











Preview text:
1. Thực trạng
Tình hình lạm phát của Việt Nam qua các năm (Nguồn:DNSE)
1.1. Giai đoạn từ 2010-2011
Diễn biến CPI các tháng năm 2010 và 2011 (Nguồn: GSO)
Theo tin từ Tổng cục thống kê, chỉ số tiêu dùng (CPI) tháng 12/2010 của cả
nước tăng 1,98%, qua đó đẩy mức lạm phát năm của cả nước 2010 lên 11,75% so
với năm 2009. Con số này vượt gần 5% so với chỉ tiêu được Quốc hội đề ra hồi đầu năm (khoảng 8%).
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2011
đã tăng đột biến tới 3,32% so với tháng 3, nâng CPI của 4 tháng đầu năm lên tới
9,64%, đã cao hơn mục tiêu kiềm chế ở 7% mà Quốc hội thông qua đầu năm.
=> Đây là mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua.
Năm 2011 lạm phát ở mức cao nhất với tỉ lệ 18,58% ghi nhận sự “đi hoang”
của dòng tiền, khi không tạo được đột phá về tăng trưởng nhưng lại thúc ép lạm
phát đạt các kỷ lục mới. Chia bình quân, CPI mỗi tháng trong năm nay tương ứng
với mức tăng khoảng 1,4%.
Đây cũng là mức cao nhất so với các nước trong khu vực ASEAN, cao gấp
2,4 lần của Lào - nước có mức lạm phát cao thứ hai.
1.2. Giai đoạn từ 2012-2015
Trong giai đoạn này, nhà nước ban hành và thực hiện chính sách tài khóa, tiền
tệ chặt chẽ hơn trên phạm vi cả nước. Đồng thời, có biện pháp thúc đẩy quá trình
gia tăng sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu. Nhờ đó từ sau năm 2011
đến 2015, nền kinh tế nước ta giữ ở mức ổn định, tỷ lệ lạm phát giảm dần và đạt mức cao kỷ lục 0,63%.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2012 tăng
0,27% so với tháng trước, lạm phát có xu hướng ổn định dưới mức 7%. Đây là kết
quả đáng lưu ý của kinh tế Việt Nam 2012, bởi mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô đã được thực hiện tốt. Việc kiểm soát khá tốt mức tăng của chỉ
số giá tiêu dùng thể hiện tính kịp thời và hiệu quả của việc triển khai Chỉ thị số
25/CT-TTg ngày 26/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác
quản lý, điều hành và bình ổn giá. Trong năm 2012 có tới 7 tháng CPI chỉ tăng
dưới 1% và hầu hết các tháng chỉ tăng dưới 0,5%. Cụ thể, theo phân tích của Tổng
cục Thống kê, CPI tăng không quá cao vào 2 tháng đầu năm (Tăng 1,0% vào tháng
1 và tăng 1,37% vào tháng 2) nhưng tăng cao nhất vào tháng 9 với mức tăng 2,20%.
(Nguồn: Tổng Cục Thống kê)
Mức lạm phát 11 tháng năm 2014 so với cùng kỳ năm 2013 chỉ ở mức 4,3%.
CPI trung bình 11 tháng năm 2014 tăng 4,3%, bằng một nửa tỉ lệ tăng trung bình
trong 10 năm gần đây. Như vậy, nhìn tổng thể trong giai đoạn 2012-2014 thể hiện
nỗ lực rất lớn của Việt Nam trong việc kiểm soát giá cả. Với mức lạm phát giao
động khoảng 6%, Việt Nam đã nhường lại vị trí là nước có mức lạm phát cao nhất
trong khu vực cho Indonesia (8,32%) và trở thành một trong những nước thực hiện
kiểm soát lạm phát có hiệu quả nhất.
Năm 2015, lạm phát ở mức thấp nhất 0,63% - là một con số đáng kinh ngạc,
một mức lạm phát thấp nhất kể từ khi Việt Nam bắt đầu tính toán mức lạm phát.
Diễn biến CPI các tháng năm 2015 (Nguồn: Tổng cục thống kê)
Tổng cục Thống kê công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2015 tăng
0,02% so với tháng trước, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước, đánh dấu mức tăng
thấp nhất trong vòng 14 năm qua và cũng thấp hơn rất nhiều so với chỉ tiêu 5% đề ra từ đầu năm.
1.3. Giai đoạn từ 2016-2020
Mặc dù năm 2020 nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19,
nhưng trong giai đoạn 2016-2020, kinh tế vĩ mô của Việt Nam vẫn duy trì ổn định
vững chắc, lạm phát được kiểm soát và duy trì ở mức thấp, tạo môi trường và động
lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Giá cả các mặt hàng diễn biến tương đối ổn
định. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt khoảng 4%,
giảm mạnh so với giai đoạn 2011 - 2015 (7,65%), trong phạm vi mục tiêu đề ra
(dưới 4%). Lạm phát cơ bản bình quân được kiểm soát tốt qua các năm, giữ mức
tương đối ổn định, bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt 1,64%, giảm mạnh so với
giai đoạn 2011 - 2015 là 5,15%.
Phát biểu tại cuộc họp báo công bố tình hình kinh tế - xã hội năm 2016 của
Tổng cục Thống kê - Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức sáng 28/12, tại Hà Nội, Tổng
cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Bích Lâm nhấn mạnh, năm 2016 được coi
là thành công trong việc kiểm soát lạm phát trong điều kiện giá một số mặt hàng
thiết yếu tăng trở lại nhưng vẫn tạo điều kiện để điều chỉnh giá một số mặt hàng do
Nhà nước quản lý tiệm cận dần theo giá thị trường. Năm 2016 bình quân mỗi tháng
chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,4%; CPI bình quân năm 2016 so với năm 2015
tăng 2,66%; CPI tháng 12 năm 2016 tăng 4,74% so tháng 12 năm 2015, thấp hơn
so với mục tiêu 5% của Quốc hội đặt ra.
Diễn biến CPI các tháng năm 2016 (Nguồn: Tổng cục thống kê)
CPI bình quân cả năm 2017 tăng 3,53%. Với chỉ số này, Chính phủ đã hoàn
thành mục tiêu kiểm soát CPI dưới 4% trong năm nay. Theo đó tháng cuối cùng
của năm 2017, chỉ số này tăng 0,21% so với tháng trước, tăng 2,6% so với tháng
12 năm trước; CPI bình quân năm 2017 so với năm 2016 tăng 3,53%.
Năm 2018, tiếp tục với mục tiêu đã đề ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày
1/1/2018 của Chính phủ, kiểm soát tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) bình quân
khoảng 4%. Theo số liệu công bố năm 2018 của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu
dùng (CPI) tháng 12/2018 giảm 0,25% so với tháng trước; CPI bình quân năm
2018 tăng 3,54% so với năm 2017 (dưới mục tiêu Quốc hội đề ra khoảng 4%); CPI
tháng 12/2018 tăng 2,98% so với tháng 12/2017. Lạm phát cơ bản tháng 12/2018
tăng 0,09 % so với tháng trước và tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát
cơ bản bình quân năm 2018 tăng 1,48% so với bình quân năm 2017.
Theo tính toán của Bộ Tài chính, chỉ số lạm phát (chỉ số giá tiêu dùng - CPI)
của năm 2019 ước tăng 2,73%, nằm "dưới" cả mức dự báo của Ban chỉ đạo từ đầu
năm là 3,3- 3,9%. Như vậy lạm phát năm 2019 thấp nhất trong 3 năm gần đây khi
năm 2018 là 3,54% và năm 2017 là 3,53%.
Nhìn chung, mặt bằng giá năm nay tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước,
ngay từ tháng Một đã tăng 6,43%, ảnh hưởng đến công tác quản lý, điều hành giá
của năm 2020, dẫn đến việc kiểm soát lạm phát theo mục tiêu dưới 4% Quốc hội
đặt ra gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo, điều hành sát sao
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương,
mức tăng của CPI được kiểm soát dần qua từng tháng với xu hướng giảm dần. Chỉ
số giá tiêu dùng bình quân năm 2020 tăng 3,23% so với năm trước, đạt mục tiêu
kiểm soát lạm phát, giữ CPI bình quân năm 2020 dưới 4% của Quốc Hội đề ra
trong bối cảnh một năm với nhiều biến động khó lường. CPI tháng 12/2020 tăng
0,19% so với tháng 12/2019, là mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020.
(Tốc độ tăng CPI bình quân năm 2020) 1.4. Giai đoạn 2021-2033
Năm 2021, trong bối cảnh áp lực lạm phát toàn cầu ngày càng tăng cao, giá
nguyên nhiên vật liệu đầu vào cho sản xuất, giá cước vận chuyển liên tục tăng
nhưng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2021 của Việt Nam chỉ tăng
1,84% so với năm trước, thấp nhất trong 6 năm qua, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra,
tiếp tục là năm kiểm soát lạm phát thành công.
Năm 2022, thế giới phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao kỷ lục. Tại Mỹ,
lạm phát đã từng lên mức 9,1% vào tháng 6, mức cao nhất kể từ năm 1981, sau đó
đã có dấu hiệu giảm xuống nhưng vẫn ở mức cao, khi lạm phát tháng 11 đạt 7,1%
do FED liên tục nâng lãi suất, thực hiện chính sách thắt chắt tiền tệ. Lạm phát của
khu vực châu Âu cũng đã leo lên mức hai con số với 10,7% vào tháng 10 và 11,1% vào tháng 11.
Tại Châu Á, lạm phát tháng 11/2022 của Thái Lan tăng 5,6% so với cùng kỳ
năm trước; Hàn Quốc tăng 5%; Indonesia tăng 5,4%; Nhật Bản tăng 3,8%; Trung
Quốc 1,6%. Việt Nam thuộc nhóm các nước có mức lạm phát thấp so với mặt bằng
chung, khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 năm 2022 tăng 4,55% so với cùng
kỳ năm trước. Bình quân cả năm 2022, CPI tăng 3,15% so với năm 2021, thấp hơn
mục tiêu khoảng 4% Quốc hội đặt ra. 2. Nguyên nhân 2.1. Giai đoạn 2010-2011
Nguyên nhân cơ bản của lạm phát tăng cao ở Việt Nam vào năm 2011 chính
là yếu tố tiền tệ. Mức tăng tiền quá cao so với mức tăng hàng hóa đã dẫn đến lạm
phát. Nói một cách khác nguồn vốn đã không được sử dụng hiệu quả do ba nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất, do đầu tư công quá mức. Không thể phủ nhận sự cần thiết của đầu
tư công, nhưng Nhà nước chỉ nên tham gia vào những lĩnh vực đem lại lợi ích lớn
cho cả nền kinh tế. Trên thực tế Nhà nước đã tham gia quá nhiều vào các hoạt động
kinh tế, thậm chí còn cạnh tranh và lấn át khu vực tư nhân. Với mức chi tiêu của
khu vực công (bao gồm chi tiêu thường xuyên và chi đầu tư) trong những năm vừa
qua luôn ở mức 35-40% GDP và đầu tư của Nhà nước khoảng 20% GDP (một nửa
tổng đầu tư toàn xã hội). Đây là mức chi tiêu quá cao, điều này dẫn đến tham
nhũng và những hợp đồng ưu ái cho một số đối tượng.
Thứ hai, sự thiên lệch cho việc phân bố vốn ở khu vực doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp nhà nước và một số doanh nghiệp tư nhân lớn có nhiều quan hệ đang
là đối tượng dành được sự ưu ái trong việc phân bổ vốn. Đối với một số doanh
nghiệp tư nhân lớn, không ít trong số học chủ yếu tập chung vào các hoạt động
kinh doanh các loại tài sản hay tìm kiếm tài nguyên quốc gia chứ không phải tập
trung vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho nền
kinh tế. Các doanh nghiệp này không chỉ có các ngân hàng hay tổ chức tài chính
riêng của mình mà còn có quan hệ chặt chẽ với không ít các tổ chức tài chính ngân
hàng lớn hay những mối quan hệ khác. Điều này làm cho các khoản cho vay theo
quan hệ trở nên phổ biến hơn và một phần không nhỏ nguồn vốn được đưa vào các
hoạt động kinh doanh có tính đầu cơ gây rủi ro hơn là tạo ra giá trị gia tăng cho
nền kinh tế. Mặt khác, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đối tượng chính giải quyết
việc làm và là động lực tăng trưởng nền kinh tế của Việt Nam đã, đang và sẽ bị
chèn ép, khó tiếp cận vốn nên có thể phải thu hẹp sản xuất hay chỉ cầm cự cho qua
ngày. Câu chuyện của Vinashin đã chit iêu hoang phí khoảng 4 tỷ đô la trong thời
gian qua và hiện vẫn đang khoanh nợ và tiếp tục vay vốn là một ví dụ rất điển hình
của sự ưu ái dành cho các doanh nghiệp nhà nước.
Thứ ba, theo đuổi chính sách ổn định tỷ giá đồng tiền. Việc theo đuổi chính
sách ổn định tỷ giá đồng tiền trong bối cảnh lạm phát luôn tăng cao làm giảm sức
cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Khi lạm phát cao mà tỷ giá cứng nhắc
sẽ làm cho hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam (kể cả tiêu thụ trong nước và
xuất khẩu) trở nên đắt đỏ hơn so với hàng nhập khảu. Điều này làm cho một
lwuognj hàng hóa ít hơn sẽ được sản xuất ra trong nền kinh tế Việt Nam và sức
cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam bị giảm sút.
Nói chung tình trạng phân bổ nguồn lực cộng với chính sách điều hành tỷ giá
như trên đã dẫn đến sự mất cân bằng kép trong nền kinh tế và trầm trọng hơn là tỉ
lệ lạm phát luôn ở mức rất cao. 2.2. Giai đoạn 2012-2015
Nguyên nhân khiến lạm phát giai đoạn này giảm là sự cộng hưởng của các
yếu tố khách quan và chủ quan.
Yếu tố khách quan là lạm phát toàn cầu có xu hướng giảm, do kinh tế các
nước Châu Âu, Trung Quốc tăng trưởng thấp. Giá dầu thế giới tiếp tục giảm mạnh,
mức thấp nhất trong vòng bảy năm qua, dưới 35USD/thùng, gần bằng giá năm
khủng hoảng kinh tế 2008 là 32,4 USD/thùng. Giá xăng dầu giảm kéo theo những
sản phẩm của dầu (chất dẻo, nhựa đường, phân bón, thuốc trừ sâu…) giảm rất
mạnh, cùng với đó giá lương thực, đường, đậu nành, … cũng giảm. Do vậy, giá
hàng hóa qua kênh xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng giảm và giá nhập khẩu các
nguyên liệu đầu vào cũng giảm.
Bên cạnh đó, cũng phải kể đến nguyên nhân chủ quan là các cấp, ngành, địa
phương trong cả nước đã tích cực triển khai thực hiện các giải pháp trong các Nghị
quyết số 01/NQ-CP ngày 3-1-2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực
hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015
và Nghị quyết các phiên họp thường kỳ của Chính phủ. Khác với những lần trước,
khi lạm phát chớm giảm thì chúng ta lại nới lỏng chính sách tiền tệ, còn bốn năm
qua Chính phủ đã thực hiện nhất quán chặt chẽ nên duy trì được lạm phát thấp.
Trong giai đoạn này, nhà nước ban hành và thực hiện chính sách tài khóa, tiền tệ
chặt chẽ hơn trên phạm vi cả nước. Đồng thời, có biện pháp thúc đẩy quá trình gia
tăng sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu. Nhờ đó từ sau năm 2011 đến
2015, nền kinh tế nước ta giữ ở mức ổn định, tỷ lệ lạm phát giảm dần và đạt mức cao kỷ lục 0,63%. 2.3. Giai đoạn 2021-2022
Một số nguyên nhân làm cho CPI trong năm 2022 sẽ tăng, tạo áp lực lên lạm phát, gồm:
Một là, khi nền kinh tế phục hồi sau đại dịch COVID-19 sẽ làm cho nhu cầu
sản xuất và tiêu dùng tăng lên, do Việt Nam là quốc gia có độ mở cửa hội nhập sâu
rộng và toàn diện với thế giới nên khả năng nhập khẩu lạm phát thông qua nhập
khẩu nguyên nhiên vật liệu đầu vào rất lớn. Việc nhập khẩu các nguyên liệu đầu
vào thiết yếu (xăng, dầu, than, xơ, sợi dệt, thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu sản
xuất thức ăn chăn nuôi, …) với mức giá và giá cước vận chuyển cao sẽ ảnh hưởng
đến chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, từ đó đẩy giá hàng hóa, dịch vụ (hàng
may mặc, hàng thực phẩm, vật liệu xây dựng, dịch vụ vận tải, …) trong nước lên
cao, tạo áp lực cho lạm phát.
Hai là, khi nền kinh tế phục hồi sẽ làm cho giá dịch vụ giáo dục tăng trở lại
do một số địa phương kết thúc thời gian được miễn, giảm học phí năm học 2021-
2022 và ảnh hưởng của việc thực hiện lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ giáo dục theo
Nghị định số 81/2021/NĐ-CP quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ
sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí,
hỗ trợ chi phí học tập, giá dịch vụ giáo dục trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.
Ba là, khi dịch COVID-19 được kiểm soát, nhu cầu dịch vụ ăn uống ngoài gia
đình, dịch vụ du lịch, vui chơi, giải trí tăng trở lại cũng tác động không nhỏ tới CPI chung.
Bốn là, dịch COVID-19 vẫn có những diễn biến phức tạp trên toàn cầu ảnh
hưởng đến chi phí lưu thông, vận chuyển hàng hóa trên toàn cầu tác động tới giá cả
hàng hóa xuất nhập khẩu...