-
Thông tin
-
Quiz
Phân tích nội dung quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản | Tiểu luận Pháp luật và đạo đức báo chí và truyền thông
Ở Việt Nam, xuất bản được ý thức như là một trong những lĩnh vực văn hóa tư tưởng phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Vì thế trong suốt cả thời kỳ vận động cách mạng cũng như trong từng giai đoạn phát triển xã hội, văn hóa, xuất bản, báo chí luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng của Đảng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Pháp luật và đạo đức báo chí - truyền thông 62 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Phân tích nội dung quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản | Tiểu luận Pháp luật và đạo đức báo chí và truyền thông
Ở Việt Nam, xuất bản được ý thức như là một trong những lĩnh vực văn hóa tư tưởng phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Vì thế trong suốt cả thời kỳ vận động cách mạng cũng như trong từng giai đoạn phát triển xã hội, văn hóa, xuất bản, báo chí luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng của Đảng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Pháp luật và đạo đức báo chí - truyền thông 62 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VIỆN BÁO CHÍ - TRUYỀN THÔNG TIỂU LUẬN
MÔN: PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC BÁO CHÍ - TRUYỀN THÔNG Đề tài:
“Phân tích nội dung quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản. Thực tế hiện nay
quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản đang tồn tại những vấn đề gì?” Giảng viên: TS. Nguyễn Thuỳ Vân Anh Nhóm tác giả:
Nguyễn Việt Hằng - 2356050009
Nguyễn Quỳnh Hương - 2356050012
Nguyễn Khánh Huyền - 2356050014
Lê Nguyễn Thảo Phương - 2356050036 Phạm Minh Thư - 2356050043
Nguyễn Thành Vinh - 2356050049 Lớp tín chỉ: PT02306_K43_7 1 MỤC LỤC
KHÁI QUÁT ĐỀ TÀI............................................................................................. 3
Chương 1: PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT
ĐỘNG XUẤT BẢN................................................................................................. 6
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý Nhà nước trong hoạt động xuất
bản........................................................................................................................ 6
1.2. Nội dung của quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản..............................14
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước trong hoạt động xuất bản19
Tiểu kết Chương 1.............................................................................................. 23
Chương 2: BỐI CẢNH HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN CỦA VIỆT NAM HIỆN
NAY.........................................................................................................................25
2.1. Những chuyển biến tích cực của hoạt động quản lý Nhà nước...................25
2.2. Những tồn tại, hạn chế, vướng mắc còn đang gặp phải.............................. 29
2.3. Những nguyên nhân ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về hoạt động xuất
bản sách ở Việt Nam hiện nay............................................................................ 35
Tiểu kết Chương 2.............................................................................................. 37
Chương 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN SÁCH Ở VIỆT NAM TRONG THỜI
GIAN TỚI.............................................................................................................. 39
3.1. Định hướng quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất bản........................ 39
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản...... 40
Tiểu kết Chương 3.............................................................................................. 51
KẾT LUẬN............................................................................................................ 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................54 2 KHÁI QUÁT ĐỀ TÀI
1. Lý do lựa chọn đề tài
Ở Việt Nam, xuất bản được ý thức như là một trong những lĩnh vực văn hóa
tư tưởng phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Vì
thế trong suốt cả thời kỳ vận động cách mạng cũng như trong từng giai đoạn phát
triển xã hội, văn hóa, xuất bản, báo chí luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng của Đảng.
Quản lý Nhà nước về xuất bản là một khía cạnh quan trọng trong quá trình
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân,
do dân, vì dân, và cần được thực hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Hiện nay,
Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng đến việc quản lý hoạt động xuất bản, đã tiến
hành nhiều cải cách quan trọng, mang lại hiệu quả tích cực, nhất là kể từ khi Luật
Xuất bản năm 2012 được ban hành.
Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cho thấy, quản lý Nhà nước đối với xuất bản
ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế: vấn đề về bản quyền và quyền sở hữu trí tuệ chưa
được quản lý một cách chặt chẽ, triệt để; khung pháp lý vẫn còn tồn tại nhiều hạn
chế, bất cập, gây khó khăn, rắc rối cho các nhà xuất bản,... Đồng thời, công nghệ
thông tin và truyền thông phát triển nhanh chóng trong thời đại mới đã làm thay
đổi cách thức xuất bản và tiêu thụ sản phẩm xuất bản. Các nền tảng xuất bản kỹ
thuật số và mạng xã hội mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức
về kiểm duyệt và quản lý nội dung. Điều này yêu cầu cơ chế quản lý linh hoạt và
cập nhật. Ngoài ra, ngành xuất bản còn phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ
các nhà xuất bản quốc tế. Việc này yêu cầu có những chính sách quản lý hiệu quả
để hỗ trợ các nhà xuất bản trong nước. Với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế,
ngành xuất bản buộc phải tuân thủ các quy định và tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời
cần có chính sách bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của ngành trong nước. 3
Trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay, các kỹ thuật in ấn, xuất bản ấn phẩm
số phát triển vượt bậc, các tác phẩm được tiếp cận với công chúng rất dễ dàng và
nhanh chóng đã mang lại những tác động tích cực, song đồng thời cũng tạo ra
nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội. Vì thế, quản lý Nhà nước về hoạt động xuất
bản phải thực hiện đồng thời cả hai nhiệm vụ: phát huy khả năng sáng tạo tác phẩm
và kiểm soát nội dung của tác phẩm. Đây vừa là yêu cầu cho các nhà nghiên cứu,
vừa là nhiệm vụ trực tiếp cho các cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực này.
2. Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn đề tài nhằm mục đích phân tích những nội dung quản lý Nhà nước
về hoạt động xuất bản và những vấn đề đã, đang tồn tại liên quan đến hoạt động
quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản. Từ đó đưa ra các nguyên nhân, giải pháp
để thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Những nội dung quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản và những vấn đề
đã, đang tồn tại liên quan đến hoạt động quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động xuất bản gồm 03 lĩnh vực: Xuất bản, In, Phát hành. Mỗi lĩnh vực
có một vị trí, đặc trưng riêng, song không thể tách rời nhau.
Chúng có mối quan hệ tác động tương hỗ qua lại với nhau. Do vậy, luận văn
cần nghiên cứu Quản lý Nhà nước trên cả ba lĩnh vực của hoạt động xuất bản,
nhưng lấy việc quản lý Nhà nước bằng pháp luật về xuất bản, trong đó xuất bản sách là trọng tâm.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu: 4
Tiến hành đọc, nghiên cứu và phân tích các công trình nghiên cứu khoa học,
sách, giáo trình chuyên ngành, Luật xuất bản 2012 và các văn bản dưới luật thuộc
lĩnh vực xuất bản, các trang báo, trang thông tin điện tử liên quan đến xuất bản. 5 Chương 1
PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý Nhà nước trong hoạt động xuất bản
1.1.1. Các khái niệm liên quan
1.1.1.1. Khái niệm về xuất bản
Dựa theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, “Xuất
bản là in ra thành sách báo, tranh ảnh để phát hành”, đây là khái niệm đơn giản
nhưng chưa bao hàm, khái quát được đầy đủ những vai trò, tầm quan trọng và vị trí
của xuất bản trong đời sống xã hội. Theo Khoản 1 Điều 4 của Luật Xuất bản 2012:
“Xuất bản là việc tổ chức, khai thác bản thảo, biên tập thành bản mẫu để in và
phát hành hoặc để phát hành trực tiếp qua các phương tiện lịch sử”. Xuất bản
không chỉ đơn thuần là việc in ấn hay đăng tải nội dung mà còn là một quá trình
lao động trên ba lĩnh vực tưởng như độc lập nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với
nhau là tổ chức bản thảo, biên tập và in ấn, phát hành. Hoạt động xuất bản là sản
xuất và phân phối các tác phẩm văn học, khoa học, giải trí tới công chứng qua
những phương tiện truyền thông như sách, tạp chí, báo in hay phát triển hơn là
thiết kế đồ họa, dịch thuật và biên tập đầu sách điện tử, CD, website, ebook,…
Mang sứ mệnh mục tiêu quan trọng như bao hoạt động văn hóa khác, xuất
bản có vai trò rất quan trọng và đa chiều trong xã hội hiện đại. Công tác xuất bản
hướng tới lưu trữ những tinh hoa văn hoá thế giới, quốc gia và truyền bá thông qua
những tác phẩm về văn hoá, chính trị, kinh tế, văn học xã hội dưới nhiều hình thức
tới quần chúng. Xuất bản là công cụ giáo dục và học tập, không chỉ bảo tồn những
nguồn tri thức về văn học, lịch sử, nghệ thuật và văn hoá mà còn cung cấp tài liệu
giáo dục nghiên cứu và học tập cho học sinh, sinh viên; giúp cải thiện chất lượng 6
giáo dục và nâng cao mở rộng tri thức. Hơn hết, xuất bản hướng tới mục tiêu hoàn
thiện và phát triển con người, thông qua việc truyền bá thông tin tri thức, công
nghệ hiện đại để xây dựng nền tảng vững chắc về trình độ và tư tưởng văn hoá cho
nhân dân - lực lượng sản xuất chính trong công cuộc đưa xã hội phát triển trong thế kỷ mới.
1.1.1.1.1. Đặc điểm của hoạt động xuất bản
Xuất bản là phương tiện truyền thông đại chúng.
Trong thời đại bùng nổ thông tin số như hiện nay, xuất bản có đặc điểm
truyền thông và là trung tâm của những mạng lưới truyền thông phổ biến rộng rãi.
Xuất bản có vai trò phổ biến những giá trị văn hoá, tri thức được lưu giữ tới mọi
người trong xã hội; nếu thiếu đi văn bản thì dòng chảy của kiến thức, kinh nghiệm,
văn hoá giáo dục,… sẽ không được lưu thông và tiếp tục lan truyền tới cộng đồng.
Xuất bản mang tính văn hoá tinh thần, có chất lượng và thẩm mỹ.
Xuất bản ra đời để đáp ứng nhu cầu về đời sống tinh thần của con người,
không chỉ đơn thuần là hoạt động sáng tác mà nó còn thúc đẩy, nâng cao tính sáng
tạo giúp đa dạng các loại hình từ truyền thống như báo in, sách đến hiện đại như
website, audiobook,… Xuất bản đều tập trung vào chất lượng và tính thẩm mỹ để
tăng hiệu quả tác động và thu hút nhóm công chúng.
Xuất bản không chỉ phục vụ lĩnh vực kinh tế mà còn thực hiện các nguyên
tắc văn hoá, tư tưởng trong xã hội.
Với sự hội nhập quốc tế nhanh chóng cùng quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá được chú trọng ở nước ta, hoạt động xuất bản vừa phải phục vụ cho sự phát
triển của lĩnh vực kinh tế vừa phải thực hiện mục tiêu tư tưởng, khoa học, văn hoá.
Xuất bản không chỉ dừng lại ở hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận thông thường mà
còn hướng đến phát triển văn hoá, tư tưởng thông qua việc truyền bá thông tin, tri thức và ý tưởng.
Hoạt động xuất bản bị ảnh hưởng bởi cơ chế thị trường. 7
Quá trình toàn cầu hoá và cuộc chạy đua về khoa học công nghệ có tác động
sâu sắc đến tất cả lĩnh vực từ chính trị đến kinh tế; hoạt động xuất bản cũng nằm
trong phạm vi bị ảnh hưởng bởi cả yếu tố tích cực lẫn tiêu cực. Tuy những chính
sách đang được đẩy mạnh và phát triển để hỗ trợ cho hoạt động xuất bản, lĩnh vực
này vẫn chứng kiến những hiện tượng không mấy khả quan như tình trạng in lậu
sách, vấn đề bản quyền, gian lận trong hoạt động kinh doanh,… Các đặc điểm là
nền tảng để hình thành nhiệm vụ, mục tiêu giúp định hướng hoạt động xuất bản
đóng góp tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá và công tác tư tưởng - chính trị của đất nước.
1.1.1.1.2. Vai trò của hoạt động xuất bản trong đời sống xã hội
Xuất bản đóng vai trò quan trọng trong nhiều khía cạnh đời sống văn hoá, xã
hội và kinh tế ở Việt Nam. Không chỉ là một ngành công nghiệp mà còn là một
phần không thể thiếu của hệ thống giáo dục, văn hoá; một yếu tố then chốt trong
quá trình phát triển toàn diện của đất nước.
Hoạt động xuất bản là một phương thức tuyên truyền, phổ biến và củng cố
chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước và tri thức đa lĩnh
vực. Mục đích của xuất bản nhằm nâng cao dân trí, trình độ văn hoá trong xã hội
và ổn định nền tảng tư tưởng chính trị; đồng thời đáp ứng nhu cầu văn hóa lành
mạnh của người dân về giải trí và thông tin qua việc phát hành đa dạng những sản
phẩm. Xuất bản còn giúp bảo tồn và gìn giữ văn hoá, tri thức dân tộc qua việc phát
hành những tác phẩm văn học, nghệ thuật, lịch sử…
Hoạt động xuất bản cung cấp thông tin, tài liệu và tạo diễn đàn để người dân
được tham gia trao đổi ý kiến, thảo luận công khai và nắm bắt tình hình xã hội.
Qua những ấn phẩm song ngữ và dịch thuật, xuất bản giúp người dân được tiếp cận
và mở rộng tầm hiểu biết với những văn hoá và tri thức nước ngoài, thúc đẩy
quảng bá những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và giao lưu văn hoá, hợp tác quốc tế. 8
Xuất bản hay ngành Xuất bản - In - Phát hành sách đã trở thành một trong
những ngành công nghiệp sản xuất hiện đại, tạo công ăn việc làm ổn định và hình
thành được đội ngũ những người làm công tác in ấn, xuất bản vừa phát triển về cả
số lượng lẫn chất lượng, chuyên môn và nền tảng tư tưởng đều vững chắc
1.1.1.2. Khái niệm của quản lý Nhà nước
Quản lý Nhà nước là sự tác động của các chủ thể có quyền lực Nhà nước
bằng pháp luật đến các đối tượng được quản lý nhằm thực hiện các chức năng và
chức năng đối ngoại của Nhà nước.
Chủ thể của hoạt động quản lý Nhà nước gồm: cơ quan Nhà nước, cá nhân
được ủy quyền thực hiện hoạt động quản lý Nhà nước.
Quản lý Nhà nước bao gồm các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp,
cũng như quản lý tài chính, quản lý ngân sách và quản lý các nguồn lực khác của
quốc gia. Các nhiệm vụ của quản lý Nhà nước thường bao gồm:
Thi hành pháp luật và chính sách công: Đảm bảo thực thi pháp luật và chính
sách do các cơ quan lập pháp thông qua.
Quản lý các ngành công nghiệp và dịch vụ công: Điều hành và giám sát các
hoạt động của các ngành công nghiệp, dịch vụ và các cơ sở hạ tầng quốc gia.
Bảo vệ lợi ích công cộng: Đảm bảo bảo vệ quyền lợi và lợi ích của cộng đồng và quốc gia.
Quản lý tài chính và ngân sách: Quản lý ngân sách Nhà nước, thu thuế và sử
dụng các nguồn lực tài chính khác để phát triển và duy trì hoạt động của quốc gia.
Đối ngoại và quản lý quốc tế: Thực hiện các hoạt động ngoại giao, quản lý
quan hệ quốc tế và tham gia vào các tổ chức quốc tế. Một ví dụ về quản lý Nhà
nước là Cục Thuế Tỉnh/Thành phố trong hệ thống quản lý thuế của một quốc gia.
Cục Thuế có nhiệm vụ quản lý và điều hành các hoạt động liên quan đến thuế, đảm
bảo thu nhập nguồn lực cho ngân sách quốc gia và thực hiện chính sách thuế của Nhà nước. 9
1.1.1.3. Khái niệm quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất bản
Khái niệm của quản lý Nhà nước trong hoạt động xuất bản đề cập đến vai trò
của Chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc điều hành và quản lý
các hoạt động liên quan đến xuất bản sách báo, tạp chí, phim ảnh và các nội dung
truyền thông khác. Quản lý Nhà nước thường bao gồm việc ban hành và thi hành
các quy định pháp luật, đảm bảo tuân thủ các quy chuẩn chất lượng, kiểm soát nội
dung và giám sát các hoạt động xuất bản để đảm bảo tính hợp pháp, an toàn và
đúng đắn của các sản phẩm văn hóa truyền thông.
Ngoài ra, quản lý Nhà nước còn có thể liên quan đến việc cấp phép hoạt
động xuất bản, quản lý phân phối và tiếp thị sản phẩm xuất bản, bảo vệ quyền lợi
của các tác giả và người sáng tác, và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành
công nghiệp xuất bản trong nước. Trích dẫn quản lý Nhà nước trong hoạt động
xuất bản tại Việt Nam của Luật Xuất bản 2012: “Đây là khung pháp lý quan trọng
điều chỉnh hoạt động xuất bản ở Việt Nam. Theo đó, tất cả các ấn phẩm phải được
kiểm duyệt nội dung trước khi phát hành. Ví dụ, Cục Xuất bản, In và Phát hành
thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông kiểm tra và phê duyệt các ấn phẩm trước khi
chúng được phát hành ra công chúng để đảm bảo không có nội dung vi phạm pháp
luật hoặc các quy định về văn hóa, đạo đức”.
1.1.2. Đặc điểm của quản lý Nhà nước trong hoạt động xuất bản
Quy định và pháp lý: Chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước thường
ban hành các quy định, luật pháp để quản lý hoạt động xuất bản. Điều này bao gồm
việc cấp phép hoạt động xuất bản, quản lý nội dung và kiểm duyệt trước khi phát
hành, bảo vệ quyền lợi của người sáng tác và độc giả. Ví dụ, trong Luật Xuất bản
2012: “Luật này quy định về hoạt động xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm;
quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất bản; quản lý Nhà
nước về xuất bản”. 10
Quy định kiểm duyệt: Mọi xuất bản phẩm phải được kiểm duyệt và cấp phép
trước khi phát hành. Các cơ quan quản lý kiểm tra nội dung để đảm bảo không vi
phạm pháp luật, không ảnh hưởng xấu đến văn hóa và đạo đức xã hội. Nghị định
195/2013/NĐ-CP đã quy định chi tiết một số điều của Luật Xuất bản: “Nghị định
này hướng dẫn chi tiết về cấp giấy phép hoạt động xuất bản, in, phát hành xuất
bản phẩm; thủ tục xin phép, quyền và nghĩa vụ của các nhà xuất bản”.
Kiểm soát nội dung: Chính phủ có thể tham gia vào việc kiểm soát nội dung
của các tác phẩm xuất bản để đảm bảo tính phù hợp với các chính sách, giá trị văn
hóa và quy định pháp luật của quốc gia. Điều này thường được thực hiện thông qua
các cơ quan giám sát và kiểm duyệt nội dung, Năm 2020, cuốn sách "Gạc Ma -
Vòng tròn bất tử" đã bị Bộ Thông tin và Truyền thông yêu cầu thu hồi vì có một số
chi tiết không phù hợp. Nhà xuất bản đã phải thu hồi toàn bộ số sách đã phát hành
và chỉnh sửa nội dung theo yêu cầu của cơ quan quản lý.
Quản lý phân phối và tiếp thị: Chính phủ có thể can thiệp để quản lý và điều
hành quá trình phân phối và tiếp thị các sản phẩm xuất bản. Điều này nhằm đảm
bảo sự công bằng, hiệu quả trong phân phối các tác phẩm văn hóa truyền thông và
ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật. Một minh chứng tiêu biểu đối với Hội
Sách Quốc gia, Chính phủ Việt Nam hỗ trợ tổ chức các hội chợ sách quốc gia, tạo
điều kiện cho các nhà xuất bản quảng bá và bán sách trực tiếp đến người tiêu dùng.
Đây là cơ hội để các nhà xuất bản tiếp thị sản phẩm của mình, đồng thời khuyến
khích văn hóa đọc trong cộng đồng.
Bảo vệ quyền lợi tác giả và độc giả: Quản lý Nhà nước còn có nhiệm vụ bảo
vệ quyền lợi của các tác giả, nhà xuất bản và độc giả. Điều này có thể bao gồm
việc thi hành các quy định bản quyền, xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và đảm
bảo các điều khoản hợp đồng xuất bản được thực thi đầy đủ. Lấy Luật Sở hữu trí
tuệ 2005 (Sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) làm ví dụ: “Luật này quy định về bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ 11
thuật và khoa học. Các tác giả có quyền yêu cầu bồi thường nếu phát hiện hành vi
vi phạm bản quyền”.
Thúc đẩy phát triển ngành xuất bản: Chính phủ thường có vai trò khuyến
khích và thúc đẩy phát triển ngành xuất bản bền vững thông qua các chính sách hỗ
trợ, khuyến khích đầu tư, nghiên cứu và phát triển công nghệ xuất bản, cũng như
đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành.
Những đặc điểm này phản ánh vai trò quan trọng của quản lý Nhà nước
trong việc đảm bảo môi trường pháp lý, đạo đức và văn hóa cho hoạt động xuất
bản, từ đó đảm bảo rằng các sản phẩm văn hóa truyền thông được phát hành là hợp
pháp, an toàn và có ích cho cộng đồng.
1.1.3. Vai trò của quản lý Nhà nước trong hoạt động xuất bản
Xây dựng và ban hành chính sách: Chính phủ ban hành các chính sách, điều
luật và quy định nhằm định hướng hoạt động xuất bản. Các văn bản pháp luật này
giúp xác định rõ các quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong ngành xuất
bản. Nhà nước thực hiện quy hoạch phát triển ngành xuất bản, đảm bảo sự phát
triển cân đối giữa các loại hình xuất bản và giữa các vùng miền. Ví dụ như: Chiến
lược phát triển ngành xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm đến năm 2025, tầm
nhìn đến năm 2030. Với nội dung đề ra các mục tiêu phát triển ngành xuất bản, in
và phát hành xuất bản phẩm, bao gồm cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng
xuất bản phẩm và mở rộng thị trường. Định hướng nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp xuất bản phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế và
khuyến khích sáng tạo nội dung phong phú, đa dạng.
Quản lý nội dung và chất lượng: Với khâu kiểm duyệt nội dung, Nhà nước
có trách nhiệm kiểm duyệt nội dung các ấn phẩm trước khi xuất bản để đảm bảo
không vi phạm pháp luật, không chứa đựng nội dung độc hại, phản động, hay gây
hại đến an ninh quốc gia và đạo đức xã hội. Để đảm bảo chất lượng, Quản lý Nhà
nước đảm bảo các ấn phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, không sai lệch 12
về thông tin và phù hợp với thuần phong mỹ tục. Khâu kiểm duyệt nội dung sách
giáo khoa, các đầu sách giáo khoa phải được kiểm duyệt nội dung kỹ lưỡng để đảm
bảo chính xác về mặt chuyên môn, phù hợp với chương trình giảng dạy của Bộ
Giáo dục và Đào tạo. Khâu kiểm duyệt nhằm đảm bảo rằng nội dung sách giáo
khoa cung cấp kiến thức chính xác, không có thông tin sai lệch hoặc gây hiểu lầm cho học sinh.
Cấp phép và giám sát: Các nhà xuất bản phải được cấp phép hoạt động từ cơ
quan quản lý Nhà nước. Quy trình này giúp kiểm soát và đảm bảo rằng các tổ
chức, cá nhân tham gia xuất bản có đủ điều kiện và khả năng thực hiện công việc
này. Đồng thời, Nhà nước phải tiến hành giám sát, kiểm tra hoạt động xuất bản để
phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm, đảm bảo hoạt động xuất bản diễn ra đúng
quy định pháp luật.
Hỗ trợ và phát triển: Trong lĩnh vực tài chính và kỹ thuật, Nhà nước có thể
cung cấp hỗ trợ tài chính, kỹ thuật cho các nhà xuất bản, đặc biệt là những đơn vị
mới thành lập hoặc những lĩnh vực xuất bản có tầm quan trọng đặc biệt. Nhà nước
đóng vai trò tiên quyết trong việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, tổ chức các
chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho những người làm trong ngành
xuất bản để nâng cao trình độ và năng lực. Với chương trình hỗ trợ tái cơ cấu, đầu
tư công nghệ cho doanh nghiệp xuất bản, Chính phủ Việt Nam cung cấp các gói tài
trợ để các nhà xuất bản cải thiện cơ sở hạ tầng, đầu tư vào công nghệ hiện đại như
máy in, phần mềm xuất bản, hệ thống quản lý thông tin. Những định hướng và
chính sách trên nhằm nâng cao năng lực sản xuất, giảm chi phí, tăng năng suất lao
động và chất lượng sản phẩm xuất bản.
Bảo vệ quyền lợi: Nhà nước bảo vệ quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ,
ngăn chặn các hành vi vi phạm bản quyền, sao chép trái phép. Trong Điều 7 Luật
Sở hữu trí tuệ 2005, Nhà nước đã quy định: “Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ
không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích 13
hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định pháp
luật có liên quan”. Đồng thời, để đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng, Nhà nước
đưa ra những chính sách quản lý chất lượng xuất bản phẩm để người tiêu dùng
được tiếp cận với các ấn phẩm chất lượng, không chứa nội dung lừa đảo hay gây hại.
Khuyến khích sáng tạo và đa dạng hóa: Nhà nước khuyến khích sự sáng tạo
trong ngành xuất bản, hỗ trợ các tác giả và nhà xuất bản đưa ra những sản phẩm
mới, sáng tạo và đa dạng từ hình thức đến nội dung truyền tải. Những nội dung
xuất bản được tạo điều kiện để khai thác đa chiều và đa lĩnh vực trong đời sống xã
hội, phù hợp với nhiều tệp khán giả. Điển hình như thời gian gần đây, Nhà nước
khuyến khích các nhà xuất bản sản xuất và phát hành sách về các đề tài thiếu nhi,
giáo dục, khoa học và công nghệ cho các độc giả trẻ với mục đích nâng cao tri thức
và giáo dục cho thế hệ trẻ, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của cá nhân từ khi còn nhỏ.
1.2. Nội dung của quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản
Quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản là quá trình điều hành, giám sát và
điều chỉnh các hoạt động liên quan đến xuất bản nhằm đảm bảo tính pháp lý, chất
lượng và sự phát triển lành mạnh của ngành xuất bản.
Nội dung cụ thể của quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản đã được quy
định tại Điều 6 Luật Xuất bản 2012. Theo đó, việc quản lý Nhà nước về lĩnh vực
này bao gồm các khía cạnh sau:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách
phát triển hoạt động xuất bản; ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp
luật về hoạt động xuất bản và bản quyền tác giả trong hoạt động xuất bản;
- Tổ chức đọc, kiểm tra, thẩm định xuất bản phẩm lưu chiểu;
- Cấp, thu hồi các loại giấy phép trong hoạt động xuất bản; 14
- Nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong hoạt động xuất bản;
đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về hoạt động xuất bản;
- Hợp tác quốc tế trong hoạt động xuất bản;
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật
trong hoạt động xuất bản;
- Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, thống kê và công tác thi đua, khen
thưởng trong hoạt động xuất bản; tuyển chọn và trao giải thưởng đối với xuất bản phẩm có giá trị cao.
Ngoài ra, Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản trong phạm vi cả nước.
- Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện
quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản.
- Các bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực
hiện quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản theo thẩm quyền.
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung
là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản tại địa phương.
Do đó, hoạt động xuất bản là một hoạt động liên quan đến cả lĩnh vực kinh
tế và lĩnh vực văn hóa, tư tưởng. Nội dung liên quan đến quản lý xuất bản của Nhà
nước có những đặc điểm riêng biệt, nhưng nó vẫn phù hợp với các nguyên tắc quản
lý của Nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác.
Có nhiều cách tiếp cận nội dung quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản,
theo đó, nội dung quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất bản tại Việt Nam bao
gồm các nội dung cơ bản về việc:
Thứ nhất, xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật.
“Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật”, theo
Hiến pháp năm 2013. Muốn quản lý bằng pháp luật thì trước hết phải có luật pháp; 15
luật pháp phải đúng, phải đủ. Nhà nước phải thành lập các cơ quan để quản lý xuất
bản. Điều này bao gồm việc thiết lập hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để điều
chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực liên quan đến xuất bản. Cơ quan quản
lý Nhà nước xây dựng và ban hành các luật, nghị định, thông tư và các văn bản
hướng dẫn nhằm điều chỉnh hoạt động xuất bản, ví dụ như Luật Xuất bản, các nghị
định hướng dẫn thi hành, và các thông tư quy định chi tiết.
Việc xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật về hoạt động xuất bản là một
nội dung quan trọng của hoạt động quản lý Nhà nước nhằm thiết lập khung pháp lý
để điều chỉnh hoạt động xuất bản. Song các cơ quan, Nhà nước có thẩm quyền phải
thiết lập hệ thống văn bản pháp luật về xuất bản một cách phù hợp để có thể tạo ra
một công cụ pháp lý hiệu quả cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện
các chức năng và nhiệm vụ của họ.
Thứ hai, kiểm duyệt nội dung, tổ chức đọc, kiểm tra, thẩm định xuất bản phẩm lưu chiểu.
Đọc xuất bản phẩm lưu chiểu để xác định và xử lý nhanh chóng các xuất bản
phẩm vi phạm quy định của Luật Xuất bản. Quản lý nội dung xuất bản để đảm bảo
không vi phạm các quy định về an ninh quốc gia, văn hóa, đạo đức, và các vấn đề
nhạy cảm khác. Cơ quan quản lý có thể yêu cầu chỉnh sửa, thu hồi hoặc cấm phát
hành các ấn phẩm vi phạm.
Điều 29 của Luật Xuất bản 2012 quy định rõ về việc đọc, kiểm tra xuất bản
phẩm lưu chiểu và thẩm quyền xử lý xuất bản phẩm vi phạm. Theo đó:
- Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức đọc, kiểm tra xuất bản phẩm lưu
chiểu và quyết định việc xử lý xuất bản phẩm vi phạm theo quy định của Luật này
và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức đọc, kiểm tra xuất bản phẩm lưu chiểu và
quyết định việc xử lý xuất bản phẩm vi phạm theo quy định của Luật này và các 16
quy định khác của pháp luật có liên quan đối với xuất bản phẩm do mình cấp giấy phép xuất bản.
- Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng
Bộ Tài chính quy định chế độ thù lao cho người đọc và kiểm tra, thẩm định xuất bản phẩm lưu chiểu.
Thứ ba, cấp, đăng ký, thu hồi các loại giấy phép trong hoạt động xuất bản.
Hoạt động này bao gồm các quy định và thủ tục liên quan đến việc cấp mới,
đăng ký, gia hạn và thu hồi các giấy phép cần thiết để tham gia vào hoạt động xuất
bản. Quản lý Nhà nước yêu cầu các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất bản
phải có giấy phép hoạt động hoặc đăng ký với cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan
quản lý phải đảm bảo rằng các quy định về cấp, cấp đổi, cấp lại và thu hồi giấy
phép hoạt động in xuất bản phẩm được thực hiện, triển khai đúng cách, đây là bước
quan trọng trong quá trình sản xuất xuất bản phẩm đạt được chất lượng tốt đến bạn đọc.
Thứ tư, nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong hoạt động xuất
bản, đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về hoạt động xuất bản.
Đối với việc nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ hiện đại trong
hoạt động xuất bản, đồng thời đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động xuất bản,
các yêu cầu được đặt ra có thể kể đến như: đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng thành
tựu khoa học công nghệ; sản xuất trong xuất bản, in ấn và phát hành tạo bước đột
phá về hiệu quả hoạt động, chất lượng và hiệu quả; phát huy tính chủ động, sáng
tạo đến từ đội ngũ cán bộ, nhân viên; nâng cao nhận thức về việc tuân thủ và thực
thi hiệu quả pháp luật về sở hữu trí tuệ; chú trọng nâng cao kiến thức, kỹ năng
chuyên môn trong hoạt động xuất bản;... Bên cạnh đó còn có các yêu cầu khác như
thực hiện đổi mới tổ chức, xây dựng quy chế liên kết khoa học, công nghệ, giáo
dục và đào tạo, kết hợp giữa nghiên cứu giảng dạy với sản xuất kinh doanh trong
thực tiễn; khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp triển khai các hoạt động nghiên 17
cứu khoa học, công nghệ; tích cực đẩy mạnh việc sử dụng chính sách trọng dụng
nhân tài, kỹ thuật viên lành nghề,… trong hoạt động xuất bản.
Thứ năm, hợp tác quốc tế trong hoạt động xuất bản.
Nhiệm vụ của hợp tác quốc tế trong xuất bản là mở rộng thị trường và tăng
cường tiếp cận, tăng cường đổi mới và công nghệ, bảo vệ quyền lợi bản quyền của
các tác giả và nhà xuất bản trên toàn cầu, giao lưu văn hóa và ngôn ngữ, hỗ trợ
giáo dục và nghiên cứu bằng cách cung cấp tài liệu giáo trình nghiên cứu chất
lượng cao, thúc đẩy đổi mới trong nội dung và hình thức. Nhờ vậy, tăng cường hợp
tác quốc tế trong hoạt động xuất bản giúp đất nước thúc đẩy văn hóa và giáo dục,
bảo vệ quyền lợi lợi ích quốc gia, nâng cao hình ảnh quốc gia, xây dựng cộng đồng
văn hóa và hòa nhập quốc tế cũng như đổi mới công nghệ và quản lý. Ngoài ra,
hoạt động này còn nhằm tăng cường sự phát triển, trao đổi kiến thức và công nghệ
giữa các quốc gia, đồng thời nâng cao chất lượng và sự đa dạng của các ấn phẩm
xuất bản, đảm bảo chất lượng của các xuất bản phẩm phù hợp với thị trường, đối
tác, ngăn chặn các luồng thông tin không lành mạnh xâm nhập vào Việt Nam.
Thứ sáu, thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm
pháp luật trong hoạt động xuất bản.
Cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột
xuất để đảm bảo các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực xuất bản tuân thủ
đúng các quy định của pháp luật, đồng thời phát hiện, xử lý, ngăn chặn kịp thời các
hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản, bao gồm cả xử phạt hành
chính, đình chỉ hoạt động, hoặc các hình thức xử phạt khác theo quy định pháp
luật. Công tác điều tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật
trong hoạt động xuất bản là một phần quan trọng nhằm đảm bảo tính hợp pháp,
minh bạch và công bằng trong lĩnh vực này, góp phần bổ sung và hoàn thiện chính
sách, pháp luật, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch xuất bản, từ đó đào tạo bồi dưỡng
phát triển nguồn nhân lực trong hoạt động xuất bản. 18
Thứ bảy, thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, thống kê và công tác thi đua,
khen thưởng trong hoạt động xuất bản; tuyển chọn và trao giải thưởng đối với xuất
bản phẩm có giá trị cao.
Việc thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, thống kê nhằm đảm bảo quản lý
hiệu quả và minh bạch hoạt động xuất bản, đồng thời cũng giúp cho cơ quan quản
lý Nhà nước có cái nhìn tổng thể và đưa ra các quyết định phù hợp. Các nhà xuất
bản phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ (hàng quý, hàng năm) về các hoạt động
xuất bản, in ấn và phát hành. Báo cáo cần nộp cho cơ quan quản lý Nhà nước có
thẩm quyền, bao gồm thông tin về số lượng xuất bản phẩm, doanh thu, chi phí, vi
phạm (nếu có) và các thông tin liên quan khác.
Về công tác thi đua khen thưởng trong hoạt động xuất bản, mục tiêu của việc
này nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong ngành xuất bản nâng cao chất
lượng, sáng tạo trong công việc. Các cơ quan quản lý tổ chức các phong trào thi
đua, đánh giá kết quả hoạt động của các nhà xuất bản, cơ sở in ấn và phát hành.
Việc khen thưởng cần dựa trên các tiêu chí về chất lượng xuất bản phẩm, số lượng
xuất bản phẩm, sáng tạo và đóng góp cho ngành xuất bản. Cơ quan quản lý cần
nắm rõ thông tin về các cơ quan, tổ chức khi có những hoạt động liên quan đến
lĩnh vực xuất bản, có như vậy mới có thể đề nghị các hình thức khen thưởng hoặc
kỷ luật một cách phù hợp.
Việc tuyển chọn và trao giải thưởng đối với các xuất bản phẩm có giá trị cao
cũng là một khâu cần thiết trong nội dung quản lý Nhà nước về hoạt động xuất
bản. Điều này giúp tôn vinh và khuyến khích sáng tạo, nâng cao giá trị văn hóa, tri
thức qua các xuất bản phẩm.
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước trong hoạt động xuất bản
1.3.1. Những yếu tố thuộc về chủ thể quản lý
Theo quan điểm về đường lối lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản
ở Việt Nam, Đảng Cộng sản là đảng cầm quyền, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước. 19
Vì vậy, những chủ trương, đường lối của Đảng tác động trực tiếp đến việc quản lý
Nhà nước về hoạt động xuất bản cũng như các hoạt động khác.
Khả năng nhận thức của lãnh đạo các cấp về hoạt động xuất bản có vai trò
quyết định đến phương hướng phát triển của hoạt động xuất bản. Nếu lãnh đạo các
cấp có nhận thức đúng đắn về hoạt động xuất bản, coi đây là hoạt động tư tưởng,
văn hoá thì sẽ tạo điều kiện về vật chất, tinh thần, ủng hộ để hoạt động xuất bản
phát triển. Ngược lại, nếu lãnh đạo các cấp nói chung và cơ quan chủ quản Nhà
nước nói riêng nhìn nhận nhà xuất bản đơn thuần là đơn vị kinh doanh sách, hời
hợt, thậm chí bỏ rơi nhà xuất bản, buộc nhà xuất bản phải tự thân vận động, thì
thực tiễn sẽ xa rời những định hướng, mục tiêu chính trị, tư tưởng ban đầu của hoạt động xuất bản.
Đội ngũ cán bộ quản lý cũng tác động trực tiếp đến chất lượng của quản lý
Nhà nước về hoạt động xuất bản. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý
Nhà nước, cũng như số lượng cán bộ quản lý để đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ sẽ
quyết định đến hiệu lực, hiệu quả của quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản.
Ngoài ra, hiện nay ở các nước đang phát triển, yếu tố đạo đức nghề nghiệp,
sự trong sạch của bộ máy quản lý Nhà nước cũng là vấn đề được đặc biệt quan
tâm. Nếu những tiêu cực diễn ra tại các cơ quan quản lý Nhà nước như tình trạng
tham nhũng, hối lộ sẽ gây ra sự thiếu công bằng giữa các chủ thể của hoạt động
xuất bản, môi trường kinh doanh từ đó trở nên không lành mạnh, các nhà xuất bản,
cơ sở in và phát hành chân chính sẽ gặp bất lợi trong kinh doanh, hoạt động vì
không được các cơ quan Nhà nước bảo vệ, tình trạng sách giả, sách lậu tràn lan, từ
đó gây mất niềm tin của các nhà đầu tư và các nhà xuất bản, cơ sở in và phát hành.
1.3.2. Những yếu tố thuộc về đối tượng quản lý
Năng lực của các nhà xuất bản, cơ sở in và phát hành có ảnh hưởng đến
quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản. Năng lực của các nhà xuất bản, cơ sở in
và phát hành gồm tiềm lực tài chính, nguồn nhân lực, thương hiệu, văn hoá của 20