BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÀI THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN
“Luật kinh tế 2”
Đề tài : Phân tích những ưu điểm và hạn chế của các phương
thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại.
Và giải bài tập tình huống
GVHD: Nguyễn Thái Trường
Thực hiện: Nhóm 8
Lớp học phần: 2204PLAW0322
HÀ NỘI – 2202
1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM THẢO LUẬN LẦN 1
Nhóm: 8 Lớp: 2204PLAW0322
Thời gian: 20h ngày 25/03/2022
Địa điểm: Họp online – Qua zoom
Thành phần: Toàn bộ thành viên nhóm 8
Có mặt: 10/10
Vắng mặt: 0 Trong đó:
Vắng có phép: 0
Vắng không phép: 0
Nội dung cuộc họp:
Phân công nhiệm vụ các thành viên tìm kiếm tài liệu tham khảo, lên ý tưởng v
nội dung bài thảo luận và lập dàn ý bài thảo luận.
Cuộc họp kết thúc vào lúc 21 giờ 45 phút cùng ngày.
Nhóm trưởng
(Ký, ghi rõ họ và tên)
Thảo
Khuất Thị Thảo
2
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM THẢO LUẬN LẦN 2
Nhóm: 8 Lớp: 2204PLAW0322
Thời gian: 20h ngày 30/03/2022
Địa điểm: Họp online – Qua zoom
Thành phần: Toàn bộ thành viên nhóm 8
Có mặt: 10/10
Vắng mặt: 0
Trong đó:
Vắng có phép: 0
Vắng không phép: 0
Nội dung cuộc họp:
Nhóm trưởng phân chia nhiệm vụ triển khai làm bài thảo luận cho từng thành viên,
đưa ra yêu cầu cụ thể về nội dung cần đạt được và số trang ở mỗi mục. Các thành viên
xác nhận nhiệm vụ.
Cuộc họp kết thúc vào lúc 21 giờ 30 cùng ngày.
Nhóm trưởng
(Ký, ghi rõ họ và tên)
Thảo
3
Khuất Thị Thảo
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................5
Chương 1: Cơ sở lý thuyết....................................................................................5
1.1 Khái quát chung về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa. 5
1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa, đặc điểm hợp đồng mua bán
hàng hóa......................................................................................................................5
1.1.2 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa..............................................6
1.1.3 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu phổ biến.............................................6
1.1.4 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng..........................................................9
1.2 Khái niệm, lý thuyết cơ bản về tranh chấp trong kinh doanh, thương
mại................................................................................................................................10
1.2.1 Khái niệm tranh chấp trong kinh doanh, thương mại.............................10
1.2.2 Khái niệm trọng tài thương mại.............................................................10
1.2.3 Các loại tranh chấp trong kinh doanh, thương mại................................10
Chương 2: Cơ sở thực tiễn..................................................................................10
1. Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại................................10
1.1 Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng.............................................11
1.2 Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải.......................................................13
1.3 Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài......................................................14
1.4 Giải quyết tranh chấp bằng tòa án..........................................................16
Phần 2: Bài tập tình huống.................................................................................17
Câu hỏi 1 Nêu những văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh hợp đồng số :
4
01/HĐ...........................................................................................................................18
Câu hỏi 2. Yêu cầu của cty Thái Dương có căn cứ hợp pháp để được chấp
nhận không? tại sao?..................................................................................................19
Câu hỏi 3: Hợp đồng số 01/HĐ có vô hiệu do người ký không đúng thẩm
quyền hay không? tại sao?.........................................................................................21
Câu hỏi 4. Yêu cầu giao hàng vào ngày 07/02/2018 của cty Sơn Trà có căn
cứ hợp pháp hay không? tại sao?..............................................................................22
Câu hỏi 5: Yêu cầu của các bên có căn cứ hợp pháp để được chấp nhận hay
không? tại sao?............................................................................................................22
Câu hỏi 6: Yêu cầu đòi tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại của cty Sơn
Trà có căn cứ hợp pháp để được chấp nhận hay không? tại sao?..........................22
Câu hỏi 7: Toà án nhân dân thành phố Hà Nội có quyền giải quyết tranh
chấp giữa 2 công ty hay không? Giải thích tại sao? (Biết rằng ngày 14/02/2018,
Trung tâm trọng tài X đã tuyên bố giải thể).............................................................23
KẾT LUẬN..........................................................................................................23
BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN....................................................................24
5
LỜI MỞ ĐẦU
Phần 1: Bài tập lý thuyết
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
1.1 Khái quát chung về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa, đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa
Khái niệm
Hợp đồng mua bán hàng hoá có bản chất chung của hợp đồng, là sự thỏa thuận
nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán.
Luật thương mại năm 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa song
có thể xác định bản chất pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại trên
cơ sở quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng mua bán tài sản. Từ đó cho thấy hợp đồng
mua bán hàng hoá trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản.
Một hợp đồng mua bán có thể là thỏa thuận về việc mua bán hàng hoá ở hiện tại hoặc
mua bán hàng hoá sẽ có ở một thời điểm nào đó trong tương lai. Bất cứ khi nào, một
người mua hàng hoá bằng tiền hoặc phương thức thanh toán khác và nhận quyền sở hữu
hàng hoá thì khi đó hình thành nên quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá.
Đặc điểm
Thứ nhất, về chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hoá được thiết lập giữa các chủ thể
chủ yếu là thương nhân. Theo quy định của Luật thương mại năm 2005, thương nhân bao
gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách
độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Thương nhân là chủ thể của hợp đồng
mua bán có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài (trong hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế). Ngoài chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không
phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá. Hoạt
động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận
trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá phải tuân theo Luật thương mại khi chủ thể
này lựa chọn áp dụng Luật thương mại. Quy định này của Luật thương mại năm 2005
phù hợp với học thuyết pháp lý về áp dụng pháp luật thương mại đối với các giao dịch
hỗn hợp
Thứ hai, về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hoá có thể được thiết lập theo cách
thức nào mà hai bên thể hiện được sự thỏa thuận mua bán hàng hoá giữa các bên. Hợp
đồng mua bán có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành
vi cụ thể của các bên giao kết. Trong những trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc các
bên phải thiết lập hợp đồng mua bán bằng hình thức văn bản. Điều 24 Luật thương mại
6
năm 2005 cũng quy định: "Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng
văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng
hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định
đó".
Thứ ba, về đối tượng, hợp đồng mua bán hàng hoá có đối • tượng là hàng hoá.
Hiểu theo nghĩa thông thường, hàng hoá là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra
nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của con người. Khái niệm hàng hoá được ghi nhận
trong luật pháp các quốc gia trên thế giới hiện nay, mặc dù có những khác biệt nhất định
xxong đều có xu hướng mở rộng các đối tượng là hàng hoá được phép lưu thông thương
mại. Cùng với sự phát triển của xã hội, hàng hoá ngày càng phong phú và đa dạng. Dựa
vào tính chất pháp lí, hàng hóa được chia thành nhiều loại khác nhau như bất động sản,
động sản, tài hữu hình, tài sản vô hình hoặc các quyền về tài sản…
Thứ tư, về nội dung, hợp đồng mua bán hàng hoá thể hiện quyền và nghĩa vụ của
các bên trong quan hệ mua bán, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở
hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền; còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hoá và trả
tiền cho bên bán. Hành vi mua bán của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá có tính
chất hành vi thương mại. Mục đích thông thường của các bên mua bán là lợi nhuận.
1.1.2 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa là điều khoản do các bên thỏa thuận,
thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng.
Việc pháp luật quy định nội dung của hợp đồng mua bán, có ý nghĩa hướng các
bên tập trung vào thỏa thuận những nội dung quan trọng của hợp đồng, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc thực hiện đồng thời phòng ngừa những tranh chấp xảy ra trong quá
trình thực hiện hợp đồng. Luật thương mại năm 2005 không quy định bắt buộc các bên
phải thỏa thuận những nội dung cụ thể nào trong hợp đồng mua bán hàng hoá. Mặc dù
các nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hoá có thể xác định được dựa trên
những quy định mang tính "khuyến nghị", "định hướng của pháp luật, thói quen và tập
quán thương mại nhưng trong điều kiện nhận thức của nhà kinh doanh còn nhiều hạn chế
thì điều này tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến những rủi ro pháp lí, những tranh chấp trong hoạt
động mua bán hàng hoá.
1.1.3 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu phổ biến
Hợp đồng vô hiệu khi vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
Hợp đồng có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì
bị hiệu. Điều cấm của luật những quy định của luật không cho phép chủ thể thực
hiện những hành vi nhất định. Đạo đức hội những chuẩn mực ứng xử chung trong
đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
7
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng hiệu trong trường hợp này
không bị hạn chế.
Hợp đồng vô hiệu do giả tạo
Giao dịch dân sự giả tạo được hiểu là: Khi các bên xác lập hợp đồng một cách giả
tạo nhằm che giấu một hợp đồng khác thì hợp đồng đó là giả tạo và bị tuyên vô hiệu, còn
hợp đồng bị che giấu vẫn hiệu lực, trừ trường hợp hợp đồng đó cũng bị hiệu theo
quy định của Bộ luật dân sự hoặc luật khác có liên quan.
Lưu ý: Trường hợp xác lập hợp đồng giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ
ba thì hợp đồng đó cũng bị tuyên là vô hiệu.
Như vậy, hai trường hợp hợp đồng bị coi giả tạo khi hợp đồng xác lập nhằm
mục đích che giấu một hợp đồng khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng hiệu trong trường hợp này
không bị hạn chế.
Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự xác lập, thực hiện
Trường hợp này hợp đồng hiệu do vi phạm về chủ thể tham gia hợp đồng, cụ
thể, các chủ thể được liệt kê ở trên không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ phù hợp theo
hợp đồng được ký kết.
Khi hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án
tuyên bố hợp đồng đó hiệu nếu theo quy định của pháp luật hợp đồng này phải do
người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp:
oHợp đồng của người chưa đủ 06 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm
đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
oHợp đồng chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người thành
niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập,
thực hiện hợp đồng với họ;
oGiao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã
thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng hiệu trong trường hợp này 02
năm, kể từ ngày người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
dân sự, người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực
hành vi dân s biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện hợp
đồng;
8
Hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn
Hợp đồng bị nhầm lẫn là trường hợp hợp đồng đó được xác lập khi có sự nhầm lẫn
làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập hợp đồng.
Khi phát hiện hợp đồng bị nhầm lẫn thì bên bị nhầm lẫn quyền yêu cầu Tòa án
tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu trừ trường hợp: Mục đích xác lập hợp đồng của các bên đã
đạt được hoặc các bên thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của
việc xác lập hợp đồng vẫn đạt được.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng hiệu trong trường hợp này 02
năm, kể từ ngày người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết hợp đồng được xác lập
do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;
Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Khi một bên tham gia hợp đồng do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì
quyền yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng đó là vô hiệu.
Lừa dối trong hợp đồng hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm
làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao
dịch dân sự nên đã xác lập hợp đồng đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong hợp đồng hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba
làm cho bên kia buộc phải thực hiện hợp đồng nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức
khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.
Trường hợp hợp đồng vô hiệu này là vi phạm điều kiện chủ thể tham gia hợp đồng
phải hoàn toàn tự nguyện.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng hiệu trong trường hợp này 02
năm, kể từ ngày người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép.
Hợp đồng vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của
mình
Người năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập hợp đồng vào đúng thời điểm
không nhận thức làm chủ được hành vi của mình thì quyền yêu cầu Tòa án tuyên
bố hợp đồng đó là vô hiệu.
Khi yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì người yêu cầu phải chứng minh
chứng cứ chứng minh thời gian xác lập hợp đồng vào đúng thời điểm không nhận
thức được hành vi của mình.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng hiệu trong trường hợp này 02
năm, kể từ ngày người không nhận thức làm chủ được hành vi của mình xác lập hợp
đồng.
Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
9
Hợp đồng vi phạm quy định điều kiện hiệu lực về hình thức thì hiệu, trừ
trường hợp sau đây:
Hợp đồng đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản
không đúng quy định của luật một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba
nghĩa vụ trong hợp đồng thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định
công nhận hiệu lực của hợp đồng đó.
Hợp đồng đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về
công chứng, chứng thực một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa
vụ trong hợp đồng thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công
nhận hiệu lực của hợp đồng đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc
công chứng, chứng thực nữa.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng hiệu trong trường hợp này 02
năm, kể từ ngày hợp đồng được xác lập trong trường hợp hợp đồng không tuân thủ quy
định về hình thức.
1.1.4 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
a. Khái niệm và vai trò của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá
Khi một hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập có hiệu lực pháp luật, các bên
có nghĩa vụ phải thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận. Việc vi phạm các nghĩa vụ theo
hợp đồng mua bán (không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ) sẽ
dẫn đến bên vi phạm phải chịu những chế tài do pháp luật quy định. Về bản chất, trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán là dạng cụ thể của trách nhiệm pháp lí phát sinh
trong lĩnh vực mua bán hàng hoá.
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá có những đặc điểm cơ bản
là: (i) Được áp dụng trên cơ sở hành vi vi phạm hợp đồng mua bán có hiệu lực pháp luật;
(ii) Nội dung gắn liền với việc thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc trách nhiệm về
tài sản; (iii) Do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng hoặc do bên bị vi phạm áp dụng
trên cơ sở pháp luật.
b. Căn cứ áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá
Có hành vi vi phạm hợp đồng
Có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra
Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế
Có lỗi của bên vi phạm
c. Các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá
Buộc thực hiện đúng hợp đồng
10
Phạt hợp đồng
Bồi thường thiệt hại
Tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng
d. Miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá
Miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán là việc bên vi phạm nghĩa vụ
theo hợp đồng mua bán không phải chịu các hình thức chế tài. Các bên trong hợp đồng
mua bán có quyền thỏa thuận về giới hạn trách nhiệm và miễn trách nhiệm hợp đồng
trong những trường hợp cụ thể do các bên dự liệu khi giao kết hợp đồng. Ngoài ra, việc
miễn trách nhiệm hợp đồng còn được áp dụng theo các trường hợp khác do pháp luật quy
định. Theo luật thương mại (Điều 294), ngoài các trường hợp miễn trách nhiệm mà các
bên đã thoả thuận, bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mua bán còn được miễn trách nhiệm
khi: (i) Xảy ra sự kiện bất khả kháng; (ii) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi
của bên kia; (iii) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp
đồng.
1.2 Khái niệm, lý thuyết cơ bản về tranh chấp trong kinh doanh, thương mại
1.2.1 Khái niệm tranh chấp trong kinh doanh, thương mại
- Hiện nay, pháp luật không quy định khái niệm tranh chấp hợp đồng,tuy nhiên từ
các tranh chấp trên thực tế thì tranh chấp hợp đồng được hiểu là sự mâu thuẫn, bất đồng ý
kiến của các bên trong quan hệ hợp đồng với nhau liên quan đến việc thực hiện hay
không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.
1.2.2 Khái niệm trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại theo khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010 được
định nghĩa phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận. Việc tiến hành
giải quyết tranh chấp phải tuân thủ theo quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010.
Các tranh chấp ở đây là tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh
chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên hoạt động thương mại hoặc
tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.
1.2.3 Các loại tranh chấp trong kinh doanh, thương mại
Dựa trên những căn cứ pháp khác nhau, tranh chấp thương mại được chia thành
các loại tranh chấp sau:
- Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ: Tranh chấp thương mại bao gồm tranh chấp
thương mại trong nước và tranh chấp thương mại quốc tế.
11
- Căn cứ vào số lượng các bên tranh chấp: tranh chấp thương mại bao gồm tranh
chấp thương mại hai bên và tranh chấp thương mại nhiều bên.
- Căn cứ vào lĩnh vực tranh chấp: tranh chấp thương mại gồm tranh chấp liên quan
đến hợp đồng, tranh chấp về sở hữu trí tuệ, đầu tư, tài chính...
- Căn cứ vào quá trình thực hiện: tranh chấp thương mại bao gồm các tranh chấp
trong quá trình đàm phán, soạn thảo, kết hợp đồng tranh chấp trong quá trình thực
hiện hợp đồng.
- Căn cứ vào thời điểm phát sinh tranh chấp: tranh chấp thương mại bao gồm:
tranh chấp thương mại hiện tại và tranh chấp thương mại trong tương lai.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn
1. Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
1.1 Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng
Thương lượng: là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh
chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh
chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào.
Đặc điểm của thương lượng:
Thứ nhất, phương thức giải quyết tranh chấp này được thực hiện bởi cơ chế giải
quyết nội bộ (cơ chế tự giải quyết) thông qua việc các bên tranh chấp gặp nhau bàn bạc,
thỏa thuận để tự giải quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của
bên thứ ba để trợ giúp hay ra phán quyết. Điều kiện để thương lượng một tranh chấp
thương mại, trước hết phải xem xét thỏa mãn: có tranh chấp thương mại xảy ra, các bên
mong muốn loại bỏ mâu thuẫn, khắc phục tổn thất, tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác và các
bên đều có tinh thần thiện chí, nhân nhượng, tôn trọng và giữ gìn uy tín cho nhau.
Thứ hai, quá trình thương lượng giữa các bên cũng không chịu sự ràng buộc của
bất kì nguyên tắc pháp lý hay những quy định mang tính khuôn mẫu nào của pháp luật về
thủ tục giải quyết tranh chấp. Pháp luật của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận
thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại (Điều 14 luật đầu
năm 2020, luật đầu tư năm 2020, Điều 317 Luật Thương mại năm 2005) mà không có bất
kì quy định nào chi phối đến cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng.
Thứ ba, việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện
của mỗi bên tranh chấp mà không có bất kì cơ chế pháp lý nào bảo đảm việc thực thi đối
với thỏa thuận của các bên trong quá trình thương lượng. Giải quyết tranh chấp thương
mại bằng phương thức thương lượng là sự thể hiện quyền tự do thỏa thuận, tự do định
đoạt của các bên tranh chấp. Các bên tự đề xuất các giải pháp và thỏa hiệp với nhau theo
trình tự, thủ tục tự chọn để giải quyết các bất đồng phát sinh mà không có sự tham gia
hay can thiệp của bất kì cơ quan nhà nước nào. Việc thương lượng có thể được thực hiện
12
bằng nhiều cách thức như: thương lượng trực tiếp, thương lượng gián tiếp và kết hợp cả
hai cách thức trên. Mỗi một cách thức thương lượng có tính ưu việt và hạn chế nhất định.
Ưu điểm
Đây là hình thức ra đời rất sớm và thường được các thương nhân lựa chọn vì những
mặt ưu điểm của nó.
Ưu điểm nổi bật của phương thức thương lượng trong giải quyết tranh chấp nói
chung là sự thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, tính linh hoạt, hiệu quả và ít tốn kém,
không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp. Những đặc tính trên xuất hiện là do
số lượng ở việc các bên tham gia quá trình thương lượng thường không nhiều, do đó việc
thực hiện các bước từ sắp xếp thời gian gặp mặt cho đến bước cuối là đạt được thỏa thuận
cuối cùng sẽ dễ dàng, linh hoạt hơn. Ngoài ra, tính chất ít tốn kém là do các bên khi thực
hiện phương pháp giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, các bên không cần đến sự trợ giúp
của bên thứ 3, cũng như tòa án trong toàn bộ quá trình.
Mặt khác, phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng còn bảo vệ được
uy tín cho các bên tranh chấp cũng như bí mật trong kinh doanh của các nhà kinh doanh.
Các nhà kinh doanh hơn ai biết bảo vệ quyền lợi của mình, hiểu rõ những bất đồng và
nguyên nhân phát sinh tranh chấp nên quá trình đàm phán, thỏa thuận dễ hiểu và cảm
thông với nhau hơn để có thể thỏa thuận được các giải pháp tối ưu theo đúng nguyện
vọng của mỗi bên mà không phải cơ quan tài phán nào cũng có thể làm được. Bởi vậy,
nếu thương lượng thành công không những các bên loại bỏ được những bất đồng đã phát
sinh mà mức độ phương hại đến mối quan hệ kinh doanh giữa các bên cũng thấp, tăng
cường sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau trong tương lai.
Bên cạnh đó, với đặc điểm là các bên liên quan tự dàn xếp, thỏa thuận thì phương
thức này không bị ràng buộc pháp lý có tính chất khuyến khích các bên tự thực hiện.
Nhược điểm
Nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng đó là
thương lượng thành công hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết và thái độ thiện
chí, hợp tác của các bên tranh chấp.
Khi một hoặc các bên tranh chấp thiếu sự hiểu biết về lĩnh vực và vấn đề đang tranh
chấp, không nhận thức được vị thế của mình về khả năng thắng thua nếu phải theo đuổi
vụ kiện tại cơ quan tài phán hoặc không có thái độ nỗ lực hợp tác, thiếu sự thiện chí trung
thực trong quá trình thương lượng thì khả năng thành công là rất mong manh, kết quả
13
thương lượng thường bế tắc. Ngoài ra, kết quả thương lượng lại không được đảm bảo
bằng cơ chế pháp lý mang tính bắt buộc.
Do đó, dù các bên có đạt được thỏa thuận để giải quyết vụ tranh chấp thì việc thực
thi kết quả thương lượng vẫn phụ thuộc vào sự tự nguyện của bên phải thi hành. Nếu một
bên không tự nguyện thi hành thì kết quả thương lượng cũng chỉ tồn tại trên giấy mà
không có một cơ chế pháp lý trực tiếp nào bắt buộc thi hành đối với kết quả thương lượng
của các bên.
Mặt khác, pháp luật điều chỉnh giai đoạn thương lượng này chưa rõ, hiệu lực của
thỏa thuận đôi bên có hiệu lực đến đâu, chế tài ra sao đối với một bên không chấp hành
thỏa thuận lúc thương lượng, thương lượng này có được Tòa án công nhận hay không…
cần phải làm đầy đủ các quy định như thế thì hình thức thương lượng mới có tác dụng,
hiệu quả.
Ngoài ra, do các đặc điểm của phương thức này nên thương lượng thường chỉ được
sử dụng để giải quyết các tranh chấp nhỏ, không có mâu thuẫn quá lớn.
Những hạn chế trên của thương lượng dễ bị lạm dụng trong thực tiễn giải quyết
tranh chấp thương mại. Nhiều trường hợp vì thiếu sự thiện chí, hợp tác trong quá trình
giải quyết vụ tranh chấp mà một bên đã tìm mọi cách trì hoãn quá trình thương lượng
nhằm kéo dài vụ tranh chấp, nhất là khi thời hiệu khởi kiện không còn nhiều.
1.2 Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải
Hòa giải: Là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ 3 làm
trung gian hoà giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp
nhằm loại trừ tranh chấp phát sinh.
Đặc điểm của hòa giải:
Phương thức hòa giải khác thương lượng ở chỗ có sự tham gia của nhân tố trung
gian.
Người trung gian này không có vai trò quyết định trong việc giải quyết tranh chấp
mà chỉ là người hỗ trợ, giúp đỡ cho các bên trong việc tìm ra giải pháp tốt nhất để
giải quyết tranh chấp, còn việc giải quyết tranh chấp vẫn là do các bên quyết định.
Hoà giải viên đương nhiên phải là người không có quyền lợi liên quan đến vụ
tranh chấp và phải hoàn toàn trung lập. Tính trung lập của hoà giải viên tạo nên sự
tin cậy của các bên tranh chấp khi yêu cầu hoà giải bất đồng của mình.
Hòa giải cũng không chịu sự chi phối của bất kỳ một thủ tục tố tụng pháp lý nào
mà do các bên tranh chấp tự quyết định. Kết quả của quá trình hòa giải thành cũng
chỉ là sự thỏa thuận của các bên có tranh chấp và việc thực hiện thỏa thuận này
cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên mà không có bất kỳ một
quyết định pháp lý nào.
14
Ưu điểm
Ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải giống như hình thức
thương lượng bởi tính đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, sự linh hoạt, hiệu quả và ít tốn
kém. Đây là hình thức giải quyết tranh chấp rất có hiệu quả, được giới kinh doanh ưa
chuộng, giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp thương mại ở các quốc gia
khác.
Bên cạnh những ưu điểm chung, hòa giải còn có ưu điểm vượt trội được mang lại
bở sự tham gia của người thứ ba trong quá trình giải quyết tranh chấp mà bản thân
phương thức thương lượng không thể có được. Người thứ ba được các bên chọn làm
trung gian hòa giải thường là người có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm, am hiểu
lĩnh vực và vấn đề đang tranh chấp. Khi hiểu rõ được nguyên nhân, hoàn cảnh phát sinh
mâu thuẫn cũng như quan điểm, nhận thức của mỗi bên, họ sẽ biết cách làm cho ý chí các
bên dễ gặp nhau trong quá trình đàm phán để loại trừ tranh chấp. Vì vậy, trong những
trường hợp kinh nghiệm và sự hiểu biết của các bên tranh chấp còn nhiều hạn chế, giải
quyết tranh chấp bằng thương lượng sẽ khó có khả năng đạt kết quả nhưng khi có sự can
thiệp của người thứ ba làm trung gian hòa giải thì cơ hội thành công sẽ đạt cao hơn.
Ngoài ra, kết quả hòa giải được ghi nhận và chứng kiến bởi người thứ ba nên mức
độ tôn trọng và tự nguyện tuân thủ các cam kết đã đạt được trong quá trình hòa giải giữa
các bên cũng cao hơn so với phương thức thương lượng.
Nhược điểm
Hạn chế của hòa giải là dù có sự trợ giúp của người thứ ba làm trung gian mà môzt
bên không trung thực, thiếu sự thiê zn chí, hợp tác trong quá trình đàm phán thì hòa giải
cũng khó có thể đạt được kết quả mong đợi. Ngoài ra, chính phải sử dụng đến bên trung
gian nên uy tín, bí mâ zt kinh doanh cũng dễ bị ảnh hưởng hơn quá trình thương lượng.
Bên cạnh đó, chi phí cho quá trình giải quyết bằng hòa giải cũng tốn kém hơn do phải trả
phí cho bên trung gian.
Bên cạnh đó, thời điểm hiện nay, chúng ta vẫn chưa có những văn bản pháp luật
điều chỉnh vấn đề này như vai trò, trách nhiệm của người trung gian hòa giải, thủ tục,
hình thức hòa giải, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hòa giải, hiệu lực của thỏa
thuận khi hòa giải… chính vì thiếu những cơ sở pháp lý của hình thức này, nên trung gian
hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại vẫn còn tùy thuộc lớn vào thiện chí đôi
bên tranh chấp. Và thực tế cho thấy, kết quả hòa giải chủ yếu phụ thuộc vào hai yếu tố:
15
Thiện chí giữa các bên tham gia tranh chấp, nhằm mềm hóa các xung đột với
mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác, làm ăn lâu dài.
Uy tín, kinh nghiệm và kỹ năng của người đứng ra làm trung gian hòa giải.
1.3 Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Khái niệm:
Trọng tài phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán phi chính phủ
do các đương sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp thương mại.
Ưu điểm
oTrọng tài tôn trọng ý chí thỏa thuâ z n của hai bên tranh chấp:
Theo quy định tại điều 38 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 thì trọng tài phải
tôn trọng thỏa thuận của các bên về địa điểm giải quyết tranh chấp, địa điểm tiến hành
phiên họp. Đồng thời Trọng tài cũng phải tôn trọng thỏa thuận của các bên về thời hạn tố
tụng trừ trường hợp quy tắc của trung tâm trọng tài quy định. Việc trọng tài tiến hành
thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các n thể dẫn đến hậu
quả phán quyết trọng tài bị hủy được qui định tại điểm b khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài
Thương mại năm 2010, trừ trường hợp bên đó mất quyền phản đối theo quy định tại Điều
13 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010.
Các bên quyền thỏa thuận chọn tổ chức trọng tài, địa điểm, tiếng dùng trong
xét xử luật áp dụng . Trong khi toà án Việt Nam chỉ thể xét xử theo tiếng Việt
luật Việt Nam.
oTh tc nhanh chng, linh hot
Trong thủ tục trọng tài, tính mềm dẻo, linh hoạt thể hiện rất rõ ở mỗi giai đoạn, thể
hiện tính thuận tiện, dễ dàng tiến hành theo ý chí của các bên tranh chấp. dụ như: khi
đơn khởi kiện được nhận, các bên tranh chấp đều quyền lựa chọn Trọng tài viên theo
sự tín nhiệm của mình, lựa chọn hoặc thỏa thuận địa điểm giải quyết, đây là ưu điểm linh
hoạt hơn trong phương thức trọng tài với Tòa án. Ngoài ra, Trọng tài Thương mại còn
khác phương thức Tòa án về mặt điều kiện khởi kiện hoặc trong nguyên tắc xét xử tập
thể của Tòa án.
oBảo mâ z t thông tin
Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 thì giải
quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên
thỏa thuận khác. Như zy, tất cả mật thông tin của các bên được giữ kín trong cả
quá trình giải quyết, ngay cả khi có phán quyết cuối cùng cũng không được công khai nếu
như không có yêu cầu của các bên.
16
Đây được xem một ưu điểm lớn của phương thức Trọng tài, góp phần đáp ứng
như mong muốn của các nhà kinh doanh khi muốn giữ mật thông tin hoặc uy tín của
doanh nghiệp mình. Cơ quan trọng tài trung lâ zp, chuyên môn trọng tài viên cao
oPhán quyết của trọng tài được công nhâ z n, thi hành phán quyết trọng tài:
Phán quyết của trọng tài Thương mại chung thẩm hiệu lực thi hành
ngay được quy định tại khoản 5 Điều 61 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010. vậy,
vụ việc đã được trọng tài giải quyết thì không bị xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án. Thủ tục thi hành phán quyết Trọng tài được thực hiện theo
qui định pháp luật về thi hành án Dân sự. Trong đó, trong vòng 05 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được yêu cầu của bên được thi hành án, quan thi hành án Dân sự phải ra
quyết định thi hành án phân công chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định đó . Sau
khi nhận được thông báo về quyết định thi hành án, người phải thi hành án có 15 ngày để
tự nguyện thi hành án, nếu không sẽ bị cưỡng chế theo qui định của pháp luật về thi hành
án dân sự.
Nhược điểm:
Vì đẩy cao tính hợp tác và tự hòa giải của các bên nên kết quả của cuộc giải quyết
phụ thuộc vào thái độ; thiện chí của các bên tranh chấp. Nếu các bên quá cứng nhắc thì
rất khó để làm việc và dẫn đến đưa ra Tòa để giải quyết.
Đa phần doanh nghiệp hiện nay chưa thực sự quan tâm đến việc sẽ giải quyết các
tranh chấp phát sinh bằng hình thức trọng tài.
Khi có quyết định trọng tài, việc thực thi quyết định lại phụ thuộc vào thiện chí
sự hợp tác của các bên vì tính cưỡng chế ở đây kém.
Trọng tài thể gặp khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp; đặc biệt
những tranh chấp phức tạp; về những vấn đề như: xác minh thu thập chứng cứ, triệu tập
nhân chứng… Do trọng tài không có bộ máy giúp việc và có cơ quan thi hành; cưỡng chế
như Tòa án nên rất nhiều trường hợp; Trọng tài khó lấy được thông tin nhân nếu
như bên đó không hợp tác.
Ngoài ra, phán quyết của trọng tài có thể bị yêu cầu tòa án xem xét lại. Phán quyết
trọng tài thể bị hủy khi đơn yêu cầu của một bên. Đây chính do lớn nhất cho
việc giải quyết bằng trọng tài ít được lựa chọn để giải quyết các tranh chấp.
1.4 Giải quyết tranh chấp bằng tòa án
Khái niệm:
Tòa án phương thức giải quyết tranh chấp tại quan xét xử nhân danh quyền
lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ bản án hay
quyết định của tòa án về vụ tranh chấp nếu không sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm
bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.
17
Ưu điểm:
Trước hết kể đến toà án cơ quan nhân danh nhà nước để giải quyết tranh chấp,
do đó phán quyết của toà án được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà
nước. quan thi hành án một quan chuyên trách đầy đủ bộ máy, phương
tiện để thi hành các bản án đã hiệu lực pháp luật. Nếu không chấp hành sẽ bị cưỡng
chế nên khi đã đưa ra tòa án thì quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo nếu như
bên thua kiện tài sản để thi hành án. Đă zc điểm này được thể coi yếu tố hấp dẫn
nhất khiến các bên tranh chấp thường tìm đến phương thức giải quyết tranh chấp tại toà
án.
zt khác, khi giải quyết tranh chấp tại toà án, trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ và
việc giải quyết thể qua nhiều cấp xét xử. thế, nguyên tắc nhiều cấp xét xử bảo đảm
cho quyết định của toà án được chính xác, công bằng, khách quan và đúng với pháp luật.
Các tòa án, đại diện cho chủ quyền quốc gia, điều kiện tốt hơn các trọng tài
viên trong việc tiến hành điều tra, có quyền cưỡng chế, triệu tập bên thứ ba đến tòa.
Ngoài ra, thẩm quyền giải quyết của toà án được mở rộng đến tất cả các ngành
kinh tế nên khi xảy ra tranh chấp, người ta thường nghĩ đến toà án như nơi bao quát
giải quyết mọi vấn đề.
zt ưu điểm khác với điều kiện thực tế Việt Nam hiện nay, các bên không
phải trả thù lao cho thẩm phán, ngoài ra chi phí hành chính rất hợp lý. Do đó, chi phí cho
việc giải quyết tranh chấp kinh tế tại toà án thấp hơn rất nhiều so với việc nhờ đến các tổ
chức trọng tài thương mại hay trọng tài quốc tế.
Nhược điểm:
zc dù toà án là cơ quan tài phán có sức mạnh cưỡng chế giúp đôi bên có thể giải
quyết tranh chấp một cách triệt để, nhưng phương thức giải quyết tranh chấp này cũng
bộc lộ ra nhiều hạn chế:
Thủ tục tố tụng tại tòa án thiếu linh hoạt do đã được pháp luật quy định trước đó.
Trước hết, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trong hoạt động
kinh doanh bằng toà án, các bên phải nắm rõ đươc bản chất, vì việc giải quyết tranh chấp
của toà án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định mang tính hình thức của pháp luật tố
tụng. Khả năng tác động của các bên trong quá trình tố tụng rất hạn chế, đôi lúc nó không
thể hiện được hết nguyện vọng của các bên tranh chấp. Điều này đôi khi có thể gây trở
ngại cho các bên tranh chấp vì tính chất của hoạt động kinh doanh, thương mại đòi hỏi
mọi thủ tục phải rất linh hoạt và mềm dẻo.
Nguyên tắc xét xử công khai tại tòa án không phù hợp với tính chất của hoạt động
kinh doanh và tâm lý của giới doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ bản chất của hoạt
động xét xử là bảo vệ pháp chế và duy trì công lý đã được pháp luật quy định, xã hội thừa
nhận, đồng thời hoạt động xét xử công khai của toà án còn có tác dụng răn đe, cảnh cáo
những hành vi vi phạm pháp luật. Trong một số trường hợp, để giữ bí mật nhà nước hoặc
18
bí mật nghề nghiệp theo yêu cầu chính đáng của đương sự, tòa án có thể xử kín nhưng
phải tuyên án công khai, nhưng các doanh nghiệp làm ăn trên thương trường đều không
muốn mang dấu đen phải ra tòa để giải quyết tranh chấp, nó có thể ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh của họ, cho nên khuyết điểm này có thể coi là lớn nhất.
zt điểm bất câ zp trên thực tế là mặc dù nguyên tắc xét xử nhiều cấp đảm bảo cho
quyết định của toà án là chính xác, công bằng nhưng nguyên tắc này cũng sẽ khiến cho
vụ việc có thể bị kéo dài, bản án xét xử xong chưa được thi hành ngay mà các bên có
quyền kháng cáo khiếu nại nên thời gian kéo dài, quá trình tố tụng có thể bị trì hoãn và
kéo dài, có thể phải xử đi xử lại nhiều lần gây bất lợi cho đương sự, nhất là những tranh
chấp kinh tế có giá trị lớn đòi hỏi phải giải quyết nhanh chóng, dứt điểm. Việc dây dưa,
kéo dài vụ việc sẽ gây căng thẳng tâm lý, làm mất thời giờ, tiền bạc của doanh nghiệp và
có khi phải bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh một cách đáng tiếc.
Đối với các tranh chấp hợp đồng trong hoạt động kinh doanh có yếu tố nước ngoài
thì phán quyết của tòa án thường khó đạt được sự công nhận quốc tế. Phán quyết của tòa
án được công nhận tại một nước khác thường thông qua hiệp định song phương hoặc theo
nguyên tắc rất nghiêm ngặt. Mặc dù thẩm phán quốc gia có thể khách quan, họ vẫn phải
buộc sử dụng ngôn ngữ và áp dụng quy tắc tố tụng của quốc gia họ và thường cùng quốc
tịch với một bên.
Phần 2: Bài tập tình huống
ĐỀ BÀI
Công ty TNHH Sơn Trà, trụ stại Quận Cầu Giấy, TP. Nội, chức năng sản
xuất kinh doanh vật liệu xây dựng. Công ty Cổ phần Thái Dương, trụ sở tại TP. Vinh,
tỉnh Nghệ An, chức năng kinh doanh dịch vụ xây dựng.
Ngày 03/01/2018, công ty Sơn Trà do Nguyễn Vân Trà, phó làm đại diện
ký hợp đồng bằng văn bản số 01/HĐ với cty Thái Dương do ông Thái, Phó Giám đốc cty
làm đại diện, ủy quyền của ông Dương, Giám đốc kiêm chủ tịch HĐQT. Theo hợp
đồng, cty Sơn Trà bán cho công ty Thái Dương gạch bê tông lát đường. Hợp đồng có một
số nội dung sau:
Tên hàng: Gạch bê tông lát đường
Số lượng: 300.000 viên
Thời gian giao hàng: Từ đầu tháng 2 đến hết tháng 3/2018
Thanh toán: thanh toán bằng tiền mặt sau khi bên mua kiểm tra hàng hóa trước
khi bốc hàng lên phương tiện vận chuyển của bên mua.
Phạt vi phạm hợp đồng:
- Hàng giao không đúng chất lượng: phạt 8% tổng giá trị hợp đồng
- Giao hoặc nhận hàng chậm: phạt 5% tổng giá trị số hàng giao hoặc nhận chậm
cho mỗi đợt 5 ngày giao hoặc nhận hàng chậm.
19
Giải quyết tranh chấp: nếu xảy ra tranh chấp thì hai bên sẽ giải quyết tại Trung
tâm trọng tài X.
Câu hỏi 1: Nêu những văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh hợp đồng số 01/HĐ.
Câu trả lời:
Những văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh hợp đồng số 01/HĐ là:
- Nội dung hợp đồng: Điều 398 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:
“Tùy theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về những nội dung, sau đây:
1. Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng.
2. Hợp đồng có thể có các nội dung sau đây:
a) Đối tượng của hợp đồng;
b) Số lượng, chất lượng;
c) Giá, phương thức thanh toán;
d) Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên;
e) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
g) Phương thức giải quyết tranh chấp.”
- Chế tài trong hợp đồng: Điều 292 Luật Thương Mại năm 2005 nội dung sau đây:
1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng.
2. Phạt vi phạm.
3. Buộc bồi thường thiệt hại.
4. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
5. Đình chỉ thực hiện hợp đồng.
6. Huỷ bỏ hợp đồng.
7. Các biện pháp khác do các bên thỏa thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của
pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam thành
viên và tập quán thương mại quốc tế.
- Trọng tài trong giải quyết tranh chấp:
Theo quy định của khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003:
“Trọng tài thương mại phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động
thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục do Pháp lệnh
này quy định”.
20

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BÀI THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN
“Luật kinh tế 2”
Đề tài : Phân tích những ưu điểm và hạn chế của các phương
thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại.

Và giải bài tập tình huống
GVHD: Nguyễn Thái Trường Thực hiện: Nhóm 8
Lớp học phần: 2204PLAW0322 HÀ NỘI – 2202 1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM THẢO LUẬN LẦN 1
Nhóm: 8 Lớp: 2204PLAW0322
Thời gian: 20h ngày 25/03/2022
Địa điểm: Họp online – Qua zoom
Thành phần: Toàn bộ thành viên nhóm 8 Có mặt: 10/10
Vắng mặt: 0 Trong đó: Vắng có phép: 0 Vắng không phép: 0
Nội dung cuộc họp:
Phân công nhiệm vụ các thành viên tìm kiếm tài liệu tham khảo, lên ý tưởng về
nội dung bài thảo luận và lập dàn ý bài thảo luận.
Cuộc họp kết thúc vào lúc 21 giờ 45 phút cùng ngày. Nhóm trưởng (Ký, ghi rõ họ và tên) Thảo Khuất Thị Thảo 2
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM THẢO LUẬN LẦN 2
Nhóm: 8 Lớp: 2204PLAW0322
Thời gian: 20h ngày 30/03/2022
Địa điểm: Họp online – Qua zoom
Thành phần: Toàn bộ thành viên nhóm 8 Có mặt: 10/10 Vắng mặt: 0 Trong đó: Vắng có phép: 0 Vắng không phép: 0
Nội dung cuộc họp:
Nhóm trưởng phân chia nhiệm vụ triển khai làm bài thảo luận cho từng thành viên,
đưa ra yêu cầu cụ thể về nội dung cần đạt được và số trang ở mỗi mục. Các thành viên xác nhận nhiệm vụ.
Cuộc họp kết thúc vào lúc 21 giờ 30 cùng ngày. Nhóm trưởng (Ký, ghi rõ họ và tên) Thảo 3 Khuất Thị Thảo MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................5
Chương 1: Cơ sở lý thuyết....................................................................................5
1.1 Khái quát chung về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa. 5
1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa, đặc điểm hợp đồng mua bán
hàng hóa......................................................................................................................5
1.1.2 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa..............................................6
1.1.3 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu phổ biến.............................................6
1.1.4 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng..........................................................9
1.2 Khái niệm, lý thuyết cơ bản về tranh chấp trong kinh doanh, thương
mại................................................................................................................................ 10
1.2.1 Khái niệm tranh chấp trong kinh doanh, thương mại.............................10
1.2.2 Khái niệm trọng tài thương mại.............................................................10
1.2.3 Các loại tranh chấp trong kinh doanh, thương mại................................10
Chương 2: Cơ sở thực tiễn..................................................................................10
1. Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại................................10
1.1 Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng.............................................11
1.2 Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải.......................................................13
1.3 Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài......................................................14
1.4 Giải quyết tranh chấp bằng tòa án..........................................................16
Phần 2: Bài tập tình huống.................................................................................17
Câu hỏi 1: Nêu những văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh hợp đồng số 4
01/HĐ........................................................................................................................... 18
Câu hỏi 2. Yêu cầu của cty Thái Dương có căn cứ hợp pháp để được chấp
nhận không? tại sao?..................................................................................................19
Câu hỏi 3: Hợp đồng số 01/HĐ có vô hiệu do người ký không đúng thẩm
quyền hay không? tại sao?.........................................................................................21
Câu hỏi 4. Yêu cầu giao hàng vào ngày 07/02/2018 của cty Sơn Trà có căn
cứ hợp pháp hay không? tại sao?..............................................................................22
Câu hỏi 5: Yêu cầu của các bên có căn cứ hợp pháp để được chấp nhận hay
không? tại sao?............................................................................................................22
Câu hỏi 6: Yêu cầu đòi tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại của cty Sơn
Trà có căn cứ hợp pháp để được chấp nhận hay không? tại sao?..........................22
Câu hỏi 7: Toà án nhân dân thành phố Hà Nội có quyền giải quyết tranh
chấp giữa 2 công ty hay không? Giải thích tại sao? (Biết rằng ngày 14/02/2018,
Trung tâm trọng tài X đã tuyên bố giải thể).............................................................23
KẾT LUẬN..........................................................................................................23
BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN....................................................................24 5 LỜI MỞ ĐẦU
Phần 1: Bài tập lý thuyết
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
1.1 Khái quát chung về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa, đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa Khái niệm
Hợp đồng mua bán hàng hoá có bản chất chung của hợp đồng, là sự thỏa thuận
nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán.
Luật thương mại năm 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa song
có thể xác định bản chất pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại trên
cơ sở quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng mua bán tài sản. Từ đó cho thấy hợp đồng
mua bán hàng hoá trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản.
Một hợp đồng mua bán có thể là thỏa thuận về việc mua bán hàng hoá ở hiện tại hoặc
mua bán hàng hoá sẽ có ở một thời điểm nào đó trong tương lai. Bất cứ khi nào, một
người mua hàng hoá bằng tiền hoặc phương thức thanh toán khác và nhận quyền sở hữu
hàng hoá thì khi đó hình thành nên quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá. Đặc điểm
Thứ nhất, về chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hoá được thiết lập giữa các chủ thể
chủ yếu là thương nhân. Theo quy định của Luật thương mại năm 2005, thương nhân bao
gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách
độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Thương nhân là chủ thể của hợp đồng
mua bán có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài (trong hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế). Ngoài chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không
phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá. Hoạt
động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận
trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá phải tuân theo Luật thương mại khi chủ thể
này lựa chọn áp dụng Luật thương mại. Quy định này của Luật thương mại năm 2005
phù hợp với học thuyết pháp lý về áp dụng pháp luật thương mại đối với các giao dịch hỗn hợp
Thứ hai, về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hoá có thể được thiết lập theo cách
thức nào mà hai bên thể hiện được sự thỏa thuận mua bán hàng hoá giữa các bên. Hợp
đồng mua bán có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành
vi cụ thể của các bên giao kết. Trong những trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc các
bên phải thiết lập hợp đồng mua bán bằng hình thức văn bản. Điều 24 Luật thương mại 6
năm 2005 cũng quy định: "Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng
văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng
hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó".
Thứ ba, về đối tượng, hợp đồng mua bán hàng hoá có đối • tượng là hàng hoá.
Hiểu theo nghĩa thông thường, hàng hoá là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra
nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của con người. Khái niệm hàng hoá được ghi nhận
trong luật pháp các quốc gia trên thế giới hiện nay, mặc dù có những khác biệt nhất định
xxong đều có xu hướng mở rộng các đối tượng là hàng hoá được phép lưu thông thương
mại. Cùng với sự phát triển của xã hội, hàng hoá ngày càng phong phú và đa dạng. Dựa
vào tính chất pháp lí, hàng hóa được chia thành nhiều loại khác nhau như bất động sản,
động sản, tài hữu hình, tài sản vô hình hoặc các quyền về tài sản…
Thứ tư, về nội dung, hợp đồng mua bán hàng hoá thể hiện quyền và nghĩa vụ của
các bên trong quan hệ mua bán, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở
hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền; còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hoá và trả
tiền cho bên bán. Hành vi mua bán của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá có tính
chất hành vi thương mại. Mục đích thông thường của các bên mua bán là lợi nhuận.
1.1.2 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa là điều khoản do các bên thỏa thuận,
thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng.
Việc pháp luật quy định nội dung của hợp đồng mua bán, có ý nghĩa hướng các
bên tập trung vào thỏa thuận những nội dung quan trọng của hợp đồng, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc thực hiện đồng thời phòng ngừa những tranh chấp xảy ra trong quá
trình thực hiện hợp đồng. Luật thương mại năm 2005 không quy định bắt buộc các bên
phải thỏa thuận những nội dung cụ thể nào trong hợp đồng mua bán hàng hoá. Mặc dù
các nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hoá có thể xác định được dựa trên
những quy định mang tính "khuyến nghị", "định hướng của pháp luật, thói quen và tập
quán thương mại nhưng trong điều kiện nhận thức của nhà kinh doanh còn nhiều hạn chế
thì điều này tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến những rủi ro pháp lí, những tranh chấp trong hoạt động mua bán hàng hoá.
1.1.3 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu phổ biến
Hợp đồng vô hiệu khi vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
Hợp đồng có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì
bị vô hiệu. Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực
hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong
đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. 7
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này là không bị hạn chế.
Hợp đồng vô hiệu do giả tạo
Giao dịch dân sự giả tạo được hiểu là: Khi các bên xác lập hợp đồng một cách giả
tạo nhằm che giấu một hợp đồng khác thì hợp đồng đó là giả tạo và bị tuyên vô hiệu, còn
hợp đồng bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp hợp đồng đó cũng bị vô hiệu theo
quy định của Bộ luật dân sự hoặc luật khác có liên quan.
Lưu ý: Trường hợp xác lập hợp đồng giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ
ba thì hợp đồng đó cũng bị tuyên là vô hiệu.
Như vậy, có hai trường hợp hợp đồng bị coi là giả tạo khi hợp đồng xác lập nhằm
mục đích che giấu một hợp đồng khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này là không bị hạn chế.
Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự xác lập, thực hiện

Trường hợp này hợp đồng vô hiệu do vi phạm về chủ thể tham gia hợp đồng, cụ
thể, các chủ thể được liệt kê ở trên không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ phù hợp theo
hợp đồng được ký kết.
Khi hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án
tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật hợp đồng này phải do
người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp:
oHợp đồng của người chưa đủ 06 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm
đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
oHợp đồng chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người thành
niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập,
thực hiện hợp đồng với họ;
oGiao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã
thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này là 02
năm, kể từ ngày người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện hợp đồng; 8
Hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn
Hợp đồng bị nhầm lẫn là trường hợp hợp đồng đó được xác lập khi có sự nhầm lẫn
làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập hợp đồng.
Khi phát hiện hợp đồng bị nhầm lẫn thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án
tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu trừ trường hợp: Mục đích xác lập hợp đồng của các bên đã
đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của
việc xác lập hợp đồng vẫn đạt được.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này là 02
năm, kể từ ngày người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết hợp đồng được xác lập
do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;
Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Khi một bên tham gia hợp đồng do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có
quyền yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng đó là vô hiệu.
Lừa dối trong hợp đồng là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm
làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao
dịch dân sự nên đã xác lập hợp đồng đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong hợp đồng là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba
làm cho bên kia buộc phải thực hiện hợp đồng nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức
khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.
Trường hợp hợp đồng vô hiệu này là vi phạm điều kiện chủ thể tham gia hợp đồng
phải hoàn toàn tự nguyện.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này là 02
năm, kể từ ngày người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép.
Hợp đồng vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập hợp đồng vào đúng thời điểm
không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên
bố hợp đồng đó là vô hiệu.
Khi yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì người yêu cầu phải chứng minh
và có chứng cứ chứng minh thời gian xác lập hợp đồng vào đúng thời điểm không nhận
thức được hành vi của mình.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này là 02
năm, kể từ ngày người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập hợp đồng.
Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức 9
Hợp đồng vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
– Hợp đồng đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản
không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba
nghĩa vụ trong hợp đồng thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định
công nhận hiệu lực của hợp đồng đó.
– Hợp đồng đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về
công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa
vụ trong hợp đồng thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công
nhận hiệu lực của hợp đồng đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc
công chứng, chứng thực nữa.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này là 02
năm, kể từ ngày hợp đồng được xác lập trong trường hợp hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức.
1.1.4 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
a. Khái niệm và vai trò của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá
Khi một hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập có hiệu lực pháp luật, các bên
có nghĩa vụ phải thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận. Việc vi phạm các nghĩa vụ theo
hợp đồng mua bán (không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ) sẽ
dẫn đến bên vi phạm phải chịu những chế tài do pháp luật quy định. Về bản chất, trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán là dạng cụ thể của trách nhiệm pháp lí phát sinh
trong lĩnh vực mua bán hàng hoá.
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá có những đặc điểm cơ bản
là: (i) Được áp dụng trên cơ sở hành vi vi phạm hợp đồng mua bán có hiệu lực pháp luật;
(ii) Nội dung gắn liền với việc thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc trách nhiệm về
tài sản; (iii) Do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng hoặc do bên bị vi phạm áp dụng trên cơ sở pháp luật.
b. Căn cứ áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá
Có hành vi vi phạm hợp đồng
Có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra
Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế
Có lỗi của bên vi phạm
c. Các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá
Buộc thực hiện đúng hợp đồng 10 Phạt hợp đồng
Bồi thường thiệt hại
Tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng
d. Miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá
Miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán là việc bên vi phạm nghĩa vụ
theo hợp đồng mua bán không phải chịu các hình thức chế tài. Các bên trong hợp đồng
mua bán có quyền thỏa thuận về giới hạn trách nhiệm và miễn trách nhiệm hợp đồng
trong những trường hợp cụ thể do các bên dự liệu khi giao kết hợp đồng. Ngoài ra, việc
miễn trách nhiệm hợp đồng còn được áp dụng theo các trường hợp khác do pháp luật quy
định. Theo luật thương mại (Điều 294), ngoài các trường hợp miễn trách nhiệm mà các
bên đã thoả thuận, bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mua bán còn được miễn trách nhiệm
khi: (i) Xảy ra sự kiện bất khả kháng; (ii) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi
của bên kia; (iii) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.
1.2 Khái niệm, lý thuyết cơ bản về tranh chấp trong kinh doanh, thương mại
1.2.1 Khái niệm tranh chấp trong kinh doanh, thương mại
- Hiện nay, pháp luật không quy định khái niệm tranh chấp hợp đồng,tuy nhiên từ
các tranh chấp trên thực tế thì tranh chấp hợp đồng được hiểu là sự mâu thuẫn, bất đồng ý
kiến của các bên trong quan hệ hợp đồng với nhau liên quan đến việc thực hiện hay
không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.
1.2.2 Khái niệm trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại theo khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010 được
định nghĩa là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận. Việc tiến hành
giải quyết tranh chấp phải tuân thủ theo quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010.
Các tranh chấp ở đây là tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh
chấp phát sinh giữa các bên trong đó có ít nhất một bên có hoạt động thương mại hoặc
tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.
1.2.3 Các loại tranh chấp trong kinh doanh, thương mại
Dựa trên những căn cứ pháp lý khác nhau, tranh chấp thương mại được chia thành các loại tranh chấp sau:
- Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ: Tranh chấp thương mại bao gồm tranh chấp
thương mại trong nước và tranh chấp thương mại quốc tế. 11
- Căn cứ vào số lượng các bên tranh chấp: tranh chấp thương mại bao gồm tranh
chấp thương mại hai bên và tranh chấp thương mại nhiều bên.
- Căn cứ vào lĩnh vực tranh chấp: tranh chấp thương mại gồm tranh chấp liên quan
đến hợp đồng, tranh chấp về sở hữu trí tuệ, đầu tư, tài chính...
- Căn cứ vào quá trình thực hiện: tranh chấp thương mại bao gồm các tranh chấp
trong quá trình đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng và tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng.
- Căn cứ vào thời điểm phát sinh tranh chấp: tranh chấp thương mại bao gồm:
tranh chấp thương mại hiện tại và tranh chấp thương mại trong tương lai.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn
1. Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
1.1 Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng

Thương lượng: là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh
chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh
chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào.
Đặc điểm của thương lượng:
Thứ nhất, phương thức giải quyết tranh chấp này được thực hiện bởi cơ chế giải
quyết nội bộ (cơ chế tự giải quyết) thông qua việc các bên tranh chấp gặp nhau bàn bạc,
thỏa thuận để tự giải quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của
bên thứ ba để trợ giúp hay ra phán quyết. Điều kiện để thương lượng một tranh chấp
thương mại, trước hết phải xem xét thỏa mãn: có tranh chấp thương mại xảy ra, các bên
mong muốn loại bỏ mâu thuẫn, khắc phục tổn thất, tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác và các
bên đều có tinh thần thiện chí, nhân nhượng, tôn trọng và giữ gìn uy tín cho nhau.
Thứ hai, quá trình thương lượng giữa các bên cũng không chịu sự ràng buộc của
bất kì nguyên tắc pháp lý hay những quy định mang tính khuôn mẫu nào của pháp luật về
thủ tục giải quyết tranh chấp. Pháp luật của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận
thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại (Điều 14 luật đầu tư
năm 2020, luật đầu tư năm 2020, Điều 317 Luật Thương mại năm 2005) mà không có bất
kì quy định nào chi phối đến cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng.
Thứ ba, việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện
của mỗi bên tranh chấp mà không có bất kì cơ chế pháp lý nào bảo đảm việc thực thi đối
với thỏa thuận của các bên trong quá trình thương lượng. Giải quyết tranh chấp thương
mại bằng phương thức thương lượng là sự thể hiện quyền tự do thỏa thuận, tự do định
đoạt của các bên tranh chấp. Các bên tự đề xuất các giải pháp và thỏa hiệp với nhau theo
trình tự, thủ tục tự chọn để giải quyết các bất đồng phát sinh mà không có sự tham gia
hay can thiệp của bất kì cơ quan nhà nước nào. Việc thương lượng có thể được thực hiện 12
bằng nhiều cách thức như: thương lượng trực tiếp, thương lượng gián tiếp và kết hợp cả
hai cách thức trên. Mỗi một cách thức thương lượng có tính ưu việt và hạn chế nhất định.  Ưu điểm
Đây là hình thức ra đời rất sớm và thường được các thương nhân lựa chọn vì những mặt ưu điểm của nó.
Ưu điểm nổi bật của phương thức thương lượng trong giải quyết tranh chấp nói
chung là sự thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, tính linh hoạt, hiệu quả và ít tốn kém,
không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp. Những đặc tính trên xuất hiện là do
số lượng ở việc các bên tham gia quá trình thương lượng thường không nhiều, do đó việc
thực hiện các bước từ sắp xếp thời gian gặp mặt cho đến bước cuối là đạt được thỏa thuận
cuối cùng sẽ dễ dàng, linh hoạt hơn. Ngoài ra, tính chất ít tốn kém là do các bên khi thực
hiện phương pháp giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, các bên không cần đến sự trợ giúp
của bên thứ 3, cũng như tòa án trong toàn bộ quá trình.
Mặt khác, phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng còn bảo vệ được
uy tín cho các bên tranh chấp cũng như bí mật trong kinh doanh của các nhà kinh doanh.
Các nhà kinh doanh hơn ai biết bảo vệ quyền lợi của mình, hiểu rõ những bất đồng và
nguyên nhân phát sinh tranh chấp nên quá trình đàm phán, thỏa thuận dễ hiểu và cảm
thông với nhau hơn để có thể thỏa thuận được các giải pháp tối ưu theo đúng nguyện
vọng của mỗi bên mà không phải cơ quan tài phán nào cũng có thể làm được. Bởi vậy,
nếu thương lượng thành công không những các bên loại bỏ được những bất đồng đã phát
sinh mà mức độ phương hại đến mối quan hệ kinh doanh giữa các bên cũng thấp, tăng
cường sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau trong tương lai.
Bên cạnh đó, với đặc điểm là các bên liên quan tự dàn xếp, thỏa thuận thì phương
thức này không bị ràng buộc pháp lý có tính chất khuyến khích các bên tự thực hiện.  Nhược điểm
Nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng đó là
thương lượng thành công hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết và thái độ thiện
chí, hợp tác của các bên tranh chấp.
Khi một hoặc các bên tranh chấp thiếu sự hiểu biết về lĩnh vực và vấn đề đang tranh
chấp, không nhận thức được vị thế của mình về khả năng thắng thua nếu phải theo đuổi
vụ kiện tại cơ quan tài phán hoặc không có thái độ nỗ lực hợp tác, thiếu sự thiện chí trung
thực trong quá trình thương lượng thì khả năng thành công là rất mong manh, kết quả 13
thương lượng thường bế tắc. Ngoài ra, kết quả thương lượng lại không được đảm bảo
bằng cơ chế pháp lý mang tính bắt buộc.
Do đó, dù các bên có đạt được thỏa thuận để giải quyết vụ tranh chấp thì việc thực
thi kết quả thương lượng vẫn phụ thuộc vào sự tự nguyện của bên phải thi hành. Nếu một
bên không tự nguyện thi hành thì kết quả thương lượng cũng chỉ tồn tại trên giấy mà
không có một cơ chế pháp lý trực tiếp nào bắt buộc thi hành đối với kết quả thương lượng của các bên.
Mặt khác, pháp luật điều chỉnh giai đoạn thương lượng này chưa rõ, hiệu lực của
thỏa thuận đôi bên có hiệu lực đến đâu, chế tài ra sao đối với một bên không chấp hành
thỏa thuận lúc thương lượng, thương lượng này có được Tòa án công nhận hay không…
cần phải làm đầy đủ các quy định như thế thì hình thức thương lượng mới có tác dụng, hiệu quả.
Ngoài ra, do các đặc điểm của phương thức này nên thương lượng thường chỉ được
sử dụng để giải quyết các tranh chấp nhỏ, không có mâu thuẫn quá lớn.
Những hạn chế trên của thương lượng dễ bị lạm dụng trong thực tiễn giải quyết
tranh chấp thương mại. Nhiều trường hợp vì thiếu sự thiện chí, hợp tác trong quá trình
giải quyết vụ tranh chấp mà một bên đã tìm mọi cách trì hoãn quá trình thương lượng
nhằm kéo dài vụ tranh chấp, nhất là khi thời hiệu khởi kiện không còn nhiều.
1.2 Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải
Hòa giải: Là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ 3 làm
trung gian hoà giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp
nhằm loại trừ tranh chấp phát sinh.
Đặc điểm của hòa giải:
Phương thức hòa giải khác thương lượng ở chỗ có sự tham gia của nhân tố trung gian.
Người trung gian này không có vai trò quyết định trong việc giải quyết tranh chấp
mà chỉ là người hỗ trợ, giúp đỡ cho các bên trong việc tìm ra giải pháp tốt nhất để
giải quyết tranh chấp, còn việc giải quyết tranh chấp vẫn là do các bên quyết định.
Hoà giải viên đương nhiên phải là người không có quyền lợi liên quan đến vụ
tranh chấp và phải hoàn toàn trung lập. Tính trung lập của hoà giải viên tạo nên sự
tin cậy của các bên tranh chấp khi yêu cầu hoà giải bất đồng của mình.
Hòa giải cũng không chịu sự chi phối của bất kỳ một thủ tục tố tụng pháp lý nào
mà do các bên tranh chấp tự quyết định. Kết quả của quá trình hòa giải thành cũng
chỉ là sự thỏa thuận của các bên có tranh chấp và việc thực hiện thỏa thuận này
cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên mà không có bất kỳ một
quyết định pháp lý nào. 14  Ưu điểm
Ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải giống như hình thức
thương lượng bởi tính đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, sự linh hoạt, hiệu quả và ít tốn
kém. Đây là hình thức giải quyết tranh chấp rất có hiệu quả, được giới kinh doanh ưa
chuộng, giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp thương mại ở các quốc gia khác.
Bên cạnh những ưu điểm chung, hòa giải còn có ưu điểm vượt trội được mang lại
bở sự tham gia của người thứ ba trong quá trình giải quyết tranh chấp mà bản thân
phương thức thương lượng không thể có được. Người thứ ba được các bên chọn làm
trung gian hòa giải thường là người có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm, am hiểu
lĩnh vực và vấn đề đang tranh chấp. Khi hiểu rõ được nguyên nhân, hoàn cảnh phát sinh
mâu thuẫn cũng như quan điểm, nhận thức của mỗi bên, họ sẽ biết cách làm cho ý chí các
bên dễ gặp nhau trong quá trình đàm phán để loại trừ tranh chấp. Vì vậy, trong những
trường hợp kinh nghiệm và sự hiểu biết của các bên tranh chấp còn nhiều hạn chế, giải
quyết tranh chấp bằng thương lượng sẽ khó có khả năng đạt kết quả nhưng khi có sự can
thiệp của người thứ ba làm trung gian hòa giải thì cơ hội thành công sẽ đạt cao hơn.
Ngoài ra, kết quả hòa giải được ghi nhận và chứng kiến bởi người thứ ba nên mức
độ tôn trọng và tự nguyện tuân thủ các cam kết đã đạt được trong quá trình hòa giải giữa
các bên cũng cao hơn so với phương thức thương lượng.  Nhược điểm
Hạn chế của hòa giải là dù có sự trợ giúp của người thứ ba làm trung gian mà mô zt
bên không trung thực, thiếu sự thiê z
n chí, hợp tác trong quá trình đàm phán thì hòa giải
cũng khó có thể đạt được kết quả mong đợi. Ngoài ra, chính phải sử dụng đến bên trung gian nên uy tín, bí mâ z
t kinh doanh cũng dễ bị ảnh hưởng hơn quá trình thương lượng.
Bên cạnh đó, chi phí cho quá trình giải quyết bằng hòa giải cũng tốn kém hơn do phải trả phí cho bên trung gian.
Bên cạnh đó, thời điểm hiện nay, chúng ta vẫn chưa có những văn bản pháp luật
điều chỉnh vấn đề này như vai trò, trách nhiệm của người trung gian hòa giải, thủ tục,
hình thức hòa giải, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hòa giải, hiệu lực của thỏa
thuận khi hòa giải… chính vì thiếu những cơ sở pháp lý của hình thức này, nên trung gian
hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại vẫn còn tùy thuộc lớn vào thiện chí đôi
bên tranh chấp. Và thực tế cho thấy, kết quả hòa giải chủ yếu phụ thuộc vào hai yếu tố: 15
Thiện chí giữa các bên tham gia tranh chấp, nhằm mềm hóa các xung đột với
mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác, làm ăn lâu dài.
Uy tín, kinh nghiệm và kỹ năng của người đứng ra làm trung gian hòa giải.
1.3 Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Khái niệm:
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán phi chính phủ
do các đương sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp thương mại.  Ưu điểm
oTrọng tài tôn trọng ý chí thỏa thuâ z n của hai bên tranh chấp:
Theo quy định tại điều 38 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 thì trọng tài phải
tôn trọng thỏa thuận của các bên về địa điểm giải quyết tranh chấp, địa điểm tiến hành
phiên họp. Đồng thời Trọng tài cũng phải tôn trọng thỏa thuận của các bên về thời hạn tố
tụng trừ trường hợp quy tắc của trung tâm trọng tài có quy định. Việc trọng tài tiến hành
thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên có thể dẫn đến hậu
quả phán quyết trọng tài bị hủy được qui định tại điểm b khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài
Thương mại năm 2010, trừ trường hợp bên đó mất quyền phản đối theo quy định tại Điều
13 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010.
Các bên có quyền thỏa thuận chọn tổ chức trọng tài, địa điểm, tiếng dùng trong
xét xử và luật áp dụng . Trong khi toà án Việt Nam chỉ có thể xét xử theo tiếng Việt và luật Việt Nam.
oTh tc nhanh chng, linh hot
Trong thủ tục trọng tài, tính mềm dẻo, linh hoạt thể hiện rất rõ ở mỗi giai đoạn, thể
hiện tính thuận tiện, dễ dàng tiến hành theo ý chí của các bên tranh chấp. Ví dụ như: khi
đơn khởi kiện được nhận, các bên tranh chấp đều có quyền lựa chọn Trọng tài viên theo
sự tín nhiệm của mình, lựa chọn hoặc thỏa thuận địa điểm giải quyết, đây là ưu điểm linh
hoạt hơn trong phương thức trọng tài với Tòa án. Ngoài ra, Trọng tài Thương mại còn
khác ở phương thức Tòa án về mặt điều kiện khởi kiện hoặc trong nguyên tắc xét xử tập thể của Tòa án. oBảo mâ z t thông tin
Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 thì giải
quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên
có thỏa thuận khác. Như vâ z
y, tất cả bí mật thông tin của các bên được giữ kín trong cả
quá trình giải quyết, ngay cả khi có phán quyết cuối cùng cũng không được công khai nếu
như không có yêu cầu của các bên. 16
Đây được xem là một ưu điểm lớn của phương thức Trọng tài, góp phần đáp ứng
như mong muốn của các nhà kinh doanh khi muốn giữ bí mật thông tin hoặc uy tín của
doanh nghiệp mình. Cơ quan trọng tài trung lâ z
p, chuyên môn trọng tài viên cao
oPhán quyết của trọng tài được công nhâ z n, thi hành phán quyết trọng tài:
Phán quyết của trọng tài Thương mại là chung thẩm và có hiệu lực thi hành
ngay được quy định tại khoản 5 Điều 61 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010. vì vậy,
vụ việc đã được trọng tài giải quyết thì không bị xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án. Thủ tục thi hành phán quyết Trọng tài được thực hiện theo
qui định pháp luật về thi hành án Dân sự. Trong đó, trong vòng 05 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được yêu cầu của bên được thi hành án, cơ quan thi hành án Dân sự phải ra
quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định đó . Sau
khi nhận được thông báo về quyết định thi hành án, người phải thi hành án có 15 ngày để
tự nguyện thi hành án, nếu không sẽ bị cưỡng chế theo qui định của pháp luật về thi hành án dân sự.  Nhược điểm:
Vì đẩy cao tính hợp tác và tự hòa giải của các bên nên kết quả của cuộc giải quyết
phụ thuộc vào thái độ; thiện chí của các bên tranh chấp. Nếu các bên quá cứng nhắc thì
rất khó để làm việc và dẫn đến đưa ra Tòa để giải quyết.
Đa phần doanh nghiệp hiện nay chưa thực sự quan tâm đến việc sẽ giải quyết các
tranh chấp phát sinh bằng hình thức trọng tài.
Khi có quyết định trọng tài, việc thực thi quyết định lại phụ thuộc vào thiện chí và
sự hợp tác của các bên vì tính cưỡng chế ở đây kém.
Trọng tài có thể gặp khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp; đặc biệt là
những tranh chấp phức tạp; về những vấn đề như: xác minh thu thập chứng cứ, triệu tập
nhân chứng… Do trọng tài không có bộ máy giúp việc và có cơ quan thi hành; cưỡng chế
như Tòa án nên có rất nhiều trường hợp; Trọng tài khó lấy được thông tin cá nhân nếu
như bên đó không hợp tác.
Ngoài ra, phán quyết của trọng tài có thể bị yêu cầu tòa án xem xét lại. Phán quyết
trọng tài có thể bị hủy khi có đơn yêu cầu của một bên. Đây chính là lý do lớn nhất cho
việc giải quyết bằng trọng tài ít được lựa chọn để giải quyết các tranh chấp.
1.4 Giải quyết tranh chấp bằng tòa án Khái niệm:
Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền
lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay
quyết định của tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm
bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. 17  Ưu điểm:
Trước hết kể đến toà án là cơ quan nhân danh nhà nước để giải quyết tranh chấp,
do đó phán quyết của toà án được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà
nước. Cơ quan thi hành án là một cơ quan chuyên trách và có đầy đủ bộ máy, phương
tiện để thi hành các bản án đã có hiệu lực pháp luật. Nếu không chấp hành sẽ bị cưỡng
chế nên khi đã đưa ra tòa án thì quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo nếu như
bên thua kiện có tài sản để thi hành án. Đă z
c điểm này được có thể coi là yếu tố hấp dẫn
nhất khiến các bên tranh chấp thường tìm đến phương thức giải quyết tranh chấp tại toà án. Mă z
t khác, khi giải quyết tranh chấp tại toà án, trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ và
việc giải quyết có thể qua nhiều cấp xét xử. Vì thế, nguyên tắc nhiều cấp xét xử bảo đảm
cho quyết định của toà án được chính xác, công bằng, khách quan và đúng với pháp luật.
Các tòa án, đại diện cho chủ quyền quốc gia, có điều kiện tốt hơn các trọng tài
viên trong việc tiến hành điều tra, có quyền cưỡng chế, triệu tập bên thứ ba đến tòa.
Ngoài ra, thẩm quyền giải quyết của toà án được mở rộng đến tất cả các ngành
kinh tế nên khi xảy ra tranh chấp, người ta thường nghĩ đến toà án như là nơi bao quát
giải quyết mọi vấn đề.
Mô zt ưu điểm khác là với điều kiện thực tế ở Việt Nam hiện nay, các bên không
phải trả thù lao cho thẩm phán, ngoài ra chi phí hành chính rất hợp lý. Do đó, chi phí cho
việc giải quyết tranh chấp kinh tế tại toà án thấp hơn rất nhiều so với việc nhờ đến các tổ
chức trọng tài thương mại hay trọng tài quốc tế. 
Nhược điểm: Mă z
c dù toà án là cơ quan tài phán có sức mạnh cưỡng chế giúp đôi bên có thể giải
quyết tranh chấp một cách triệt để, nhưng phương thức giải quyết tranh chấp này cũng
bộc lộ ra nhiều hạn chế:
Thủ tục tố tụng tại tòa án thiếu linh hoạt do đã được pháp luật quy định trước đó.
Trước hết, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trong hoạt động
kinh doanh bằng toà án, các bên phải nắm rõ đươc bản chất, vì việc giải quyết tranh chấp
của toà án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định mang tính hình thức của pháp luật tố
tụng. Khả năng tác động của các bên trong quá trình tố tụng rất hạn chế, đôi lúc nó không
thể hiện được hết nguyện vọng của các bên tranh chấp. Điều này đôi khi có thể gây trở
ngại cho các bên tranh chấp vì tính chất của hoạt động kinh doanh, thương mại đòi hỏi
mọi thủ tục phải rất linh hoạt và mềm dẻo.
Nguyên tắc xét xử công khai tại tòa án không phù hợp với tính chất của hoạt động
kinh doanh và tâm lý của giới doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ bản chất của hoạt
động xét xử là bảo vệ pháp chế và duy trì công lý đã được pháp luật quy định, xã hội thừa
nhận, đồng thời hoạt động xét xử công khai của toà án còn có tác dụng răn đe, cảnh cáo
những hành vi vi phạm pháp luật. Trong một số trường hợp, để giữ bí mật nhà nước hoặc 18
bí mật nghề nghiệp theo yêu cầu chính đáng của đương sự, tòa án có thể xử kín nhưng
phải tuyên án công khai, nhưng các doanh nghiệp làm ăn trên thương trường đều không
muốn mang dấu đen phải ra tòa để giải quyết tranh chấp, nó có thể ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh của họ, cho nên khuyết điểm này có thể coi là lớn nhất. Mô zt điểm bất câ z
p trên thực tế là mặc dù nguyên tắc xét xử nhiều cấp đảm bảo cho
quyết định của toà án là chính xác, công bằng nhưng nguyên tắc này cũng sẽ khiến cho
vụ việc có thể bị kéo dài, bản án xét xử xong chưa được thi hành ngay mà các bên có
quyền kháng cáo khiếu nại nên thời gian kéo dài, quá trình tố tụng có thể bị trì hoãn và
kéo dài, có thể phải xử đi xử lại nhiều lần gây bất lợi cho đương sự, nhất là những tranh
chấp kinh tế có giá trị lớn đòi hỏi phải giải quyết nhanh chóng, dứt điểm. Việc dây dưa,
kéo dài vụ việc sẽ gây căng thẳng tâm lý, làm mất thời giờ, tiền bạc của doanh nghiệp và
có khi phải bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh một cách đáng tiếc.
Đối với các tranh chấp hợp đồng trong hoạt động kinh doanh có yếu tố nước ngoài
thì phán quyết của tòa án thường khó đạt được sự công nhận quốc tế. Phán quyết của tòa
án được công nhận tại một nước khác thường thông qua hiệp định song phương hoặc theo
nguyên tắc rất nghiêm ngặt. Mặc dù thẩm phán quốc gia có thể khách quan, họ vẫn phải
buộc sử dụng ngôn ngữ và áp dụng quy tắc tố tụng của quốc gia họ và thường cùng quốc tịch với một bên.
Phần 2: Bài tập tình huống ĐỀ BÀI
Công ty TNHH Sơn Trà, trụ sở tại Quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội, có chức năng sản
xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng. Công ty Cổ phần Thái Dương, trụ sở tại TP. Vinh,
tỉnh Nghệ An, chức năng kinh doanh dịch vụ xây dựng.
Ngày 03/01/2018, công ty Sơn Trà do bà Nguyễn Vân Trà, phó GĐ làm đại diện
ký hợp đồng bằng văn bản số 01/HĐ với cty Thái Dương do ông Thái, Phó Giám đốc cty
làm đại diện, có ủy quyền của ông Dương, Giám đốc kiêm chủ tịch HĐQT. Theo hợp
đồng, cty Sơn Trà bán cho công ty Thái Dương gạch bê tông lát đường. Hợp đồng có một số nội dung sau:
Tên hàng: Gạch bê tông lát đường Số lượng: 300.000 viên
Thời gian giao hàng: Từ đầu tháng 2 đến hết tháng 3/2018
Thanh toán: thanh toán bằng tiền mặt sau khi bên mua kiểm tra hàng hóa và trước
khi bốc hàng lên phương tiện vận chuyển của bên mua.
Phạt vi phạm hợp đồng:
- Hàng giao không đúng chất lượng: phạt 8% tổng giá trị hợp đồng
- Giao hoặc nhận hàng chậm: phạt 5% tổng giá trị số hàng giao hoặc nhận chậm
cho mỗi đợt 5 ngày giao hoặc nhận hàng chậm. 19
Giải quyết tranh chấp: nếu xảy ra tranh chấp thì hai bên sẽ giải quyết tại Trung tâm trọng tài X.
Câu hỏi 1: Nêu những văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh hợp đồng số 01/HĐ. Câu trả lời:
Những văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh hợp đồng số 01/HĐ là:
- Nội dung hợp đồng: Điều 398 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:
“Tùy theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về những nội dung, sau đây:
1. Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng.
2. Hợp đồng có thể có các nội dung sau đây:
a) Đối tượng của hợp đồng;
b) Số lượng, chất lượng;
c) Giá, phương thức thanh toán;
d) Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên;
e) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
g) Phương thức giải quyết tranh chấp.”
- Chế tài trong hợp đồng: Điều 292 Luật Thương Mại năm 2005 nội dung sau đây:
1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng. 2. Phạt vi phạm.
3. Buộc bồi thường thiệt hại.
4. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
5. Đình chỉ thực hiện hợp đồng. 6. Huỷ bỏ hợp đồng.
7. Các biện pháp khác do các bên thỏa thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của
pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên và tập quán thương mại quốc tế.
- Trọng tài trong giải quyết tranh chấp:
Theo quy định của khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003:
“Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động
thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục do Pháp lệnh này quy định”. 20