-
Thông tin
-
Quiz
Phân tích nội dung quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản | Bài tập lớn pháp luật và đạo đức báo chí truyền thông
Xuất bả là bộ ận của hoạt động văn hóa, tư tưởng thông qua việc in và phát hành xuất bản phẩm đến nhiều người, có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội nói chung, văn hóa nói riêng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Pháp luật và đạo đức báo chí - truyền thông 62 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Phân tích nội dung quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản | Bài tập lớn pháp luật và đạo đức báo chí truyền thông
Xuất bả là bộ ận của hoạt động văn hóa, tư tưởng thông qua việc in và phát hành xuất bản phẩm đến nhiều người, có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội nói chung, văn hóa nói riêng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Pháp luật và đạo đức báo chí - truyền thông 62 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH BÀI TẬP LỚN
Đề tài: Phân tích nội dung quản lý nhà nước về h ạ o t động xuất
bản. Thực tế hiện nay quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản
đang tồn tại những vấn đề gì?
Họ và tên: Vũ Thị Minh Hằng
Mã số sinh viên: 2256070013
Lớp hành chính: Báo mạng điện tử_ K42
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thùy Vân Anh Năm 2023 MỤC LỤC A.
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 3
I. Lí do chọn đề tài ................................................................................................. 3
II. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu................................................................... 4 B.
NỘI DUNG ..................................................................................................... 4
I. Các khái niệm ..................................................................................................... 4
II. Phân tích nội dung quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản. .................... 8
III. Những vấn đề đang tồn tại trong quản lý nhà nước về xuất bản thực tế
hiện nay. .............................................................................................................. 12 C.
KẾT LUẬN ................................................................................................... 24
I. Nguyên nhân dẫn đến n ữ
h ng hạn chế đang tồn tại trong quản lý nhà nước về h ạ
o t động xuất bản thực tế h ệ
i n nay. ............................................................ 24
II. Kết luận .......................................................................................................... 28 A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Xuất bản là bộ phận của hoạt động văn hóa, tư tưởng thông qua việc in
và phát hành xuất bản phẩm đến nhiều người, có vai trò đặc biệt quan trọng
trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội nói chung, văn hóa nói riêng.
Hoạt động xuất bản thuộc lĩnh vực văn hóa, tư tưởng nhằm phổ biến,
giới thiệu tri thức thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội, giá trị văn hóa dân
tộc và tỉnh hoa văn hóa nhân loại, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân
dân, nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt
Nam, mở rộng giao lưu văn hóa với các nước, phát triển kinh tế - xã hội, đấu
tranh chống mọi tư tưởng và hành vi làm tổn hại lợi ích quốc gia, góp phần vào
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ q ố
u c Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hoạt động xuất bản là quá trình tổ chức các nguồn lực xã hội trong việc
sáng tạo tác phẩm, in nhân bản các tác phẩm, phổ biến đến nhiều người nhằm
đạt hiệu quả kinh tế, chính trị và xã hội.
Về phương diện văn hóa, tư tưởng, sách và các xuất bản phẩm do h ạ o t
động xuất bản mang lại là sản phẩm tỉnh thần, là kết quả lao động sáng tạo của
con người, do con người và vì con người. Các giá trị xã hội chứa đựng trong sách thể h ệ
i n và thỏa mãn nhu cầu đa dạng, phong phú về nhiều mặt của đời
sống xã hội. Sách và các xuất bản phẩm là một bộ phận rất quan trọng phản ánh
đời sống tinh thần, vẻ đẹp văn hóa của mỗi dân tộc, ở mọi thời đại. Nội dung
chính trị - xã hội, pháp luật, văn học nghệ thuật, khoa học - công nghệ chứa
đựng trong sách là ý tưởng của tác giả và nhà xuất bản, nhằm tuyên truyền, bồi
dưỡng, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, mở
rộng giao lưu văn hóa với các nước. Giá trị cơ bản của sách nói riêng, xuất bản
phẩm nói chung là giá trị văn hóa tinh thần, do lao động tinh thần của con người
tạo ra. Do vậy, hoạt động xuất bản có vị trí rất quan trọng, là tấm gương phản
chiếu đời sống văn hóa tinh thần của xã hội, thước đo văn hóa của mỗi quốc
gia, trình độ văn minh của mỗi dân tộc; là một bộ phận của hoạt động tư tưởng
- văn hóa và là công cụ quan trọng trong quá trình phát triển xã hội. Do có khả
năng tuyên truyền, phổ b ế
i n rộng rãi các quan điểm, tư tưởng, nên trong xã hội
có giai cấp, hoạt động xuất bản luôn là phương tiện để đấu tranh giai cấp. Trong
khi giai cấp thống trị nắm và sử dụng h ạ
o t động xuất bản để bảo vệ cho lợi ích
của mình, thì giai cấp bị trị cũng sử dụng hoạt động xuất bản như một vũ khí
để đấu tranh chống lại giai cấp thống trị. Chỉ thị số 4 - 2 CT/BBT cũng chỉ rõ:
“Xuất bản là một lĩnh vực hoạt động tư tưởng sắc bén của Đảng, Nhà nước và
nhân dân, là một bộ p ậ
h n quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc...”.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, hoạt động xuất bản vẫn tiếp tục phát
huy vai trò trong việc chuyền tải đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước và củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước
đối với toàn xã hội. h ạ
o t động xuất bản cũng đã tham gia tích cực vào cuộc đấu
tranh tư tưởng chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, góp
phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và sự ổn định,
phát triển đất nước. Vì vậy, việc nhận thức đúng về vị trí, vai trò của h ạ o t động
xuất bản có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác quản lý nhà nước, góp phần
thúc đẩy, tạo điều kiện cho hoạt động xuất bản phát huy vai trò trong công cuộc
xây dựng và bảo vệ Tổ q ố
u c, đặc biệt là bảo vệ mặt trận tư tưởng xã hội chủ nghĩatrước h ạ
o t động của các thế lực thù địch.
Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, kỹ thuật in ấn và
công nghệ thông tin phát triển vượt bậc, các xuất bản phẩm được phổ b ế i n rất
dễ dàng và nhanh chóng đã mang lại những tác động tích cực, song cũng gây
ra nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội, vì thế, q ả
u n lý nhà nước về hoạt động xuất bản p ả
h i thực hiện đồng thời cả hai nhiệm vụ là phát huy khả năng sáng
tạo tác phẩm và kiểm soát nội dung của tác phẩm. Đây cũng là yêu cầu cấp thiết
không chỉ cho các nhà nghiên cứu mà còn là nhiệm vụ trực tiếp cho các cơ quan
quản lý nhà nước về lĩnh vực này.
II. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nội dung quản lý nhà nước về hoạt
động xuất bản và những vấn đề đang tồn tại thực tế hiện nay trong quản lý nhà nước về h ạ o t động xuất bản.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Về không gian: Nghiên cứu trên phạm vi cả nước.
- Về thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay.
- Về nội dung: Nghiên cứu các nội dung quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản, bao gồm:
• Quản lý nhà nước về tổ chức, hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động xuất bản.
• Quản lý nhà nước về nội dung xuất bản phẩm.
• Quản lý nhà nước về phát hành xuất bản phẩm.
• Quản lý nhà nước về lưu chiểu xuất bản phẩm. B. NỘI DUNG
I. Các khái niệm 1. Xuất bản
Xuất bản là việc tổ chức, khai thác bản thảo, biên tập thành bản mẫu để
in và phát hành hoặc để phát hành trực tiếp qua các phương tiện điện tử. 2. Quản lý
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có
khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản
lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra định nghĩa về quản lý.
Theo Điều khiển học thì “Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một
quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để
cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm
đạt được những mục đích đã định trước”.
Định nghĩa trên thích hợp với mọi trường hợp, từ sự vận động của một
cơ thể sống, một vật thể cơ giới, một thiết bị tự động hoá đến hoạt động của
một tổ chức xã hội, một đơn vị kinh tế hay cơ quan nhà nước.
Vấn đề quản lý mà chúng ta quan tâm nghiên cứu là quản lý xã hội (quản
lý nhà nước, quản lý của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội...).
C. Mác đã coi “quản lý là một chức năng đặc biệt này sinh từ bản chất
xã hội của quá trình lao động”. Nhấn mạnh nội dung trên, ông viết: “Tất cả mọi
lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương
đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt
động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động
của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập
của nó. Một người độc tẩu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn
nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.
Luận điểm trên của Mác có thể áp dụng với mọi hoạt động chung của con người trong xã hội.
Ở đâu có sự hiệp tác của nhiều người, ở đó cần có quản lý, bởi vì hoạt
động chung của nhiều người đòi hỏi phải được liên kết lại dưới nhiều hình thức.
Một trong những hình thức liên kết quan trọng là tổ chức. Xét về nội dung, tổ
chức tức là phối hợp, liên kết hoạt động của nhiều người để thực hiện mục tiêu
đã đề ra, là yếu tố quyết định đem lại hiệu quả cho quản lý. Không có tổ chức thì không có quản lý.
Lênin cũng đã từng khẳng định vấn đề này, Người viết: “Muốn quản lý
tốt mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà còn phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa”
Để điều khiển, phối hợp hoạt động của tập thể những con người, chúng
ta cần có những phương tiện buộc con người phải hành động theo những
nguyên tắc nhất định, phải phục tùng những khuôn mẫu, những mệnh lệnh nhất
định. Cơ sở của sự phục tùng hoặc là uy tín, hoặc là quyền uy. Trong những
hoàn cảnh lịch sử nhất định, uy tín đóng vai trò là cơ sở quan trọng của sự phục
tùng nhưng nhìn chung thì quyền uy vẫn là cơ sở chủ yếu. Quyền uy là sự áp
đặt ý chí của người này đối với người khác buộc người đó phải phục tùng. Như
vậy, quyền uy lấy phục tùng làm tiền đề.
Quyền uy là phương tiện rất quan trọng để chủ thể quản lý buộc đối tượng
quản lý phải phục tùng, là yếu tố không thể thiếu của quản lý. Không có quyền
uy thì hoạt động quản lý sẽ không có hiệu quả.
Quyền uy - ý chí thống trị của người điều khiển - có thể đại diện cho lợi
ích chung và nhằm phục vụ lợi ích chung của các thành viên trong tổ chức.
Trong trường hợp này, sự phục tùng quyền uy, tức là sự thống nhất ý chí, được
thực hiện chủ yếu thông qua phương pháp thuyết phục, bằng kỷ luật tự giác của
các đối tượng bị quản lý.
Ngược lại, khi quyền uy - ý chí thống trị của người điều khiển - có thể
chỉ đại diện cho lợi ích của một nhóm người hoặc một cá nhân. Khi đó, sự thống
nhất ý chí và sự phục tùng được đảm bảo chủ yếu bằng bạo lực, cưỡng chế và
theo Lênin thì “sự điều khiển có thể mang những hình thức độc tài nghiêm khắc”.
Chủ thể của quản lý là con người hay tổ chức của con người. Những cá
nhân hay tổ chức của con người phải là những chủ thể đại diện có quyền uy, có
quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng
cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lý.
Khách thể của quản lý là hành vi, hoạt động của con người và các quá
trình xã hội nhằm hướng tới trật tự quản lý. Trật tự này được quy định bởi nhiều
loại quy phạm xã hội khác nhau như quy phạm tập quán, quy phạm đạo đức,
quy phạm chính trị, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật.
Từ những phân tích trên và xem xét quản lý với tư cách là một hoạt động
có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ
thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục đích đã đề ra.
Trong định nghĩa trên, cần lưu ý một số điểm sau: Quản lý xuất hiện ở
bất kỳ đâu, khi nào nếu ở đó và lúc đó có hoạt động chung của con người; Quản
lý là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng
quản lý; Mục đích và nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động
chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo
thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động chung
đó theo những phương hướng thống nhất, nhằm đạt được mục đích đã định
trước; Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy. 3. Quản lý nhà nước
Khi nhà nước xuất hiện thì phần lớn (phần quan trọng) các công việc của
xã hội do nhà nước quản lý.
Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp,
hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước.
Nói cách khác, quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang
quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm
thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước. Như vậy, tất cả các
cơ quan nhà nước đều thực hiện chức năng quản lý nhà nước.
Pháp luật là phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước. Bằng việc sử dụng pháp
luật, nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức xã hội hoặc các cá nhân để các
chủ thể này thay mặt nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước.
Chủ thể của quản lý nhà nước là các tổ chức hay cá nhân mang quyền lực nhà
nước trong quá trình tác động tới đối tượng quản lý. Chủ thể quản lý nhà nước
bao gồm: Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân được nhà nước ủy
quyền thực hiện hoạt động quản lý nhà nước.
Khách thể của quản lý nhà nước là trật tự quản lý nhà nước. Trật tự quản
lý nhà nước do pháp luật quy định.
4. Quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản
Theo nghĩa rộng: Quản lý nhà nước về xuất bản được thực hiện trong
hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Cụ thể là hoạt động của ba cơ quan
nhà nước bao gồm: Quốc hội – thực hiện hoạt động lập pháp; Cơ quan hành
chính nhà nước còn gọi là cơ quan chấp hành của Quốc hội và Cơ quan tư pháp
– thực hiện hoạt động pháp lý.
Về cơ quan lập pháp: Quốc hội ban hành các văn bản pháp luật xuất bản
như: Luật Xuất bản, các Nghị quyết về xuất bản thực hiện các hoạt động giám
sát tối cao đối với hoạt động xuất bản; quyết định mục tiêu và chính sách lớn
phát triển sự nghiệp xuất bản trong phạm vi cả nước.
Về cơ quan hành chính: Chính phủ thống nhất thực hiện chức năng quản
lý nhà nước hoạt động xuất bản trong phạm vi cả nước. Chính phủ ban hành
các văn bản dưới luật như: Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị về xuất
bản. Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện
thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản. Các bộ, cơ quan ngang bộ
phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước về hoạt
động xuất bản theo thẩm quyền. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý
nhà nước về hoạt động xuất bản tại địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ.
Về cơ quan tư pháp: Viện kiểm soát nhân dân thực hiện hoạt động khởi
tố và thực hiện quyền công tố tại toà để xử lý hành vi vi phạm pháp luật xuất
bản gây hậu quả nghiêm trọng bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Toà án nhân
dân xét xử các hành vi vi phạm pháp luật xuất bản, tranh chấp quyền tác giả
theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào Luật Xuất bản năm 2004 thì quản lý nhà nước về xuất bản
theo nghĩa hẹp được hiểu: là toàn bộ hoạt động của Chính phủ, các Bộ, các cơ
quan ngang Bộ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh và các cơ quan quản lý chuyên môn
về xuất bản, trong việc chấp hành các quy định của pháp luật xuất bản do Quốc
hội ban hành, nhằm tổ chức điều hành các đối tượng quản lý triển khai thực
hiện các quy định của pháp luật xuất bản trong các vấn đề như: đăng kí kế hoạch
xuất bản, nhận, đọc, kiểm tra nội dung xuất bản phẩm, nộp lưu chiểu, xây dựng
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp xuất bản...
Đồng thời thực hiện kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi
phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản để thực hiện các mục tiêu về xuất bản
mà Nhà nước đã đề ra.
II. Phân tích nội dung quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản.
Việc quản lí nhà nước về hoạt động x ấ
u t bản đc quy định tại đ ề i u 6 luật xuất bản 2012:
1. Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản bao gồm:
a) Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách
phát triển hoạt động xuất bản; ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm
pháp luật về hoạt động xuất bản và bản quyền tác giả trong hoạt động xuất bản;
b) Tổ chức đọc, kiểm tra, thẩm định xuất bản phẩm lưu chiểu;
c) Cấp, thu hồi các loại giấy phép trong hoạt động xuất bản;
d) Nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong hoạt động xuất bản; đào
tạo và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về hoạt động xuất bản;
đ) Hợp tác quốc tế trong hoạt động xuất bản;
e) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật
trong hoạt động xuất bản;
g) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, thống kê và công tác thi đua, khen
thưởng trong hoạt động xuất bản; tuyển chọn và trao giải thưởng đối với xuất
bản phẩm có giá trị cao.
2. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản trong phạm vi cả nước.
Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện
quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản.
Các bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực
hiện quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản theo thẩm quyền.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản tại địa phương.
Ở Việt Nam, xuất bản là công cụ chính trị của Đảng, Nhà nước, của các
tổ chức, đoàn thể xã hội, của nhân dân. Khi khẳng định về chức năng và vai trò
của xuất bản, Điều 3 Luật Xuất bản 2012 ghi nhận: “Hoạt động xuất bản thuộc
lĩnh vực văn hóa, tư tưởng nhằm phổ biến, giới thiệu tri thức thuộc các lĩnh vực
của đời sống xã hội, giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại đáp
ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, xây dựng đạo
đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam, mở rộng giao lưu văn hóa với các
nước, phát triển kinh tế - xã hội, đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành vi làm
tổn hại lợi ích quốc gia, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Việc quản lý nhà nước trong hoạt động xuất bản
đã có vai trò to lớn tới sự hình thành và phát triển của ngành xuất bản nước nhà.
Thứ nhất, nó góp phần phát triển kinh tế
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường hiện nay, sự nhạy bén, định
hướng đúng đắn của ngành xuất bản là động lực tạo nên thắng lợi trong cạnh
tranh. Xuất bản có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp những kiến thức
mới, cung cấp những thông tin có giá trị đáp ứng nhu cầu học tập và nhu cầu kinh
tế như: kiến thức thị trường, kinh doanh, chuyên môn, nghề nghiệp, tài chính, thị
trường lao động, công nghệ...
Hoạt động xuất bản không chỉ cung cấp kiến thức thuần túy mà còn hướng dẫn
ứng dụng kiến thức khoa học công nghệ, công nghệ mới, giới thiệu các mô hình
tiên tiến vào vận hành, sản xuất và kinh doanh.
Bằng việc phổ biến những kinh nghiệm thành công hay thất bại trong quản lý,
kinh doanh, ứng dụng công nghệ mới, xuất bản còn tạo ra lợi ích kinh tế to lớn
cho xã hội nhờ cập nhật những kiến thức, ứng dụng hữu ích, dự đoán những khó
khăn, thách thức cần vượt qua hoặc tránh.
Thứ hai, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần
Làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của xã hội là một trong những
vai trò mang tính khách quan của xuất bản. Bởi lẽ xuất bản là một kênh truyền bá
các giá trị văn hóa, tinh thần một cách sinh động nhất nhằm nâng cao trình độ
hiểu biết và đáp ứng nhu cầu thụ hưởng, giải trí của người dân.
Vai trò của xuất bản trong lĩnh vực văn hóa được thể hiện ở nhiều khía cạnh.
Thứ nhất, xuất bản làm phong phú, tô đẹp vốn văn hóa đất nước, đặc biệt là
ngôn ngữ, tư tưởng, thông tin và kiến thức bổ ích. Xuất bản là nơi nhiều từ và
thuật ngữ mới được bảo tồn và tạo ra. Thứ hai, xuất bản giúp cải thiện văn hóa
và giải trí, cho phép mọi người chia sẻ những kinh nghiệm và kiến thức hữu
ích cũng như cùng nhau học hỏi và tiến bộ.
Cùng với sự phát triển của xã hội, trình độ dân trí của con người ngày càng cao,
việc hình thành nhân cách, lối sống của con người chịu sự tác động của nhiều
yếu tố tự nhiên và xã hội, trong đó có hoạt động xuất bản. Vì vậy, trong thời kì
đổi mới, hoạt động xuất bản ở nước ta phải hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ thông
tin để phát huy tốt vai trò của mình. Chúng ta cần tăng cường quảng bá văn hoá
dân tộc và tinh hoa nhân loại; xây dựng nền đạo đức mới trên cơ sở đạo đức
dân tộc; nâng cao trí tuệ và hiểu biết khoa học công nghệ của mỗi người dân.
Để đạt được điều này, các biên tập viên, nhà xuất bản phải nâng cao ý thức
chính trị, trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân, đồng thời nhanh chóng đổi
mới phương thức thể hiện để các ấn phẩm không chỉ chính xác, thành công mà
còn sáng tạo, năng động, hấp dẫn công chúng.
Thứ ba, là phương tiện tạo lập môi trường tự do sáng tạo, bình đẳng cho các
chủ thể trong hoạt động xuất bản.
Xuất phát từ đặc điểm chung của lao động sáng tạo, nhất là lao động
sáng tạo ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, nhu cầu tự do sáng
tạo, bình đẳng trong việc xuất bản, phổ biến tác phẩm là một đòi hỏi khách quan tất yếu.
Tuy nhiên, tự do và bình đẳng trong sáng tạo phải vì lợi ích xã hội, vì lợi ích cộng
đồng, không thể có tự do vượt quá giới hạn cho phép. Vì vậy, tự do và bình đẳng
trong hoạt động sáng tạo, công bố và phổ biến tác phẩm là tự do trong khuôn khổ
pháp luật. Ở đó, các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản sẽ được làm tất cả những
gì pháp luật cho phép. Pháp luật quy định những gì được phép làm đối với các cơ
quan nhà nước, nhằm ngăn chặn các hành vi lạm dụng, xâm hại đến quyền tự do,
bình đẳng. Đồng thời, pháp luật đề ra các nghĩa vụ tương ứng cho các chủ thể của
hoạt động sáng tạo và quản lý. Đó là hành lang pháp lý, là "cái khung" do pháp
luật tạo lập. Tư tưởng tự do ngôn luận của Hiến pháp Việt Nam, được thể hiện
trong pháp luật xuất bản bằng chế độ không kiểm duyệt tác phẩm trước khi in là
ý tưởng nhân văn sâu sắc, mở đường cho tư duy sáng tạo. Như vậy, quản lý nhà
nước bằng pháp luật tạo ra môi trường thuận lợi, tin cậy và chính thức cho tác giả
và các tổ chức tự do sáng tạo, bình đẳng trong hoạt động xuất bản.
Thứ tư, bảo vệ lợi ích hợp pháp của những người sáng tạo ra các tác phẩm
văn học, nghệ thuật và khoa học.
Hoạt động sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa tinh thần được xã hội xếp vào
loại lao động đặc biệt. Các quốc gia trên thế giới đều coi các sản phẩm của trí tuệ
là tài sản. Vì vậy, các tác giả được bảo hộ quyền sở hữu. Berne là công ước quốc
tế đầu tiên về quyền tác giả, dưới sự điều hành của tổ chức quyền sở hữu trí tuệ
thế giới (WIPO) ra đời từ năm 1886 (là tổ chức của Liên hợp quốc từ 1974) để
bảo vệ quyền tác giả thuộc gần 100 nước thành viên.
Ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, pháp luật là phương tiện bảo vệ lợi
ích hợp pháp của những người bằng lao động của mình đã sáng tạo ra tác phẩm.
Các quy định về quyền của người sáng tạo, người quản lý và các nghĩa vụ tương
ứng phát sinh từ các quyền đó, cùng với các quy định về cơ chế đảm bảo thực
hiện, là cơ sở pháp lý cho việc bảo hộ quyền sở hữu tác phẩm. Các tác giả được
Nhà nước tạo phương tiện để đấu tranh bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. Các
tranh chấp về quyền tác giả, các hành vi xâm hại lợi ích vật chất và tinh thần của
tác giả được xét xử tại Tòa án dân sự. Như vậy, thông qua việc bảo hộ quyền tác
giả, Nhà nước tiếp tục khuyến khích năng lực sáng tạo của văn nghệ sĩ, trí thức
để có nhiều sản phẩm văn hóa tinh thần có giá trị phục vụ xã hội.
Thứ năm, quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản chống thương mại
hóa xuất bản, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng xuất bản phẩm.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, hoạt động xuất bản đã khởi sắc và có
một diện mạo mới, phục vụ tốt đời sống tinh thần của nhân dân với những xuất
bản phẩm phong phú về nội dung và hình thức. Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị
trường đã thúc ép các chủ thể xuất bản chỉ chú ý tới các xuất bản phẩm có khả
năng thanh toán, đẩy hoạt động xuất bản tìm kiếm các khả năng thanh toán có lợi
nhuận cao, không lường đến hậu quả chính trị, xã hội có thể xảy ra. quản lý nhà
nước bằng pháp luật về xuất bản là phải hạn chế đến mức tối đa các hoạt động
xuất bản chạy theo lợi nhuận kinh tế đơn thuần, đặc biệt là phải ngăn chặn xu
hướng thương mại hóa hoạt động xuất bản. Nếu chúng ta quản lý tốt hoạt động
xuất bản, ngăn chặn được xu hướng thương mại hóa sẽ bảo vệ được lợi ích của
người tiêu dùng xuất bản phẩm. Họ được hưởng thụ các xuất bản phẩm có chất
lượng cao trong nội dung và hình thức. Như vậy, pháp luật phải quy định cụ thể,
rõ ràng các tiêu chuẩn về nội dung kỹ thuật, mỹ thuật của xuất bản phẩm. Riêng
nội dung, phải có những điều khoản cấm đoán nhằm ngăn chặn những xuất bản
phẩm độc hại, không có lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội...
Thứ sáu, góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội trong quá trình
phát triển đất nước.
Hoạt động xuất bản là lĩnh vực rất nhạy cảm về mặt chính trị, xã hội, là
phương tiện mang tính hai mặt (lợi và hại) trong cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ xã
hội. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc đảm bảo nội dung xuất bản phẩm
lành mạnh, phù hợp với pháp luật, phù hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam là rất cần thiết.
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của xuất bản, Luật Xuất bản 2012 đã đề ra những
chính sách cụ thể, như: Chính sách hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng, hiện đại hóa
cơ sở vật chất, ứng dụng, chuyển giao công nghệ - kỹ thuật tiên tiến; chính sách
đặt hàng; ưu đãi lãi suất vay vốn, hỗ trợ cước vận chuyển; mua bản thảo những
tác phẩm có giá trị... Tất cả những chính sách đó nhằm đảm bảo cho mọi tầng lớp
nhân dân hiểu được mọi chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước
nhằm xây dựng một đất nước Việt Nam phồn thịnh, hòa bình, ổn định.
Thứ bảy, góp phần thúc đẩy quá trình hợp tác và hội nhập quốc tế.
Thực hiện chính sách mở cửa hội nhập và hợp tác quốc tế với phương
châm: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, Việt Nam đã thiết lập quan
hệ với nhiều nước, vùng lãnh thổ và tổ chức trên thế giới. Để quá trình hợp tác,
hội nhập quốc tế diễn ra thuận lợi, đạt mục đích đặt ra một cách tốt nhất, hai bên
đều phải tìm hiểu truyền thống văn hóa, mọi lĩnh vực đời sống xã hội của nhau,
cách tìm hiểu đạt hiệu quả cao và phổ biến hiện nay là trao đổi các xuất bản phẩm
cho nhau. quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam có vai trò giải
quyết vấn đề này thông qua việc xác định rõ các tổ chức quốc tế, cá nhân nước
ngoài được xuất bản các tài liệu, tác phẩm tại Việt Nam; điều kiện để các nhà
xuất bản nước ngoài đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam; quy định rõ các thủ tục
về xuất nhập khẩu và xuất bản phẩm.
Như vậy, quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản vừa có vai trò tạo điều
kiện thuận lợi cho các nhà xuất bản, các tổ chức, cá nhân nước ngoài làm thủ tục
đặt văn phòng đại diện, xuất bản các tài liệu, tác phẩm tại Việt Nam, đồng thời
giảm bớt các thủ tục hành chính để việc xuất khẩu các xuất bản phẩm của Việt
Nam ra nước ngoài đạt hiệu quả cao. Điều đó có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy quá
trình hội nhập, hợp tác quốc tế của Việt Nam diễn ra thuận lợi.
III. Những vấn đề đang tồn tại trong quản lý nhà nước về xuất bản thực tế hiện nay.
1. Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản.
Trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản
ở Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần quan trọng vào sự
phát triển của nền xuất bản, phát triển văn hóa, tư tưởng, giáo dục, khoa học, thông tin và giải trí.
Về cơ bản, hệ thống pháp luật về xuất bản đã được xây dựng, hoàn thiện,
tạo hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản. Các văn bản quy phạm pháp luật
về xuất bản đã được ban hành theo đúng quy trình, đảm bảo tính thống nhất,
đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tiễn và hội nhập quốc tế.
Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản được thực hiện đầy
đủ, đúng quy định của pháp luật. Các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động
xuất bản đã thực hiện tốt vai trò, chức năng của mình, góp phần đảm bảo hoạt
động xuất bản đúng pháp luật, đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Công tác cấp phép xuất bản được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định.
Các nhà xuất bản, cơ sở phát hành đã được cấp phép hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.
Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động xuất bản được thực hiện thường
xuyên, kịp thời. Các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản đã kịp
thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản.
Công tác quản lý chất lượng xuất bản phẩm được thực hiện hiệu quả. Các
xuất bản phẩm được xuất bản đảm bảo chất lượng, nội dung phù hợp với quy định của pháp luật.
Công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong hoạt động
xuất bản được đẩy mạnh. Các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản
đã chủ động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào hoạt động xuất
bản, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động xuất bản.
2. Những thành tựu trong quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản.
Trong những năm gần đây, quản lý nhà nước về x ấ u t bản tại Việt Nam
đã đạt được một số thành tựu đáng kể. ầ
Đ u tiên, các nhà xuất bản đã phát triển
và cải tiến hệ thống sản xuất, phân phối và tiếp thị sách, từ đó mang lại hiệu
quả kinh doanh cao hơn. Thứ hai, việc đào tạo và phát triển lực lượng lao động
cho ngành xuất bản cũng đã được quan tâm và đầu tư, giúp nâng cao chất lượng
và số lượng sách được sản xuất. Ngoài ra, việc tạo ra các chính sách hỗ trợ cho
ngành xuất bản cũng là một trong những thành tựu quan trọng. Điều này đã
giúp giảm chi phí sản xuất và thu hút được nhiều tác giả và nhà xuất bản tham
gia vào ngành này. Tất cả những điều này đều đóng góp vào việc phát triển và
nâng cao chất lượng ngành xuất bản tại Việt Nam.
Thứ nhất, các nhà xuất bản đã phát triển và cải tiến hệ thống sản xuất,
phân phối và tiếp thị sách để đáp ứng với những thay đổi của thị trường và
nhu cầu của độc giả.
Về sản xuất, các nhà xuất bản đã áp dụng các công nghệ mới để nâng cao
năng suất và chất lượng sản xuất sách.
Ví dụ, việc sử dụng máy in offset đã giúp giảm chi phí và thời gian sản
xuất, cải thiện chất lượng in ấn và linh hoạt trong sản xuất sách. Về phương
diện chi phí, máy in offset có thể g ả
i m chi phí đáng kể so với máy in chữ nổi.
Máy in offset có thể in được nhiều trang cùng một lúc, giảm thời gian sản xuất
và số lượng nhân công cần thiết. Ngoài ra, máy in offset cũng có khả năng in
ấn trên nhiều loại giấy khác nhau, giúp tiết kiệm chi phí cho nhà xuất bản. Đồng
thời, việc sử dụng máy in offset còn giúp nâng cao chất lượng in ấn của sách.
Máy in offset có khả năng in ấn với độ phân giải cao hơn, giúp cho hình ảnh và
chữ in được rõ nét hơn, màu sắc trung thực hơn. Với máy in chữ nổi, chất lượng
in ấn thường đơn giản hơn và có hạn chế về màu sắc và hình ảnh. Việc sử dụng
máy in offset còn giúp cho nhà xuất bản linh hoạt hơn trong sản xuất sách. Máy
in offset có khả năng in ấn trên nhiều loại giấy khác nhau, in được nhiều loại
sách khác nhau như sách vở, sách báo, sách màu, vv. Điều này giúp nhà xuất
bản có thể sản xuất nhiều loại sách khác nhau và linh hoạt hơn trong việc sản xuất.
Ngoài ra, các nhà xuất bản cũng đã sử dụng các công nghệ mới để tạo ra
các loại sách mới, chẳng hạn như sách điện tử và sách nói. Trong những năm
gần đây, các nhà xuất bản đã áp dụng các công nghệ mới để tạo ra các loại sách
mới và đáp ứng nhu cầu của độc giả h ệ
i n đại. Hai loại sách mới đó là sách điện
tử và sách nói. Sách điện tử là một loại sách được xuất bản và phân phối dưới
dạng tập tin điện tử, có thể đọc trên các thiết bị điện tử như máy tính, máy đọc
sách điện tử, điện thoại di động hoặc máy tính bảng. Với sách điện tử, độc giả
có thể dễ dàng truy cập và mang theo nhiều quyển sách khác nhau mà không
cần mang theo nhiều sách giấy. Sách nói là một loại sách được đọc và ghi lại
thành file âm thanh, đôi khi còn được gọi là sách audio. Với sách nói, độc giả
có thể nghe trực tiếp hoặc tải về để nghe sau, giúp cho việc đọc sách trở nên dễ
dàng hơn trong những hoàn cảnh như khi lái xe hoặc đi bộ. Các nhà xuất bản
đã nhanh chóng chuyển sang sản xuất và phân phối sách điện tử và sách nói,
đáp ứng nhu cầu đọc sách của khách hàng hiện đại và đồng thời giúp giảm thiểu lượng rác thải giấy.
Về phân phối, các nhà xuất bản đã mở rộng hệ thống phân phối của mình
để tiếp cận được nhiều đối tượng độc giả hơn.
Trong thời đại công nghệ hiện nay, việc phân phối sách đã trở nên dễ
dàng hơn bao giờ hết nhờ vào sự phát triển của các công nghệ điện tử. Các nhà
xuất bản đã mở rộng hệ t ố
h ng phân phối của mình bằng cách sử dụng các nền
tảng trực tuyến như website, ứng dụng di động, và các trang mạng xã hội. Điều
này giúp các nhà xuất bản tiếp cận được nhiều đối tượng độc giả hơn, bao gồm
cả những người ở xa và những người không có điều kiện để đến các cửa hàng
sách truyền thống để mua sách.
Ngoài ra, các nhà xuất bản cũng đã mở rộng hệ thống phân phối của mình
bằng cách hợp tác với các công ty vận chuyển và bưu điện để giao sách đến tận
tay độc giả. Điều này giúp các độc giả trên toàn quốc có thể tiếp cận được với
các cuốn sách mới nhất và đa dạng hơn.
Về tiếp thị, các nhà xuất bản đã sử dụng các phương pháp tiếp thị mới để
quảng bá sách của mình.
Trong thời đại kỹ thuật số, các nhà xuất bản đã chuyển sang sử dụng các
phương pháp tiếp thị mới để quảng bá sách của mình. Một trong những phương
pháp được sử dụng phổ biến nhất là tiếp cận đối tượng khách hàng thông qua
mạng xã hội. Các nhà xuất bản tạo ra các tài khoản trên các nền tảng mạng xã
hội như Facebook, Instagram và Twitter để chia sẻ thông tin về các cuốn sách
mới và cập nhật về tác giả. Điều này giúp tạo ra sự quan tâm và thu hút độc giả
tiềm năng đến các sản phẩm của họ.
Bên cạnh đó, các nhà xuất bản còn sử dụng các kênh quảng cáo trực
tuyến như Google Adwords để đưa sách của mình đến với khách hàng tiềm
năng. Họ cũng sử dụng email marketing để gửi các thông tin về sách mới và
khuyến mãi đến các độc giả đã đăng ký nhận bản tin của họ.
Các nhà xuất bản cũng sử dụng các hoạt động thực tế như tổ c ứ h c buổi
đọc sách và gặp gỡ tác giả để tạo ra sự tương tác trực tiếp với độc giả. Điều này
giúp xây dựng niềm tin và thúc đẩy sự quan tâm đến các sản phẩm của họ. Tóm
lại, các nhà xuất bản đã sử dụng các phương pháp tiếp thị mới để quảng bá sách
của mình và tạo ra sự quan tâm đến các sản phẩm của họ.
Thứ hai, việc đào tạo và phát triển lực lượng lao động cho ngành xuất
bản đã được quan tâm và đầu tư trong những năm gần đây.
Cụ thể, các cơ sở đào tạo đã chú trọng đổi mới chương trình đào tạo theo
hướng gắn liền với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.
Đổi mới chương trình đào tạo theo hướng gắn liền với thực tiễn, đáp ứng
nhu cầu của thị trường lao động là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của
giáo dục đại học Việt Nam trong những năm gần đây. Để t ự h c hiện nhiệm vụ
này, các cơ sở đào tạo đã triển khai nhiều giải pháp, trong đó có thể kể đến một
số giải pháp chính như:
Đổi mới nội dung chương trình đào tạo: Nội dung chương trình đào tạo
được điều chỉnh theo hướng cập nhật kiến thức mới, phù hợp với xu hướng phát
triển của khoa học công nghệ và nhu cầu của thị trường lao động. Các cơ sở
đào tạo đã tăng cường nội dung thực hành, thực tập, trải nghiệm thực tiễn cho sinh viên.
Đổi mới phương pháp giảng dạy: Phương pháp giảng dạy được đổi mới
theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo của sinh viên. Các cơ sở đào tạo
đã áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực như học theo dự án, học theo
tình huống, học theo nhóm,...
Tăng cường liên kết với doanh nghiệp: Các cơ sở đào tạo đã tăng cường
liên kết với doanh nghiệp để t ế
i p thu ý kiến phản hồi về chất lượng đào tạo,
đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên thực tập, làm việc tại doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo cũng đã tăng cường hợp tác với các doanh
nghiệp xuất bản để t ự
h c hành, thực tập cho sinh viên.
Đây là một xu hướng tất yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế và nhu cầu
nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng cao. Hợp tác giữa cơ sở đào tạo và
doanh nghiệp xuất bản mang lại nhiều lợi ích cho cả hai bên. Đối với doanh
nghiệp xuất bản, việc hợp tác với các cơ sở đào tạo giúp họ tiếp cận được nguồn
nhân lực trẻ, năng động, được đào tạo bài bản. Đồng thời, doanh nghiệp cũng
có thể tham gia vào quá trình đào tạo, góp ý về chương trình, nội dung giảng
dạy, giúp sinh viên được trang bị những kiến thức và kỹ năng thực tế, đáp ứng
nhu cầu của doanh nghiệp. Đối với sinh viên, việc được thực hành, thực tập tại
doanh nghiệp xuất bản giúp họ có cơ hội trải nghiệm thực tế, nâng cao kỹ năng
nghề nghiệp, tích lũy kinh nghiệm làm việc. Điều này sẽ giúp sinh viên dễ dàng
tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp.
Hiện nay, các hình thức hợp tác giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp xuất
bản rất đa dạng, bao gồm: Tiếp nhận sinh viên thực tập, kiến tập tại doanh
nghiệp xuất bản; Doanh nghiệp xuất bản tham gia giảng dạy tại cơ sở đào tạo;
Cơ sở đào tạo và doanh nghiệp xuất bản cùng xây dựng chương trình đào tạo,
nội dung giảng dạy; Cơ sở đào tạo và doanh nghiệp xuất bản cùng nghiên cứu,
phát triển các sản phẩm xuất bản.
Một số ví dụ về hợp tác giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp xuất bản ở
Việt Nam có thể kể đến như: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội hợp tác với Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam trong
đào tạo ngành Xuất bản; Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
hợp tác với Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh trong đào tạo
ngành Biên phiên dịch; Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hợp tác với Nhà xuất
bản Đại học Sư phạm Hà Nội trong đào tạo ngành Giáo dục Mầm non.
Nhờ những nỗ lực của các cơ sở đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực ngành
xuất bản đã được nâng cao đáng kể. Các lao động trong ngành xuất bản đã có
kiến thức chuyên môn vững vàng, kỹ năng nghề nghiệp thành thạo, đáp ứng
được yêu cầu của công việc. Đ ề
i u này đã góp phần nâng cao chất lượng sách
được sản xuất. Sách được sản xuất ra ngày càng có nội dung phong phú, hấp
dẫn, đáp ứng nhu cầu của người đọc. Số l ợn
ư g sách được sản xuất cũng tăng lên đáng kể, ừ
t 1,5 tỷ bản/năm năm 2010 lên 2,5 tỷ bản/năm năm 2023.
Thứ ba, việc tạo ra các chính sách hỗ trợ cho ngành xuất bản cũng là
một trong những thành tựu quan trọng.
Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động xuất bản
Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về hoạt động xuất bản,
như: Luật Xuất bản năm 2012, Nghị định số 159/2013/NĐ-CP quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xuất bản, Nghị định số
110/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 159/2013/NĐ-
CP. Khung pháp lý này đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản, góp
phần bảo đảm quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất bản.
Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất bản
Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ t ợ
r cho hoạt động xuất bản, như: Chính sách hỗ t ợ
r các nhà xuất bản phát hành sách đến vùng sâu, vùng xa, biên
giới, hải đảo; Chính sách hỗ trợ x ấ
u t bản sách giáo khoa; Chính sách hỗ trợ
xuất bản sách khoa học, công nghệ, kỹ th ậ
u t, tin học; Chính sách hỗ trợ xuất
bản sách văn hóa, văn học, nghệ thuật; Chính sách hỗ trợ xuất bản sách thiếu
nhi; Chính sách hỗ trợ xuất bản sách bản địa, sách cho đồng bào dân tộc thiểu
số. Các chính sách này đã góp phần giảm thiểu chi phí, tạo điều kiện thuận lợi
cho các nhà xuất bản hoạt động, nâng cao chất lượng xuất bản phẩm.
Hỗ trợ phát triển văn hóa đọc
Nhà nước đã triển khai nhiều hoạt động nhằm khuyến khích và phát triển văn
hóa đọc, như: Đưa Ngày sách và văn hóa đọc Việt Nam vào ngày 21 tháng 4 hàng năm; Tổ c ứ
h c Ngày hội sách và văn hóa đọc Việt Nam; Tổ chức các hoạt
động giao lưu, giới thiệu sách, đọc sách; Hỗ trợ các thư viện, tủ sách công cộng;
Hỗ trợ các hoạt động phát triển văn hóa đọc trong nhà trường. Các hoạt động
này đã góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của văn
hóa đọc, tạo điều kiện thuận lợi cho bạn đọc tiếp cận với sách.
Như vậy, Luật xuất bản năm 2012 và các văn bản pháp luật đã tạo điều
kiện cho hoạt động xuất bản phát triển nhanh, mạnh cả về số lượng và chất
lượng, phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị của đất nước, góp phần cải thiện,
nâng cao nhu cầu văn hóa tinh thần cho nhân dân.
3. Những hạn chế đang tồn tại trong quản lý nhà nước về h ạ
o t động xuất bản thực tế h ệ i n nay.
Tuy nhiên, việc thi hành Luật Xuất bản vẫn còn hạn chế. Trong quá trình
nghiên cứu, xây dựng các văn bản, đề án triển khai thực hiện Luật, có nhiều
vấn đề mới, phức tạp liên quan đến việc đổi mới về cơ chế quản lý hoạt động
xuất bản, có những vấn đề lần đầu tiên được triển khai thực hiện ở nước ta (như
xuất bản và phát hành xuất bản điện tử) dẫn đến việc chậm triển khai một số
quy định của Luật trong thực tế và chưa hiệu quả. Việc phối hợp trong công tác
xây dựng các văn bản giữa các cơ quan chức năng chưa nhịp nhàng, thường
xuyên. Một bộ phận cơ quan quản lý, cơ quan chủ q ả
u n chưa nhận thức đúng
về vị trí, vai trò, tính phức tạp của hoạt động xuất bản trong điều kiện mới.
Năng lực của một bộ phận lãnh đạo các đơn vị x ấ u t bản còn hạn chế... Thứ n ấ
h t, về cơ chế, chính sách, pháp luật về xuất bản còn chưa đồng
bộ, thiếu thống nhất, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Một số quy định của Luật Xuất bản năm 2012 còn chưa rõ ràng, thiếu khả thi,
gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện.
Quy định về điều kiện thành lập cơ sở xuất bản còn chưa rõ ràng, thiếu cụ
thể, dẫn đến khó khăn trong việc cấp phép hoạt động xuất bản.
Theo quy định tại Điều 17 Luật Xuất bản năm 2012, để được cấp giấy
phép thành lập nhà xuất bản, cơ sở in xuất bản phẩm, cơ sở phát hành xuất bản
phẩm, tổ chức, cá nhân phải đáp ứng các điều kiện chung sau: Có người đủ tiêu
chuẩn quy định tại Điều 17 Luật Xuất bản năm 2012 để bổ nhiệm tổng giám
đốc (giám đốc), tổng biên tập và có ít nhất năm biên tập viên cơ hữu; Có trụ sở,
nguồn tài chính và các điều kiện cần thiết khác bảo đảm hoạt động của nhà xuất
bản, cơ sở in xuất bản phẩm, cơ sở phát hành xuất bản phẩm do Chính phủ quy định.
Tuy nhiên, quy định về "các điều kiện cần thiết khác" tại Điều 17 Luật
Xuất bản năm 2012 còn chưa rõ ràng, dẫn đến khó khăn trong việc cấp phép
hoạt động xuất bản. Các điều kiện này chưa được quy định cụ thể về nội dung,
tiêu chuẩn, phương pháp đánh giá, dẫn đến việc cơ quan quản lý nhà nước khi
xem xét cấp phép hoạt động xuất bản có thể dựa trên các tiêu chí khác nhau,
gây khó khăn cho tổ chức, cá nhân trong việc đáp ứng các điều kiện này. Một
số ví dụ có thể kể đến như sau:
Điều kiện về trụ sở: Luật Xuất bản năm 2012 chỉ quy định chung là cơ sở xuất
bản phải có trụ sở, nhưng không quy định cụ thể về diện tích, vị trí, cơ sở vật
chất, trang thiết bị cần thiết tại trụ sở. Điều này dẫn đến việc cơ quan quản lý
nhà nước có thể yêu cầu các tiêu chí khác nhau về trụ sở, gây khó khăn cho tổ
chức, cá nhân trong việc đáp ứng các điều kiện này.
Điều kiện về nguồn tài chính: Luật Xuất bản năm 2012 chỉ quy định chung là
cơ sở xuất bản phải có nguồn tài chính bảo đảm hoạt động của cơ sở xuất bản,
nhưng không quy định cụ thể về mức vốn tối thiểu, nguồn vốn, phương thức
huy động vốn. Điều này dẫn đến việc cơ quan quản lý nhà nước có thể yêu cầu
các tiêu chí khác nhau về nguồn tài chính, gây khó khăn cho tổ chức, cá nhân
trong việc đáp ứng các điều kiện này.
Điều kiện về các điều kiện cần thiết khác: Luật Xuất bản năm 2012 chỉ quy
định chung là cơ sở xuất bản phải có các điều kiện cần thiết khác bảo đảm hoạt
động của cơ sở xuất bản, nhưng không quy định cụ thể về nội dung, tiêu chuẩn,
phương pháp đánh giá. Điều này dẫn đến việc cơ quan quản lý nhà nước có thể
dựa trên các tiêu chí khác nhau, gây khó khăn cho tổ chức, cá nhân trong việc
đáp ứng các điều kiện này.
Quy định về kiểm duyệt xuất bản còn chưa thống nhất, chưa phù hợp với
thực tiễn phát triển của xuất bản điện tử.
Theo khoản 2 Điều 5 của Luật Xuất bản năm 2012, "Nhà nước không
kiểm duyệt tác phẩm trước khi xuất bản, trừ trường hợp nội dung tác phẩm có
dấu hiệu vi phạm Điều 22 Luật Xuất bản". Điều 22 quy định các nội dung tác
phẩm bị cấm xuất bản, bao gồm: Tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận
thù giữa các dân tộc, tôn giáo, phân biệt chủng tộc, giới tính, xâm phạm quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; Kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy,
phá hoại thuần phong mỹ tục; Tuyên truyền, kích động ly khai, chống phá
Đảng, Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Tiết lộ bí
mật nhà nước, bí mật quân sự, bí mật kinh tế, bí mật đời tư, bí mật cá nhân; Lợi
dụng quyền tự do xuất bản để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích
hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Tuy nhiên, quy định này chưa thống nhất với thực tiễn phát triển của xuất bản
điện tử. Xuất bản điện tử có nhiều đặc điểm khác biệt so với xuất bản truyền
thống, đặc biệt là về phương thức lưu trữ và phát hành. Xuất bản điện tử có thể
được lưu trữ và phát hành trên mạng Internet, mạng máy tính nội bộ, thiết bị di
động,... Điều này khiến việc kiểm duyệt xuất bản điện tử trở nên khó khăn hơn,
bởi các cơ quan chức năng khó có thể kiểm soát được toàn bộ nội dung xuất bản điện tử.
Ví dụ, một tác phẩm có nội dung vi phạm Điều 22 của Luật Xuất bản có thể
được đăng tải trên mạng Internet mà không bị phát hiện. Khi tác phẩm này đã
được lan truyền rộng rãi, việc kiểm duyệt và xử lý sẽ gặp nhiều khó khăn.
Theo quy định hiện hành, việc kiểm duyệt xuất bản được thực hiện bởi
các cơ quan chức năng có thẩm quyền, bao gồm: Bộ Thông tin và Truyền thông
có nhiệm vụ duyệt xuất bản phẩm in, xuất bản phẩm điện tử phát hành trên
mạng Internet, mạng máy tính nội bộ,...; Sở Thông tin và Truyền thông có
nhiệm vụ kiểm duyệt xuất bản phẩm in, xuất bản phẩm điện tử phát hành tại địa phương.
Tuy nhiên, quy định này chưa phù hợp với thực tiễn phát triển của xuất bản
điện tử. Xuất bản điện tử có thể được phát hành trên phạm vi toàn cầu, không
chỉ ở một địa phương hoặc quốc gia. Điều này khiến việc kiểm duyệt xuất bản
điện tử trở nên khó khăn hơn, bởi các cơ quan chức năng ở một địa phương
hoặc quốc gia khó có thể kiểm soát được toàn bộ nội dung xuất bản điện tử.
Ví dụ, một tác phẩm có nội dung vi phạm Điều 22 của Luật Xuất bản có thể
được đăng tải trên một website ở nước ngoài và được truy cập bởi người dùng
tại Việt Nam. Khi tác phẩm này được phát hiện, việc xử lý sẽ gặp nhiều khó
khăn, bởi website đó có thể nằm ngoài phạm vi quản lý của các cơ quan chức năng Việt Nam.
Quy định về bản quyền tác giả còn chưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu bảo
vệ quyền lợi của các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
Dưới đây là một số ví dụ về quy định về bản quyền tác giả còn chưa đầy đủ,
chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền lợi của các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm chưa được công bố.
Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm
2009, 2019), thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm chưa được công
bố là 100 năm kể từ khi tác phẩm được hình thành. Tuy nhiên, quy định này
chưa phù hợp với thực tế, khi mà nhiều tác phẩm có thể bị thất lạc hoặc bị quên
lãng trong thời gian dài, dẫn đến quyền tác giả của tác giả không được bảo vệ.
Hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm được công bố trên mạng.
Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm
2009, 2019), hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm được công bố
trên mạng bao gồm hành vi sao chép, phân phối, lưu trữ, truyền đưa, công bố
tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả. Tuy nhiên, quy
định này chưa bao quát hết các hành vi xâm phạm quyền tác giả trên mạng,
chẳng hạn như hành vi chỉnh sửa, cắt ghép, gán ghép tác phẩm với tác phẩm
khác, hành vi sử dụng tác phẩm vào mục đích thương mại mà không được phép
của chủ sở hữu quyền tác giả.
Thủ tục đăng ký bản quyền tác giả.
Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm
2009, 2019), đăng ký bản quyền tác giả là thủ tục không bắt buộc, nhưng là cơ
sở để chủ sở hữu quyền tác giả chứng minh quyền của mình khi có tranh chấp
xảy ra. Tuy nhiên, thủ tục đăng ký bản quyền tác giả hiện nay còn phức tạp, tốn
kém và mất nhiều thời gian, dẫn đến nhiều tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
không đăng ký bản quyền tác phẩm của mình.
Ngoài ra, còn có một số quy định khác về bản quyền tác giả còn chưa
đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền lợi của các tác giả, chủ sở hữu
quyền tác giả, chẳng hạn như quy định về việc xử lý hành vi xâm phạm quyền
tác giả, quy định về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả,...
Thứ hai, quản lý nhà nước về xuất bản còn thiếu thực chất, hiệu quả chưa cao.
Hoạt động kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực xuất bản còn
chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời, dẫn đến tình trạng xuất bản
phẩm vi phạm pháp luật vẫn còn xảy ra.