Lý luận về sản xuất hàng hóa| Đại học Kinh Tế Quốc Dân

Đại học Kinh tế Quốc dân với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp các bạn định hướng và họp tập dễ dàng hơn. Mời bạn đọc đón xem. Chúc bạn ôn luyện thật tối và đạt điểm cao trong kì thi sắp tới

Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Viện Ngân hàng-Tài chính
-------***-------
BÀI TẬP LỚN
Môn học: Kinh tế chính trị Mác-Lênin.
Đề tài: Lý luận về sản xuất hàng hóa (kinh tế hàng hóa) và vận
dụng để phát triển kinh tế hàng hóa ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay.
Hà Nội, Tháng 5 năm 2023.
Sinh viên thực hiện : Phạm Thanh Nam
Mã sinh viên : 11224472
Lớp học phần : 32-Kinh tế chính trị Mác-Lênin
Khóa : 64
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Tô Đức Hạnh
Mục lục
A. Phần mở đầu........................................................................1
B. Phần nội dung......................................................................2
I. Lý luận Mác-Lênin về sản xuất hàng hóa và hàng hóa.......2
1. Sản xuất hàng hóa............................................................2
2. Hàng hóa..........................................................................5
II. Thực trạng về kinh tế hàng hóa ở tỉnh Thanh Hóa hiện
nay.8
1. Thực trạng về nền kinh tế hàng hóa ở Thanh Hóa...........8
2. Đánh giá thực trạng..........................................................9
III. Những giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện nền kinh tế hàng
hóa của tỉnh Thanh Hóa....................................................................................11
C. Tài liệu tham khảo.............................................................15
A. Phần mở đầu
Trước năm 1986, Việt Nam ta ap dụng nền kinh tế tự cung tự
cấp. Tuy nhiên, sau đó với tình hình định hướng chung của Việt Nam, nền kinh
tế bao cấp đã không còn phù hợp và bộc lộ các mặt yếu kém của nền kinh tế này,
nó kìm hãm sự phát triển của nước ta đặc biệt là nước ta đang trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội. Lúc này, mọi cơ sở sản xuất đều sản xuất theo kế hoạch
của nhà nước. Chính vì vậy mà xuất hiện hiện tượng lãi giả lỗ thật và hậu quả
gây ra là năng suất lao động bị giảm sút nặng nề, nền kinh tế Việt Nam lâm vào
nguy cơ suy thoái. Trước tình hình đó, chúng ta lại có những quyết định khi chưa
đánh giá đúng tình hình đất nước, thực hiện những bước đi sai lầm. Thêm những
ấu trĩ quan liêu trong cải cách dẫn đến khủng hoảng thêm trầm trọng.
Nhận thấy tình hình cấp thiết, Đảng và Nhà nước ta đã có một
quyết định quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam chính là bước ngoặt trong cơ
chế chuyển đổi kinh tế mà cột mốc là Đại hội Đảng lần thứ VI đưa Việt Nam ta
bước vào thời kỳ nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế nhờ thay thế nền kinh tế tập trung bằng nên kinh tế sản xuất hàng
hóa. Nhờ đó nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập với sự phát triển không
ngừng trên thế giới, đạt được những thành tựu hết sức to lớn. Minh chứng điển
hình nhất cho sự đổi mới và phát triển của nền kinh tế Việt Nam là thành tựu
được cả thế giới công nhận là nước có tốc độ phát triển cao hàng đầu thế giới.
Đảng và Nhà nước ta đã sớm xác định vai trò then chốt
của sản xuất hàng hóa trong sự nghiệp phát triển kinh tế nước mình, nước
ta vẫn đang vận dụng một cách phù hợp “Lý luận của Mác-Lênin về sản
xuất hàng hóa” để xây dựng nền kinh tế phát triển ổn định như ngày nay.
1
Chính vì vậy, đề tài của em là: “Lý luận về sản xuất
hàng hóa và vận dụng để phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam hiện
nay”.
2
B. Phần nội dung.
I. Lý luận Mác-Lênin về sản xuất hàng hóa và hàng hóa.
1. Sản xuất hàng hóa.
a) Khái niệm về sản xuất hàng hóa.
Theo C. Mác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức hoạt động kinh
tế mà ở đó, những người sản xuất ra sản phẩm nhằm mục đích trao đổi, mua bán.
Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao
động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất chính vì thế sản xuất hàng hóa ra
đời trong chế độ chiếm hữu nô lệ.
b) Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa.
Sản xuất hàng hóa không xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện
của xã hội loài người. Để nền kinh tế hàng hóa có thể hình thành và phát triển,
theo C. Mác cần hội tụ đủ hai điều kiện sau:
- Điều kiện thứ nhất: phân công lao động xã hội.
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động trong xã hội
thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau dựa vào ưu thế, lợi thế tự
nhiên, khả năng kỹ thuật, sở trường, năng khiếu của từng người, từng đơn vị tạo
nên sự chuyên môn hóa của những người sản xuất thành những ngành, nghề
khác nhau. Khi đó, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một số sản phẩm nhất định.
Trong khi nhu cầu của nhà sản xuất đòi hỏi nhiều loại sản phẩm. Điều này dẫn
đến tình trạng vừa thừa vừa thiếu. Vì vậy, để thỏa mãn nhu cầu của mình, tất yếu
những người sản xuất phải trao đổi sản phẩm với nhau.
- Điều kiện thứ hai: sự tách biệt về mặt kinh tế của các chủ thể
trong sản xuất.
3
Những người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc
lập nhất định với nhau. Do đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của
các chủ thể kinh tế, người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của
người khác phải thông qua trao đổi mua bán hàng hóa. C. Mác viết: “chỉ
có sản phẩm của những lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào
nhau mới đối diện với nhau như những hàng hóa”. Vì vậy, sự tách biệt về
mặt kinh tế giữa những người sản xuất là điều kiện đủ để nền sản xuất
hàng hóa ra đời và phát triển.
Từ hai điều kiện trên có thể thấy rằng trong khi phân công lao
động xã hội làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế giữa những chủ thể sản xuất
trong xã hội, làm cho họ liên quan đến nhau, phải dựa vào nhau, phụ thuộc
lẫn nhau thì sự tách biệt về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể sản xuất trong
xã hội lại khiến cho họ tách biệt với nhau. Đây là một mâu thuẫn. Mâu
thuẫn này được gọi là quyền thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm với
nhau.
Trên đây là hai điều kiện cần có cho sự ra đời của sản xuất hàng
hóa, nếu thiếu một trong hai điều kiện thì không thể có sản xuất hàng hóa.
c) Đặc trưng của sản xuất hàng hóa.
Sản xuất hàng hóa có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán.
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin thì trong lịch sử loài người tồn tại hai kiểu tổ chức
kinh tế khác nhau là sản xuất tự cung, tự cấp (tự túc, tự cấp) và sản xuất hàng
hóa. Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất
ra để bán chứ không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực
tiếp sản xuất ra nó, tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông
qua việc trao đổi, mua bán.
4
Thứ hai, lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư
nhân, vừa mang tính xã hội.
Vì sản phẩm làm ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu hàng hóa
cho xã hội nên lao động của sản xuất hàng hóa mang tính xã hội. Bên cạnh đó
việc sản xuất cái gì, như thế nào là công việc riêng, mang tính độc lập của mỗi
người vì vậy lao động của người sản xuất hàng hóa mang tính chất tư nhân. Tính
chất tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội. Đó
chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa. Theo Mác-Lênin thì mâu
thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm mống của khủng
hoảng trong nền kinh tế hàng hóa.
Thứ ba, mục đích của sản xuất hàng hóa là đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của người khác thông qua trao đổi, mua bán chứ không phải để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng của chính người sản xuất. Vì vậy, cốt lõi của sản xuất hàng
hóa là tạo ra giá trị, lợi nhuận chứ không phải giá trị sử dụng.
d) Ưu thế của sản xuất hàng hóa.
So với nền sản xuất tự nhiên, tự túc thì sản xuất hàng hóa
có điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao
động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất. Do đó, nó khai thác được những
lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất
cũng như từng vùng, từng địa phương. Đồng thời, sự phát triển của sản
xuất hàng hóa lại có tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển của phân công
lao động xã hội, làm cho chuyên môn hóa lao động ngày càng tăng, mối
liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc. Từ
đó, nó phá vỡ tính tự cấp tự túc, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành,
mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng,
5
nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn. Bên cạnh đó giúp khai thác
được các lợi thế của các quốc gia với nhau.
, trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất Thứ hai
không còn bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của
mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng, mỗi địa phương, mà nó được
mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực của xã hội. Điều đó lại tạo
điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật
vào sản xuất... thúc đẩy sản xuất phát triển.
, Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động của quy Thứ ba
luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hóa là quy luật giá trị, cung -
cầu, cạnh tranh... buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động,
nhạy bén, biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao
năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, cải tiến hình thức, quy cách và
chủng loại hàng hóa, làm cho chi phí sản xuất hạ xuống đáp ứng nhu cầu,
thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn.
, trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản Thứ tư
xuất, sự mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa
các nước... không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa,
tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hóa cũng
có những mặt trái của nó như phân hóa giàu - nghèo giữa những người sản
xuất hàng hóa, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phá hoại môi trường
sinh thái, xã hội,… Những tác động tiêu cực đó có thể hạn chế được, nếu
có sự quản lý, điều tiết từ một chủ thể chung của toàn bộ nền kinh tế là
nhà nước.
2. Hàng hóa.
6
- Khái niệm của hàng hóa và thuộc tính của hàng hóa.
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thoả mãn được nhu cầu nào
đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.
Hàng hóa có thể ở dạng hữu hình như: sắt, thép, lương thực,
thực phẩm... hoặc ở dạng vô hình như những dịch vụ thương mại, vận tải hay
dịch vụ của giáo viên, bác sĩ và nghệ sĩ...
Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị.
- Giá trị sử dụng của hàng hóa.
Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hàng hóa thoả
mãn nhu cầu nào đó của con người. Bất cứ hàng hóa nào cũng có một hay một số
công dụng nhất định. Chính công dụng đó (tính có ích đó) làm cho hàng hóa có
giá trị sử dụng. Ví dụ, công dụng của gạo là để ăn, vậy giá trị sử dụng của gạo là
để ăn...
Cơ sở của giá trị sử dụng của hàng hóa là do những thuộc tính tự
nhiên (lý, hoá học) của thực thể hàng hóa đó quyết định nên giá trị sử dụng là
phạm trù vĩnh viễn vì nó tồn tại trong mọi phương thức hay kiểu tổ chức sản
xuất. Giá trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện dần dần trong quá trình phát
triển của khoa học-kỹ thuật và của lực lượng sản xuất nói chung.
Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng xã hội vì giá trị
sử dụng của hàng hóa không phải là giá trị sử dụng cho người sản xuất trực tiếp
mà là cho người khác, cho xã hội, thông qua trao đổi, mua bán. Điều đó đòi hỏi
người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn quan tâm đến nhu cầu của xã hội, làm
cho sản phẩm của mình đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Giá trị sử dụng của hàng hóa là vật mang giá trị trao đổi.
- Giá trị của hàng hóa.
7
Muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi.
Giá trị trao đổi trước hết là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ theo đó một giá trị
sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác.
Chính lao động hao phí để tạo ra hàng hóa là cơ sở chung của
việc trao đổi và nó tạo thành giá trị của hàng hóa.
Như vậy, giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản
xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Còn giá trị trao đổi mà chúng ta đề cập ở
trên, chẳng qua chỉ là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị, giá trị là nội
dung, là cơ sở của giá trị trao đổi. Đồng thời, giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa
những người sản xuất hàng hóa. Cũng chính vì vậy, giá trị là một phạm trù lịch
sử, chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hóa.
- Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa.
Hai thuộc tính của hàng hóa có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa
thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau.
Mặt thống nhất thể hiện ở chỗ: hai thuộc tính này cùng đồng thời
tồn tại trong một hàng hóa, một vật phải có đầy đủ hai thuộc tính này mới là
hàng hóa. Nếu thiếu một trong hai thuộc tính đó vật phẩm sẽ không phải là hàng
hóa.
Mâu thuẫn giữa hai thuộc tính của hàng hóa thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hóa không
đồng nhất về chất. Nhưng ngược lại, với tư cách là giá trị thì các hàng hóa lại
đồng nhất về chất, đều là "những cục kết tinh đồng nhất của lao động mà thôi",
tức đều là sự kết tinh của lao động, hay là lao động đã được vật hoá.
Thứ hai, tuy giá trị sử dụng và giá trị cùng tồn tại trong một
hàng hóa, nhưng quá trình thực hiện chúng lại tách rời nhau về cả mặt không
8
gian và thời gian: giá trị được thực hiện trước trong lĩnh vực lưu thông, còn giá
trị sử dụng được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng. Do đó nếu giá trị của
hàng hoá không được thực hiện thì sẽ dẫn đến khủng hoảng sản xuất.
II. Thực trạng về kinh tế hàng hóa ở tỉnh Thanh Hóa hiện
nay.
1. Thực trạng về nền kinh tế hàng hóa ở Thanh Hóa.
- Đánh giá về nền kinh tế.
Kinh tế của Thanh Hóa có những bước tăng trưởng mạnh mẽ.
Từ năm 2018 tăng trưởng đạt 15,16%, đến năm 2022 Thanh Hóa có bước khôi
phục nền kinh tế sau đại dịch Covid, tăng trưởng đạt 12,51%, gấp 1,56 lần mức
trung bình cả nước, thuộc nhóm các tỉnh, thành phố dẫn đầu mức tăng trưởng
trong cả nước. Một tiêu chí khác để đánh giá về mức tăng trưởng kinh tế đó là
GDP bình quân đầu người. GDP/người là một trong những chỉ tiêu thống kê kinh
tế tổng hợp quan trọng, phản ánh kết quả sản xuất tính bình quân đầu người
trong một năm. Theo số liệu thống kê, GDP bình quân đầu người năm 2022 đạt
2.925 USD so với năm 2018 đạt 1.990 USD (cả nước: USD – năm 2022).4.163
Các nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên, địa lý, địa hình không
còn có ý nghĩa quyết định đối với tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh biến đổi
khí hậu, diện tích rừng giảm đi, tốc độ mất. rừng nhiều hơn tốc độ trồng rừng
mới, những ngành nghề phát triển dựa vào lợi thế về biển mất dần sức cạnh tranh
trên thị trường. Do thời tiết nắng nóng, hanh khô kéo dài nên tình trạng cháy
rừng vẫn còn diễn ra.
Cơ cấu các thành phần kinh tế của Thanh Hóa có sự thay đổi
tích cực. Bên cạnh khu vực kinh tế nhà nước, đến nay đã có đầy đủ các thành
phần kinh tế hoạt động cạnh tranh lành mạnh, hỗ trợ và tạo động lực cho nhau để
9
phát triển. Các thành phần kinh tế đã phát huy tiềm năng và thế mạnh để phát
triển.
- Sau đây là biểu đồ về cơ cấu kinh tế tỉnh Thanh Hóa:
10
16.07
46.64
30.82
6.47
Cơ cấu kinh tế tỉnh Thanh Hóa năm 2021.
ng, m nghiệp và
thủy sản
Cộng nghiệp và xây
dựng
Các ngành dịch v
Thuế sản phẩm trừ trợ
cấp sản phẩm
11
14.42
48.4
30.4
6.78
Cơ cấu kinh tế tỉnh Thanh Hóa năm 2022.
ng, lâm nghiệp và
thủy sản
ng nghiệp và xây
dựng
Các ngành dịch v
Thuế sản phẩm trừ trợ
cấp sản phẩm
Cơ cấu kinh tế theo ngành của tỉnh Thanh Hóa chuyển
dịch theo hướng khá hợp lý; tỷ trọng đóng góp của công nghiệp và dịch vụ
tăng lên trong GDP (năm 2022 so với năm 2021, tỉ trọng ngành công
nghiệp, xây dựng tăng 3,17%; tỉ trọng ngành nông, lâm nghiệp và tủy sản
giảm 0,35%).
2. Đánh giá thực trạng.
a) Những kết quả đạt được.
Tăng trưởng và phát triển kinh tế đi liền với chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ngành kinh tế. Trong thời gian qua, cơ
12
cấu kinh tế Thanh Hóa chuyển dịch từ khu vực nông lâm ngư nghiệp sang
công nghiệp và dịch vụ. Trong ngành nông nghiệp, các sản phẩm nông
nghiệp chăn nuôi và thủy sản tăng tỉ trọng. Công nghiệp khai thác giảm tỉ
trọng và công nghiệp chế biến tăng tỉ trọng, đặc biệt các sản phẩm công
nghiệp lọc hóa dầu, dệt may, điện tử. Tỉ trọng ngành dịch vụ tăng nhanh
như du lịch, dịch vụ cảng biển.
Nhìn chung, có thể thấy mức độ phát triển kinh tế bền
vững của tỉnh Thanh Hóa là chưa ổn định, thiếu sự cân bằng giữa các chỉ
số. Tỷ lệ vốn đầu tư cho đến thời điểm hiện tại có xu hướng tăng trong khi
năng suất lao động xã hội và tỷ lệ thu ngân sách so với chi ngân sách lại
có xu hướng giảm.
Minh chứng cho sự phát triển của nền kinh tế Thanh Hóa
là tốc độ tăng trưởng của Thanh Hóa đứng thứ 7 cả nước; cao nhất trong
các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ. Phát triển doanh nghiệp đạt kết quả tích
cực, đứng thứ 6 cả nước.
b) Những hạn chế và nguyên nhân của nền kinh tế hàng hóa tỉnh
Thanh Hóa.
- Nhiều doanh nghiệp chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Thống kê của Bảo hiểm xã hội tỉnh Thanh Hóa, đến ngày
31/12/2022, số tiền nợ bảo hiểm của doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn gần
315 tỷ đồng. Một số doanh nghiệp chậm đóng như Công ty TNHH FLC Samson
Golf & Resort có 862 lao động, chậm đóng gần 19 tỷ đồng; Công ty TNHH
MTV Công nghiệp tàu thủy Thanh Hóa có 50 lao động, chậm đóng hơn 15 tỷ
đồng; Chi nhánh Công ty CP Sông Đà 4 có 63 lao động, chậm đóng hơn 9 tỷ
đồng. Đến cuối năm 2022, trong số 4.000 đơn vị hành chính sự nghiệp ở Thanh
13
Hóa có 17 đơn vị chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp với hơn 4,6 tỷ đồng.
Nguyên nhân của việc chậm đóng, nợ đọng các loại bảo hiểm là
do tình trạng các doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất, dẫn đến nhiều
doanh nghiệp chậm đóng bảo hiểm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo
hiểm y tế, thậm chí nhiều doanh nghiệp giải thể, phá sản, dừng hoạt động…
- Giá nguyên vật liệu tăng gây khó khăn trong sản xuất hàng
hóa.
Tính chung năm 2022, chỉ số giá nguyên vật liệu dùng cho sản
xuất tăng 6% so với năm 2021. Đây là mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm
qua.
Nguyên nhân của việc giá nguyên vật liệu tăng cao là do giá
xăng, dầu tăng tác động đến các chi phí khai thác, vận chuyển các loại vật liệu
này. Trong thời gian tới, do giá nhiên liệu đặc biệt là xăng dầu đang tăng cao, vì
vậy sẽ tiếp tục có sự tăng giá đối với các loại vật liệu này.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm bị thu hẹp, nhiều doanh nghiệp
sản xuất công nghiệp bị cắt giảm đơn hàng, hoạt động cầm chừng.
Sản lượng xuất khẩu đã giảm ít nhất 30% so với lúc ổn định đặc
biệt là các nhóm hàng chủ lực.
Nguyên nhân của sự giảm sút này là do hai thị trường lớn là Mỹ
và Châu Âu, người dân đang thắt chặt chi tiêu. Bên cạnh đó ảnh hưởng của các
cuộc xung đột giữa Nga và Ukraina dẫn đến chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián
đoạn.
Nhìn chung, có thể thấy mức độ phát triển kinh tế bền
vững của tỉnh Thanh Hóa là chưa ổn định, thiếu sự cân bằng giữa các chỉ
14
số. Tỷ lệ vốn đầu tư cho đến thời điểm hiện tại có xu hướng tăng trong khi
năng suất lao động xã hội và tỷ lệ thu ngân sách so với chi ngân sách lại
có xu hướng giảm.
III. Những giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện nền kinh tế hàng
hóa của tỉnh Thanh Hóa.
Trong giai đoạn hiện nay khi mà đất nước đã ổn định về kinh tế,
chính trị, xã hội đã được xác định rõ ràng thì tỉnh Thanh Hóa cũng cần xác định
rõ phương hướng phát triển để phát huy điểm mạnh và khắc phục những hạn chế.
Các giải pháp có thể sử dụng tới như sau:
-Tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư, tăng
tỷ lệ vốn đầu tư so với tổng sản phẩm trên địa bàn.
Hiện nay, vốn đầu tư ở Thanh Hóa cho một số công trình, dự án
lớn vẫn chủ yếu từ nguồn ngân sách Trung ương, vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà
nước còn thấp do các doanh nghiệp Thanh Hóa chủ yếu là vừa và nhỏ, năng lực
cạnh tranh thấp. Bên cạnh đó, các mặt hàng xuất khẩu đa dạng và doanh thu tăng
qua các năm, nhưng năng lực cạnh tranh của các sản phẩm còn thấp và giá trị
xuất khẩu chưa cao so với nguồn vốn đầu tư.
Do vậy, lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa cần có kế hoạch và chính sách
tăng cường mối quan hệ hợp tác lâu dài, cùng có lợi giữa tỉnh Thanh Hóa, Việt
Nam với các nước trong khu vực và quốc tế nhằm phát huy vai trò hội nhập kinh
tế thông qua các hoạt động đối ngoại, giao lưu, hợp tác quốc tế. Cải thiện mạnh
mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, rà soát, sửa đổi, điều chỉnh, xóa bỏ những quy
định không phù hợp với các cam kết quốc tế, đảm bảo thích ứng với những thay
đổi trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập
-Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và chuyển nền kinh tế phát triển theo chiều rộng và cả chiều sâu.
15
Cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hóa đã có sự chuyển dịch theo
hướng hiện đại hóa, nhưng sự chuyển dịch còn diễn ra chậm, chưa đáp ứng được
yêu cầu. Việc ứng dụng khoa học công nghệ còn chưa rộng rãi, năng suất, hiệu
quả, sức cạnh tranh thấp dẫn đến năng lực cạnh tranh nền kinh tế còn thấp.
Tỉnh Thanh Hóa cần tăng cường năng lực về khoa học công
nghệ trong phát triển kinh tế, nhất là phát triển mạnh mẽ công tác R&D trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tập trung vào phát triển các ngành công nghệ
cao, các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và thân thiện với môi trường thuộc các
ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ với các sản phẩm như: xăng dầu,
công nghệ thông tin, cảng biển, dịch vụ hậu cần cảng, du lịch, nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao. Nghiên cứu và triển khai áp dụng mạnh mẽ mô hình tăng
trưởng xanh. Đây là mô hình mà các quốc gia phát triển đã và đang áp dụng.
Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng giảm tỷ trọng các
ngành công nghiệp khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng và ngành có tác động
xấu đến môi trường; tăng tỷ trọng các ngành sản phẩm có hàm lượng công nghệ
cao, chế biến sâu, sản xuất thân thiện môi trường, sản phẩm hướng vào xuất
khẩu
-Sử dụng tốt các nguồn lực để tăng năng suất lao động xã hội.
Tăng năng suất lao động xã hội là yếu tố quyết định đến khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ. Đạt được năng suất lao động xã hội cao mới đảm bảo kinh tế phát triển
nhanh và bền vững, vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
Lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa cần chú trọng hỗ trợ phát triển các
doanh nghiệp để doanh nghiệp thực sự trở thành một động lực quan trọng của
nền kinh tế. Môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư cần được cải thiện
nhằm khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh.
-Cân đối thu chi ngân sách theo hướng bền vững.
16
Tỷ lệ thu ngân sách so với chi ngân sách trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa chỉ đạt ở mức tương đối bền vững. Bài toán tổng thể lớn nhất trong chính
sách thu – chi của tỉnh Thanh Hóa giờ đây là bền vững chứ không phải là giải
pháp tình thế. Không chỉ là doanh nghiệp nhà nước vay mà doanh nghiệp tư
nhân cũng đã vay nước ngoài, bên cạnh đó còn là nợ chính quyền địa phương.
Lãnh đạo tỉnh cần phải mạnh tay siết chặt kỷ luật ngân sách, có giải pháp mạnh
để giảm chi.
Tỉnh Thanh Hóa cần cải cách mạnh mẽ chính sách thu, cải cách
hệ thống thuế nhằm giảm bớt gánh nặng thuế khóa, tạo nguồn thu ngân sách ổn
định và cân bằng cần. Đồng thời, vấn đề trọng tâm là phải giảm chi ngân sách
chứ không phải tăng thu, đó là giảm tỷ lệ chi thường xuyên thông qua việc giảm
tốc độ tăng biên chế và quỹ lương cho cán bộ, công chức và viên chức của Chính
phủ.
-Đổi mới và hoàn thiện hế thống chính sách kinh tế, tạo lập môi
trường cạnh tranh bình đẳng, bảo vệ môi trường và đảm bảo công bằng xã hội.
Việc đổi mới hệ thống chính sách kinh tế, bảo vệ môi trường và
chính sách xã hội phải được tiến hành đồng thời và kết hợp theo hướng mỗi
chính sách kinh tế phải gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Đổi mới chính sách
xã hội theo hướng đảm bảo công bằng xã hội. Chính sách môi trường phải thực
sự làm tăng trưởng kinh tế và thực hiện tốt mục tiêu phát triển bền vững về môi
trường.
Tỉnh cần chú trọng tạo lập môi trường để các chủ thể trong nền
kinh tế cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng, phải lấy thị trường làm căn cứ
để phân bổ nguồn lực vốn có hiệu quả, hạn chế tới mức thấp nhất sự can thiệp
hành chính của Nhà nước vào nền kinh tế. Đảm bảo cho mọi chủ thể trong nền
17
kinh tế thị trường cạnh tranh công bằng và bình đẳng, có cơ hội ngang nhau
trong việc tiếp cận nguồn lực vốn.
Thanh Hóa với mục tiêu lâu dài là phát triển bền vững gắn tăng
trưởng kinh tế với phát triển văn hóa – xã hội, giáo dục – đào tạo, khoa học –
công nghệ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Thực hiện tốt các chương trình
giảm nghèo, giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân
dân.
18
C. Tài liệu tham khảo.
[1] Bộ GD&ĐT, Giáo trình Kinh tế-Chính trị Mác-Lênin, NXB
Quốc Gia.
[2] Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 292(2), 10-19.
[3] Tạp chí của ban Tuyên giáo trung ương, Thứ Hai,
14/06/2021.
[4] Online T. T. (2022, November 3). “Đói” đơn hàng, doanh
nghiệp gặp khó. TUOI TRE ONLINE. https://tuoitre.vn/doi-don-hang-doanh-
nghiep-gap-kho-20221102224722606.html
[5] Thanh Hóa biến khó khăn, thách thức thành động lực phát
triển. (n.d.). https://special.nhandan.vn/Thanh-Hoa-bien-kho-khan-thanh-
dong-luc-phat-trien/index.html
[6] Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa (2021), Niên giám thống kê
2021, Thanh Hóa
[7] Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa (2022), Niên giám thống kê
2022, Thanh Hóa.
[8] Anh K. (2023b, April 19). Thất thu hơn 121 tỷ tiền bảo hiểm
vì doanh nghiệp phá sản, bỏ trốn. Nhịp Sống Kinh Tế Việt Nam & Thế
Giới. https://vneconomy.vn/that-thu-hon-121-ty-tien-bao-hiem-vi-doanh-
nghiep-pha-san-bo-tron.html
19
20
| 1/23

Preview text:

Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Viện Ngân hàng-Tài chính -------***------- BÀI TẬP LỚN
Môn học: Kinh tế chính trị Mác-Lênin.
Đề tài: Lý luận về sản xuất hàng hóa (kinh tế hàng hóa) và vận
dụng để phát triển kinh tế hàng hóa ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay. Sinh viên thực hiện : Phạm Thanh Nam Mã sinh viên : 11224472 Lớp học phần
: 32-Kinh tế chính trị Mác-Lênin Khóa : 64 Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Tô Đức Hạnh Hà Nội, Tháng 5 năm 2023. Mục lục
A. Phần mở đầu........................................................................1
B. Phần nội dung......................................................................2
I. Lý luận Mác-Lênin về sản xuất hàng hóa và hàng hóa.......2
1. Sản xuất hàng hóa............................................................2
2. Hàng hóa..........................................................................5
II. Thực trạng về kinh tế hàng hóa ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay.8
1. Thực trạng về nền kinh tế hàng hóa ở Thanh Hóa...........8
2. Đánh giá thực trạng..........................................................9
III. Những giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện nền kinh tế hàng
hóa của tỉnh Thanh Hóa....................................................................................11
C. Tài liệu tham khảo.............................................................15 A. Phần mở đầu
Trước năm 1986, Việt Nam ta ap dụng nền kinh tế tự cung tự
cấp. Tuy nhiên, sau đó với tình hình định hướng chung của Việt Nam, nền kinh
tế bao cấp đã không còn phù hợp và bộc lộ các mặt yếu kém của nền kinh tế này,
nó kìm hãm sự phát triển của nước ta đặc biệt là nước ta đang trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội. Lúc này, mọi cơ sở sản xuất đều sản xuất theo kế hoạch
của nhà nước. Chính vì vậy mà xuất hiện hiện tượng lãi giả lỗ thật và hậu quả
gây ra là năng suất lao động bị giảm sút nặng nề, nền kinh tế Việt Nam lâm vào
nguy cơ suy thoái. Trước tình hình đó, chúng ta lại có những quyết định khi chưa
đánh giá đúng tình hình đất nước, thực hiện những bước đi sai lầm. Thêm những
ấu trĩ quan liêu trong cải cách dẫn đến khủng hoảng thêm trầm trọng.
Nhận thấy tình hình cấp thiết, Đảng và Nhà nước ta đã có một
quyết định quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam chính là bước ngoặt trong cơ
chế chuyển đổi kinh tế mà cột mốc là Đại hội Đảng lần thứ VI đưa Việt Nam ta
bước vào thời kỳ nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế nhờ thay thế nền kinh tế tập trung bằng nên kinh tế sản xuất hàng
hóa. Nhờ đó nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập với sự phát triển không
ngừng trên thế giới, đạt được những thành tựu hết sức to lớn. Minh chứng điển
hình nhất cho sự đổi mới và phát triển của nền kinh tế Việt Nam là thành tựu
được cả thế giới công nhận là nước có tốc độ phát triển cao hàng đầu thế giới.
Đảng và Nhà nước ta đã sớm xác định vai trò then chốt
của sản xuất hàng hóa trong sự nghiệp phát triển kinh tế nước mình, nước
ta vẫn đang vận dụng một cách phù hợp “Lý luận của Mác-Lênin về sản
xuất hàng hóa” để xây dựng nền kinh tế phát triển ổn định như ngày nay. 1
Chính vì vậy, đề tài của em là: “Lý luận về sản xuất
hàng hóa và vận dụng để phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam hiện nay”. 2 B. Phần nội dung. I.
Lý luận Mác-Lênin về sản xuất hàng hóa và hàng hóa. 1. Sản xuất hàng hóa.
a) Khái niệm về sản xuất hàng hóa.
Theo C. Mác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức hoạt động kinh
tế mà ở đó, những người sản xuất ra sản phẩm nhằm mục đích trao đổi, mua bán.
Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao
động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất chính vì thế sản xuất hàng hóa ra
đời trong chế độ chiếm hữu nô lệ.
b) Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa.
Sản xuất hàng hóa không xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện
của xã hội loài người. Để nền kinh tế hàng hóa có thể hình thành và phát triển,
theo C. Mác cần hội tụ đủ hai điều kiện sau:
- Điều kiện thứ nhất: phân công lao động xã hội.
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động trong xã hội
thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau dựa vào ưu thế, lợi thế tự
nhiên, khả năng kỹ thuật, sở trường, năng khiếu của từng người, từng đơn vị tạo
nên sự chuyên môn hóa của những người sản xuất thành những ngành, nghề
khác nhau. Khi đó, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một số sản phẩm nhất định.
Trong khi nhu cầu của nhà sản xuất đòi hỏi nhiều loại sản phẩm. Điều này dẫn
đến tình trạng vừa thừa vừa thiếu. Vì vậy, để thỏa mãn nhu cầu của mình, tất yếu
những người sản xuất phải trao đổi sản phẩm với nhau.
- Điều kiện thứ hai: sự tách biệt về mặt kinh tế của các chủ thể trong sản xuất. 3
Những người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc
lập nhất định với nhau. Do đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của
các chủ thể kinh tế, người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của
người khác phải thông qua trao đổi mua bán hàng hóa. C. Mác viết: “chỉ
có sản phẩm của những lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào
nhau mới đối diện với nhau như những hàng hóa”. Vì vậy, sự tách biệt về
mặt kinh tế giữa những người sản xuất là điều kiện đủ để nền sản xuất
hàng hóa ra đời và phát triển.
Từ hai điều kiện trên có thể thấy rằng trong khi phân công lao
động xã hội làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế giữa những chủ thể sản xuất
trong xã hội, làm cho họ liên quan đến nhau, phải dựa vào nhau, phụ thuộc
lẫn nhau thì sự tách biệt về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể sản xuất trong
xã hội lại khiến cho họ tách biệt với nhau. Đây là một mâu thuẫn. Mâu
thuẫn này được gọi là quyền thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm với nhau.
Trên đây là hai điều kiện cần có cho sự ra đời của sản xuất hàng
hóa, nếu thiếu một trong hai điều kiện thì không thể có sản xuất hàng hóa.
c) Đặc trưng của sản xuất hàng hóa.
Sản xuất hàng hóa có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán.
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin thì trong lịch sử loài người tồn tại hai kiểu tổ chức
kinh tế khác nhau là sản xuất tự cung, tự cấp (tự túc, tự cấp) và sản xuất hàng
hóa. Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất
ra để bán chứ không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực
tiếp sản xuất ra nó, tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông
qua việc trao đổi, mua bán. 4
Thứ hai, lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư
nhân, vừa mang tính xã hội.
Vì sản phẩm làm ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu hàng hóa
cho xã hội nên lao động của sản xuất hàng hóa mang tính xã hội. Bên cạnh đó
việc sản xuất cái gì, như thế nào là công việc riêng, mang tính độc lập của mỗi
người vì vậy lao động của người sản xuất hàng hóa mang tính chất tư nhân. Tính
chất tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội. Đó
chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa. Theo Mác-Lênin thì mâu
thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm mống của khủng
hoảng trong nền kinh tế hàng hóa.
Thứ ba, mục đích của sản xuất hàng hóa là đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của người khác thông qua trao đổi, mua bán chứ không phải để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng của chính người sản xuất. Vì vậy, cốt lõi của sản xuất hàng
hóa là tạo ra giá trị, lợi nhuận chứ không phải giá trị sử dụng.
d) Ưu thế của sản xuất hàng hóa.
So với nền sản xuất tự nhiên, tự túc thì sản xuất hàng hóa có điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao
động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất. Do đó, nó khai thác được những
lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất
cũng như từng vùng, từng địa phương. Đồng thời, sự phát triển của sản
xuất hàng hóa lại có tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển của phân công
lao động xã hội, làm cho chuyên môn hóa lao động ngày càng tăng, mối
liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc. Từ
đó, nó phá vỡ tính tự cấp tự túc, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành,
mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, 5
nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn. Bên cạnh đó giúp khai thác
được các lợi thế của các quốc gia với nhau.
Thứ hai, trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất
không còn bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của
mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng, mỗi địa phương, mà nó được
mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực của xã hội. Điều đó lại tạo
điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật
vào sản xuất... thúc đẩy sản xuất phát triển. ,
Thứ ba Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động của quy
luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hóa là quy luật giá trị, cung -
cầu, cạnh tranh... buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động,
nhạy bén, biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao
năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, cải tiến hình thức, quy cách và
chủng loại hàng hóa, làm cho chi phí sản xuất hạ xuống đáp ứng nhu cầu,
thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn.
Thứ tư, trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản
xuất, sự mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa
các nước... không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa,
tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hóa cũng
có những mặt trái của nó như phân hóa giàu - nghèo giữa những người sản
xuất hàng hóa, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phá hoại môi trường
sinh thái, xã hội,… Những tác động tiêu cực đó có thể hạn chế được, nếu
có sự quản lý, điều tiết từ một chủ thể chung của toàn bộ nền kinh tế là nhà nước. 2. Hàng hóa. 6
- Khái niệm của hàng hóa và thuộc tính của hàng hóa.
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thoả mãn được nhu cầu nào
đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.
Hàng hóa có thể ở dạng hữu hình như: sắt, thép, lương thực,
thực phẩm... hoặc ở dạng vô hình như những dịch vụ thương mại, vận tải hay
dịch vụ của giáo viên, bác sĩ và nghệ sĩ...
Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị.
- Giá trị sử dụng của hàng hóa.
Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hàng hóa thoả
mãn nhu cầu nào đó của con người. Bất cứ hàng hóa nào cũng có một hay một số
công dụng nhất định. Chính công dụng đó (tính có ích đó) làm cho hàng hóa có
giá trị sử dụng. Ví dụ, công dụng của gạo là để ăn, vậy giá trị sử dụng của gạo là để ăn...
Cơ sở của giá trị sử dụng của hàng hóa là do những thuộc tính tự
nhiên (lý, hoá học) của thực thể hàng hóa đó quyết định nên giá trị sử dụng là
phạm trù vĩnh viễn vì nó tồn tại trong mọi phương thức hay kiểu tổ chức sản
xuất. Giá trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện dần dần trong quá trình phát
triển của khoa học-kỹ thuật và của lực lượng sản xuất nói chung.
Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng xã hội vì giá trị
sử dụng của hàng hóa không phải là giá trị sử dụng cho người sản xuất trực tiếp
mà là cho người khác, cho xã hội, thông qua trao đổi, mua bán. Điều đó đòi hỏi
người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn quan tâm đến nhu cầu của xã hội, làm
cho sản phẩm của mình đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Giá trị sử dụng của hàng hóa là vật mang giá trị trao đổi.
- Giá trị của hàng hóa. 7
Muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi.
Giá trị trao đổi trước hết là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ theo đó một giá trị
sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác.
Chính lao động hao phí để tạo ra hàng hóa là cơ sở chung của
việc trao đổi và nó tạo thành giá trị của hàng hóa.
Như vậy, giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản
xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Còn giá trị trao đổi mà chúng ta đề cập ở
trên, chẳng qua chỉ là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị, giá trị là nội
dung, là cơ sở của giá trị trao đổi. Đồng thời, giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa
những người sản xuất hàng hóa. Cũng chính vì vậy, giá trị là một phạm trù lịch
sử, chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hóa.
- Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa.
Hai thuộc tính của hàng hóa có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa
thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau.
Mặt thống nhất thể hiện ở chỗ: hai thuộc tính này cùng đồng thời
tồn tại trong một hàng hóa, một vật phải có đầy đủ hai thuộc tính này mới là
hàng hóa. Nếu thiếu một trong hai thuộc tính đó vật phẩm sẽ không phải là hàng hóa.
Mâu thuẫn giữa hai thuộc tính của hàng hóa thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hóa không
đồng nhất về chất. Nhưng ngược lại, với tư cách là giá trị thì các hàng hóa lại
đồng nhất về chất, đều là "những cục kết tinh đồng nhất của lao động mà thôi",
tức đều là sự kết tinh của lao động, hay là lao động đã được vật hoá.
Thứ hai, tuy giá trị sử dụng và giá trị cùng tồn tại trong một
hàng hóa, nhưng quá trình thực hiện chúng lại tách rời nhau về cả mặt không 8
gian và thời gian: giá trị được thực hiện trước trong lĩnh vực lưu thông, còn giá
trị sử dụng được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng. Do đó nếu giá trị của
hàng hoá không được thực hiện thì sẽ dẫn đến khủng hoảng sản xuất. II.
Thực trạng về kinh tế hàng hóa ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay.
1. Thực trạng về nền kinh tế hàng hóa ở Thanh Hóa.
- Đánh giá về nền kinh tế.
Kinh tế của Thanh Hóa có những bước tăng trưởng mạnh mẽ.
Từ năm 2018 tăng trưởng đạt 15,16%, đến năm 2022 Thanh Hóa có bước khôi
phục nền kinh tế sau đại dịch Covid, tăng trưởng đạt 12,51%, gấp 1,56 lần mức
trung bình cả nước, thuộc nhóm các tỉnh, thành phố dẫn đầu mức tăng trưởng
trong cả nước. Một tiêu chí khác để đánh giá về mức tăng trưởng kinh tế đó là
GDP bình quân đầu người. GDP/người là một trong những chỉ tiêu thống kê kinh
tế tổng hợp quan trọng, phản ánh kết quả sản xuất tính bình quân đầu người
trong một năm. Theo số liệu thống kê, GDP bình quân đầu người năm 2022 đạt
2.925 USD so với năm 2018 đạt 1.990 USD (cả nước: USD – năm 2022). 4.163
Các nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên, địa lý, địa hình không
còn có ý nghĩa quyết định đối với tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh biến đổi
khí hậu, diện tích rừng giảm đi, tốc độ mất. rừng nhiều hơn tốc độ trồng rừng
mới, những ngành nghề phát triển dựa vào lợi thế về biển mất dần sức cạnh tranh
trên thị trường. Do thời tiết nắng nóng, hanh khô kéo dài nên tình trạng cháy rừng vẫn còn diễn ra.
Cơ cấu các thành phần kinh tế của Thanh Hóa có sự thay đổi
tích cực. Bên cạnh khu vực kinh tế nhà nước, đến nay đã có đầy đủ các thành
phần kinh tế hoạt động cạnh tranh lành mạnh, hỗ trợ và tạo động lực cho nhau để 9
phát triển. Các thành phần kinh tế đã phát huy tiềm năng và thế mạnh để phát triển.
- Sau đây là biểu đồ về cơ cấu kinh tế tỉnh Thanh Hóa: 10
Cơ cấu kinh tế tỉnh Thanh Hóa năm 2021. 16.07 6.47 30.82 Nông, lâm nghiệp và thủy sản 46.64 Cộng nghiệp và xây dựng Các ngành dịch vụ
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 11
Cơ cấu kinh tế tỉnh Thanh Hóa năm 2022. 14.42 6.78 30.4 Nông, lâm nghiệp và thủy sản 48.4 Công nghiệp và xây dựng Các ngành dịch vụ
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm
Cơ cấu kinh tế theo ngành của tỉnh Thanh Hóa chuyển
dịch theo hướng khá hợp lý; tỷ trọng đóng góp của công nghiệp và dịch vụ
tăng lên trong GDP (năm 2022 so với năm 2021, tỉ trọng ngành công
nghiệp, xây dựng tăng 3,17%; tỉ trọng ngành nông, lâm nghiệp và tủy sản giảm 0,35%). 2. Đánh giá thực trạng.
a) Những kết quả đạt được.
Tăng trưởng và phát triển kinh tế đi liền với chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ngành kinh tế. Trong thời gian qua, cơ 12
cấu kinh tế Thanh Hóa chuyển dịch từ khu vực nông lâm ngư nghiệp sang
công nghiệp và dịch vụ. Trong ngành nông nghiệp, các sản phẩm nông
nghiệp chăn nuôi và thủy sản tăng tỉ trọng. Công nghiệp khai thác giảm tỉ
trọng và công nghiệp chế biến tăng tỉ trọng, đặc biệt các sản phẩm công
nghiệp lọc hóa dầu, dệt may, điện tử. Tỉ trọng ngành dịch vụ tăng nhanh
như du lịch, dịch vụ cảng biển.
Nhìn chung, có thể thấy mức độ phát triển kinh tế bền
vững của tỉnh Thanh Hóa là chưa ổn định, thiếu sự cân bằng giữa các chỉ
số. Tỷ lệ vốn đầu tư cho đến thời điểm hiện tại có xu hướng tăng trong khi
năng suất lao động xã hội và tỷ lệ thu ngân sách so với chi ngân sách lại có xu hướng giảm.
Minh chứng cho sự phát triển của nền kinh tế Thanh Hóa
là tốc độ tăng trưởng của Thanh Hóa đứng thứ 7 cả nước; cao nhất trong
các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ. Phát triển doanh nghiệp đạt kết quả tích
cực, đứng thứ 6 cả nước.
b) Những hạn chế và nguyên nhân của nền kinh tế hàng hóa tỉnh Thanh Hóa.
- Nhiều doanh nghiệp chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Thống kê của Bảo hiểm xã hội tỉnh Thanh Hóa, đến ngày
31/12/2022, số tiền nợ bảo hiểm của doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn gần
315 tỷ đồng. Một số doanh nghiệp chậm đóng như Công ty TNHH FLC Samson
Golf & Resort có 862 lao động, chậm đóng gần 19 tỷ đồng; Công ty TNHH
MTV Công nghiệp tàu thủy Thanh Hóa có 50 lao động, chậm đóng hơn 15 tỷ
đồng; Chi nhánh Công ty CP Sông Đà 4 có 63 lao động, chậm đóng hơn 9 tỷ
đồng. Đến cuối năm 2022, trong số 4.000 đơn vị hành chính sự nghiệp ở Thanh 13
Hóa có 17 đơn vị chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp với hơn 4,6 tỷ đồng.
Nguyên nhân của việc chậm đóng, nợ đọng các loại bảo hiểm là
do tình trạng các doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất, dẫn đến nhiều
doanh nghiệp chậm đóng bảo hiểm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo
hiểm y tế, thậm chí nhiều doanh nghiệp giải thể, phá sản, dừng hoạt động…
- Giá nguyên vật liệu tăng gây khó khăn trong sản xuất hàng hóa.
Tính chung năm 2022, chỉ số giá nguyên vật liệu dùng cho sản
xuất tăng 6% so với năm 2021. Đây là mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm qua.
Nguyên nhân của việc giá nguyên vật liệu tăng cao là do giá
xăng, dầu tăng tác động đến các chi phí khai thác, vận chuyển các loại vật liệu
này. Trong thời gian tới, do giá nhiên liệu đặc biệt là xăng dầu đang tăng cao, vì
vậy sẽ tiếp tục có sự tăng giá đối với các loại vật liệu này.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm bị thu hẹp, nhiều doanh nghiệp
sản xuất công nghiệp bị cắt giảm đơn hàng, hoạt động cầm chừng.
Sản lượng xuất khẩu đã giảm ít nhất 30% so với lúc ổn định đặc
biệt là các nhóm hàng chủ lực.
Nguyên nhân của sự giảm sút này là do hai thị trường lớn là Mỹ
và Châu Âu, người dân đang thắt chặt chi tiêu. Bên cạnh đó ảnh hưởng của các
cuộc xung đột giữa Nga và Ukraina dẫn đến chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn.
Nhìn chung, có thể thấy mức độ phát triển kinh tế bền
vững của tỉnh Thanh Hóa là chưa ổn định, thiếu sự cân bằng giữa các chỉ 14
số. Tỷ lệ vốn đầu tư cho đến thời điểm hiện tại có xu hướng tăng trong khi
năng suất lao động xã hội và tỷ lệ thu ngân sách so với chi ngân sách lại có xu hướng giảm. III.
Những giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện nền kinh tế hàng hóa của tỉnh Thanh Hóa.
Trong giai đoạn hiện nay khi mà đất nước đã ổn định về kinh tế,
chính trị, xã hội đã được xác định rõ ràng thì tỉnh Thanh Hóa cũng cần xác định
rõ phương hướng phát triển để phát huy điểm mạnh và khắc phục những hạn chế.
Các giải pháp có thể sử dụng tới như sau:
-Tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư, tăng
tỷ lệ vốn đầu tư so với tổng sản phẩm trên địa bàn.
Hiện nay, vốn đầu tư ở Thanh Hóa cho một số công trình, dự án
lớn vẫn chủ yếu từ nguồn ngân sách Trung ương, vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà
nước còn thấp do các doanh nghiệp Thanh Hóa chủ yếu là vừa và nhỏ, năng lực
cạnh tranh thấp. Bên cạnh đó, các mặt hàng xuất khẩu đa dạng và doanh thu tăng
qua các năm, nhưng năng lực cạnh tranh của các sản phẩm còn thấp và giá trị
xuất khẩu chưa cao so với nguồn vốn đầu tư.
Do vậy, lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa cần có kế hoạch và chính sách
tăng cường mối quan hệ hợp tác lâu dài, cùng có lợi giữa tỉnh Thanh Hóa, Việt
Nam với các nước trong khu vực và quốc tế nhằm phát huy vai trò hội nhập kinh
tế thông qua các hoạt động đối ngoại, giao lưu, hợp tác quốc tế. Cải thiện mạnh
mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, rà soát, sửa đổi, điều chỉnh, xóa bỏ những quy
định không phù hợp với các cam kết quốc tế, đảm bảo thích ứng với những thay
đổi trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập
-Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và chuyển nền kinh tế phát triển theo chiều rộng và cả chiều sâu. 15
Cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hóa đã có sự chuyển dịch theo
hướng hiện đại hóa, nhưng sự chuyển dịch còn diễn ra chậm, chưa đáp ứng được
yêu cầu. Việc ứng dụng khoa học công nghệ còn chưa rộng rãi, năng suất, hiệu
quả, sức cạnh tranh thấp dẫn đến năng lực cạnh tranh nền kinh tế còn thấp.
Tỉnh Thanh Hóa cần tăng cường năng lực về khoa học công
nghệ trong phát triển kinh tế, nhất là phát triển mạnh mẽ công tác R&D trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tập trung vào phát triển các ngành công nghệ
cao, các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và thân thiện với môi trường thuộc các
ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ với các sản phẩm như: xăng dầu,
công nghệ thông tin, cảng biển, dịch vụ hậu cần cảng, du lịch, nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao. Nghiên cứu và triển khai áp dụng mạnh mẽ mô hình tăng
trưởng xanh. Đây là mô hình mà các quốc gia phát triển đã và đang áp dụng.
Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng giảm tỷ trọng các
ngành công nghiệp khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng và ngành có tác động
xấu đến môi trường; tăng tỷ trọng các ngành sản phẩm có hàm lượng công nghệ
cao, chế biến sâu, sản xuất thân thiện môi trường, sản phẩm hướng vào xuất khẩu
-Sử dụng tốt các nguồn lực để tăng năng suất lao động xã hội.
Tăng năng suất lao động xã hội là yếu tố quyết định đến khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ. Đạt được năng suất lao động xã hội cao mới đảm bảo kinh tế phát triển
nhanh và bền vững, vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
Lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa cần chú trọng hỗ trợ phát triển các
doanh nghiệp để doanh nghiệp thực sự trở thành một động lực quan trọng của
nền kinh tế. Môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư cần được cải thiện
nhằm khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh.
-Cân đối thu chi ngân sách theo hướng bền vững. 16
Tỷ lệ thu ngân sách so với chi ngân sách trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa chỉ đạt ở mức tương đối bền vững. Bài toán tổng thể lớn nhất trong chính
sách thu – chi của tỉnh Thanh Hóa giờ đây là bền vững chứ không phải là giải
pháp tình thế. Không chỉ là doanh nghiệp nhà nước vay mà doanh nghiệp tư
nhân cũng đã vay nước ngoài, bên cạnh đó còn là nợ chính quyền địa phương.
Lãnh đạo tỉnh cần phải mạnh tay siết chặt kỷ luật ngân sách, có giải pháp mạnh để giảm chi.
Tỉnh Thanh Hóa cần cải cách mạnh mẽ chính sách thu, cải cách
hệ thống thuế nhằm giảm bớt gánh nặng thuế khóa, tạo nguồn thu ngân sách ổn
định và cân bằng cần. Đồng thời, vấn đề trọng tâm là phải giảm chi ngân sách
chứ không phải tăng thu, đó là giảm tỷ lệ chi thường xuyên thông qua việc giảm
tốc độ tăng biên chế và quỹ lương cho cán bộ, công chức và viên chức của Chính phủ.
-Đổi mới và hoàn thiện hế thống chính sách kinh tế, tạo lập môi
trường cạnh tranh bình đẳng, bảo vệ môi trường và đảm bảo công bằng xã hội.
Việc đổi mới hệ thống chính sách kinh tế, bảo vệ môi trường và
chính sách xã hội phải được tiến hành đồng thời và kết hợp theo hướng mỗi
chính sách kinh tế phải gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Đổi mới chính sách
xã hội theo hướng đảm bảo công bằng xã hội. Chính sách môi trường phải thực
sự làm tăng trưởng kinh tế và thực hiện tốt mục tiêu phát triển bền vững về môi trường.
Tỉnh cần chú trọng tạo lập môi trường để các chủ thể trong nền
kinh tế cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng, phải lấy thị trường làm căn cứ
để phân bổ nguồn lực vốn có hiệu quả, hạn chế tới mức thấp nhất sự can thiệp
hành chính của Nhà nước vào nền kinh tế. Đảm bảo cho mọi chủ thể trong nền 17
kinh tế thị trường cạnh tranh công bằng và bình đẳng, có cơ hội ngang nhau
trong việc tiếp cận nguồn lực vốn.
Thanh Hóa với mục tiêu lâu dài là phát triển bền vững gắn tăng
trưởng kinh tế với phát triển văn hóa – xã hội, giáo dục – đào tạo, khoa học –
công nghệ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Thực hiện tốt các chương trình
giảm nghèo, giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. 18
C. Tài liệu tham khảo.
[1] Bộ GD&ĐT, Giáo trình Kinh tế-Chính trị Mác-Lênin, NXB Quốc Gia.
[2] Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 292(2), 10-19.
[3] Tạp chí của ban Tuyên giáo trung ương, Thứ Hai, 14/06/2021.
[4] Online T. T. (2022, November 3). “Đói” đơn hàng, doanh
nghiệp gặp khó. TUOI TRE ONLINE. https://tuoitre.vn/doi-don-hang-doanh-
nghiep-gap-kho-20221102224722606.html
[5] Thanh Hóa biến khó khăn, thách thức thành động lực phát
triển. (n.d.). https://special.nhandan.vn/Thanh-Hoa-bien-kho-khan-thanh- dong-luc-phat-trien/index.html
[6] Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa (2021), Niên giám thống kê 2021, Thanh Hóa
[7] Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa (2022), Niên giám thống kê 2022, Thanh Hóa.
[8] Anh K. (2023b, April 19). Thất thu hơn 121 tỷ tiền bảo hiểm
vì doanh nghiệp phá sản, bỏ trốn. Nhịp Sống Kinh Tế Việt Nam & Thế
Giới. https://vneconomy.vn/that-thu-hon-121-ty-tien-bao-hiem-vi-doanh- nghiep-pha-san-bo-tron.html 19 20