I. Lời mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam, cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, đang trải qua những biến động
kinh tế đáng chú ý. Trong bối cảnh này, việc nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế Việt
Nam trở nên cực kỳ hấp dẫn và cần thiết. Đây không chỉmột đề tài quan trọng để hiểu
hơn về sự phát triển của quốc gia còn hội để đóng góp vào việc xác định các
chiến lược và chính sách phát triển kinh tế trong tương lai. Việc hiểu rõ về các yếu tố ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, vai trò quan trọng các chính sách tài khóa
trong việc hỗ trợ nền kinh tế và giảm thiểu tác động đến người dân, doanh nghiệp hay đến
những biến động trên thị trường quốc tế,… sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan và sâu
sắc hơn về vấn đề này, nhóm chúng em đã chọn đề tài: “Thực trạng tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam cùng với việc điều hành chính sách tài khóa trong giai đoạn 2018-2023”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhóm chúng em chọn tìm hiểu nghiên cứu sự
biến động, tương quan giữa tăng trưởng kinh tế để từ đó tìm ra được tác động việc
điều hành chính sách tài khóa đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về đề tài nhóm chúng em đã thông qua các đối tượngphạm vi nghiên cứu
nền kinh tế Việt Nam và các chính sách tài khóa trong 8 năm liên tiếp từm 2018
đến năm 2023.
4. Phương pháp nghiên cứu và tra cứu dữ liệu
Để nghiên cứu về nền kinh tế Việt Nam nhóm chúng em đã sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu từ các trang web, bài báo, tài liệu uy tín như Tổng cụ thống Việt
Nam, Worldbank, VNExpress,… năng sử dụng đồ thị cùng những hình ảnh sinh
động cụ thể minh họa s biến động, thay đổi của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn
2018-2023.
II. Nội dung
1. Cơ sở lý luận
1.1. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
1.1.1. Khái niệm
GDP (Gross Domestic Product) giá trị thị trường của tất cả hàng hóa, dịch vụ cuối
cùng được tạo ra trong một quốc gia, trong một khoảng thời gian nhất định.
GDP phản ánh giá trị sản xuất trong một khoảng thời gian cụ thể, thường một năm
hoặc một quý.
1.1.2. Phương pháp tính
- Phương pháp giá trị gia tăng
Xét về góc độ sản xuất, tổng sản phẩm quốc nội chính tổng tất cgiá trị gia tăng của
nền kinh tế một nước trong một thời gian nhất định.
GDP = Giá trị tăng thêm + Thuế nhập khẩu
Trong đó, giá trị tăng thêm của từng ngành kinh tế có thể là thu nhập của người sản xuất,
tiền công, bảo hiểm, khấu hao tài sản cố định, thuế sản xuất, giá trị thặng dư…
- Phương pháp chi tiêu
Xét về góc độ sử dụng hay chi tiêu, GDP bao gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình,
chi tiêu cuối cùng của chính phủ, đầu tư của doanh nghiệp, xuất nhập khẩu ròng.
GDP = C + I + G + NX
Trong đó:
C: Tổng giá trị tiêu dùng cho sản phẩm và dịch vụ của các hộ gia đình trong quốc gia đó
I: Tổng giá trị tiêu dùng của các nhà đầu tư
G: Tổng giá trị chi tiêu của chính phủ
NX = EX – IM: Xuất khẩu ròng
- Phương pháp thu nhập
Xét về góc độ thu nhập, GDP gồm thu nhập trong nước của các yếu tố sản xuất (hộ gia
đình, doanh nghiệp, chính phủ).
GDP = W + Rd + r + Pr + Te + Dp
Trong đó: W: Tiền lương, R: Địa tô, r: Tiềni, Pr: Lợi nhuận, Te: Các khoản thuế dịch
vụ, hàng hóa bán trên thị trường trợ cấp của chính phủ cho sản xuất (thuế gián thu
ròng), Dp: Khấu hao tài sản cố định
1.1.3. Phân loại
- GDP danh nghĩa
GDP danh nghĩa là một chỉ tiêu phản ánh tổng sản phẩm quốc nội GDP và được tính theo
giá cả thị trường.
GDP danh nghĩa chỉ tiêu thể hiện sự thay đổi giá do lạm phát hay tốc độ tăng giá của
nền kinh tế. Nếu tất cả mức giá đều xu hướng tăng hoặc giảm thì GDP danh nghĩa sẽ
lớn hơn.
- GDP thực tế
GDP thực tế là chỉ tiêu dựa trên tổng sản phẩm, dịch vụ trong nước đã điều chỉnh theo tốc
độ lạm phát lạm phát. Trường hợp lạm phát dương, GDP thực tế sẽ thấp hơn GDP danh
nghĩa vì GDP thực tế bằng tỉ lệ giữa GDP danh nghĩa và hệ số giảm phát GDP.
1.1.4. Ý nghĩa
GDP là thước đo đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia vào một thời điểm
nhất định. Đồng thời, thể hiện phản ánh ràng sự biến động của hàng hóa, dịch vụ
theo thời gian.
Tăng trưởng kinh tế thực năm t =
GDP GDPt t1
GDPt1
×100%
Chỉ số GDP giảm thể dẫn đến tình trạng suy thoái kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, tiền
mất giá… Những ảnh hưởng tiêu cực này sẽ tác động trực tiếp đến đời sống người dân.
Ngoài ra, GDP còn yếu tố giúp các các nhà đầu nước ngoài đánh giá về tiềmng
phát triển của một quốc gia, từ đó đưa ra quyết định đầu tư phù hợp.
Dựa vào chỉ số GDP, Chính phủ mỗi quốc gia ban hành các chính sách tiền tệ phù hợp
với nền kinh tế.
1.1.5. Hạn chế
Không thể hiện đầy đủ các hoạt động sản xuất tự cung, tự cấp.
Không định lượng được một số giá trị làm ngoài giấy tờ, kinh doanh trên thị trường chợ
đen, công việc tình nguyện…
Không xem xét các hoạt động trung gian chỉ xem xét trên hoạt động sản xuất hàng
hóa cuối cùng và đầu tư vốn.
Mức tăng trưởng GDP không thể đo lường chính xác sự phát triển của một quốc gia
đời sống người dân. Bởi GDP chỉ phản ánh sản lượng vật chất không xét được tình
hình tổng thể của quốc gia.
1.1.6. Phân biệt GDP với các chỉ số kinh tế
a. GDP với GNP
GNP là chỉ số tổng sản phẩm quốc gia, biểu thị tổng giá trị bằng tiền thu được từ các sản
phẩm và các dịch vụ mà mọi công dân tạo ra trong năm.
GDP GNP đều được sử dụng để biểu thị giá trị trong lĩnh vực kinh tế mô, nhằm
đánh giá khả năng phát triển kinh tế của một đất nước.
Tuy nhiên về bản chất, GDP chỉ thể hiện tổng sản phẩm quốc nội (trong nước). Còn GNP
thì phản ánh tổng sản phẩm quốc dân, bao gồm trong nước và ngoài nước.
b. GDP với CPI
CPI là chỉ số đo lường hàng hóa, dịch vụ được mua bởi người tiêu dùng. Trong đó không
bao gồm giá cả hàng hóa, dịch vụ được nhà nước, Chính phủ hay các hãng mua.
Hai chỉ số GDP và CPI đều biểu thị các chỉ số đo lường giá trị kinh tế vĩ mô.
Tuy nhiên, giá trị GDP chỉ tính cho các hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước. Còn giá
trị CPI được tính cho toàn bộ hang hóa, dịch vụ được mua, bao gồm cả những hàng hóa
được nhập khẩu.
1.2. Chính sách tài khóa
1.2.1. Khái niệm
Chính sách tài khóa (Fiscal policy) là các biện pháp can thiệp của chính phủ đến hệ thống
thuế (T) và chi tiêu của chính phủ (G) nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô
như tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm hoặc ổn định giá cả và kiểm soát lạm phát.
Chỉ chính phủ mới có quyền và chức năng thực thi chính sách tài khóa.
1.2.2. Mục tiêu
Mục tiêu của chính sách tài khóa điều tiết thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm tỷ lệ
thất nghiệp, kiểm soát lạm phát.
- Là công cụ hỗ trợ chính phủ điều tiết nền kinh tế
Trong điều kiện hoạt động bình thường, chính sách tài khóa tác động điều chỉnh tổng cầu
tăng, giúp tăng trưởng kinh tế.
Khi nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái hoặc phát triển quá mức (còn gọi phát triển
nóng) thì chính sách tài khóa sẽ can thiệp điều chỉnh tổng cầu giảm xuống, giúp đưa nền
kinh tế về lại trạng thái cân bằng.
- Giảm thất nghiệp, tăng cơ hội việc làm
Việc giảm thuế, phí, đẩy mạnh đầu tư công, tạo vốn mồi góp phần thúc đẩy doanh nghiệp
nắm bắt hội sản xuất, kinh doanh. Từ đó thể tạo ra nhiều hội việc làm nâng
cao tỷ lệ có việc làm.
Ngoài ra, giảm thuế còn thể kích thích chi tiêu của người dân, thúc đẩy nhu cầu về
hàng hóa và dịch vụ, cũng góp phần mở ra nhiều cơ hội việc làm mới.
- Kiểm soát lạm phát
Bằng cách tăng thuế hoặc giảm chi tiêu chính phủ, chính phủ thể hạn chế nhu cầu về
hàng hóa dịch vụ để kiểm soát tình trạng lạm phát. Điều này đảm bảo sự ổn định giá
trị trong nền kinh tế trong tầm kiểm soát, tạo lập nên môi trường an toàn cho tăng trưởng
đầu tư và phát triển.
1.2.3. Phân loại
Chính sách tài khóa gồm 2 loại là chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tài khóa thu
hẹp. Mỗi loại tác động theo 2 hướng ngược nhau tới nền kinh tế vĩ mô.
- Chính sách tài khóa mở rộng
Chính sách tài khóa mở rộng hay chính sách tài khóa thâm hụt việc Chính phủ thực
hiện tăng chi tiêu chính phủ, giảm nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp tăng chi tiêu chính phủ
và giảm nguồn thu từ thuế. Điều này giúp tăng sản lượng nền kinh tế, tổng cầu tăng, từ đó
tăng số lượng việc làm cho người dân, kích thích nền kinh tế phát triển.
Chính sách tài khóa mở rộng được áp dụng khi nền kinh tế suy thoái, kém phát triển, tăng
trưởng chậm, tỷ lệ thất nghiệp tăng. Chính sách này thường không được áp dụng một
mình kết hợp chung với chính sách tiền tệ giúp thực hiện mục đích ổn định, tăng
trưởng, phát triển kinh tế hiệu quả nhất.
- Chính sách tài khóa thắt chặt
Chính sách tài khóa thắt chặt việc Chính phủ thực hiện giảm chi tiêu chính phủ, tăng
nguồn thu từ thuế hay kết hợp giảm chi tiêu chính phủ và tăng nguồn thu từ thuế.
Từ đó giảm sản lượng của nền kinh tế, giảm tổng cầu giúp nền kinh tế không bị phát triển
quá nóng. Chính sách này được sử dụng để đưa nền kinh tế đang phát triển quá nhanh,
thiếu ổn định hay tỷ lệ lạm phát cao trở về trạng thái cân bằng, ổn định.
1.2.4. Công cụ
Chính sách sử dụng hai công cụ chính là chi tiêu chính phủ và thuế .(thu ngân sách)
- Chi tiêu chính phủ
Chi tiêu của chính phủ bao gồm mua hàng hóa dịch vụ nhưchính phủ sử dụng ngân
sách để đầuvào quốc phòng, xây dựng cơ sở hạ tầng quốc gia, trả lương cho các quan
chức nhà nước, v.v.
Tăng chi tiêu chính phủ sẽ làm tăng tổng cầu của nền kinh tế, đồng thời cầu tăng cũng
làm tăng cung, giúp nền kinh tế dần phục hồi phát triển theo mục tiêu phát triển ổn
định. Ngược lại, việc giảm chi tiêu chính phủ giảm tổng cầu giúp ổn định nền kinh tế
đang phát triển quá nhanh.
- Thuế
Công cụ tiếp theo của chính sách tài khóa là thuế, là khoản thu bắt buộc của nhà nước vào
ngân sách đối với các cá nhân và tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước
lợi ích công cộng. Thuế bao gồm thuế trực thu và thuế gián thu, trong đó:
Thuế trực thu: loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập tài sản của người nộp
thuế. Đồng thời, người nộp thuế cũng chính người bản thân nộp thuế. Một s
loại thuế trực thu như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, …
Thuế gián thu: loại thuế được điều tiết gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa
dịch vụ người nộp thuế không phải người nộp thuế. Một số loại thuế gián
thu như thuế GTGT, thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu, thuế tiêu dùng…
Tác động: Thuế tăng thu nhập của người n giảm, họ sẽ tiêu dùng ít hơn, điều này
làm giảm tổng cầu và GDP. Nếu giảm thuế, giá hàng hóa và dịch vụ giảm, mọi người chi
tiêu nhiều hơn, tổng cầu tăng và GDP tăng.
1.2.5. Cán cân ngân sách
Nền kinh tế gồm có 3 trạng thái: thái nền kinh tế đang phát triển bình thường, nền kinh tế
đang phát triển quá mức trạng thái suy thoái kinh tế. Theo đó, việc điều hành chính
sách tài khóa theo hướng nào tùy thuộc vào quan điểm của từng chính phủ gắn với các
bối cảnh kinh tế vĩ mô cụ thể.
- Chính sách tài khóa trung lập
Chính sách tài khóa trung lập chính sách cân bằng ngân sách, nghĩa chi tiêu
Chính phủ bằng với nguồn thu từ thuế (G = T). Lúc này, chi tiêu của chính phủ hoàn toàn
được tài trợ từ nguồn thu của chính phủ nhìn chung tác động trung tính lên mức
độ của các hoạt động kinh tế.
- Chính sách tài khóa mở rộng
Chính sách tài khóa mở rộng chính sách tăng cường chi tiêu của chính phủ (G > T)
thông qua việc mở rộng chi tiêu hoặc giảm bớt nguồn thu thuế hoặc có thể kết hợp cả hai.
Trong điều kiện kinh tế suy thoái, chính phủ sẽ tăng chi tiêu giảm thuế để tăng tổng
cầu, từ đó tác động tăng tổng thu nhập quốc dân tăng trưởng kinh tế. Trong quá trình
triển khai Chính phủ phải kiểm soát chặt chẽ, nếu không, thể dẫn đến hình thành lạm
phát. Chính sách này thường được áp dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tạo hội
việc làm.
- Chính sách tài khóa thu hẹp
Chính sách tài khóa thu hẹp chính sách thắt chặt chi tiêu của Chính phủ (G < T) thông
qua việc giảm bớt chi tiêu hoặc/và tăng nguồn thu của chính phủ. Chính sách tài khóa
thắt chặt thường được sử dụng khi nền kinh tế phát triển quá mức để kìm hãm sự phát
triển quá nóng của nền kinh tế và kiềm chế lạm phát.
Chính phủ sẽ giảm chi tiêu công và tăng thuế, lúc này tổng cầu sẽ giảm, dẫn đến thu nhập
quốc dân giảm, giảm phát triển kinh tế và giảm lạm phát.
1.3. Tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế
Chính sách tài khóa đóng bốn vai trò quan trọng trong nền kinh tế:
- Giúp ổn định các nền kinh tế đầy biến động, công cụ giúp chính phủ tác động
toàn diện đến toàn bộ nền kinh tế trong mọi hoàn cảnh.
- Chính phủ sử dụng hai công cụ của chính sách tài khóa để phân bổ hiệu quả các
nguồn lực kinh tế. Thông qua chính sách tài khóa, quốc gia thể tập trung phát
triển các lĩnh vực then chốt của đất nước.
- cũng một công cụ hữu hiệu giúp phân phối phân phối lại GNP. Qua đó
tạo môi trường an toàn, ổn định cho đầu tư và tăng trưởng.
- Mục tiêu chính của chính sách tài khóa là tăng trưởng và phát triển kinh tế.
https://luatvietnam.vn/linh-vuc-khac/chinh-sach-tai-khoa-la-gi-883-96600-article.html
https://luatvietnam.vn/linh-vuc-khac/gdp-la-gi-883-90974-article.html
https://luanvan99.com/chinh-sach-tai-khoa-la-gi-bid208.html

Preview text:

I. Lời mở đầu 1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam, cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, đang trải qua những biến động
kinh tế đáng chú ý. Trong bối cảnh này, việc nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam trở nên cực kỳ hấp dẫn và cần thiết. Đây không chỉ là một đề tài quan trọng để hiểu
rõ hơn về sự phát triển của quốc gia mà còn là cơ hội để đóng góp vào việc xác định các
chiến lược và chính sách phát triển kinh tế trong tương lai. Việc hiểu rõ về các yếu tố ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, vai trò quan trọng các chính sách tài khóa
trong việc hỗ trợ nền kinh tế và giảm thiểu tác động đến người dân, doanh nghiệp hay đến
những biến động trên thị trường quốc tế,… sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan và sâu
sắc hơn về vấn đề này, nhóm chúng em đã chọn đề tài: “Thực trạng tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam cùng với việc điều hành chính sách tài khóa trong giai đoạn 2018-2023”. 2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài mà nhóm chúng em chọn là tìm hiểu và nghiên cứu sự
biến động, tương quan giữa tăng trưởng kinh tế để từ đó tìm ra được tác động và việc
điều hành chính sách tài khóa đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về đề tài nhóm chúng em đã thông qua các đối tượng và phạm vi nghiên cứu
là nền kinh tế ở Việt Nam và các chính sách tài khóa trong 8 năm liên tiếp từ năm 2018 đến năm 2023.
4. Phương pháp nghiên cứu và tra cứu dữ liệu
Để nghiên cứu về nền kinh tế ở Việt Nam nhóm chúng em đã sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu từ các trang web, bài báo, tài liệu uy tín như Tổng cụ thống kê Việt
Nam, Worldbank, VNExpress,… và kĩ năng sử dụng đồ thị cùng những hình ảnh sinh
động cụ thể minh họa sự biến động, thay đổi của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2018-2023. II. Nội dung 1. Cơ sở lý luận 1.1.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 1.1.1. Khái niệm
GDP (Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa, dịch vụ cuối
cùng được tạo ra trong một quốc gia, trong một khoảng thời gian nhất định.
GDP phản ánh giá trị sản xuất trong một khoảng thời gian cụ thể, thường là một năm hoặc một quý. 1.1.2. Phương pháp tính
- Phương pháp giá trị gia tăng
Xét về góc độ sản xuất, tổng sản phẩm quốc nội chính là tổng tất cả giá trị gia tăng của
nền kinh tế một nước trong một thời gian nhất định.
GDP = Giá trị tăng thêm + Thuế nhập khẩu
Trong đó, giá trị tăng thêm của từng ngành kinh tế có thể là thu nhập của người sản xuất,
tiền công, bảo hiểm, khấu hao tài sản cố định, thuế sản xuất, giá trị thặng dư… - Phương pháp chi tiêu
Xét về góc độ sử dụng hay chi tiêu, GDP bao gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình,
chi tiêu cuối cùng của chính phủ, đầu tư của doanh nghiệp, xuất nhập khẩu ròng. GDP = C + I + G + NX Trong đó:
C: Tổng giá trị tiêu dùng cho sản phẩm và dịch vụ của các hộ gia đình trong quốc gia đó
I: Tổng giá trị tiêu dùng của các nhà đầu tư
G: Tổng giá trị chi tiêu của chính phủ
NX = EX – IM: Xuất khẩu ròng - Phương pháp thu nhập
Xét về góc độ thu nhập, GDP gồm thu nhập trong nước của các yếu tố sản xuất (hộ gia
đình, doanh nghiệp, chính phủ).
GDP = W + Rd + r + Pr + Te + Dp
Trong đó: W: Tiền lương, R: Địa tô, r: Tiền lãi, Pr: Lợi nhuận, Te: Các khoản thuế dịch
vụ, hàng hóa bán trên thị trường và trợ cấp của chính phủ cho sản xuất (thuế gián thu
ròng), Dp: Khấu hao tài sản cố định 1.1.3. Phân loại - GDP danh nghĩa
GDP danh nghĩa là một chỉ tiêu phản ánh tổng sản phẩm quốc nội GDP và được tính theo giá cả thị trường.
GDP danh nghĩa là chỉ tiêu thể hiện sự thay đổi giá do lạm phát hay tốc độ tăng giá của
nền kinh tế. Nếu tất cả mức giá đều có xu hướng tăng hoặc giảm thì GDP danh nghĩa sẽ lớn hơn. - GDP thực tế
GDP thực tế là chỉ tiêu dựa trên tổng sản phẩm, dịch vụ trong nước đã điều chỉnh theo tốc
độ lạm phát lạm phát. Trường hợp lạm phát dương, GDP thực tế sẽ thấp hơn GDP danh
nghĩa vì GDP thực tế bằng tỉ lệ giữa GDP danh nghĩa và hệ số giảm phát GDP. 1.1.4. Ý nghĩa
GDP là thước đo đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia vào một thời điểm
nhất định. Đồng thời, thể hiện và phản ánh rõ ràng sự biến động của hàng hóa, dịch vụ theo thời gian. GDPt GDP
Tăng trưởng kinh tế thực năm t = − t−1 ×100% GDPt−1
Chỉ số GDP giảm có thể dẫn đến tình trạng suy thoái kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, tiền
mất giá… Những ảnh hưởng tiêu cực này sẽ tác động trực tiếp đến đời sống người dân.
Ngoài ra, GDP còn là yếu tố giúp các các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá về tiềm năng
phát triển của một quốc gia, từ đó đưa ra quyết định đầu tư phù hợp.
Dựa vào chỉ số GDP, Chính phủ mỗi quốc gia ban hành các chính sách tiền tệ phù hợp với nền kinh tế. 1.1.5. Hạn chế
Không thể hiện đầy đủ các hoạt động sản xuất tự cung, tự cấp.
Không định lượng được một số giá trị làm ngoài giấy tờ, kinh doanh trên thị trường chợ
đen, công việc tình nguyện…
Không xem xét các hoạt động trung gian mà chỉ xem xét trên hoạt động sản xuất hàng
hóa cuối cùng và đầu tư vốn.
Mức tăng trưởng GDP không thể đo lường chính xác sự phát triển của một quốc gia và
đời sống người dân. Bởi GDP chỉ phản ánh sản lượng vật chất mà không xét được tình
hình tổng thể của quốc gia.
1.1.6. Phân biệt GDP với các chỉ số kinh tế a. GDP với GNP
GNP là chỉ số tổng sản phẩm quốc gia, biểu thị tổng giá trị bằng tiền thu được từ các sản
phẩm và các dịch vụ mà mọi công dân tạo ra trong năm.
GDP và GNP đều được sử dụng để biểu thị giá trị trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô, nhằm
đánh giá khả năng phát triển kinh tế của một đất nước.
Tuy nhiên về bản chất, GDP chỉ thể hiện tổng sản phẩm quốc nội (trong nước). Còn GNP
thì phản ánh tổng sản phẩm quốc dân, bao gồm trong nước và ngoài nước. b. GDP với CPI
CPI là chỉ số đo lường hàng hóa, dịch vụ được mua bởi người tiêu dùng. Trong đó không
bao gồm giá cả hàng hóa, dịch vụ được nhà nước, Chính phủ hay các hãng mua.
Hai chỉ số GDP và CPI đều biểu thị các chỉ số đo lường giá trị kinh tế vĩ mô.
Tuy nhiên, giá trị GDP chỉ tính cho các hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước. Còn giá
trị CPI được tính cho toàn bộ hang hóa, dịch vụ được mua, bao gồm cả những hàng hóa được nhập khẩu. 1.2. Chính sách tài khóa 1.2.1. Khái niệm
Chính sách tài khóa (Fiscal policy) là các biện pháp can thiệp của chính phủ đến hệ thống
thuế (T) và chi tiêu của chính phủ (G) nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô
như tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm hoặc ổn định giá cả và kiểm soát lạm phát.
Chỉ chính phủ mới có quyền và chức năng thực thi chính sách tài khóa. 1.2.2. Mục tiêu
Mục tiêu của chính sách tài khóa là điều tiết và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm tỷ lệ
thất nghiệp, kiểm soát lạm phát.
- Là công cụ hỗ trợ chính phủ điều tiết nền kinh tế
Trong điều kiện hoạt động bình thường, chính sách tài khóa tác động điều chỉnh tổng cầu
tăng, giúp tăng trưởng kinh tế.
Khi nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái hoặc phát triển quá mức (còn gọi là phát triển
nóng)
thì chính sách tài khóa sẽ can thiệp điều chỉnh tổng cầu giảm xuống, giúp đưa nền
kinh tế về lại trạng thái cân bằng.
- Giảm thất nghiệp, tăng cơ hội việc làm
Việc giảm thuế, phí, đẩy mạnh đầu tư công, tạo vốn mồi góp phần thúc đẩy doanh nghiệp
nắm bắt cơ hội sản xuất, kinh doanh. Từ đó có thể tạo ra nhiều cơ hội việc làm và nâng
cao tỷ lệ có việc làm.
Ngoài ra, giảm thuế còn có thể kích thích chi tiêu của người dân, thúc đẩy nhu cầu về
hàng hóa và dịch vụ, cũng góp phần mở ra nhiều cơ hội việc làm mới. - Kiểm soát lạm phát
Bằng cách tăng thuế hoặc giảm chi tiêu chính phủ, chính phủ có thể hạn chế nhu cầu về
hàng hóa và dịch vụ để kiểm soát tình trạng lạm phát. Điều này đảm bảo sự ổn định giá
trị trong nền kinh tế trong tầm kiểm soát, tạo lập nên môi trường an toàn cho tăng trưởng đầu tư và phát triển. 1.2.3. Phân loại
Chính sách tài khóa gồm 2 loại là chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tài khóa thu
hẹp. Mỗi loại tác động theo 2 hướng ngược nhau tới nền kinh tế vĩ mô.
- Chính sách tài khóa mở rộng
Chính sách tài khóa mở rộng hay chính sách tài khóa thâm hụt là việc Chính phủ thực
hiện tăng chi tiêu chính phủ, giảm nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp tăng chi tiêu chính phủ
và giảm nguồn thu từ thuế. Điều này giúp tăng sản lượng nền kinh tế, tổng cầu tăng, từ đó
tăng số lượng việc làm cho người dân, kích thích nền kinh tế phát triển.
Chính sách tài khóa mở rộng được áp dụng khi nền kinh tế suy thoái, kém phát triển, tăng
trưởng chậm, tỷ lệ thất nghiệp tăng. Chính sách này thường không được áp dụng một
mình mà kết hợp chung với chính sách tiền tệ giúp thực hiện mục đích ổn định, tăng
trưởng, phát triển kinh tế hiệu quả nhất.
- Chính sách tài khóa thắt chặt
Chính sách tài khóa thắt chặt là việc Chính phủ thực hiện giảm chi tiêu chính phủ, tăng
nguồn thu từ thuế hay kết hợp giảm chi tiêu chính phủ và tăng nguồn thu từ thuế.
Từ đó giảm sản lượng của nền kinh tế, giảm tổng cầu giúp nền kinh tế không bị phát triển
quá nóng. Chính sách này được sử dụng để đưa nền kinh tế đang phát triển quá nhanh,
thiếu ổn định hay tỷ lệ lạm phát cao trở về trạng thái cân bằng, ổn định. 1.2.4. Công cụ
Chính sách sử dụng hai công cụ chính là chi tiêu chính phủ và thuế (thu ngân sách). - Chi tiêu chính phủ
Chi tiêu của chính phủ bao gồm mua hàng hóa và dịch vụ nhưchính phủ sử dụng ngân
sách để đầu tư vào quốc phòng, xây dựng cơ sở hạ tầng quốc gia, trả lương cho các quan chức nhà nước, v.v.
Tăng chi tiêu chính phủ sẽ làm tăng tổng cầu của nền kinh tế, đồng thời cầu tăng cũng
làm tăng cung, giúp nền kinh tế dần phục hồi và phát triển theo mục tiêu phát triển ổn
định. Ngược lại, việc giảm chi tiêu chính phủ và giảm tổng cầu giúp ổn định nền kinh tế
đang phát triển quá nhanh. - Thuế
Công cụ tiếp theo của chính sách tài khóa là thuế, là khoản thu bắt buộc của nhà nước vào
ngân sách đối với các cá nhân và tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước vì
lợi ích công cộng. Thuế bao gồm thuế trực thu và thuế gián thu, trong đó:
Thuế trực thu: Là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập và tài sản của người nộp
thuế. Đồng thời, người nộp thuế cũng là chính người bản thân nộp thuế. Một số
loại thuế trực thu như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, …
Thuế gián thu: Là loại thuế được điều tiết gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và
dịch vụ mà người nộp thuế không phải là người nộp thuế. Một số loại thuế gián
thu như thuế GTGT, thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu, thuế tiêu dùng…
Tác động: Thuế tăng và thu nhập của người dân giảm, họ sẽ tiêu dùng ít hơn, điều này
làm giảm tổng cầu và GDP. Nếu giảm thuế, giá hàng hóa và dịch vụ giảm, mọi người chi
tiêu nhiều hơn, tổng cầu tăng và GDP tăng. 1.2.5. Cán cân ngân sách
Nền kinh tế gồm có 3 trạng thái: thái nền kinh tế đang phát triển bình thường, nền kinh tế
đang phát triển quá mức và trạng thái suy thoái kinh tế. Theo đó, việc điều hành chính
sách tài khóa theo hướng nào tùy thuộc vào quan điểm của từng chính phủ gắn với các
bối cảnh kinh tế vĩ mô cụ thể.
- Chính sách tài khóa trung lập
Chính sách tài khóa trung lập là chính sách cân bằng ngân sách, có nghĩa là chi tiêu
Chính phủ bằng với nguồn thu từ thuế (G = T). Lúc này, chi tiêu của chính phủ hoàn toàn
được tài trợ từ nguồn thu của chính phủ và nhìn chung là có tác động trung tính lên mức
độ của các hoạt động kinh tế.
- Chính sách tài khóa mở rộng
Chính sách tài khóa mở rộng là chính sách tăng cường chi tiêu của chính phủ (G > T)
thông qua việc mở rộng chi tiêu hoặc giảm bớt nguồn thu thuế hoặc có thể kết hợp cả hai.
Trong điều kiện kinh tế suy thoái, chính phủ sẽ tăng chi tiêu và giảm thuế để tăng tổng
cầu, từ đó tác động tăng tổng thu nhập quốc dân và tăng trưởng kinh tế. Trong quá trình
triển khai Chính phủ phải kiểm soát chặt chẽ, nếu không, có thể dẫn đến hình thành lạm
phát. Chính sách này thường được áp dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo cơ hội việc làm.
- Chính sách tài khóa thu hẹp
Chính sách tài khóa thu hẹp là chính sách thắt chặt chi tiêu của Chính phủ (G < T) thông
qua việc giảm bớt chi tiêu hoặc/và tăng nguồn thu của chính phủ. Chính sách tài khóa
thắt chặt thường được sử dụng khi nền kinh tế phát triển quá mức để kìm hãm sự phát
triển quá nóng của nền kinh tế và kiềm chế lạm phát.
Chính phủ sẽ giảm chi tiêu công và tăng thuế, lúc này tổng cầu sẽ giảm, dẫn đến thu nhập
quốc dân giảm, giảm phát triển kinh tế và giảm lạm phát. 1.3.
Tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế
Chính sách tài khóa đóng bốn vai trò quan trọng trong nền kinh tế:
- Giúp ổn định các nền kinh tế đầy biến động, là công cụ giúp chính phủ tác động
toàn diện đến toàn bộ nền kinh tế trong mọi hoàn cảnh.
- Chính phủ sử dụng hai công cụ của chính sách tài khóa để phân bổ hiệu quả các
nguồn lực kinh tế. Thông qua chính sách tài khóa, quốc gia có thể tập trung phát
triển các lĩnh vực then chốt của đất nước.
- Nó cũng là một công cụ hữu hiệu giúp phân phối và phân phối lại GNP. Qua đó
tạo môi trường an toàn, ổn định cho đầu tư và tăng trưởng.
- Mục tiêu chính của chính sách tài khóa là tăng trưởng và phát triển kinh tế.
https://luatvietnam.vn/linh-vuc-khac/chinh-sach-tai-khoa-la-gi-883-96600-article.html
https://luatvietnam.vn/linh-vuc-khac/gdp-la-gi-883-90974-article.html
https://luanvan99.com/chinh-sach-tai-khoa-la-gi-bid208.html