














Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI B
Ộ MÔN PHÁP
LUẬT ĐẠI CƯƠNG ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH CÁC HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC NHÓM: 2
LỚP HP: 232 _TLA W01 1 1 _08 HÀ NỘI, 2024-2025 Mục lục I L
ý t huyế t
.................................................................................................... ... ... .... ... ... 3
1 .Các hình t hức nh à nước.......................................................................... ... ... . 3
1.1 . Hình th ức chí nh th ể................................................................................. ... ... 3
1.2 .Hì nh thứ c cấu t rúc N hà nước: ........................................................ ... ... .... ... .. 4
1.3 . Chế độ chính trị:.......................................................................... ... ... ... .... ... .. 5 2
.Liên hệ t hực ti ễn với hình th ức CHXH CN V iệt Na m
............................................. 6
1 .Hình thức chính thể của nhà nước V iệt Nam.... ......... ........ ...... .. .. ... .. .. ... .. .. .. 6
2 . Hình thức cấu trúc Nhà nước CHXHCN V iệt Nam:.. ..... .. ... .. .. ... .. .. ... .. .. ... . 8
3 . Chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước t a hiện nay được thể hiện và
thực hiện chủ yếu thông qua:....... ......... ......... ........ ......... ...... ... .. .. ... .. .. ... .. .. ... .. . 9 II. B à i tập
............................................................................................................... ... .. 10 I Lý thuyết
Đề bài: Phân tích các hình thức nhà nước?Liên hệ với thực tiễn hình thức Nhà nước CHXHCN Việt Nam?
1.Các hình thức nhà nướ c
Hình thức nhà nước là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng. Kết quả của
việc tiến hành sự thống trị về chính trị phụ thuộc phần lớn vào việc giai cấp thống trị tổ
chức thực hiện quyền lực nhà nước theo hình thức nào. Hình thức nhà nước là cách tổ chức
quyền lực nhà nước và những phương pháp để thực hiện quyền lực nhà nước. Hình thức
nhà nước là một khái niệm chung được hình thành từ ba yếu tố cụ thể: hình thức chính thể,
hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị.
1.1. Hình thứểc chính th
- Đây là cách tổ chức và trình tự để lập ra các cơ quan tối cao của nhà nước và xác lập
những mối quan hệ cơ bản của các cơ quan đó.
- Hình thức chính thể có hai dạng cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa.
+ Chính thể quân chủ là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước tập trung toàn
bộ (hay một phần) trong tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc thừa kế. Chính thể
quân chủ được chia thành chính thể quân chủ tuyệt đối và chính thể quân chủ hạn chế.
Trong các nước quân chủ tuyệt đối, người đứng đầu nhà nước (vua, hoàng đế,…) có quyền
lực vô hạn; còn trong các nhà nước quân chủ hạn chế người đứng đầu nhà nước chỉ nắm
một phần quyền lực tối cao và bên cạnh đó còn có một cơ quan quyền lực khác nữa, như
nghị viện trong các nhà nước tư sản có chính thể quân chủ.
+ Chính thể cộng hòa là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về một
cơ quan được bầu ra trong một thời gian nhất định. Chính thể cộng hòa cũng có hai hình
thức chính là cộng hòa dân chủ và cộng hòa quý tộc. Trong các nước cộng hòa dân chủ,
quyền tham gia bầu cử để lập ra cơ quan đại diện (quyền lực) của nhà nước được quy định
về mặt hình thức pháp lý đối với các tầng lớp nhân dân lao động (mặc dù trên thực tế, các
giai cấp thống trị của các nhà nước bóc lột thường đặt ra nhiều quy định nhằm hạn chế
hoặc vô hiệu hóa quyền này của nhân dân lao động). Trong các nước cộng hòa quý tộc,
quyền đó chỉ quy định đối với tầng lớp quý tộc.
-Trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, do nhiều yếu tố khác nhau tác động, các hình thức
chính thể cũng có những đặc điểm khác biệt. Vì vậy, khi nghiên cứu hình thức chính thể
của một nhà nước nhất định cần phải gắn bó với những điều kiện lịch sử cụ thể. Tất cả các
nước xã hội chủ nghĩa đều là nhà nước cộng hòa dân chủ được đặc trung bằng sự tham gia
rộng rãi của nhân dân lao động vào việc thành lập các cơ quan đại diện của mình.
1.2.Hình thứấc c u trúc Nhà nướ c: -
Đây là sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và xác lập những
mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước, giữa trung ương với địa phương. -
Có hai hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu là hình thức nhà nước đơn nhất và hình
thức nhà nước liên bang.
+ Nhà nước đơn nhất là nhà nước có chủ quyền chung, có hệ thống cơ quan quyền lực và
quản lí thống nhất từ trung ương đến địa phương và có các đơn vị hành chính bao gồm tỉnh
(thành phố), huyện (quận), xã (phường). Ví dụ: Việt Nam, Lào, Ba Lan, Pháp … là các nhà nước đơn nhất.
+ Nhà nước liên bang là nhà nước có từ hai hay nhiều nước thành viên hợp lại. Nhà nước
liên bang có hai hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý; một hệ thống chung cho toàn liên
bang và một hệ thống trong mỗi nước thành viên; có chủ quyền quốc gia chung của nhà
nước liên bang và đồng thời mỗi thành viên cũng có chủ quyền riêng. Ví dụ: Mỹ, Đức, Ấn
Độ, Malaixia … là các nước liên bang. -
Cần phân biệt nhà nước liên bang với nhà nước liên minh. Nhà nước liên minh là
sự liên kết tạm thời của các nhà nước với nhau nhằm thực hiện một số mục đích nhất định.
Sau khi đã đạt được các mục đích đó, nhà nước liên minh có thể tự giải tán hoặc có thể
phát triển thành nhà nước liên bang. Ví dụ: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ từ 1776 đến 1787 là
nhà nước liên minh, sau đó trở thành nhà nước liên bang. -
Có thể nói, nhà nước liên bang chỉ xuất hiện sau khi nhà nước tư sản ra đời. Hình
thức cấu trúc này tồn tại khá phổ biến trong các nhà nước đương đại. Tùy thuộc vào con
đường hình thành liên bang mà ở mỗi nhà nước liên bang, mối quan hệ giữa chính quyền
liên bang và chính quyền các bang có những đặc thù riêng. Ở một số nhà nước liên bang,
các bang vốn là những nhà nước hoàn toàn độc lập, khi gia nhập liên bang, một phần chủ
quyền quốc gia của các nhà nước thành viên được chuyển giao cho nhà nước liên bang, tuy
nhiên các nhà nước thành viên vẫn nắm giữ chủ quyền của mình ở mức độ nhất định. Ở
nhiều nhà nước liên bang khác, các bộ phận họp thành liên bang có vị thế tương đối yếu. Ở
một số nhà nước liên bang, pháp luật cho phép tự do gia nhập, tự do tách khỏi liên bang; ở
một số nước khác pháp luật không cho phép tự ý tách ra khỏi liên bang để trở thành nhà nước độc lập.
1.3. Chế độ chính trị : -
Chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp, thủ đoạn mà các cơ quan nhà nước
sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước. -
Trong lịch sử, từ khi nhà nước xuất hiện cho đến nay, các giai cấp thống trị đã sử
dụng nhiều phương pháp và thủ đoạn để thực hiện quyền lực nhà nước. Những phương
pháp và thủ đoạn đó trước hết xuất phát từ bản chất của nhà nước đồng thời phụ thuộc vào
nhiều yếu tố của mỗi giai đoạn trong mỗi nước cụ thể. Vì vậy, có rất nhiều phương pháp và
thủ đoạn khác nhau nhưng tựu chung chúng được phân thành hai loại chính là: Phương
pháp dân chủ và phương pháp phản dân chủ. -
Trong nhà nước chủ nô đã tồn tại cả chế độ chính trị dân chủ và chế độ chính trị
phản dân chủ. Tuy nhiên, chế độ dân chủ trong nhà nước chủ nô còn nhiều hạn chế, mang
đậm dấu ấn của nền dân chủ nguyên thủy. Trong nhà nước phong kiến, chế độ chính trị ở
hầu hết các nhà nước đều là phản dân chủ.
+ Những phương pháp dân chủ cũng có nhiều loại, thể hiện dưới nhiều hình thức khác
nhau như những phương pháp dân chủ thật sự và dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng rãi và dân
chủ hạn chế; dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp … Cần phân biệt chế độ dân chủ xã hội
chủ nghĩa được đặc trung bằng việc sử dụng các hình thức dân chủ thật sự, rộng rãi với chế
độ dân chủ tư sản đặc trưng bằng các phương pháp dân chủ hạn chế và hình thức.
+ Các phương pháp phản dân chủ thể hiện tính chất độc tài cũng có nhiều loại, đáng chú ý
nhất là khi những phương pháp này khi phát triển đến mức độ cao sẽ trở thành những
phương pháp tàn bạo, quân phiệt và phát xít. Chế độ phản dân chủ ở các nhà nước tư sản
thường hình thành khi các lực lượng dân chủ, tiến bộ ở đó bị suy yếu, mâu thuẫn trong
lòng xã hội rất gay gắt và nhà nước nằm trong tay các phần tử cực đoan hay hiếu chiến... Ở
đó, các quyền tự do dân chủ của công dân bị chà đạp hoặc bị hạn chế đến mức tối đa; các
tố chức dân chủ bị cấm hoạt động, bị giải tán hoặc bị khủng bố; nhà nước do các nhóm tư
bản lũng đoạn chi phối... Ngày nay, chế độ phản dân chủ ở các nước tư bản chưa hoàn toàn bị thủ tiêu. -
Chế độ chính trị ở tất cả các nhà nước xã hội chủ nghĩa đều là chế độ dân chủ, đó là
một nền dân chủ rộng rãi và thực chất. Đó là nền dân chủ đối với đại đa số dân cư, dân chủ
với những người lao động; đó là một nền dân chủ trên tất cả các lĩnh vực hoạt động cơ bản
của đời sống, từ kinh tế, chính trị đến văn hoá, giáo dục...; công dân có đầy đủ điều kiện để
thực hiện các quyền tự do dân chủ của mình. Trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội,
các nhà nước đều đang tích cực củng cố và mở rộng dân chủ, đảm bảo các quyền tự do dân
chủ của công dân không ngừng mở rộng và trở thành hiện thực trong đời sống. -
Hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước luôn có liên quan mật thiết với
chế độ chính trị. Ba yếu tố này có tác động qua lại lẫn nhau tạo thành khái niệm hình thức
nhà nước, phản ánh bản chất và nội dung của nhà nước. Nhưng trong một số trường hợp,
ba yếu tố này có thể không phù hợp với nhau. Ví dụ: chế độ chính trị phát xít, quân phiệt
có thể có hình thức chính thể cộng hòa dân chủ. Đây cũng là điều thường gặp trong các nhà nước bóc lột.
Trong các nhà nước xã hội chủ nghĩa, ba yếu tố này phải phù hợp với nhau, phản ánh đúng
bản chất và nội dung của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
2.Liên hệ thự c tiễ n vớ i hình thứ c CHXHCN Việ t Nam
1.Hình thức chính thể củ a nhà nướ c Việ t Nam
Chính thể Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua nguyên tắc bầu cử bình
đẳng, phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín nhân dân đã bỏ phiếu bầu ra cơ quan đại diện của
mình (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp).
Quyền lực Nhà nước tối cao thuộc về Quốc hội. Quốc hội được bầu theo nhiệm kỳ 05 năm,
có quyền lập pháp, quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của các cơ quan Nhà nước,
quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.
Chính thể cộng hòa dân chủ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều
đặc điểm riêng khác với cộng hòa dân chủ tư sản.
Việc tổ chức quyền lực Nhà nước trong chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
Đảng cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị có vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Điều 4 Hiến pháp năm 2013: “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công
nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu
trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ
nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội".
2. Hình thức cấ u trúc Nhà nướ c CHXHCN Việ t Nam: –
Hình thức cấu trúc Nhà nước là sự tổ chức Nhà nước theo đơn vị hành chính lãnh
thổ và tính chất quan hệ giữa các bộ phận cấu thành Nhà nước, giữa các cơ quan Nhà nước
trung ương và cơ quan Nhà nước địa phương. –
Hình thức cấu trúc Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Nhà nước
đơn nhất, được Hiến pháp 2013 quy định tại điều 1: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền,
hải đảo, vùng biển và vùng trời. –
Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Nhà nước đơn nhất, có độc lập,
chủ quyền, có một hệ thống pháp luật thống nhất, có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc.
Nhà nước Việt Nam có lãnh thổ thống nhất, không phân chia thành các tiểu bang hoặc cộng
hòa tự trị mà chia thành các đơn vị hành chính trực thuộc. Tương ứng mỗi đơn vị hành chính
là cơ quan hành chính Nhà nước. Các đơn vị hành chính không có chủ quyền quốc gia và
đặc điểm như Nhà nước.
Nhà nước Việt Nam là tổ chức duy nhất trong hệ thống chính trị có chủ quyền quốc gia,là
chủ thể quan hệ quốc tế toàn quyền đối nội, đối ngoại, quyết định mọi vấn đề của đất nước.
Một hệ thống pháp luật thống nhất với một Hiến pháp, hiệu lực Hiến pháp và pháp luật trải
rộng trên phạm vi toàn quốc. Các cơ quan Nhà nước trong khi thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của mình có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở cụ thể hóa Hiến
pháp, pháp luật, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật.
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam. Nhà
nước thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, giữ gìn và phát huy phong tục, tập quán của dân tộc.
>Như vậy, cấu trúc nước ta là một thể thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, cùng chung một thể
chế chính trị và đặc biệt là dưới sự quản lý của một một Đảng duy nhất là Đảng cộng sản
Việt Nam. Tất cả những hoạt động trong bất kỳ một lĩnh vực nào cũng chịu sự điều chỉnh và
giám sát của pháp luật, đảm bảo công bằng, văn mình và vì lợi ích chung của cả cộng đồng
dân cư chứ không riêng bất kỳ một tổ chức hay mChế độ chính trị của Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam (CHXHCN Việt Nam) là một chế độ đơn chế, tức là một đảng chính trị duy
nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), là đảng lãnh đạo duy nhất của quốc gia. Đảng
này kiểm soát mọi khía cạnh của chính trị, kinh tế và xã hội ở Việt Nam.
3. Chế độ chính trị xã hộ i chủ nghĩa ởướ n c ta hiệ n naượy đ
c thể ệ hi n và thự c
hiện chủ yế u thông qua: -
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, việc đẩy mạnh công tác xây dựng,
chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. -
Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân. -
Xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân.
Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng và bảo đảm, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân. -
Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị; phát huy vai trò của Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội, tham gia
xây dựng Đảng, Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân,
tăng cường gắn bó mật thiết với nhân dân.
*Chế độ chính trị của nước ta dựa trên 3 trụ cột: Đảng - Nhà nước - Nhân dân với các chức
năng khác nhau là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Muốn chế độ
vững bền phải củng cố, xây dựng tốt 3 trụ cột này: Đảng phải trong sạch, vững mạnh, nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; Nhà nước cũng phải trong sạch, vững
mạnh, chất lượng, hiệu quả, năng động trong quản lý, điều hành; xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức đủ phẩm chất và năng lực hoàn thành nhiệm vụ; nhân dân thực sự là “gốc” của
nước, thực sự là người chủ và làm chủ, có sự gắn bó mật thiết với Đảng và Nhà nước; chính
sách của Đảng và Nhà nước phải được lòng dân, “được lòng dân là được tất cả, mất lòng
dân là mất tất cả”, thực sự vì lợi ích của nhân dân, dân có yên thì chế độ mới ổn, mới vững
bền. Làm sao để người dân coi chế độ chính trị này là của họ chứ không phải của ai khác.
Trong 3 trụ cột đó, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà
nước với nhân dân là nhiệm vụ sống còn để duy trì và giữ vững chế độ chính trị ở nước ta. II. Bài tập
Đề bài: Anh Tùng và chị Ngọc kết hôn năm 2015, họ có 2 con chung là Bích sinh
năm 2016 và Toản sinh năm 2018. Sau khi sinh con trai thứ hai anh chị bất hòa, sống ly thân.
Ngày 1/2/2020, anh Tùng bị tai nạn xe máy phải đưa vào bệnh viện. Cho rằng không thể qua
khỏi, anh Tùng di chúc miệng (trước nhiều người làm chứng) là để lại toàn bộ số tài sản của
mình cho hai người là anh Trịnh (bạn thân từ nhỏ) và cô Giang (vợ cũ của anh Tùng, đã ly
dị). Sau ca phẫu thuật không thành công, anh Tùng qua đời. Chia di sản thừa kế của anh
Tùng, biết rằng tài sản chung của Tùng và Ngọc là 2 tỷ đồng, năm 2014 anh Tùng được
Giang gửi cho 500 triệu đồng để chữa bệnh nhưng anh Tùng chưa sử dụng và vẫn giữ trong
một cuốn sổ tiết kiệm riêng. 1.
Hãy chia thừa kế trong trường hợp trên? 2.
Giả sử ca phẫu thuật thành công, anh Tùng ra viện khỏe mạnh bình thường, 5 tháng
sau anh chết sau một cơn nhồi máu cơ tim, lúc này việc chia di sản của Tùng có gì khác? Bài làm Giải bài tập: Ý 1:
Theo điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, quy định tài sản riêng của vợ,
chồng gồm: tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được
tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia cho vợ, chồng trong thời kỳ hôn
nhân (Theo QĐ tại các điều 38,39,20 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014); tài sản
phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật
thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng. -
Năm 2014, anh Tùng được Giang gửi cho 500 triệu đồng để anh Tùng chữa
bệnh -> 500tr đồng thuộc vào tài sản riêng của anh Tùng nếu anh vẫn chưa dùng tới. -
Vì vợ chồng của anh Tùng và chị Ngọc đang trong thời gian ly thân, nhưng
ly thân không được coi là chấm dứt quan hệ hôn nhân, do đó, tài sản vẫn được chia
theo hợp đồng hôn nhân.
Ông Tùng chết, vậy nên tài sản được chia Theo điều 66 của Luật Hôn nhân và gia đình
trong mục 2 chấm dứt hợp đồng hôn nhân do vợ/chồng chết, tòa tuyên bố đã chết có ghi:
1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị tòa tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản
lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản
lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.
2 . Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, t rừ
trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về ch ế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết
hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết đượ c chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Vậy tài sản mà ông Tùng hiện có l à:
1 tỷ + 500tr = 1 tỷ 500 triệu
TH1: Di chúc miệng của anh Tùng hợ p pháp.
Theo điều 644, BLDS 2015 ghi:
“T rong trường hợp nhất định để bảo vệ lợi ích của một số người tr ong diện những
người thừa kế theo pháp luật , phù hợp với đạo lý và truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta
pháp luật đã hạn chế quyền định đoạt của người lập di chúc bằng cách quy định về người
được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di c húc.”
“ Đối tượng được hưởng thừa kế không phụ t huộc vào nội dung di chúc bao gồm vợ hoặc
chồng của người chết; cha , mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi; CON CHƯA THÀNH NIÊN ( con trai,
con gái, con nuôi, con đẻ, con tr ong giá thú, con ngoài giá thú mà dưới 18 tuổi); con đã
thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên) không có khả năng lao động.
- T iền bắt buộc phải chia cho hai người con 2/3 số tiền của 1 suất thừa kế.
T iền bà Ngọc được nhận là:
1.500.000.000 : 3 = 500.000.000 (đồng) x 2/3 = 333.333 .333 đồng
- T iền của hai người con được nhận là:
500.000.000 x 2/3 = 333.333.333 đồng
-> Số tiền còn lại sẽ được chia c ho hai người được nhắc đến trong di chúc c ủa anh Tùng.
- Số tiền còn lại sau khi chia cho 3 người trong gia đình là:
1.500.000.000 – 333.333.333 x 3 = 500.000.000 ( đồng )
-> V ậy theo di chúc của anh Tùng, số tiền còn lại sẽ được chia cho hai người l à Giang (vợ
cũ, đã ly dị) và anh T rịnh (bạn thân từ nhỏ):
- Số tiền hai người đó được nh ận là:
500.000.000 : 2 = 250.000.000 ( đồng ) Kết luận: Ngọc: 1.333.333.333 Đ Bích: 333.333.333 Đ Toản: 333.333.333 Đ Trịnh: 250.000.000 Đ
Giang: 250.000.000 Đ TH2: Di chúc miệng của anh Tùng không hợp pháp.
Theo điểm b, Khoản 1, Điều 630, BLDS 2015 quy định: “... hình thức di chúc
không trái quy định của luật”
“Việc lập di chúc miệng phải có mặt ít nhất hai người làm chứng. Ngay sau khi người di
chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng phải ghi chép lại nội dung của di
chúc, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể
hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền
chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.”
Trong trường hợp này, giả sử di chúc của anh Tùng đã bị những người làm chứng
quên không ghi chép/điểm chỉ hoặc quên không công chứng/chứng thực chữ ký, điểm chỉ.
Vậy, di chúc của anh Tùng sẽ coi như không hợp pháp.
Theo quy định tại Điều 650, BLDS 2015 thì thừa kế theo pháp luật được áp dụng
trong các trường hợp sau: “Không di chúc, DI CHÚC KHÔNG HỢP PHÁP, những người
thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, cơ quan,
tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế,
những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di
sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.”
Theo giả sử trên, di chúc của ông Tùng sẽ thuộc vào trường hợp Di chúc không hợp
pháp. Lúc này, di chúc sẽ vô hiệu và tài sản được chia theo pháp luật (Hàng thừa kế).
Theo điều 651, BLDS 2015 quy định về các hàng thừa kế như sau:
- Hàng thừa kế thứ nhất: gồm vợ, chồng, cha/mẹ đẻ, cha/mẹ nuôi, con đẻ,
con nuôi của người chết,
- Hàng thừa kế thứ hai: Gồm ông/bà nội, ông/bà ngoại, anh/chị/em ruột của
người chết, cháu ruột của người chết mà người chết là ông.bà nội, ông/bà ngoại.
- Hàng thừa kế thứ ba: Gồm cụ nội/ngoại của người chết, bác/chú/cậu/cô/dì
ruột của người chết, cháu ruột của người chết mà người chết là bác/chú/cậu/cô/dì/chắt ruột
của người chết mà người chết là cụ nội/ngoại.
- Phải có 1 trong 3 mqh với người để lại di sản: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết
thống, quan hệ nuôi dưỡng.
- Di sản thừa kế theo pháp luật được xếp theo thứ tự ưu tiên 1,2,3 . Người cùng
hàng được chia bằng nhau, ngư ời hàng sau chỉ được thừa kế khi không còn ai ở hàng trước.
Vậy ta sẽ chia tài sả n của ông T ùng cho 3 người ở hàng thứ tự đầu tiên gồm: Vợ và hai người con
Tài sản bà Ngọc và 2 ng con được nhận là:
1 500 000 000 : 3 = 500.000.000 (đồng )
Tài sản bà Ngọc hiện t ại là:
1 000 000 000 + 500 000 000 = 1 500 000 000 (đồng )
Kết luận: Ngọc: 1 500 000 000 Đ Bích: 500 000 000 Đ T oản: 500 000 000 Đ Ý 2:
Theo Khoản 2, Điều 629, BLDS 2015 quy định: “Nếu sau 3 tháng kể từ thời điểm
di chúc miệng nếu người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng
mặc nhiên bị hủy bỏ.”
-> V ậy di chúc của ông Tùng sau 5 tháng khỏi bệnh thì di chúc miệng đó mặc nhiên bị hủy bỏ theo pháp luật.
- Sau đó, ông Tùng đột ngột qua đời do một cơn nhồi máu cơ tim , lúc này ông không có di chúc.
Theo quy định tại Điều 650, BLDS 2015 thì thừ a kế theo pháp luật được áp dụng
trong các trường hợp sau: “ KHÔNG DI CHÚC , di chúc không hợp pháp, những người
thừa kế theo di chúc chết t rước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, cơ quan,
tổ chức được hưởng thừa kế theo di c húc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa k ế,
những người được chỉ định làm người thừa kế t heo di chúc mà không có quyền hưởng di
sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.”
-> Tài sản của ông Tùng lúc này sẽ được chia theo pháp luật, theo hàng thừa k ế
điều 651, BLDS 2015 QĐ về hàng thừa kế .
Vì chỉ sống ly thân mà chưa ly hôn , nên bà Ngọc vẫn được coi là vợ hợp ph áp của
ông và thuộc hàng thứ nhất trong hàng thừ a kế.
Tài sản của ông được chi a làm ba phần bằng nhau cho người trong gi a đình của
ông T ùng bao gồm: Bà Ngọc, Bích và T oản.
Phần tài sản mà ba người nh ận được là:
1 500 000 000 : 3 = 500 000 000 (đồng )
Phần tài sản của bà Ngọc là:
1 000 000 000 + 500 000 000 = 1 500 000 000 (đồng )
Kết luận: Ngọc: 1 500 000 000 đồng Bích: 500 000 000 đồng T oản: 500 000 000 đồng