



Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ I NĂM HỌC 2024 – 2025
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Luật Kinh tế 1 Số báo danh: 12 Mã số đề thi: 3 LHP:
Ngày thi: 04/01/2025 Tổng số trang: 4 Họ và tên: Điểm kết luận: GV chấm thi 1: GV chấm thi 2: Câu 1:
* Phân tích ưu nhược điểm của công ty hợp danh so với công ty trách nhiệm hữu hạn 2
thành viên trở lên theo quy định của pháp luật hiện hành
Công ty hợp danh và Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là hai loại hình doanh
nghiệp được quy định trong Luật Doanh Nghiệp 2020. Hai loại hình khác nhau dẫn đến những ưu
nhược điểm khác nhau, dưới đây là bài phân tích ưu nhược điểm của công ty hợp danh so với
công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên theo quy định của pháp luật hiện hành.
Trước hết, ta có khái niệm của công ty hợp danh. Theo Khoản 1, Điều 177 Luật Doanh nghiệp
2020, Công ty hợp danh là doanh nghiệp phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của
công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài
các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn; Thành viên hợp danh phải
là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; Thành
viên góp vốn là tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm
vi số vốn đã cam kết góp vào công ty.
Còn theo Khoản 1, Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020, Công ty TNHH hai thành viên trở lên
là doanh nghiệp có từ 02 đến 50 thành viên là tổ chức, cá nhân. Thành viên chịu trách nhiệm về
các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh
nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 47 của Luật này. Phần vốn góp của thành viên
chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các Điều 51, 52 và 53 của Luật này.
Về ưu điểm, đầu tiên, về chế độ chịu trách nhiệm, Thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô
hạn và liên đới, có thể tạo niềm tin lớn đối với đối tác và khách hàng; trong khi đó công ty TNHH
hai thành viên trở lên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn nên đối tác có thể dè chừng hơn vì trách
nhiệm pháp lý của các thành viên chỉ trong phạm vi vốn góp. Cuối cùng, về cơ cấu tổ chức,
thành viên hợp danh của công ty hợp danh trực tiếp tham gia điều hành hoạt động công ty, giúp
việc ra quyết định nhanh chóng; còn công ty TNHH hai thành viên trở lên thì phải thông qua Hội Trang 1/4
đồng thành viên để đưa ra quyết định quan trọng, đặc biệt khi có nhiều thành viên, điều này dẫn
đến việc ra quyết định chậm hơn.
Về nhược điểm, trước hết, về phương thức huy động vốn, công ty hợp danh không được phát
hành bất kỳ loại chứng khoán nào để công khai huy động vốn từ công chúng, trong khi công ty
TNHH hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phiếu nhưng được quyền phát hành
trái phiếu nên vì thế có khả năng huy động vốn tốt hơn, do có thể tăng vốn góp từ thành viên mới
(tối đa 50 thành viên). Tiếp theo, về chế độ chịu trách nhiệm, thành viên hợp danh của công ty
hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn (chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa
vụ của công ty) vì vậy sẽ chịu rủi ro cao hơn, trong khi đó, giống như thành viên góp vốn của
công ty hợp danh, các thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên chỉ chịu trách nhiệm
về các khoản nợ và tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty nên sẽ chịu ít rủi ro hơn.
Từ những phân tích trên có thể thấy công ty hợp danh có những ưu nhược điểm so với công ty
TNHH hai thành viên trở lên. Có thể thấy đây là một loại hình kinh doanh phù hợp với những
doanh nghiệp đặt sự uy tín lên hàng đầu. Việc đăng ký loại hình doanh nghiệp còn phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như mục đích kinh doanh, số lượng thành viên, nguồn vốn, khả năng quản lý và điều hành. * Ví dụ minh hoạ:
Công ty Luật Hợp Danh Niềm Tin Việt có mã số thuế là 0105136230, được thành lập tại Số 31
phố Xuân Quỳnh, Phường Trung Hoà, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, Việt Nam. Doanh
nghiệp này có đại diện pháp luật là Lê Trung Sơn, có ngành nghề kinh doanh chính là hoạt động
pháp luật. Sau đây là ví dụ về ưu nhược điểm của công ty hợp danh so với công ty TNHH hai thành viên:
Ngành luật là lĩnh vực yêu cầu uy tín và trách nhiệm cá nhân cao. Do đó, công ty hợp danh
thường được ưu tiên bởi thành viên hợp danh (luật sư) chịu trách nhiệm vô hạn bằng cả tài sản cá
nhân. Điều này giúp khách hàng và đối tác tin tưởng vào cam kết và chất lượng dịch vụ pháp lý
được cung cấp. Trong các vụ kiện hoặc tranh chấp lớn, khách hàng thường chọn công ty hợp
danh vì họ đánh giá cao trách nhiệm cá nhân của luật sư. Ngoài ra, thành viên hợp danh trực tiếp
điều hành, không cần thông qua Hội đồng thành viên như công ty TNHH hai thành viên trở lên,
nên quá trình ra quyết định (ví dụ: nhận vụ án, thỏa thuận phí) nhanh và linh hoạt hơn.
Vì thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn, nên nếu công ty thua lỗ hoặc bị kiện vì lỗi
nghề nghiệp thì tài sản cá nhân của các thành viên có thể bị sử dụng để trả nợ. Ví dụ, nếu công ty
thua trong một vụ kiện lớn dẫn đến việc bồi thường số tiền lớn, các luật sư hợp danh phải dùng cả
tài sản cá nhân để bù đắp. Câu 2: Trang 2/4
1. Việc thành lập doanh nghiệp và nội dung thoả thuận trong điều lệ là không hợp pháp. Vì:
- Số lượng thành viên hợp lệ theo Khoản 1, Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020: “Công ty trách
nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có từ 02 đến 50 thành viên là tổ chức, cá
nhân”. Theo đề ra, có 5 người thành lập công ty (Linh, Lan, Thành, Chi và Liên) và 5 người này
không thuộc các đối tượng theo quy định tại Khoản 2, Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020
- Theo Điều 37 Luật Doanh nghiệp 2020, Tên DN = Loại hình doanh nghiệp + Tên riêng. Trong
đó, Công ty TNHH 2 thành viên thương mại và dịch vụ Hoàng Nam (trong đó Công ty TNHH 2
thành viên là tên loại hình doanh nghiệp, còn thương mại và dịch vụ Hoàng Nam là tên riêng). Vì
vậy đây là tên hợp lệ.
- Tổng vốn điều lệ là 5 tỷ đồng các thành viên thỏa thuận góp vốn bằng tiền mặt, tài sản hữu hình
(dây chuyền lắp ráp, ô tô) và tài sản vô hình (kiểu dáng công nghiệp). Điều này là hợp lệ, dựa theo:
+ Điều 34, Luật Doanh nghiệp 2020: Thành viên có quyền góp vốn bằng tiền, tài sản, quyền sở
hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất, hoặc tài sản khác có thể định giá được bằng tiền.
+ Điều 36, Luật Doanh nghiệp 2020: Tài sản góp vốn phải được các thành viên thỏa thuận định
giá hoặc do tổ chức định giá chuyên nghiệp thực hiện. Việc định giá tài sản của Linh (1,2 tỷ),
Thành (2 tỷ), và Chi (600 triệu) được các thành viên đồng thuận, đáp ứng yêu cầu pháp lý.
- Chủ tịch Hội đồng thành viên: Thành được bầu làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, phù hợp với
Điều 55, Luật Doanh nghiệp 2020, theo đó HĐTV có quyền bầu Chủ tịch.
- Giám đốc kiêm người đại diện theo pháp luật: Linh đảm nhiệm vai trò này. Điều này hợp pháp, vì:
+ Theo Điều 12, Luật Doanh nghiệp 2020, công ty có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật.
+ Điều 64, Luật Doanh nghiệp 2020 quy định Giám đốc có thể kiêm người đại diện theo pháp
luật nếu được nêu rõ trong điều lệ công ty.
- Theo Điều 54, Luật Doanh nghiệp 2020, công ty TNHH 2 thành viên trở lên là doanh nghiệp
nhà nước thì phải có Ban kiểm soát còn các
trường hợp còn lại sẽ do doanh nghiệp quyết định. Vì
vậy, công ty không thành lập ban kiểm soát là hợp lệ.
- Trụ sở kinh doanh là một trong những nội dung chính để xem xét việc thành lập doanh nghiệp
có hợp lệ hay không. Theo Điều 42, Luật Doanh nghiệp 2020, trụ sở phải thuộc quyền sở hữu
hợp pháp của doanh nghiệp, ví dụ như phải có Hợp đồng thuê mặt bằng, giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất,….Tuy nhiên ở đây đề bài không đề cập đến việc công ty có sở hữu hợp đồng hay
giấy chứng nhận trên không. Vì vậy, có thể kết luận rằng không hợp lệ.
- Ngoài ra, theo quy định tại Luật Đầu tư 2020, ngành nghề kinh doanh của công ty TNHH 2
thành viên thương mại và dịch vụ Hoàng Nam là công ty chuyên cung cấp máy matxa, máy chạy Trang 3/4
bộ và dịch vụ matxa. Đây là ngành nghề kinh doanh không thuộc ngành kinh doanh bị cấm và
thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Vì thế doanh nghiệp cần đáp ứng đủ điều kiện mới được kinh doanh.
Vì vậy, ta có thể kết luận, việc thành lập doanh nghiệp và nội dung thoả thuận trong điều
lệ là không hợp pháp (Vì chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chí xét thành lập doanh nghiệp) 2.
- Theo Luật Doanh nghiệp 2020:
+ Khoản 2 Điều 47: “Thành viên phải góp vốn cho công ty đủ và đúng loại tài sản đã cam kết
khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp”.
+ Khoản 4 Điều 47: “Trường hợp có thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam
kết, công ty phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ, tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên bằng số vốn
đã góp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ phần vốn góp theo quy định tại
khoản 2 Điều này. Các thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu
trách nhiệm tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công
ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp của thành viên.”
- Đối chiếu với tình huống góp vốn:
+ Lan: Góp đúng số tiền 700 triệu đã cam kết. → Hợp pháp.
+ Linh: Góp đúng dây chuyền lắp ráp máy matxa được định giá 1,2 tỷ như đã cam kết. → Hợp pháp.
+ Thành: Góp đúng kiểu dáng công nghiệp đối với máy matxa được định giá 2 tỷ như cam kết. → Hợp pháp.
+ Chi: Góp đúng ô tô được định giá 600 triệu như đã cam kết. → Hợp pháp.
+ Liên: Thay đổi tài sản góp vốn từ 500 triệu tiền mặt sang quyền sở hữu nhà dùng làm trụ sở
được định giá 500 triệu.
→ Không hợp pháp vì: Loại tài sản góp vốn không đúng với loại đã cam kết trong điều lệ (tiền mặt).
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2020, việc thay đổi loại tài sản góp
vốn cần được Hội đồng thành viên thông qua và ghi nhận trong điều lệ sửa đổi. * Kết luận:
- Việc góp vốn của Lan, Linh, Thành, và Chi hợp pháp vì đúng loại tài sản và đúng giá trị cam kết.
- Việc góp vốn của Liên không hợp pháp vì
thay đổi loại tài sản góp vốn mà chưa được Hội
đồng thành viên chấp thuận và sửa đổi điều lệ. Trang 4/4