















Preview text:
CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI
1 Đặc điểm của nền chính trị thế giới sau chiến tranh thế giới thứ 2 BỐI CẢNH
Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc năm 1945 gây thiệt hại hơn 60 triệu người chết và châu Âu,
châu Á bị tàn phá nặng nề, tạo nhu cầu tái thiết toàn cầu. Mỹ và Liên Xô nổi lên làm siêu cường
thay thế Anh, Pháp suy yếu, dẫn đến Hội nghị Yalta (2/1945) và Potsdam (7-8/1945) phân chia ảnh
hưởng: Liên Xô kiểm soát Đông Âu như Ba Lan, Hungary; Mỹ-Anh chiếm Tây Âu và Nhật Bản
Từ đó hình thành trật tự thế giới 2 cực Yalta , Mỹ lãnh đạo khối tư bản dân chủ tự do ở Tây Âu và
Nhật Bản với mô hình dân chủ đa đảng và kinh tế thị trường , Liên Xô thống trị khối xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu vận hành theo cơ chế độc đảng và kinh tế kế hoạch hóa tập trung,Sự đối lập này
mở ra thời kỳ Chiến tranh Lạnh từ năm 1947, biểu hiện qua cạnh tranh chính trị và ý thức hệ.
Từmâu thuẫn về chính trị , cạnh tranh quân sự trở thành biểu hiện trực tiếp và gay gắt nhất giữa
Mỹ và Liên Xô . Hai siêu cường chạy đua vũ trang hạt nhân, Mỹ ném bom nguyên tử Hiroshima-
Nagasaki 1945 và Liên Xô thử bom 1949, tạo thế răn đe lẫn nhau tránh chiến tranh trực tiếp. Trong
bối cảnh ấy, phong trào giải phóng dân tộc bùng nổ mạnh mẽ, như việc Ấn Độ giành độc lập năm
1947, góp phần tái định hình bản đồ chính trị thế giới
Các liên minh quân sự ra đời ,NATO thành lập 1949 do Mỹ dẫn dắt nhằm bao vây .Liên Xô cũng
đáp lại là Khối Warszawa 1955,các căn cứ quân sự trải rộng trên lãnh thổ các bên . Chiến tranh ủy
nhiệm như Triều Tiên (1950-1953, 2 triệu chết) và Việt Nam (1955-1975) là minh chứng rõ rệt cho
sự đối đầu gián tiếp
Về Kinh tế hậu chiến được tái thiết lập qua hệ thống Bretton Woods vào năm 1944 Mỹ triển khai
Kế hoạch Marshall (1947) phục hồi Tây Âu, mở rộng ảnh hưởng chính trị và liên kết các nước đồng
minh thành một khối kinh tế – chính trị đồng minh, thể hiện rõ tính nội khối. Đồng thời, Mỹ viện trợ
Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ theo Doctrine Truman để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Trong khi đó, Liên
Xô kiểm soát các nền kinh tế Đông Âu theo mô hình kế hoạch hóa, đối lập hoàn toàn với cơ chế thị trường phương Tây.
2. Đặc điểm nền kinh tế chính trị thế giới sau chiến tranh lạnh ( tức là sau khi Liên Xô tan rã )
Chính trị quốc tế hiện đại từ năm 1991 đến nay đã trải qua những thay đổi sâu sắc, đánh dấu sự
chuyển dịch từ trật tự hai cực Chiến tranh Lạnh sang cấu trúc mới phức tạp hơn. Chiến tranh Lạnh
kết thúc chính thức năm 1991 với sự tan rã của Liên Xô ngày 26/12/1991
Giai đoạn 1991–2001, trật tự thế giới hình thành mô hình “nhất siêu – đa cường”, với Mỹ vẫn dẫn
đầu vượt trội về quân sự và kinh tế ( GDP chiếm 25% toàn cầu ) , thể hiện qua Chiến tranh Vùng
Vịnh 1991 và việc NATO mở rộng về Đông Âu năm 1999. Tuy nhiên, sau vụ khủng bố 11/9/2001,
Mỹ phải tham chiến ở Afghanistan và Iraq, làm phân tán nguồn lực và uy tín sức mạnh của Mỹ bị
thách thức , mở ra cơ hội cho các cường quốc khác vươn lên.
Trong khi Trung Quốc, Nga, EU và Ấn Độ nổi lên như các trung tâm quyền lực quan trọng. Trung
Quốc tăng cường ảnh hưởng kinh tế qua thương mại và đầu tư, Nga khẳng định vị thế quân sự qua
các sự kiện Georgia 2008 và Ukraine 2014–2022, còn EU dù gặp thách thức nội bộ như Brexit 2016
vẫn là nguồn kinh tế quan trọng. Thay vì đa cực thuần túy. Các quốc gia lớn ngày càng củng cố hòa
bình, giảm thiểu chiến tranh quy mô lớn từ bài học từ Chiến tranh Lạnh
Một đặc điểm nổi bật là hòa bình, hợp tác và phát triển trở thành mục tiêu chủ đạo. Đức, Nhật Bản
và các NICs như Hàn Quốc, Singapore chứng minh hội nhập quốc tế và ngoại thương là động lực
tăng trưởng. Toàn cầu hóa và quốc tế hóa, nhờ công nghệ thông tin và khoa học kỹ thuật, vận tải
hiện đại và các tổ chức như WTO, IMF, giúp các quốc gia liên kết chặt chẽ hơn. nhưng bên cạnh
đó lại gây nên sự mất bình đẳng ,thiếu hụt việc làm do tự động hóa ,…
Không những vậy , các thách thức vẫn tồn tại, bao gồm xung đột khu vực leo thang – Nga và
Ukraine, khủng bố, biến đổi khí hậu và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy từ giữa thập niên 2010(
Donald Trump theo đuổi America Frist 2.0 ), Trung Quốc với các vấn đề về tranh chấp biển Đông,ảnh
hưởng đến hợp tác đa phương.
Trật tự quốc tế hiện nay vừa ổn định nhờ hợp tác kinh tế, vừa dễ bị tác động bởi căng thẳng chính
trị và chiến tranh ủy nhiệm, đòi hỏi Việt Nam tận dụng cơ hội toàn cầu hóa đồng thời kiên định bảo
vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia.
3 . Chủ thể trong chính trị quốc tế
Quốc gia : là chủ thể cơ bản và có vai trò lớn nhất , hình thành do con người buộc phải liên kết
thành nhóm có tổ chức thằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng – Mô hình quốc gia hiện đại được
coi là bắt đầu từ sau hiệp ước Westphalia 1648
Quốc gia là một thực thế pháp lý quốc tế và phải có các đặc tính sau: Một dân cư thường xuyên (a),
một lãnh thổ xác định (b) và một chính phủ có khả năng duy trì sự kiếm soát hiệu quả trên lãnh thô
của nó (c) và tiên hành quan hệ quốc tê với các quốc gia khác (d)
Vai trò của quốc gia khi làm chủ thể trong chính trị quốc tế : là chủ thể tham gia lâu đời , thường
xuyên , mạnh mẽ nhất , có khả năng thực hiện cao hơn so với các chủ thể phi quốc gia , có yếu tố sức mạnh tổng hợp
• Phi quốc gia : là những chủ thể QHQT không phải là quốc gia ( tổ chức quốc tế phi chính phủ , công
ty xuyên quốc gia , một số nhóm chính trị- xã hội,..)
Ngày càng tăng , có vai trò rõ rệt hơn . Thúc đẩy sự liên kết , hợp tác giữa các quốc gia với nhau .
4. Quyền lực trong chính trị quốc tế Khái niệm hẹp:
"Quyền lực là khả năng của chủ thể này thuyết phục hoặc ép buộc chủ thế khác thực hiện điều mà mình muốn" Khái niệm rộng:
"Quyên lực là năng lực thực hiện mục đích của mình trong QHQT"
Bản chất: năng lực của chủ thê và được phản ánh qua tương quan và so sánh lực lượng. Phân loại quyền lực
- Dựa trên cơ sở thời gian
Quyền lực thực tại ( actual power ) là quyền lực thực hiện đang sở hữu
Ví dụ : Lực lượng quân sự , sức mạnh kinh tế - Mỹ
Quyền lực tiềm năng ( Potenial Power ) là khả năng sẽ có quyền lực trong tương lai
Ví dụ : khả năng phát triển kinh tế và KHCN- Trung Quốc
- Dựa trên hình thức biểu hiện
Quyền lực hữu hình : là những nguồn lực có thể thấy , sờ và đếm được
Ví dụ : số lượng quân đội , vũ khí , kinh tế , tài nguyên , khoáng sản ,..
Quyền lực vô hình : Là những quyền lực có yếu tố tinh thần không thể thấy và sờ đếm được
Ví dụ : tài năng lãnh đạo , trí tuệ , uy tín quốc tế
- Quyền lực dựa trên lĩnh vực quan hệ Quyền lực chính trị Quyền lực quân sự Quyền lực kinh tế Quyền lực văn hóa
- Dựa trên hình thức thực hiện
Quyền lực cứng là khả năng ép buộc chủ thể khác thực hiện những điều mà mình muốn , nếu không
được đáp ứng thì chủ thể kia sẽ bị trừng phạt bằng phương tiện quân sự hay trừng phạt kinh tế
Quyền lực mềm là một hình thức mềm mỏng hơn ,nghiêng về các yếu tố tinh thần , văn hóa , giáo
dục là khả năng dùng ảnh hưởng để thuyết phục chủ thể khác làm theo ý mình .
➔ Hai loại quyền lực này thường được sử dụng kết hợp và song song với mục đích đạt được lợi ích cho quốc gia
5 . tác động của yếu tố khoa học công nghệ trong nền chính trị quốc tế hiện đại
Khoa học và công nghệ là nhân tố chủ chốt định hình chính trị quốc tế hiện đại, với tác động đa
chiều, vừa mang lại cơ hội vừa tiềm ẩn thách thức. Việc sở hữu và ứng dụng công nghệ tiên tiến
giúp quốc gia tăng sức mạnh tổng hợp—bao gồm kinh tế, quân sự và năng lực điều hành—từ đó
củng cố vị thế trên trường quốc tế. Công nghệ cũng thay đổi cách quản trị nhà nước qua phát triển
chính phủ điện tử và số, nâng cao hiệu quả quản lý. Hàn Quốc là ví dụ điển hình khi ứng dụng công
nghệ cải thiện dịch vụ công và hội nhập toàn cầu. Singapore thu hút 140 tỷ USD vốn đầu tư nhờ
chiến dịch “Garden City” ứng dụng KH-CN trong quản lý đô thị. Việt Nam cũng tận dụng công nghệ
số để nâng cao uy tín và năng lực cạnh tranh trong ASEAN và các hiệp định thương mại. KH-CN
còn tăng sức mạnh mềm qua hợp tác quốc tế về vaccine, trí tuệ nhân tạo và môi trường.
Tuy nhiên, khoa học công nghệ cũng đặt ra nhiều thách thức. Nó thành công cụ cạnh tranh chiến
lược, làm gia tăng bất bình đẳng giữa các quốc gia và ảnh hưởng đến cán cân quyền lực toàn cầu.
Cuộc chiến công nghệ Mỹ – Trung, với các biện pháp hạn chế xuất khẩu chip, AI hay Huawei 5G,
là minh chứng cho việc công nghệ phân hóa trật tự toàn cầu
Quyền lực tư nhân cũng nổi lên điển hình là Starlink tại Ukraine năm 2022, khi mạng lưới Internet
bị tấn công, Elon Musk triển khai Starlink, duy trì kết nối và tác động trực tiếp đến chiến trường cũng
như ngoại giao. Các quốc gia kém phát triển nếu không tiếp cận công nghệ sẽ rơi vào thế phụ thuộc,
giảm khả năng cạnh tranh và quyền lực trên trường quốc tế.
Như vậy, khoa học công nghệ là nhân tố trung tâm trong nền chính trị quốc tế hiện đại vừa mang
lại cơ hỗi lẫnthách thức..Nâng cao sức mạnh tổng hợp, quyền lực mềm, cải thiện quản trị và ngoại
giao, tác động đến an ninh phi truyền thống và cấu trúc quyền lực toàn cầu.Việt Nam và các nước
cần thúc đẩy ứng dụng KH-CN, gia tăng uy tín, nâng cao quản trị và hợp tác quốc tế, đồng thời xây
dựng cơ chế kiểm soát rủi ro từ các tác nhân phi nhà nước và cạnh tranh công nghệ toàn cầu 6 Quan hệ Mỹ - Trung
Quan hệ Mỹ – Trung hiện nay thể hiện tính “vừa hợp tác vừa cạnh tranh ” và có tác động mạnh tới
trật tự quốc tế. Ba lĩnh vực then chốt gồm chính trị – an ninh, kinh tế – thương mại, công nghệ –
sáng tạo đều đan xen lẫn nhau và chịu ảnh hưởng của nền tảng ý thức hệ khác biệt.
1. Chính trị và an ninh
Ở cấp độ chiến lược, Mỹ xem Trung Quốc là “đối thủ cạnh tranh dài hạn” trong các văn kiện an ninh
từ 2017 đến nay; ngược lại, Trung Quốc coi Mỹ là lực cản lớn nhất đối với mục tiêu “phục hưng dân
tộc”. Căng thẳng thể hiện rõ qua vấn đề Đài Loan, nơi Mỹ liên tục hỗ trợ quốc phòng (ví dụ gói 1,1
tỉ USD năm 2022), còn Trung Quốc tăng hoạt động áp sát ADIZ ( vùng nhận dạng phòng không).
Biển Đông cũng là điểm nóng khi Mỹ triển khai FONOP ( hoạt động bảo đảm tự do hàng hải) để
phản đối yêu sách Trung Quốc. Những diễn biến này cho thấy lĩnh vực an ninh đóng vai trò chi phối,
đặt bối cảnh cho các cạnh tranh kinh tế và công nghệ phía sau.
2. Kinh tế và thương mại
Quan hệ kinh tế vừa gắn kết vừa xung đột. Từ khi Trung Quốc gia nhập WTO (Tổ chức Thương mại
Thế giới) năm 2001, thương mại song phương tăng mạnh nhưng tạo thâm hụt lớn cho Mỹ. Từ 2018,
hai nước bước vào chiến tranh thương mại với thuế áp trên hàng trăm tỉ USD hàng hóa. Những
động thái này không chỉ phản ánh cạnh tranh kinh tế thuần túy, mà còn trực tiếp phục vụ mục tiêu
an ninh: Mỹ muốn giảm lệ thuộc vào Trung Quốc, trong khi Trung Quốc muốn duy trì khả năng chống
chịu trước sức ép của Mỹ.
3. Công nghệ và sáng tạo
Cạnh tranh công nghệ thực chất là mở rộng của cạnh tranh an ninh và kinh tế. Mỹ kiểm soát xuất
khẩu chip AI (như NVIDIA A100/H100), thuyết phục Hà Lan và Nhật Bản hạn chế bán thiết bị quang
khắc cho Trung Quốc, đồng thời siết các tập đoàn như Huawei. Trung Quốc đáp trả bằng đẩy mạnh
thúc đẩy tự chủ bán dẫn và hạn chế xuất khẩu gallium, germanium. Công nghệ trở thành “tâm điểm”
vì liên quan trực tiếp tới sức mạnh quân sự và kinh tế của cả hai nước.
4. Ý thức hệ và mô hình phát triển
Mỹ theo mô hình dân chủ tự do, trong khi Trung Quốc theo chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung
Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Sự khác biệt này khiến hai bên khó xây dựng lòng tin: Mỹ lo
ngại nhà nước Trung Quốc can thiệp sâu vào doanh nghiệp và công nghệ, còn Trung Quốc cho
rằng Mỹ sử dụng giá trị dân chủ để kiềm chế sự trỗi dậy của họ. Đây là nền tảng lý giải vì sao cạnh
tranh diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực.
7 Quan hệ Mỹ - Liên Bang Nga
Quan hệ Mỹ – Nga là điển hình của cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc hạt nhân. Mỹ giữ
vị thế siêu cường toàn diện, trong khi Nga là cường quốc quân sự – hạt nhân có khả năng tác động
chiến lược tới Á – Âu và Bắc Mỹ. Sau Chiến tranh Lạnh, cấu trúc quyền lực từ đơn cực dần chuyển
sang phân tán khi Trung Quốc trỗi dậy, tạo ra tam giác Mỹ – Nga – Trung, khiến cạnh tranh song
phương chịu ảnh hưởng cả yếu tố khu vực lẫn toàn cầu. Quan hệ này vừa đa chiều vừa tồn tại các
khoảng hợp tác hạn chế để giảm rủi ro xung đột.
Dưới góc độ lý thuyết quan hệ quốc tế, cạnh tranh Mỹ – Nga thể hiện logic “cạnh tranh chiến lược
nước lớn”: Mỹ coi các hành động quân sự – hạt nhân của Nga là thách thức trật tự quốc tế, còn
Nga coi NATO mở rộng và lá chắn tên lửa là đe dọa. Dù cạnh tranh chi phối, hai bên vẫn hợp tác
hạn chế để giảm rủi ro hạt nhân qua New START và đối thoại chiến lược. Cạnh tranh lan sang các
không gian mới như mạng, thông tin, Bắc Cực và Trung Đông, trong khi chiến lược lãnh đạo của
mỗi nước (Mỹ ưu tiên duy trì liên minh toàn cầu, Nga ưu tiên bảo vệ ‘vùng ảnh hưởng gần’) tiếp tục
định hình lựa chọn chính sách đối ngoại.”
Căng thẳng quân sự tăng mạnh từ khủng hoảng Ukraine 2014, khi Nga **sáp nhập Crimea** và
xung đột bùng nổ ở miền Đông Ukraine. Mỹ và NATO tăng cường hiện diện quân sự, trong khi Nga
hiện đại hóa kho hạt nhân (~6.000 đầu đạn), phát triển tên lửa siêu thanh và củng cố lực lượng tại
Bắc Cực, Biển Đen và châu Âu – Á. Không gian mạng, thông tin và vũ trụ cũng trở thành lĩnh vực cạnh tranh chiến lược.
Về chính trị, Mỹ và Nga cạnh tranh về vị thế và ảnh hưởng trong các vấn đề quốc tế. Mỹ theo dân
chủ tự do, Nga theo **dân chủ phi tự do (illiberal/managed democracy)**, dẫn đến xung đột về nhân
quyền, chủ quyền và trật tự quốc tế. Việc sáp nhập Crimea làm căng thẳng tăng thêm, với Mỹ và
EU lên án vi phạm luật quốc tế, còn Nga nhấn mạnh chủ quyền và bảo vệ người Nga gốc Crimea.
Kinh tế và công nghệ là lĩnh vực cạnh tranh bổ sung. Mỹ áp trừng phạt để hạn chế Nga tiếp cận
vốn, công nghệ và thị trường phương Tây. Nga đa dạng hóa sang Trung Quốc, Ấn Độ, BRICS và
tăng xuất khẩu năng lượng (~12% dầu thế giới). Mỹ dẫn đầu công nghệ cao và quốc phòng hiện
đại, còn Nga tập trung vào công nghiệp vũ khí, không gian và mạng, tạo thế đối trọng trong lĩnh vực quân sự – an ninh.
Cạnh tranh Mỹ – Nga mang tính bất đối xứng: Nga yếu hơn Mỹ về kinh tế nhưng quân sự – hạt
nhân tương đương. Ở cấp độ hệ thống, sự trỗi dậy của Trung Quốc khiến quan hệ song phương
phức tạp hơn và buộc các nước khác phải điều chỉnh chiến lược. Khác với cạnh tranh Mỹ – Trung,
trọng tâm Mỹ – Nga là quân sự và ảnh hưởng khu vực. Quan hệ này hiện là cạnh tranh chiến lược
đa chiều, với xung đột sâu sắc về quân sự, chính trị, kinh tế và công nghệ. Hợp tác tồn tại nhưng
rất hạn chế, chủ yếu nhằm kiểm soát rủi ro hạt nhân, không đủ đảo ngược xu hướng cạnh tranh dài hạn
Khái quát chủ trương chính sách đối ngoại của Việt Nam
Chính sách đối ngoại của Việt Nam được xác định theo đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp
tác và phát triển, thể hiện nhất quán trong các văn kiện của Đảng từ Đại hội VI đến Đại hội XIII. Tư
tưởng cốt lõi là đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, không liên minh quân sự, không dựa vào
bên này để chống bên kia, đồng thời luôn đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu, phấn đấu trở thành bạn,
đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Trên nền tảng đó,
Việt Nam chủ trương tự quyết định chính sách dựa trên lợi ích dân tộc, duy trì cân bằng chiến lược
giữa các nước lớn và thích ứng với các biến động toàn cầu.
Đối ngoại được xem là kênh quan trọng để duy trì môi trường hòa bình và ổn định lâu dài, đồng thời
thúc đẩy hợp tác cùng có lợi, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, đặc biệt trong vấn đề
Biển Đông theo luật pháp quốc tế. Việt Nam thiết lập quan hệ với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh
thổ, tham gia sâu vào các cơ chế đa phương như ASEAN, Liên Hợp Quốc, WTO, APEC, CPTPP,
RCEP, đồng thời đóng góp tích cực vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc. Chính
sách đối ngoại kết hợp chặt chẽ các trụ cột chính trị, kinh tế, văn hóa và quốc phòng, vừa phục vụ
phát triển kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường xuất khẩu, vừa bảo đảm an ninh
– quốc phòng và nâng cao vị thế quốc tế. Bên cạnh đó, Việt Nam kiên trì bảo vệ chủ quyền quốc
gia và toàn vẹn lãnh thổ thông qua luật pháp quốc tế, ngoại giao và hợp tác khu vực, đặc biệt trên
biển, đất liền và trên không.
Trong năm 2025, chính sách đối ngoại của Việt Nam tập trung vào việc giữ vững môi trường hòa
bình và ổn định để phục vụ phát triển kinh tế. Trọng tâm là thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng
cao, mở rộng thị trường xuất khẩu và tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
như CPTPP, EVFTA và RCEP. Việt Nam đồng thời tăng cường cân bằng quan hệ giữa các nước
lớn, củng cố hợp tác với Mỹ sau khi nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, duy trì quan hệ
ổn định với Trung Quốc và mở rộng hợp tác chiến lược với Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh châu
Âu, Ấn Độ và Úc. Bảo vệ chủ quyền biển đảo vẫn là ưu tiên, với trọng tâm là ngoại giao pháp lý,
ngoại giao quốc phòng và hợp tác khu vực nhằm quản lý tranh chấp Biển Đông, đồng thời thúc đẩy
việc hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử (COC) hiệu quả với Trung Quốc. Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hội
nhập quốc tế sâu rộng, tham gia chủ động trong ASEAN và Liên Hợp Quốc, mở rộng hợp tác về an
ninh phi truyền thống như môi trường, năng lượng sạch và an ninh mạng. Song song, Việt Nam
nâng cao vị thế quốc tế bằng cách tích cực tham gia gìn giữ hòa bình, tăng cường hiện diện trong
các diễn đàn đa phương và củng cố hình ảnh là một thành viên có trách nhiệm và tích cực của cộng đồng quốc tế.
9 Tác động của toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là quá trình kết nối ngày càng mạnh mẽ giữa các quốc gia, khu vực và tổ chức quốc
tế, dẫn tới gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, chính trị, an ninh và văn hóa. Dưới góc độ
quan hệ quốc tế, toàn cầu hóa tác động mạnh đến cấu trúc quyền lực và quan hệ giữa các quốc
gia. Theo chủ nghĩa hiện thực, toàn cầu hóa không loại bỏ cạnh tranh quyền lực; ngược lại, nó có
thể làm gia tăng xung đột giữa các cường quốc, khi các quốc gia lớn tìm cách bảo vệ lợi ích chiến
lược trong môi trường toàn cầu hóa. Ví dụ, Mỹ và Trung Quốc cạnh tranh quyết liệt trên các lĩnh
vực công nghệ, thương mại và địa chính trị, phản ánh logic “an ninh và lợi ích chiến lược” trong hệ
thống quốc tế vô chính phủ.
Từ góc độ chủ nghĩa tự do, toàn cầu hóa thúc đẩy hợp tác và liên kết quốc tế, làm nổi bật vai trò
của các tổ chức và thể chế đa phương. Ví dụ, Liên Hợp Quốc đã trở thành diễn đàn quan trọng để
giải quyết các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, dịch bệnh hay xung đột vũ trang, tạo kênh đối
thoại và hợp tác giữa các quốc gia. Toàn cầu hóa giúp các nước – đặc biệt là các nước đang phát
triển như Việt Nam – tiếp cận công nghệ, vốn và thị trường toàn cầu, nâng cao năng lực phát triển
kinh tế, hội nhập quốc tế và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực.
Phân tích theo lý thuyết kiến tạo nhấn mạnh rằng toàn cầu hóa không chỉ là kết nối vật chất mà còn
là kết nối về ý thức hệ, giá trị và bản sắc. Sự lan tỏa của các giá trị dân chủ, nhân quyền, pháp
quyền hay quản trị kinh tế toàn cầu tạo áp lực đối với các quốc gia trong việc điều chỉnh chính sách,
đồng thời mở ra các xung đột về văn hóa và ý thức hệ. Những khác biệt này có thể dẫn đến căng
thẳng nếu các quốc gia không dung hòa lợi ích và giá trị, ví dụ như việc các cường quốc thúc đẩy
các chuẩn mực toàn cầu trong khi một số nước nhấn mạnh chủ quyền và lựa chọn mô hình phát triển riêng.
Tóm lại, toàn cầu hóa tác động đa chiều tới chính trị quốc tế hiện đại. Nó vừa mở rộng cơ hội hợp
tác, tăng cường vai trò thể chế đa phương, vừa đặt ra thách thức về cạnh tranh quyền lực,
xung đột ý thức hệ và căng thẳng chủ quyền. Khả năng khai thác cơ hội đồng thời kiểm soát rủi
ro chính trị – an ninh trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững và vị thế quốc tế
của các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam
10. Phân tích sự hiện diện của các nước ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Trong xu thế hiện nay, sự hiện diện ở châu Á – Thái Bình Dương ngày càng đa dạng, trải từ các
cường quốc như Mỹ và Trung Quốc đến những trung tâm quyền lực mới như Nhật Bản, Ấn Độ hay
ASEAN. Thực tế cho thấy Khu vực này trở thành trọng tâm chiến lược của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế lớn
Hoa Kỳ với vai trò dẫn dắt thông qua mạng lưới liên minh với Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và
Australia. Việc triển khai lực lượng hải quân quy mô lớn, mở thêm các điểm tiếp cận quân sự tại
Philippines và tiến hành các hoạt động tuần tra tự do hàng hải. Sự hiện diện này Mỹ nhằm hạn chế
xu hướng bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông, bảo vệ các tuyến hàng hải quốc tế và duy
trì trật tự dựa trên luật lệ. Washington cũng hợp tác với Nhật Bản, Ấn Độ và Australia trong Bộ tứ
Quad, đồng thời tăng cường quan hệ an ninh qua AUKUS để củng cố thế cân bằng dài hạn.
Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng bằng sức mạnh tổng hợp. Về quân sự, Bắc Kinh hiện đại hoá hải
quân nhanh chóng và xây dựng cơ sở quân sự trên nhiều cấu trúc ở Biển Đông. Về kinh tế, Sáng
kiến Vành đai và Con đường với các dự án hạ tầng lớn, như đường sắt Lào – Trung, cho phép tq
mở rộng ảnh hưởng chiến lược. Hoạt động áp sát Đài Loan và tuần tra trong Biển Đông thể hiện rõ
tham vọng định hình lại không gian an ninh khu vực.
Nhật Bản tăng cường hiện diện bằng cách nâng cao năng lực phòng vệ và hỗ trợ an ninh cho nhiều
nước Đông Nam Á. Ví dụ, Tokyo đã viện trợ tàu tuần tra và huấn luyện lực lượng bảo vệ bờ biển
cho Việt Nam và Philippines, qua đó góp phần củng cố an ninh biển. Sự hiện diện này mang tính
ổn định và kiềm chế căng thẳng quá mức.
Ấn Độ tăng cường hiện diện ở Ấn Độ Dương và đẩy mạnh tập trận như Malabar với Mỹ, Nhật Bản
và Australia để nâng cao năng lực giám sát biển. Australia và Hàn Quốc cũng mở rộng hợp tác an
ninh, trong khi Nga duy trì ảnh hưởng chủ yếu qua quốc phòng và năng lượng.
Bên cạnh các cường quốc, ASEAN giữ vai trò trung tâm khi điều phối những cơ chế đối thoại như
ARF và EAS, nhằm duy trì cân bằng giữa các nước lớn và ngăn ngừa đối đầu. Tuy vậy, sự hiện
diện ngày càng dày của các cường quốc cũng khiến ASEAN đối mặt với thách thức về đoàn kết nội
khối, áp lực phải “nghiêng bên”, và nguy cơ bất ổn từ các điểm nóng như Biển Đông.
sự hiện diện của các nước lớn ở châu Á – Thái Bình Dương đang tạo ra thế cạnh tranh chiến lược
ngày càng rõ rệt, đặc biệt giữa Mỹ và Trung Quốc. Nhật Bản và Ấn Độ góp phần cân bằng ảnh
hưởng, trong khi Australia, Hàn Quốc hay Nga duy trì mức độ tham gia nhất định. Trong bối cảnh
đó, ASEAN đóng vai trò điều phối và giữ ổn định khu vực, dù phải chịu áp lực lớn từ cạnh tranh giữa các cường quốc.
NHẬP MÔN KHU VỰC HỌC
1 . Nêu được đối tượng của khu vực học
- Các quốc gia là một đối tượng cơ bản của khu vực học. Nói cơ bản quốc gia là một thực thể chính
trị địa lý có một cộng đồng dân cư có tổ chức dựa trên những giá trị văn hóa nhất định , được đặt
dưới sự lãnh đạo của một tổ chức chính phủ thống nhất , độc lập , có chủ quyền
- Tính liên ngành của khu vực học , nếu 1 ví dụ về tính liên ngành ( văn học chính trị học , quan hệ
quốc tế , giáo dục hoc,..) , vận dụng các phương pháp của ngành khác , phương pháp nghiên cứu kết hợp
- Ví dụ về cách tiếp cận – 1 vấn đề cụ thể nào
? vì sao phải vận dụng phương pháp liên ngành trong khu vực học
Đối tượng cơ bản của khu vực học là các vùng lãnh thổ (quốc gia và liên quốc gia) gắn mọi mặt đời
sống xã hội của con người, từ điều kiện địa lý tự nhiên, môi trường cho đến nhân chủng, văn hóa,
kinh tế, chính trị với mọi diễn biến lịch sử của chúng. Tất cả đều là đối tượng của khu vực. Mỗi một
hiện tượng nào đó ở một quốc gia hay khu vực cũng đều là kết quả của nhiều tác nhân và bao chứa
nhiều loại đặc điểm. Muốn giải quyết thỏa đáng các hiện tượng và vấn đề phức tạp đó, đòi hỏi phải
vận dụng nhiều phương tiện, phương pháp và cách lý giải khác nhau. Cho nên môn Khu vực học
đòi hỏi phải vận dụng tổng hợp các kiến thức của nhiều nghành khoa học khác nhau trong khi làm
sáng tỏ bản chất của các hiện tượng xã hội của khu vực.
Vì tính liên ngành này chứng minh rằng nhà nghiên cứu có thể vừa là một nhà kinh tế học hay chính
trị học, văn hóa học, vừa là một chuyên gia về một khu vực/ quốc gia cụ thể nào đó; mặt khác cần
xây dựng mỗi cơ quan nghiên cứu trở thành một bộ óc bách khoa đa ngành, nhưng vẫn nên lựa
chọn một số mũi nhọn nhất định, tùy vào đặc điểm nổi trội của đối tượng khu vực so với các khu
vực khác và khả năng chuyên môn của các chuyên gia. Đồng thời cũng phải tính đến nhu cầu thực
tiễn mà xã hội đưa ra.
2. Lý giải khái niệm sức mạnh tổng hợp quốc gia – tạo nên từ các yếu tố tổng hợp
3. Khái niệm văn hóa , không gian văn hóa và cấp độ không gian văn hóa – hãy có ví dụ
Văn hóa : Văn hóa là tổng thể các thành tựu vật chất và tinh thần của các cộng đồng người ,có tính
lịch sử , bao gồm tư tưởng , phong tục tập quán và các giá trị , được chọn lọc và học tập mà hình
thành, góp phần định hình lối sống ,cách nghĩ , hành vi và bản sắc của một cộng đồng.Nếu yếu tố
đó chưa trở thành truyền thống và giá trị của số động , thì chưa coi là văn hóa đích thực
Ví dụ : Tết nguyên đán thể hiện triết lý âm dương, chu kỳ nông nghiệp, gia đình – tổ tiên.
Không gian văn hóa : Không gian văn hóa là môi trường địa lý – lịch sử – xã hội mà trong đó văn
hóa của một cộng đồng được hình thành, biểu hiện và duy trì như một sự tương tác giữa con người
và môi trường, đồng thời thể hiện các mối quan hệ xã hội, quyền lực và bản sắc văn hóa.
vd : Khu phố cổ Hà Nội là một không gian văn hóa đặc trưng, được hình thành và tích lũy qua nhiều
thời kỳ lịch sử từ Lý – Trần đến Lê – Nguyễn. Không gian này thể hiện rõ trong cấu trúc kiến trúc
nhà ống truyền thống, hệ thống đình – đền – chùa gắn với các phường hội, cùng nếp sống buôn
bán nhỏ lẻ đặc trưng của người Hà Nội.
➔ Ta có thể thấy rằng không gian văn hóa không tồn tại tách biệt , đều gắn với yếu tố môi trường , lịch
sử cộng đồng , …. Việc nhận thức rõ về không gian văn hóa cũng giúp chúng ta giữ gìn sự đa dạng
văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa , tránh nguy cơ đồng nhất hay mất bản sắc riêng
một cách chia về các cấp độ không gian văn hóa :
a) Văn hóa địa phương:
Ví dụ : Làng cổ Đường Lâm (Hà Nội) với kiến trúc ngói rêu, cây đa, giếng nước, đình làng đặc trưng
cùng các lễ hội truyền thống như lễ hội đình Mông Phụ hay tục đứng đình.
Văn hóa vùng Ví dụ :Bắc Bộ: Người Hà Nội nổi bật với lối sống thanh lịch, trọng lễ nghĩa, chỉn chu
trong ăn mặc và ứng xử, thờ cúng Thành Hoàng >< Nam Bộ: Người miền Nam đặc trưng bởi sự
bộc trực, cởi mở, phóng khoáng, linh hoạt, dễ thích nghi với hoàn cảnh , hội chợ Nam Bộ , thờ cúng Cá Ông
b) Văn hóa quốc gia Ví dụ : Văn hóa Việt Nam với các biểu tượng chung như Tết Nguyên Đán, Áo
dài, Ẩm thực phong phú, kèm theo các di sản văn hóa thế giới như quần thể di tích Cố đô Huế
c) Không gian văn hóa khu vực là phạm vi rộng hơn quốc gia, bao gồm nhiều quốc gia có chung
đặc điểm văn hóa, lịch sử, địa lý hoặc lối sống, tạo nên đặc trưng chung cho cả khu vực.
Trung Đông: Khu vực này nổi bật với nền văn hóa Hồi giáo, truyền thống bộ lạc, di sản văn hóa cổ
đại như Kim tự tháp Ai Cập hoặc tháp Babel, các phong tục trong giao tiếp, ẩm thực (cà phê Arab,
bánh mì pita), kiểu trang phục truyền thống abaya, và giá trị gia đình lớn. Giao thoa giữa các quốc
gia như Saudi Arabia, UAE, Iran
vd : lấy Việt Nam ( trang 118 giáo trình )
4. Bản sắc văn hóa và toàn cầu hóa – tư duy nó sẽ có những vấn đề gì , thuận lợi , khó khăn gì – 126
Khi xét mối quan hệ giữa bản sắc văn hóa Việt Nam và toàn cầu hóa, các nghiên cứu chính trị –
quốc tế hiện đại thường nhấn mạnh đó là một quá trình vừa mở ra cơ hội lớn, vừa đặt ra nhiều
thách thức về nhận thức và quản trị. Ở chiều thuận lợi, toàn cầu hóa giúp Việt Nam mở rộng không
gian giao lưu, khiến hình ảnh đất nước, con người và văn hóa Việt Nam được biết đến rộng rãi hơn
qua du lịch, ẩm thực, điện ảnh, âm nhạc, thời trang, di sản. Văn hóa từ chỗ chủ yếu được nhìn như
lĩnh vực tư tưởng – tuyên truyền dần trở thành một nguồn lực kinh tế: các ngành công nghiệp văn
hóa, du lịch văn hóa, sản phẩm sáng tạo và dịch vụ giải trí có thể tạo việc làm, mang lại lợi nhuận
và đóng góp cho tăng trưởng. Đồng thời, quá trình tiếp xúc với những giá trị, chuẩn mực và tri thức
toàn cầu cũng giúp làm mới tư duy, mở rộng tầm nhìn, đặc biệt với giới trẻ; bản sắc văn hóa vì thế
không đóng băng mà có cơ hội được diễn giải, trình hiện theo những cách hiện đại, hấp dẫn hơn
mà vẫn giữ được lõi dân tộc.
Tuy vậy, chính các tài liệu phê phán toàn cầu hóa cũng chỉ ra nguy cơ đồng nhất hóa và xói mòn
bản sắc khi sản phẩm văn hóa ngoại lai tràn vào mạnh mẽ, lấn át không gian cho văn hóa bản địa
nếu thiếu sự chọn lọc và định hướng. Một bộ phận người trẻ dễ sính ngoại, coi nhẹ hoặc hiểu nông
về truyền thống, trong khi di sản, lễ hội, trang phục dân tộc có thể bị thương mại hóa thái quá, trình
diễn theo kiểu “mặc đồng phục văn hóa” để phục vụ du lịch, khiến chiều sâu văn hóa giảm sút dù
bề ngoài trông rất “bản sắc”. Bên cạnh đó, toàn cầu hóa văn hóa thường đi kèm phân hóa xã hội:
những nhóm có vốn giáo dục, công nghệ, ngoại ngữ, tài chính sẽ hưởng lợi nhiều hơn từ công
nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo, còn nhóm yếu thế, vùng nông thôn, miền núi lại dễ bị gạt ra
ngoài hoặc chỉ tiếp xúc với sản phẩm rẻ tiền, kém chất lượng. Khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch
hưởng thụ văn hóa, khác biệt giữa thành thị và nông thôn vì thế có nguy cơ nới rộng, làm tăng cảm giác bất công.
Một vấn đề nữa là nguy cơ lệ thuộc vào các chuỗi giá trị và hạ tầng văn hóa – số do chủ thể bên
ngoài chi phối. Nếu Việt Nam chỉ dừng ở việc “gia công văn hóa” trên nền tảng do nước khác kiểm
soát, từ nền tảng số đến mạng lưới phân phối, thì phần lớn giá trị gia tăng có thể chảy ra ngoài
trong khi rủi ro về bản quyền, dữ liệu, an ninh văn hóa lại dồn vào trong nước. Điều này đòi hỏi một
tư duy mới: không xem bản sắc văn hóa như thứ bất biến cần “đóng khung”, cũng không buông
xuôi cho làn sóng toàn cầu hóa, mà phải chủ động nâng cao nội lực – từ giáo dục lịch sử, văn hóa,
đến chính sách hỗ trợ công nghiệp văn hóa và cơ chế bảo vệ di sản – để người Việt có đủ bản lĩnh
và năng lực sáng tạo, vừa hội nhập sâu rộng, vừa giữ được “cái riêng” trong một thế giới ngày càng liên thông.
Soạn các khái niệm và ý chính của các khu vực như Đông Bắc Á
Đặc điểm văn hóa nổi bật
Là khu vực có nền văn minh lâu đời Văn hóa Đông Bắc Á được hình thành từ nền tảng văn minh
Đông Á cổ đại, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, văn hóa mang tính
tập thể , đề cao cộng đồng, trật tự , thức bậc cùng với đó là vai trò gia đình và nam giới . Nho giáo
là nền tảng triết lý xuyên suốt , ảnh hưởng trực tiếp đến đạo đức cá nhân , lối sống ,giáo dục và
cách tổ chức xã hội ở Trung Quốc , Hàn quốc và Nhật bản . Sự kết hợp giữa truyền thống Á đông
và hiện đại hóa kiểu phương Tây được các quốc gia chú trọng đặc biệt qua công nghiệp trong lĩnh
vực văn hóa như (điện ảnh,âm nhạc , ngoại giao văn hóa )
Bên cạnh đó , văn hóa ở các địa phương có sự giao thoa với tôn giáo bản địa ( Thần đạo ở Nhật
gắn với tín ngưỡng tự nhiên ( núi , sông , cây cổ thụ ), Phật giáo Đại thừa lan mạnh ở TQ,HQ,NB ,
Đạo giáo ảnh hưởng qua văn hóa với triết lý âm dương,ngũ hành,y học, phong thủy ), cùng với các
nghệ thuật dân gian như thư pháp, tranh thủy mặc, kiến trúc gỗ, võ thuật truyền thống.
Một đặc điểm quan trọng khác là sự đề cao giáo dục – xem học vấn như con đường thăng tiến xã
hội, xuất phát từ truyền thống khoa cử Trung Hoa. Điều này hình thành văn hóa thi cử cạnh tranh
cao tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản; đồng thời góp phần tạo nên mô hình xã hội trọng học vấn
Đặc điểm thể chế , chính trị
Về điểm chung ,các khu vực thể hiện sự đa dạng nhưng có điểm chung là nhà nước mạnh .Trung
quốc với mô hình 1 đảnh lãnh đạo , tập trung quyền lực và đặt ổn định chính trị làm ưu tiên.Nhật
bản là quốc hội dân chủ nghị viện ,xã hội đề cao dân chủ nhưng vẫn bảo tồn truyền thống hoàng
gia ,nguyên tắc thứ bậc và tinh thần trong bộ máy hành chính ,nhấn mạnh lòng trung thành ,thứ
bậc. Nhật bản nổi tiếng về kỷ luật , mô hình quản trị chất lượng . Hàn quốc với hệ thống cộng hòa
dân chủ nghị viện với vai trò mạnh của các tập đoàn/chaebol lớn, xã hội trọng học vấn, thứ bậc, ở
Mông Cổ cũng tương tự với hệ thống dân chủ nghị viện tuy nhiên vẫn còn bị ảnh hưởng bởi văn
hóa bộ lạc và truyền thống du mục ảnh hưởng tới chính trị, xã hội còn phân tán quyền lực ở
cấp địa phương, có phần khác so với dân chủ đô thi như Nhật hay Hàn . Khác biệt nhất là Triều
Tiên với chế độ toàn trị , kiểm soát tư tưởng và kế hoạch kinh tế
Đặc điểm quan hệ quốc tế
Đông Bắc Á là vùng động lực kinh tế, chính trị lớn toàn cầu – cạnh tranh chiến lược giữa Trung
Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc có ý nghĩa quyết định tới cục diện châu Á và thế giới
Hiện nay, khu vực này vừa thúc đẩy đối thoại và hòa bình, vừa phải đối mặt căng thẳng trong quan
hệ liên Triều - Trên bán đảo Triều Tiên, căng thẳng liên tục tăng cao do chương trình vũ khí hạt nhân
của Triều Tiên, khiến nguy cơ xung đột vũ trang ở Đông Bắc Á luôn hiện hữu. Áp lực phi hạt nhân
hóa, cạnh tranh Mỹ-Trung vẫn là yếu tố định hình chiến lược khu vực, tranh chấp Nhật-Trung về
lãnh thổ và thay đổi chiến lược quân sự của Nhật Bản.Có thể thấy rằng các bên khó đạt nhượng bộ
trong các vấn đề hạt nhân,quân sự hay chủ quyền biển đảo . Mỹ tăng cường liên minh với Hàn và
Nhật , ngược lại Trung Quốc sử dụng sáng kiến vành đai và con đường tăng cường liên kết với các
quốc gia khu vực đồng thời vừa tăng cường hợp tác thương mại, dịch vụ, phối hợp phòng chống
tội phạm công nghệ cao, đặc biệt gia hạn hoán đổi tiền tệ trị giá gần 49 tỷ USD để củng cố liên kết kinh tế với Hàn Quốc
Các nước Đông Bắc Á tăng cường hợp tác đa phương như ASEAN+3, hội nghị cấp cao APEC, ký
kết hàng loạt thỏa thuận về đầu tư, đổi mới công nghệ, phát triển xanh
Nho giáo ảnh hưởng đến TQ,HQ
Tại Trung Quốc, Nho giáo phát triển từ thời Khổng Tử, được các triều đại coi là hệ tư tưởng chỉ đạo
quốc gia hơn 2000 năm, là nền tảng của cấu trúc xã hội, chế độ khoa cử, luân lý gia đình, lễ nghi
và phép tắc quốc gia. Người đảm nhiệm truyền bá Nho giáo ở Trung Quốc là lớp trí thức, quan lại
(kẻ sĩ làng quê), và giáo lý này thống trị cả xã hội trong thời đại phong kiến, thay thế và thậm chí
loại trừ các tư tưởng tôn giáo khác như Đạo giáo hoặc Phật giáo vào những giai đoạn lịch sử nhất định
Ở Hàn Quốc, sự du nhập của Nho giáo kéo dài qua các giai đoạn, ban đầu cùng tồn tại với Phật
giáo, sau được triều đại Joseon (thế kỷ XV) chọn làm tư tưởng chính thống, từ đó có ảnh hưởng
sâu sắc đến đạo đức xã hội, tổ chức nhà nước, hệ thống giáo dục, phép tắc ứng xử trong gia đình.
Khác với Trung Quốc, tầng lớp ưu tú truyền Nho giáo ở Hàn Quốc là "lưỡng ban", tức tầng lớp học
giả và quan chức quý tộc; đến thời hiện đại dù Nho giáo không còn là chính thống ở chính trị nhưng
các giá trị về kính trọng người già, phân biệt vai vế nam – nữ, “trật tự gia đình” vẫn ăn sâu, duy trì
trong toàn xã hội bất chấp các tư tưởng mới từ phương Tây
Vấn đề tính thống nhất trong đa dạng của khu vực Đông Nam Á SỰ ĐA DẠNG
Đông Nam Á là khu vực có mức độ đa dạng rất cao, thể hiện qua cấu trúc dân tộc, ngôn ngữ và tôn
giáo. Toàn khu vực có hơn sáu trăm cộng đồng dân tộc và hơn một nghìn ngôn ngữ thuộc ba họ
lớn Austronesian, Austroasiatic và Sino-Tibetan. Tôn giáo cũng phân bố phong phú với Hồi giáo,
Phật giáo, Công giáo, và nhiều tín ngưỡng bản địa cùng tồn tại. Sự khác biệt còn thể hiện trong thể
chế chính trị khi các nước có mô hình quân chủ, cộng hòa dân chủ, nhà nước xã hội chủ nghĩa hay
chế độ quân quản cùng chung một không gian địa chính trị
. Khoảng cách kinh tế cũng rất lớn: Singapore có GDP bình quân đầu người hơn bảy mươi nghìn
USD theo World Bank năm 2023, trong khi Myanmar và Campuchia chỉ dưới hai nghìn USD. Bối
cảnh này cho thấy khu vực không thể hướng đến sự đồng nhất mà cần một cơ chế hợp tác linh
hoạt, tôn trọng khác biệt. TÍNH THỐNG NHẤT
Từ bối cảnh đa dạng đó, ASEAN phát triển nguyên tắc “thống nhất trong đa dạng” như nền tảng
chủ đạo cho hợp tác khu vực. Nguyên tắc này không yêu cầu các quốc gia phải đồng nhất về văn
hóa, chính trị hay kinh tế, mà hướng đến sự thống nhất về mục tiêu chung thông qua hiểu biết và
bổ trợ lẫn nhau. Trong kinh tế, việc triển khai AFTA – Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (1992) – đã
giúp thương mại nội khối tăng hơn bảy lần theo Báo cáo Cộng đồng Kinh tế ASEAN 2022, chứng
tỏ các nền kinh tế khác biệt hoàn toàn có thể bổ trợ cho nhau.
Trong chính trị – an ninh, cơ chế đồng thuận và không can thiệp góp phần duy trì ổn định khu vực,
thể hiện rõ qua việc ASEAN giữ vai trò trung tâm trong ARF – Diễn đàn Khu vực ASEAN được thành
lập năm 1994 – và EAS – Hội nghị Cấp cao Đông Á chính thức bắt đầu năm 2005. Ở lĩnh vực văn
hóa – xã hội, các chương trình như giao lưu thanh niên, trao đổi sinh viên và hợp tác bảo tồn di sản
giúp tăng cường hiểu biết lẫn nhau, đúng như Bộ Ngoại giao Việt Nam (2023) khẳng định bản sắc
ASEAN được xây dựng dựa trên sự tôn trọng khác biệt văn hóa.
Nhờ đó, ASEAN đã biến sự đa dạng thành nguồn sức mạnh, tạo nên một cộng đồng khu vực có
khả năng hợp tác sâu rộng mà không đánh mất bản sắc của từng quốc gia — đúng tinh thần “thống nhất trong đa dạng” ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thành lập năm 1967 khi khu vực còn nhiều bất ổn, đã
tạo bước chuyển từ đối đầu sang hợp tác. Sự mở rộng lên 10 thành viên giúp hình thành cơ chế
đối thoại thường xuyên, trong đó Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác năm 1976 đặt nguyên tắc giải
quyết tranh chấp hòa bình, góp phần duy trì ổn định dù khu vực vẫn đối mặt các vấn đề như Biển
Đông hay khủng hoảng Myanmar.
Về kinh tế, ASEAN thúc đẩy liên kết mạnh mẽ thông qua AFTA năm 1992 (Khu vực Mậu dịch Tự do
ASEAN) và Cộng đồng Kinh tế ASEAN năm 2015, tạo thị trường gần 700 triệu dân, tăng trao đổi
nội khối và thu hút vốn đầu tư, giúp các nền kinh tế gắn kết sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trong đối ngoại, ASEAN nâng cao vị thế của Đông Nam Á nhờ giữ vai trò trung tâm trong các cơ
chế như ARF (Diễn đàn Khu vực ASEAN, 1994) – nơi thảo luận an ninh khu vực, và EAS (Hội nghị
Cấp cao Đông Á, 2005) – diễn đàn chiến lược quy tụ các cường quốc. Điều này giúp khu vực vừa
đối thoại vừa cân bằng ảnh hưởng giữa các nước lớn.
Ở lĩnh vực văn hoá – xã hội, các chương trình giao lưu thanh niên, trao đổi sinh viên và hợp tác
giáo dục góp phần tạo ý thức “Cộng đồng ASEAN” trong bối cảnh khác biệt văn hóa vẫn rất lớn.
Nhìn chung, ASEAN mang lại hòa bình, thúc đẩy hội nhập kinh tế, nâng cao tiếng nói khu vực và
tăng cường gắn kết xã hội, qua đó góp phần quan trọng đưa Đông Nam Á trở thành một khu vực
ổn định và năng động hơn.
Đặc điểm văn hóa Tây Âu
Văn hóa Tây Âu hình thành trên nền tảng Hy Lạp và La Mã với dân chủ Athens, triết học Plato –
Aristotle và luật 12 bảng La Mã, đặt con người, lý trí và tự do cá nhân ở trung tâm đời sống xã hội.
Nền tảng này được làm giàu qua Phục hưng, Cải cách tôn giáo và phong trào Khai sáng, hình thành
hệ giá trị chung giúp các quốc gia vừa duy trì bản sắc địa phương vừa chia sẻ tinh thần nhân văn.
Ngôn ngữ Tây Âu thuộc hai họ chính: Latinh (Pháp, Ý, Tây Ban Nha) và Germanic (Anh, Đức, Hà
Lan), phản ánh sự đa dạng nhưng vẫn có liên kết văn hóa. Đạo phổ biến và có ảnh hưởng mạnh là
Kitô giáo, định hình chuẩn mực đạo đức và phong tục truyền thống qua các lễ Giáng sinh, Phục
sinh, dù xã hội ngày càng thế tục hóa.
Lối sống tinh tế, coi trọng lịch sự, đúng giờ và chuẩn mực giao tiếp là nét văn hóa chung, ví dụ Thụy
Sỹ nổi tiếng với văn hóa đồng hồ và sự tỉ mỉ. Lễ hội và phong tục địa phương như Carnival Venice,
Oktoberfest hay chợ Giáng sinh Strasbourg phản ánh sự đa dạng thống nhất tinh thần nhân văn.
Nghệ thuật và kiến trúc, từ hội họa Phục hưng đến Gothic, cùng âm nhạc cổ điển và khoa học, thể
hiện giá trị sáng tạo.
Tổng thể, văn hóa Tây Âu đa dạng địa phương nhưng thống nhất về tinh thần nhân văn, đề cao tự
do, lý trí và hợp tác, vừa bảo tồn di sản vừa tiếp nhận đổi mới, tạo bản sắc dẫn dắt đời sống văn hóa châu Âu hiện đại.
Đặc điểm văn hóa chính trị khu vực Tây Âu
Văn hóa chính trị Tây Âu nhấn mạnh tự do cá nhân, pháp quyền và dân chủ tham gia, được thể
hiện qua các thể chế chính trị đa dạng nhưng ổn định. Hầu hết các nước áp dụng dân chủ nghị viện,
như Anh và Bỉ với quân chủ lập hiến, Đức và Ý với cộng hòa nghị viện, nơi quyền lực tập trung ở
quốc hội và chính phủ được thành lập dựa trên liên minh các đảng, phản ánh văn hóa thỏa hiệp
thay vì đối kháng gay gắt. Một số nước áp dụng mô hình bán tổng thống, như Pháp và Áo, trao
quyền hành pháp mạnh cho tổng thống nhưng vẫn chịu giám sát của quốc hội, nhấn mạnh trách
nhiệm trước cử tri. Thụy Sĩ nổi bật với dân chủ trực tiếp, nơi hơn 600 trưng cầu dân ý từ năm 1848
cho phép người dân tham gia trực tiếp vào quyết định chính sách.
Liên minh châu Âu củng cố văn hóa chính trị Tây Âu thông qua chia sẻ chủ quyền và giám sát pháp
quyền, ví dụ Tòa án Công lý EU xử Hungary và Ba Lan vi phạm nguyên tắc pháp quyền, đồng thời
hạn chế dân tộc chủ nghĩa cực đoan. Người dân Tây Âu coi pháp quyền Rechtsstaat, nghĩa là nhà
nước pháp luật nơi mọi quyền lực phải tuân thủ luật pháp, và sự phân tách tôn giáo – chính quyền
là chuẩn mực cốt lõi, tham gia tích cực qua bầu cử, biểu tình và các nhóm lợi ích. Hệ thống chính
trị này giải quyết xung đột qua đàm phán và thỏa hiệp, cân bằng tự do cá nhân và trật tự xã hội, từ
đó tạo nên sự ổn định lâu dài và đặc trưng riêng của Tây Âu. Liên minh Châu Âu
Liên minh châu Âu hình thành từ Cộng đồng Than – Thép năm 1951 nhằm thúc đẩy hòa bình và
hợp tác kinh tế giữa các quốc gia châu Âu. Đối với Tây Âu, EU đảm bảo hòa bình bền vững, đặc
biệt là giữa Pháp và Đức, đồng thời tạo ra thị trường chung lớn mạnh với sự tự do lưu thông hàng
hóa, dịch vụ và lao động, nâng cao tăng trưởng kinh tế và sự thịnh vượng. Các chương trình như
trao đổi sinh viên EU - Erasmus+ và khu vực Schengen di chuyển tự do không biên giới mở rộng
không gian học tập , làm việc , củng cố bản sắc văn hóa - xã hội chung trong khu vực và khả năng
cạnh tranh quốc tế. Về mặt ngoại giao, EU tăng tiếng nói chung của các nước Tây Âu trên trường quốc tế.
Trên phạm vi cả châu Âu, EU đóng vai trò then chốt trong việc thống nhất lục địa sau Chiến tranh
Lạnh bằng việc mở rộng sang Đông Âu, thúc đẩy cải cách kinh tế và pháp quyền. Đồng tiền chung
euro giúp tăng ổn định tài chính khu vực, cùng các quỹ hỗ trợ thu hẹp khoảng cách phát triển. EU
cũng nâng cao sức mạnh mềm toàn cầu qua các chính sách tiêu chuẩn môi trường cao và các
chương trình nghiên cứu – đổi mới. Tuy nhiên, quá trình hội nhập còn đối mặt với thách thức như
Brexit, chủ nghĩa dân túy và khủng hoảng nợ công.
Trung Đông ( lý giải cuộc xung đột Palestine và Israel)
Đặc điểm văn hóa nổi bật :
Trung Đông là vùng đất của nền văn minh cổ đại như Mesopotamia, Ai Cập và Lưỡng Hà, chịu ảnh
hưởng sâu sắc của tôn giáo, trong đó nổi bật nhất là Hồi giáo – với hai nhánh chủ yếu: Sunni và
Shia-chi phối niềm tin cá nhân và luật pháp . Giá trị uy tín cá nhân, gia đình quyết định vai trò và
trách nhiệm cá nhân , bộ tộc, và sự trung thành với cộng đồng,bảo vệ danh dự và vai trò của đàn
ông trong cấu trúc quyền lực- khác biệt rõ rệt so với tư duy cá nhân và pháp quyền phương Tây,
đồng thời ảnh hưởng trực tiếp tới cách thức tổ chức xã hội và quản trị quốc gia. Mối quan hệ xã hội
thường lồng ghép với luật Hồi giáo (Sharia), kiểm soát hành vi, đạo đức công dân và hình thành bản sắc tập thể
Các phong tục như trang phục truyền thống (abaya, hijab, keffiyeh), nghi thức hiếu khách và tôn
trọng lễ nghi tôn giáo (cầu nguyện hằng ngày, ăn chay trong thángRamadan) đóng vai trò trung tâm.
Nghệ thuật trang trí sử dụng hình học, thơ ca và văn học Ả Rập phát triển mạnh, đi kèm truyền
thống giáo dục Kinh Qur’an từ nhỏ
Vai trò và vị trí của phụ nữ trong xã hội cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tôn giáo và truyền thống,
với những chuẩn mực về trang phục, hành vi và trách nhiệm xã hội, mặc dù mức độ áp dụng có sự
khác nhau giữa các quốc gia và cộng đồng
Về chính trị và thể chế
Nhiều quốc gia vẫn còn duy trì quân chủ chuyên chế truyền thống nổi bật như Saudi Arabia, UAE…
và các chính thể gia tộc, trong đó quyền lực tập trung vào dòng họ hoặc lãnh đạo tôn giáo (Imam, Sheikh).
Bên cạnh đó , Iran theo thể chế Cộng hòa Hồi giáo tức là ikết hợp quyền lực dân cử với quyền lãnh
tụ tối cao và các hội đồng giám sát Sharia. Ở đây pháp luật Shia kiểm soát toàn diện chính sách đối
ngoại, quản trị xã hội và cả văn hóa tổ chức, chính trị và tôn giáo gắn kết không thể tách rời
Israel nổi bật với thể chế dân chủ nghị viện hiện đại. Hệ thống chính trị Israel vận hành theo tam
quyền phân lập , nhưng vẫn còn sự ảnh hưởng của các tòa án tôn giáo Do Thái trong các vấn đề đời sống cá nhân
Một số quốc gia khác như Syria, Iraq, Yemen đang chuyển đổi sang các mô hình liên minh lâm thời,
chia sẻ quyền lực cho nhiều nhóm vũ trang và phe đối lập
Tình hình quan hệ quốc tế :
Trung Đông là “điểm nóng” về chính trị – an ninh quốc tế do xung đột tôn giáo, tranh chấp tài nguyên
dầu mỏ, vấn đề Israel – Palestine, các cuộc nội chiến (Syria, Yemen), cạnh tranh ảnh hưởng giữa Saudi Arabia và Iran.
Các nước lớn như Mỹ-Nga là đồng minh lâu dài của Israel và tham gia các liên minh chống IS tại
Iraq và Syria, Nga- Nga duy trì ảnh hưởng ở Syria và Iran thông qua cung cấp vũ khí và ngoại giao,
EU- EU tập trung vào ngoại giao, viện trợ nhân đạo và hợp tác năng lượng, Trung Quốc đều có sự
can dự chiến lược tại đây cả về quân sự , kinh tế . QHQT chịu ảnh hưởng nhiều bởi tôn giáo , sắc
tộc và chính trị nội bộ
Là thành viên của nhiều tổ chức lớn: OPEC, Liên đoàn Ả Rập, đóng vai trò quyết định trong thị
trường dầu toàn cầu và chính trị khu vực
(Các quốc gia như UAE và Qatar hội nhập quốc tế rất mạnh mẽ qua phát triển nền kinh tế mở , đầu
tư , du lịch . Mặc dù vậy trong khu vực vẫn còn nhiều quốc gia còn khá bảo thủ như Saudi Arabia
- liên quan đến các vấn đề luật Sharia , vai trò phụ nữ và các chuẩn mực xã hội , Iran- chính sách
đối ngoại và kinh tế chịu ảnh hưởng của các lệnh trừng phạt quốc tế và tư tưởng chống phương
Tây,, Yemen- Do nội chiến kéo dài và khủng hoảng nhân đạo, vẫn còn phụ thuộc nhiều trợ giúp ,
Syria - Nội chiến kéo dài từ 2011)
Lý giải cuộc xung đột Palestine và Israel 5 . Câu hỏi về tư duy
Hãy vận dụng góc nhìn khu vực học để lý giải các vấn đề quốc tế để lý giải xung động Israel và
Palestine, nguồn gốc, lợi ích giữa các bên
Note : TRÌNH BÀY KHÔNG GẠCH ĐẦU DÒNG , KHÔNG DÀI DÒNG .