tài sản của công ty hợp danh.
- điều 179, luật doanh nghiệp 2020: Theo
Tài sản của công ty hợp danh bao gồm:
1. Tài sản góp vốn của các thành viên đã được chuyển quyền sở hữu cho công ty;
2. Tài sản tạo lập được mang tên công ty;
3. tài sản thu được từ hoạt động kinh doanh do thành viên hợp danh thực hiện nhân
danh công ty từ hoạt động kinh doanh của công ty do thành viên hợp danh nhân
danh cá nhân thực hiện;
4. Tài sản khác theo quy định của pháp luật.
- Theo : “Công ty hợp danh không được khoản 3, điều 177, luật doanh nghiệp 2020
phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.”
2.3. Đặc điểm cơ cấu tổ chức, quản lý
Cơ cấu tổ chức:
- Theo : “Hội đồng thành viên bao gồmkhoản 1, điều 182, luật doanh nghiệp 2020
tất cả thành viên. Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội
đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ
công ty không có quy định khác.”
- Theo : “Thành viên hợp danh quyềnkhoản 2, điều 182, luật doanh nghiệp 2020
yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên để thảo luận quyết định công việc kinh
doanh của công ty.”
- Theo :Hội đồng thành viên quyềnkhoản 3, điều 182, luật doanh nghiệp 2020
quyết định tất cả công việc kinh doanh của công ty.”
Điều hành hoạt động:
3
- Theo khoản 1, điều 184, luật doanh nghiệp 2020: Các thành viên hợp danh
người đại diện theo pháp luật của công ty tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh
hàng ngày của công ty. Mọi hạn chế đối với thành viên hợp danh trong thực hiện công
việc kinh doanh hàng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó
được biết về hạn chế đó.
- Theo : trong điều hành hoạt động kinhkhoản 2, điều 184, luật doanh nghiệp 2020
doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh
quản lý và kiểm soát công ty,
2.4. Chế độ chịu trách nhiệm.
- Theo : “Thành viên hợp danhđiểm b, khoản 2, điều 177, luật doanh nghiệp 2020
phải nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của
công ty.”
- Theo : “Thành viên góp vốn điểm c, khoản 2, điều 177, luật doanh nghiệp 2020
tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số
vốn đã cam kết góp vào công ty.”
3. Tư cách pháp nhân, đại diện cho pháp luật của công ty hợp danh.
- Theo Công ty hợp danh cách khoản 2, điều 177, luật doanh nghiệp 2020:
pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp”.
- Theo : Các thành viên hợp danh khoản 1, điều 184, luật doanh nghiệp 2020
người đại diện theo pháp luật của công ty tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh
hàng ngày của công ty.
II. Ý kiến về vấn đề số lượng công ty thành lập theo hình công ty hợp danh
chiếm số lượng khá ít tại Việt Nam hiện nay.
1. Thực trạng.
Các công ty hợp danh hiện nay chủ yếu tập trung Nội TP.HCM. Tuy
nhiên số lượng cũng rất ít khi (chỉ 20 công ty hợp danh tại Nội 10 công ty
hợp danh tại TP.HCM) so với số lượng hàng nghìn công ty TNHH, công ty CP. Sự mờ
nhạt của công ty hợp danh không chỉ ở trên thị trường mà còn ở ngay trong tâm trí của
người dân. Nhiều người thậm chí còn chưa từng biết tới khái niệm “công ty hợp danh”,
hoặc thậm chí nhầm lẫn với khái niệm “hợp doanh”. Theo thống của Cục quản
đăng kinh doanh, Bộ Kế hoạch đầu (2017) thì số lượng các Công ty hợp danh
Việt Nam chiếm tỷ lệ rất nhỏ, số lượng các nhà đầu thực hiện đăng thành lập
Công ty hợp danh mới chiếm tỉ lệ rất thấp (0.03%). Trên thực tế, loại hình công ty này
được rất ít các cá nhân lựa chọn khi thành lập doanh nghiệp. Cụ thể, chỉ 01 công ty
hợp danh trên mỗi 7000 công ty được thành lập mới, theo số liệu của Tổng cục Thống
kê. Hiện tại các công ty hợp danh chủ yếu ở lĩnh vực tư vấn luật và kiểm toán. Các DN
này hoạt động với mô hình có thành viên góp vốn hoặc chỉ có thành viên hợp danh
2. Nguyên nhân.
- Vấn đề về huy động vốn: khoản 3 - điều 1787- luật DN 2020Theo : “Công ty hợp
danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào”. thể thấy công ty hợp
danh không được phát hành bất cứ loại chứng khoán nào, nên việc huy động vốn sẽ bị
hạn chế. Dẫn đến nếu công ty hợp danh muốn huy động vốn chỉ thể các thành
4
viên hợp danh góp vốn góp thêm tài sản của mình hoặc tiếp nhận thành viên mới.
Việc để các thành viên trong công ty góp thêm vốn khá khó và phức tạp. Hơn nữa, đối
với công ty đối nhân như công ty hợp danh thì việc thêm thành viên rất hạn chế
để thêm thành viên cần sự chấp thuận của hội đồng thành viên. Trong khi đó, trái lại
với công ty hợp danh bị hạn chế về huy động vốn thì các loại hình doanh nghiệp khác
như công ty cổ phần được phát hành chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu.
- Vấn đề về chế độ trách nhiệm
+ Theo điểm b, khoản 1, điều 177, luật doanh nghiệp 2020: “Thành viên hợp danh
phải nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của
công ty”. thể thấy, công ty hợp tác thì các thành viên hợp danh nhân
phải chịu trách nhiệm hạn đối với các nghĩa vụ của công ty. Điều này dễ dàng tạo
ra mức rủi ro cao cho các thành viên hợp danh. Nếu khi doanh nghiệp giải thể hoặc
phá sản mà tài sản của công ty không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, các thành viên
hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình.
+ Theo điều 179, luật doanh nghiệp 2020: “Tài sản của công ty hợp danh bao gồm:
1. Tài sản góp vốn của các thành viên đã được chuyển quyền sở hữu cho công ty;
2. Tài sản tạo lập được mang tên công ty;
3. Tài sản thu được từ hoạt động kinh doanh do thành viên hợp danh thực hiện
nhân danh công ty từ hoạt động kinh doanh của công ty do thành viên hợp danh
nhân danh cá nhân thực hiện;
4. Tài sản khác theo quy định của pháp luật.”
thể thấy rằng công ty hợp danh không phân biệt tài sản công ty tài sản
nhân ràng, sự chuyển dịch quyền sở hữu đối với khối tài sản chung sang tài sản
riêng rất đơn giản và khó kiểm soát. Do đó, khả năng rủi ro và nguy hiểm đối với từng
thành viên là rất lớn.
- Vấn đề về quyền và nghĩa vụ: điều 180, luật doanh nghiệp 2020 Theo :
1. hành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân; không được làm
thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác trừ trường hợp được sự nhất trí của
các thành viên hợp danh còn lại.
2. Thành viên hợp danh không được nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác
kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty để lợi hoặc phục vụ lợi ích
của tổ chức, cá nhân khác.
3. Thành viên hợp danh không được chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp
của mình tại công ty cho tổ chức, cá nhân khác nếu không được sự chấp thuận của các
thành viên hợp danh còn lại.”
Thành viên hợp danh của công ty hợp danh bị hạn chế nhiều quyển như trên. Sự
hạn chế này dẫn đến thành viên hợp danh không thể góp vốn, chuyển nhượng vốn sang
một doanh nghiệp khác trừ khi được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.
Điều y khiến thành viên hợp danh muốn thể đầu tư, góp vốn… thì phải rời công
ty. Tuy nhiên đối với công ty đối nhân như công ty hợp danh thì việc rời công ty cũng
rất khó, và bị hạn chế.
3. Nhận xét, đánh giá.
5
Việt Nam hiện nay đang trải qua một giai đoạn phát triển kinh tế nhanh chóng
đa dạng hóa, tuy nhiên, việc số lượng công ty thành lập theo hình công ty hợp
danh vẫn ít ỏi đang một hiện tượng đáng chú ý. Thông qua thuyết, thực trạng
nguyên nhân nêu trên thể thấy được mặc công ty hợp danh mang lại nhiều lợi
ích như chia sẻ rủi ro tài nguyên, tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam thường ưu
tiên lựa chọn các mô hình khác. Điều này có thể do văn hóa kinh doanh địa phương và
tiêu chí đánh giá hiệu suất kinh doanh. Ngoài ra, môi trường pháp lý hành chính tại
Việt Nam phức tạp đầy rủi ro đối với việc thành lập quản công ty hợp danh.
Các quy định về quyền lợi trách nhiệm của các thành viên, cũng như thủ tục hành
chính, có thể làm gia tăng chi phí và thời gian cho doanh nghiệp. Cuối cùng là sự thiếu
niềm tin từ phía doanh nghiệp, một số doanh nghiệp thể thiếu niềm tin vào khả
năng thành công của hình công ty hợp danh, đặc biệt khi họ chưa kinh
nghiệm hoặc thành công trong việc áp dụng mô hình này. Do đó, cần phải đề xuất, đưa
ra một số giải pháp để cải thiện tình trạng này.
4. Đề xuất giải pháp.
Để loại hình công ty hợp danh trở thành một hình thức thu hút các nhà đầu
lựa chọn cần đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về loại hình công
ty hợp danh như sau:
- Một nên tách bạch loại hình công ty hợp danh hiện nay thành công ty hợp danh
chỉ các thành viên hợp danh với ít nhất 02 thành viên hợp danh trở n với công ty
hợp vốn bao gồm tối thiểu 01 thành viên hợp danh và 01 thành viên hợp vốn.
- Hai là quy định thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công
ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty và quy định rõ ràng, cụ thể về các
quyền lợi của họ để thu hút đầu tư vốn cho công ty hợp danh.
- Ba quy định về người đại diện cho công ty hợp danh trong các giao dịch cụ thể
đối với bên thứ ba, cũng như quy định thống nhất việc thành viên hợp danh thoái vốn
ra khỏi công ty hợp danh.
- Bốn nên quy định công ty hợp danh loại hình doanh nghiệp không cách
pháp nhân như trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 để phù hợp với quy định của Bộ
luật dân sự, đồng thời không cho phép công ty hợp danh phát hành cổ phiếu nhưng
được quyền phát hành trái phiếu để tạo điều kiện cho công ty dễ dàng huy động vốn.
- Năm quy định cho phép chủ nợ được yêu cầu một trong số các thành viên hợp
danh trả nợ khi họ chứng minh được tài sản công ty hợp danh không đủ trả nợ hoặc đã
yêu cầu công ty hợp danh thực hiện trả nợ trong một thời hạn ngắn nhưng công ty hợp
danh không thực hiện. Bên cạnh đó, cần quy định lại việc hạn chế của thành viên hợp
danh là không được làm thành viên hợp danh hoặc chủ doanh nghiệp tư nhân trong bất
kỳ trường hợp nào. Ngoài ra, cũng nên xem xét cho phép pháp nhân cũng thể trở
thành thành viên hợp danh của công ty hợp danh để đa dạng hóa hình thức thu hút các
nhà đầu tư lựa chọn.
Ngoài ra cũng có một số biện pháp có thể xem xét như:
6
- Giảm thủ tục và chi phí thành lập: Rút ngắn và đơn giản hóa thủ tục, giấy tờ cần thiết
và chi phí để thành lập công ty hợp danh. Điều này giúp giảm gánh nặng tài chính ban
đầu và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp mới.
- Tạo ra chính sách khuyến khích: Thiết lập các chính sách khuyến khích như miễn
giảm thuế, hỗ trợ tài chính, ưu đãi về thủ tục hành chính cho các công ty hợp danh
mới thành lập.
- Cung cấp hỗ trợ vấn hướng dẫn: Tổ chức các buổi vấn hướng dẫn miễn
phí hoặc chi phí thấp về quy trình thành lập quản công ty hợp danh, giúp
doanh nghiệp hiểu rõ hơn về lợi ích và thách thức của loại hình này.
- Tăng cường yêu cầu về báo cáo minh bạch thông tin: Công ty hợp danh thường
không phải công bố thông tin về cấu sở hữu hoạt động công ty như các công ty
cổ phần. Điều này có thể làm giảm sự tin cậy của các nhà đầu tư và đối tác kinh doanh.
5. Kết luận.
Vấn đề số lượng công ty thành lập theo hình công ty hợp danh chiếm s
lượng khá ít tại Việt Nam hiện nay xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác khác, do đó
có thể sẽ cần một số chỉnh sửa trong luật để cải thiện hơn về tình hình này. Khi đã nắm
được nguyên nhânđưa ra cách xử hợp thì rất thể trong tương lai, loại hình
công ty hợp danh sẽ trở nên phổ biến và được sử dụng nhiều hơn so với hiện tại.
7

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING ---------o0o--------- BÀI THẢO LUẬN
BỘ MÔN: LUẬT KINH TẾ 1
ĐỀ TÀI: Bằng các kiến thức đã học, hãy trình bày ý kiến về việc số lượng công
ty thành lập theo mô hình công ty hợp danh chiếm số lượng khá ít tại Việt Nam hiện nay.
Giảng viên hướng dẫn: Trần Ngọc Diệp Nhóm: 11
Mã lớp học phần: 232_PLAW0321_08 HÀ NỘI, 2024
BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ CÁC THÀNH VIÊN NHÓM 11 Chữ ký STT Họ và tên Vai trò Công việc Đánh xác giá nhận Trình bày đặc điểm thành viên và tài sản 1Nguyễn Thị Trang Thành viên 10 của công ty hợp danh 2Nông Huyền Trang Thành viên Trình bày thực trạng 10 3Trần Yến Trang Thành viên Đề xuất giải pháp. 10 4Hà Minh Triết Thành viên Trình bày nguyên nhân 10 5Trần Đức Tùng Thành viên Trình bày thực trạng 10 Trình bày khái niệm và tư cách pháp
6Nguyễn Phương Uyên Thành viên nhân, đại diện cho 10 pháp luật của công ty hợp danh Trình bày nhận xét, 7Nguyễn Hoàng Vũ Thành viên đánh giá và thuyết 10 trình Trình bày nguyên nhân, viết kết luận 8Trần Ánh Xuân Nhóm trưởng 10 và làm word và làm slide Trình bày đặc điểm cơ cấu tổ chức, quản 9Lưu Như ý Thành viên lý và chế độ chịu 10 trách nhiệm của công ty hợp danh
10 Đào Thị Hương Quỳnh Thành viên Đề xuất giải pháp. 10 11 Nguyễn Thảo Nhi Thành viên Trình bày nhận xét, đánh giá. 10
Hà Nội, ngày 23 tháng 3 năm 2024 Chữ ký nhóm trưởng (ký và ghi rõ họ tên)
I. Cơ sở lý thuyết. 2
1. Khái niệm về công ty hợp danh.
Theo khoản 1, điều 177. Công ty hợp danh (Luật doanh nghiệp 2020):
1. Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
a. Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh
doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài các thành viên
hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn;
b. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về các nghĩa vụ của công ty;
c. Thành viên góp vốn là tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ
của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty.
2. Đặc điểm của công ty hợp danh.
2.1. Đặc điểm thành viên.
- Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2020: Thành viên hợp danh
phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.
- Căn cứ tại điểm c khoản 1 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2020: Thành viên góp vốn
là tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi
số vốn đã cam kết góp vào công ty.
2.2. Đặc điểm tài sản của công ty hợp danh.
-
Theo điều 179, luật doanh nghiệp 2020:
Tài sản của công ty hợp danh bao gồm:
1. Tài sản góp vốn của các thành viên đã được chuyển quyền sở hữu cho công ty;
2. Tài sản tạo lập được mang tên công ty;
3. tài sản thu được từ hoạt động kinh doanh do thành viên hợp danh thực hiện nhân
danh công ty và từ hoạt động kinh doanh của công ty do thành viên hợp danh nhân danh cá nhân thực hiện;
4. Tài sản khác theo quy định của pháp luật.
- Theo khoản 3, điều 177, luật doanh nghiệp :
2020 “Công ty hợp danh không được
phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.”
2.3. Đặc điểm cơ cấu tổ chức, quản lý
Cơ cấu tổ chức:
- Theo khoản 1, điều 182, luật doanh nghiệp 2020: “Hội đồng thành viên bao gồm
tất cả thành viên. Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội
đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ
công ty không có quy định khác.”
- Theo khoản 2, điều 182, luật doanh nghiệp :
2020 “Thành viên hợp danh có quyền
yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên để thảo luận và quyết định công việc kinh doanh của công ty.”
- Theo khoản 3, điều 182, luật doanh nghiệp 2020: “Hội đồng thành viên có quyền
quyết định tất cả công việc kinh doanh của công ty.”
Điều hành hoạt động: 3
- Theo khoản 1, điều 184, luật doanh nghiệp 2020: Các thành viên hợp danh là
người đại diện theo pháp luật của công ty và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh
hàng ngày của công ty. Mọi hạn chế đối với thành viên hợp danh trong thực hiện công
việc kinh doanh hàng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó
được biết về hạn chế đó.
- Theo khoản 2, điều 184, luật doanh nghiệp 2020: trong điều hành hoạt động kinh
doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh
quản lý và kiểm soát công ty,
2.4. Chế độ chịu trách nhiệm.
- Theo điểm b, khoản 2, điều 177, luật doanh nghiệp 2020: “Thành viên hợp danh
phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.”
- Theo điểm c, khoản 2, điều 177, luật doanh nghiệp 2020: “Thành viên góp vốn là
tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số
vốn đã cam kết góp vào công ty.”
3. Tư cách pháp nhân, đại diện cho pháp luật của công ty hợp danh.
- Theo khoản 2, điều 177, luật doanh nghiệp 2020: “Công ty hợp danh có tư cách
pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp”.
- Theo khoản 1, điều 184, luật doanh nghiệp :
2020 Các thành viên hợp danh là
người đại diện theo pháp luật của công ty và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty.
II. Ý kiến về vấn đề số lượng công ty thành lập theo mô hình công ty hợp danh
chiếm số lượng khá ít tại Việt Nam hiện nay. 1. Thực trạng.

Các công ty hợp danh hiện nay chủ yếu tập trung ở Hà Nội và TP.HCM. Tuy
nhiên số lượng cũng rất ít khi (chỉ có 20 công ty hợp danh tại Hà Nội và 10 công ty
hợp danh tại TP.HCM) so với số lượng hàng nghìn công ty TNHH, công ty CP. Sự mờ
nhạt của công ty hợp danh không chỉ ở trên thị trường mà còn ở ngay trong tâm trí của
người dân. Nhiều người thậm chí còn chưa từng biết tới khái niệm “công ty hợp danh”,
hoặc thậm chí nhầm lẫn với khái niệm “hợp doanh”. Theo thống kê của Cục quản lý
đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch đầu tư (2017) thì số lượng các Công ty hợp danh ở
Việt Nam chiếm tỷ lệ rất nhỏ, số lượng các nhà đầu tư thực hiện đăng ký thành lập
Công ty hợp danh mới chiếm tỉ lệ rất thấp (0.03%). Trên thực tế, loại hình công ty này
được rất ít các cá nhân lựa chọn khi thành lập doanh nghiệp. Cụ thể, chỉ có 01 công ty
hợp danh trên mỗi 7000 công ty được thành lập mới, theo số liệu của Tổng cục Thống
kê. Hiện tại các công ty hợp danh chủ yếu ở lĩnh vực tư vấn luật và kiểm toán. Các DN
này hoạt động với mô hình có thành viên góp vốn hoặc chỉ có thành viên hợp danh 2. Nguyên nhân.
- Vấn đề về huy động vốn:
Theo khoản
3 - điều 1787- luật DN 2020: “Công ty hợp
danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào”. Có thể thấy công ty hợp
danh không được phát hành bất cứ loại chứng khoán nào, nên việc huy động vốn sẽ bị
hạn chế. Dẫn đến nếu công ty hợp danh muốn huy động vốn chỉ có thể là các thành 4
viên hợp danh và góp vốn góp thêm tài sản của mình hoặc tiếp nhận thành viên mới.
Việc để các thành viên trong công ty góp thêm vốn khá khó và phức tạp. Hơn nữa, đối
với công ty đối nhân như công ty hợp danh thì việc thêm thành viên là rất hạn chế và
để thêm thành viên cần sự chấp thuận của hội đồng thành viên. Trong khi đó, trái lại
với công ty hợp danh bị hạn chế về huy động vốn thì các loại hình doanh nghiệp khác
như công ty cổ phần được phát hành chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu.
- Vấn đề về chế độ trách nhiệm
+ Theo điểm b, khoản 1, điều 177, luật doanh nghiệp 2020: “Thành viên hợp danh
phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của
công ty”
. Có thể thấy, công ty hợp tác xã thì các thành viên hợp danh là cá nhân và
phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ của công ty. Điều này dễ dàng tạo
ra mức rủi ro cao cho các thành viên hợp danh. Nếu khi doanh nghiệp giải thể hoặc
phá sản mà tài sản của công ty không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, các thành viên
hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình.
+ Theo điều 179, luật doanh nghiệp 2020: “Tài sản của công ty hợp danh bao gồm:
1. Tài sản góp vốn của các thành viên đã được chuyển quyền sở hữu cho công ty;
2. Tài sản tạo lập được mang tên công ty;
3. Tài sản thu được từ hoạt động kinh doanh do thành viên hợp danh thực hiện
nhân danh công ty và từ hoạt động kinh doanh của công ty do thành viên hợp danh
nhân danh cá nhân thực hiện;
4. Tài sản khác theo quy định của pháp luật.”

Có thể thấy rằng công ty hợp danh không phân biệt tài sản công ty và tài sản cá
nhân rõ ràng, sự chuyển dịch quyền sở hữu đối với khối tài sản chung sang tài sản
riêng rất đơn giản và khó kiểm soát. Do đó, khả năng rủi ro và nguy hiểm đối với từng thành viên là rất lớn.
- Vấn đề về quyền và nghĩa vụ: Theo điều 180, luật doanh nghiệp 2020:
“ 1. hành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân; không được làm
thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác trừ trường hợp được sự nhất trí của
các thành viên hợp danh còn lại.
2. Thành viên hợp danh không được nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác
kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích
của tổ chức, cá nhân khác.
3. Thành viên hợp danh không được chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp
của mình tại công ty cho tổ chức, cá nhân khác nếu không được sự chấp thuận của các
thành viên hợp danh còn lại.”

Thành viên hợp danh của công ty hợp danh bị hạn chế nhiều quyển như trên. Sự
hạn chế này dẫn đến thành viên hợp danh không thể góp vốn, chuyển nhượng vốn sang
một doanh nghiệp khác trừ khi được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.
Điều này khiến thành viên hợp danh muốn có thể đầu tư, góp vốn… thì phải rời công
ty. Tuy nhiên đối với công ty đối nhân như công ty hợp danh thì việc rời công ty cũng
rất khó, và bị hạn chế.
3. Nhận xét, đánh giá. 5
Việt Nam hiện nay đang trải qua một giai đoạn phát triển kinh tế nhanh chóng
và đa dạng hóa, tuy nhiên, việc số lượng công ty thành lập theo mô hình công ty hợp
danh vẫn ít ỏi đang là một hiện tượng đáng chú ý. Thông qua lý thuyết, thực trạng và
nguyên nhân nêu trên có thể thấy được mặc dù công ty hợp danh mang lại nhiều lợi
ích như chia sẻ rủi ro và tài nguyên, tuy nhiên, doanh nghiệp ở Việt Nam thường ưu
tiên lựa chọn các mô hình khác. Điều này có thể do văn hóa kinh doanh địa phương và
tiêu chí đánh giá hiệu suất kinh doanh. Ngoài ra, môi trường pháp lý và hành chính tại
Việt Nam phức tạp và đầy rủi ro đối với việc thành lập và quản lý công ty hợp danh.
Các quy định về quyền lợi và trách nhiệm của các thành viên, cũng như thủ tục hành
chính, có thể làm gia tăng chi phí và thời gian cho doanh nghiệp. Cuối cùng là sự thiếu
niềm tin từ phía doanh nghiệp, một số doanh nghiệp có thể thiếu niềm tin vào khả
năng thành công của mô hình công ty hợp danh, đặc biệt là khi họ chưa có kinh
nghiệm hoặc thành công trong việc áp dụng mô hình này. Do đó, cần phải đề xuất, đưa
ra một số giải pháp để cải thiện tình trạng này.
4. Đề xuất giải pháp.
Để loại hình công ty hợp danh trở thành một hình thức thu hút các nhà đầu tư
lựa chọn cần đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về loại hình công ty hợp danh như sau:
- Một là nên tách bạch rõ loại hình công ty hợp danh hiện nay thành công ty hợp danh
chỉ có các thành viên hợp danh với ít nhất 02 thành viên hợp danh trở lên với công ty
hợp vốn bao gồm tối thiểu 01 thành viên hợp danh và 01 thành viên hợp vốn.
- Hai là quy định thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công
ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty và quy định rõ ràng, cụ thể về các
quyền lợi của họ để thu hút đầu tư vốn cho công ty hợp danh.
- Ba là quy định rõ về người đại diện cho công ty hợp danh trong các giao dịch cụ thể
đối với bên thứ ba, cũng như quy định thống nhất việc thành viên hợp danh thoái vốn ra khỏi công ty hợp danh.
- Bốn là nên quy định công ty hợp danh là loại hình doanh nghiệp không có tư cách
pháp nhân như trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 để phù hợp với quy định của Bộ
luật dân sự, đồng thời không cho phép công ty hợp danh phát hành cổ phiếu nhưng
được quyền phát hành trái phiếu để tạo điều kiện cho công ty dễ dàng huy động vốn.
- Năm là quy định cho phép chủ nợ được yêu cầu một trong số các thành viên hợp
danh trả nợ khi họ chứng minh được tài sản công ty hợp danh không đủ trả nợ hoặc đã
yêu cầu công ty hợp danh thực hiện trả nợ trong một thời hạn ngắn nhưng công ty hợp
danh không thực hiện. Bên cạnh đó, cần quy định lại việc hạn chế của thành viên hợp
danh là không được làm thành viên hợp danh hoặc chủ doanh nghiệp tư nhân trong bất
kỳ trường hợp nào. Ngoài ra, cũng nên xem xét cho phép pháp nhân cũng có thể trở
thành thành viên hợp danh của công ty hợp danh để đa dạng hóa hình thức thu hút các nhà đầu tư lựa chọn. 
Ngoài ra cũng có một số biện pháp có thể xem xét như: 6
- Giảm thủ tục và chi phí thành lập: Rút ngắn và đơn giản hóa thủ tục, giấy tờ cần thiết
và chi phí để thành lập công ty hợp danh. Điều này giúp giảm gánh nặng tài chính ban
đầu và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp mới.
- Tạo ra chính sách khuyến khích: Thiết lập các chính sách khuyến khích như miễn
giảm thuế, hỗ trợ tài chính, và ưu đãi về thủ tục hành chính cho các công ty hợp danh mới thành lập.
- Cung cấp hỗ trợ tư vấn và hướng dẫn: Tổ chức các buổi tư vấn và hướng dẫn miễn
phí hoặc có chi phí thấp về quy trình thành lập và quản lý công ty hợp danh, giúp
doanh nghiệp hiểu rõ hơn về lợi ích và thách thức của loại hình này.
- Tăng cường yêu cầu về báo cáo và minh bạch thông tin: Công ty hợp danh thường
không phải công bố thông tin về cơ cấu sở hữu và hoạt động công ty như các công ty
cổ phần. Điều này có thể làm giảm sự tin cậy của các nhà đầu tư và đối tác kinh doanh. 5. Kết luận.
Vấn đề số lượng công ty thành lập theo mô hình công ty hợp danh chiếm số
lượng khá ít tại Việt Nam hiện nay xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác khác, do đó
có thể sẽ cần một số chỉnh sửa trong luật để cải thiện hơn về tình hình này. Khi đã nắm
được nguyên nhân và đưa ra cách xử lý hợp lý thì rất có thể trong tương lai, loại hình
công ty hợp danh sẽ trở nên phổ biến và được sử dụng nhiều hơn so với hiện tại. 7