Quang
rinh
1
2
3
4
làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn sang công ty và tài sản hình thành trong quá
trình công ty hoạt động là tài sản của công ty.
1.3. Thành viên của công ty hợp danh
●Thành viên hợp danh
Theo quy định khoản 2 Điều 17 của Luật doanh nghiệp 2020
“Công ty hợp danh phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, thành viên hợp danh phải
là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.
Không thuộc các trường hợp cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp.
Theo đó có thể thấy thành viên hợp danh là nhân tố quan trọng để thành lập và vận
hành công ty hợp danh theo quy định của pháp luật. Việc thay đổi thành viên hợp danh như
trường hợp họ chết, mất năng lực hành vi dân sự hay rút vốn khỏi công ty sẽ ảnh hưởng rất lớn
đến cơ cấu vốn, hoạt động tổ chức, thậm chí là đến nguy cơ tồn tại chấm dứt của công ty.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp những năm trước đây, thành viên hợp danh phải là
những người “có trình độ chuyên môn và uy n nghề nghiệp”. Vì các công ty hợp danh thường
được thành lập dựa trên trình độ chuyên môn và danh ếng, uy n của các thành viên hợp danh.
Điều này cho thấy, sự liên kết giữa các thành viên trong công ty hợp danh là chặt chẽ, và do vậy
cũng hạn chế số người có thể trở thành thành viên hợp danh của công ty. Luật Doanh nghiệp năm
2020 không quy định về vấn đề này, nhưng để phù hợp với nh chất liên kết về nhân thân, vấn đề
trình độ chuyên môn, uy n nghề nghiệp… của các thành viên tham gia vẫn là yếu tố quan trọng
khi các thành viên quyết định liên kết thành lập công ty hợp danh.
Bên cạnh đó, thành viên hợp danh đối với các nghĩa vụ công ty là trách nhiệm vô hạn
liên đới, chủ nợ quyền yêu cầu bất kỳ thành viên hợp danh nào thanh toán các khoản nợ công
ty đối với chủ nợ. Mặt khác các thành viên hợp danh bằng toàn bộ tài sản của mình chịu trách
nhiệm về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra thành viên hợp danh có quyền được tham gia đóng
góp ý kiến đối với các vấn đề của công ty, đây là một trong nhưng đặc biệt quan trọng đến quá
trình, xây dựng phát triển công mà pháp luật doanh nghiệp ghi nhận, thành viên hợp danh còn
được nhân danh công ty để ến hành những hoạt động của công ty, điều này cho thấy vai trò
vị trí của thành viên hợp danh rất được xem trọng và theo đó việc kinh doanh cũng có thđiu
phối tốt hơn.
Thành viên hợp danh chấm dứt tư cách thành viên khi: Tự nguyện góp vốn khỏi công ty; Đã
chết, bTòa án tuyên bmất ch, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi
dân sự; Bị khai trừ khỏi công ty; Các trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định theo quy định
tại khoản 1 Điều 185 Luật doanh nghiệp
2020.
5
Bên cạnh các quy định trên, công ty hợp danh có thể ếp nhận thêm các thành viên hợp
danh, thành viên hợp danh mới phải cùng chịu tch nhiệm bằng bằng toàn bộ tài sản của mình
đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty, trừ trường hợp thành viên đó và các
thành viên còn lại thỏa thuận khác theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 186 Luật doanh
nghiệp 2020.
Bên cạnh những thuận lợi của thành viên hợp danh trong công ty hợp danh, thì hạn chế
đối với thành viên hợp danh. Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân
hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nht trí của các
thành viên hợp danh còn lại. Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc
nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghkinh doanh của công ty đó để
lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, nhân khác. Mặt khác, thành viên hợp danh không
được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ phn vốn góp của mình tại công ty cho người khác
nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại.
●Thành viên góp vốn
Theo quy định tại khoản 3 Điều 17 Luật doanh nghiệp 2020
Thành viên góp vốn có thể là tổ chức hoặc cá nhân. Mọi tổ chức, cá nhân đều có thể
trở thành, thành viên góp vốn của công ty hợp danh, trừ các trường hợp cấm góp vốn vào
doanh nghiệp.
Thành viên góp vốn chỉ quyền liên quan trực ếp tới quyền lợi ích hợp pháp của họ.
Thành viên góp vốn mặc không có quyền quản lý điều hành công ty hợp danh nhưng họ vẫn có
quyn tham gia họp, thảo luận và biểu quyết tại Hội đồng thành viên về việc sửa đổi, bổ sung điều
lệ công ty, sửa đổi, bổ sung các quyền nghĩa vụ của thành viên góp vốn, về tổ chức lại, giải thể
công ty và nội dung khác của điều lệ công ty có liên quan trực ếp đến quyền và nghĩa vụ của thành
viên góp vốn được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 187 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Về nguyên
tắc, trong các trường hợp, công ty có sự tham gia của cả thành viên góp vốn và thành viên góp vốn
được tham gia họp, thảo luận và biểu quyết tại Hội đồng thành viên. Hội đồng thành viên phải bao
gồm toàn thể các thành viên kể cả thành viên hợp danh thành viên góp vốn. Mỗi thành viên chỉ
một phiếu bầu quyết định của Hội đồng được thông qua bởi ít nhất 3/4 số thành viên hp
danh nhất trí chấp thuận. Mặc được quyền tham gia Hội đồng thành viên, nhưng Luật Doanh
nghiệp năm 2020 lại không cho phép thành viên góp vốn có quyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng
thành viên. Bởi vì, chỉ có thành viên hợp danh mới có quyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành
viên được quy định tại khoản 2 Điều 182 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Đây chính là vấn đề y ra
sự khó khăn, cản trở cho thành viên góp vốn khi cần đề nghị Hội đồng thành viên họp để giải quyết
những vấn đề quan trọng.
Ngoài ra, thành viên góp vốn có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của họ tại công ty
hợp danh cho người khác. Nếu so với thành viên hợp danh thì thành viên góp vốn thực hiện
quyn hạn này khá đơn giản, dễ dàng và không bị pháp luật đưa ra nhiều hạn chế, ràng buộc
6
như thành viên hợp danh. Thành viên góp vốn còn có quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh
người khác ến hành kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh của công ty.
1.4. Quy chế pháp lý về vốn của công ty hợp danh
Tài sản của công ty hợp danh
Tài sản trong công ty hợp danh bao gồm nhiều loại tài sản khác nhau. Trước hết, đó là tài
sản góp vốn của các thành viên hợp danh, tài sản này phải được chuyển quyền sở hữu cho công
ty để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh chung. Tiếp theo, công ty có thể tạo lập thêm tài
sản mang tên công ty trong quá trình hoạt động, bao gồm tài sản vật chất và tài sản trí tuệ.
Ngoài ra, tài sản thu được từ các hoạt động kinh doanh do thành viên hợp danh thực hiện nhân
danh công ty, hoặc nhân danh cá nhân nhưng liên quan đến ngành nghề kinh doanh đã đăng ký
của công ty, cũng được coi là tài sản của công ty. Cuối cùng, các loại tài sản khác theo quy định
của pháp luật cũng thuộc về công ty hợp danh, đảm bảo cho hoạt động của công ty diễn ra
suôn sẻ và có cơ sở pháp lý.
Theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 178 của Luật Doanh Nghiệp năm 2020, các thành
viên trong công ty hợp danh, bao gồm cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn, đều có
nghĩa vụ phải tuân thủ các cam kết về việc góp vốn đúng và đủ theo thời hạn đã thỏa thuận.
Cụ thể:
●Thành viên hợp danh và thành viên góp vốn phải chịu trách nhiệm góp đủ và đúng hn
số vốn đã cam kết với công ty. Điều này nhằm đảm bảo công ty có đủ nguồn lực tài
chính để vận hành và thực hiện các hoạt động kinh doanh như kế hoạch ban đầu.
●Trường hợp thành viên hợp danh không hoàn thành nghĩa vụ góp vốn đúng hạn, và sự
chậm trễ này dẫn đến thiệt hại cho công ty, thành viên đó sẽ phi chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại cho công ty. Đây là một quy định quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi
của công ty và các thành viên khác, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của thành
viên hợp danh trong việc quản lý và điều hành công ty.
●Đối với thành viên góp vốn, nếu không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết, thì phn
vốn chưa góp sẽ được xem như khoản nợ của thành viên đó đối với công ty. Thành
viên này sẽ phải trả số nợ này cho công ty. Ngoài ra, nếu thành viên góp vốn không
thực hiện nghĩa vụ này, họ có thể bị khai trừ khỏi công ty theo quyết định của Hội
đồng thành viên, nhằm đảm bảo nh công bằng và sự nghiêm túc trong việc thực hiện
cam kết.
Tại thời điểm góp đúng và đủ số vốn đã cam kết hoặc ến hành sang tên quyền sở hữu tài
sản (đối với trường hợp góp vốn bằng tài sản) thì các thành viên góp vốn sđược công ty cấp
giấy chứng nhận phần vốn góp. Trong trường hợp giấy chứng nhận bị mất,hư hỏng hoặc bị hủy
hoại…thì được công ty cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp.
Chuyển nhượng vốn góp trong công ty hợp danh
7
Theo quy định tại khoản 3 Điều 180 Luật doanh nghiệp 2020:
Thành viên hợp danh không được chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của
mình tại công ty cho tổ chức, cá nhân khác nếu không được sự chấp thuận của các thành
viên hợp danh còn lại”
Theo quy định trên thì thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc
toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận
của các thành viên hợp danh còn lại.
Trường hợp chuyển nhượng vốn góp của thành viên góp vốn: thành viên góp vốn có
quyn chuyển nhượng phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác quy định tại điểm
d khoản 1 Điều 187 Luật Doanh nghiệp 2020. Thành viên góp vốn, chuyển nhượng phần vốn
góp có sự tự do và dễ dàng hơn bởi lẽ, thành viên góp vốn là những nhà tài trợ về vốn, giúp
công ty có khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh, thay đổi thành viên góp vốn cũng không
làm ảnh hưởng đến cơ cấu nhân sự hay sự tồn tại cũng như nh đối nhân của nó nhưng sự
tự do này đã bị giới hạn nếu điều lệ công ty có những quy định khác.
Như vậy, qua phân ch bản chất pháp của công ty hợp danh theo quy định của pháp luật
hiện hành, thkhẳng định rằng công ty hợp danh chính là mô hình đặc trưng nhất của công ty
đối nhân. Điều này thể hin qua các yếu tố như sự n tưởng lẫn nhau giữa các thành viên, trách
nhiệm vô hạn và liên đới, cũng như vai trò trực ếp của thành viên hợp danh trong quản lý và vận
hành công ty. Công ty hợp danh dựa trên mối quan hệ cá nhân thay vì chỉ dựa vào vốn góp, tạo nên
sự gắn kết giữa các thành viên và đòi hỏi trách nhiệm cao từ họ. Chính những đặc điểm này đã làm
cho công ty hợp danh trở thành loại hình doanh nghiệp đối nhân êu biểu, nơi mà sự n nhiệm và
trách nhiệm cá nhân được đặt lên hàng đầu.
PHẦN 2: PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG NGHỊ ĐỊNH 01/2021
VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP ĐỂ THY ĐƯỢC CHỦ TRƯƠNG MỞ RỘNG QUYỀN T CHỦ CHO
CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC
Để ớng dẫn, quy định chi ết, đầy đủ hơn một số nội dung được giao tại Luật Doanh
nghiệp năm 2020 và nội dung có liên quan đến đăng ký doanh nghiệp tại văn bản quy phạm pháp
luật khác, đồng thời khắc phục những vướng mắc phát
sinh trong thực ễn thi hành Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng
ký doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã xây dựng dự thảo Nghị định về đăng ký doanh nghiệp
thay thế Nghị định số 01/2021/NĐ-CP.
Qua phản ánh của địa phương, doanh nghiệp, vẫn còn tồn tại các vướng mắc phát sinh
trong thực ễn khi thực hiện đăng doanh nghiệp như: quy định đối với người đại diện theo
pháp luật của doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng doanh nghiệp còn lỏng lẻo dẫn đến
nh trạng một số cá nhân, tchức đã lợi dụng sự thông thoáng của pháp luật để thực hiện
các hành vi vi phạm nhằm mục đích trục lợi hoặc trốn tránh trách nhiệm, y ảnh hưởng
nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của nhân, tổ chức, của Nhà nước, làm méo
8
môi trường đầu tư, kinh doanh; chưa quy định nh trạng pháp của chi nhánh, văn
phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp trong
Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, gây ảnh hưởng đến công tác quản lý
chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp do không xác định
trạng thái hoạt động của các chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh trong khi
doanh nghiệp có thể đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp
đã bị giải thể; quy định thời gian trong công tác phối hợp xử lý thu hồi Giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan quản lý thuế chưa thống nhất;
Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Nghị định số 01/2021/NĐ-CP quy định một số thành phần hồ
sơ đăng ký doanh nghiệp bao gồm “nghị quyết, quyết định” của chủ sở hữu công ty, Hội đồng
thành viên, Hội đồng quản trị. Tuy nhiên, cụm từ “nghị quyết, quyết định” được hiểu theo
nhiều cách khác nhau, dẫn tới việc thực thi không thống nhất…
Trên cơ sở đó, dự thảo Nghị định về đăng ký doanh nghiệp gồm 09 chương với 83
điều và 77 biểu mẫu, thay thế Nghị định số 01/2021/NĐ-CP đề xuất một số điểm mới cơ bản
như sau:
2.1. Thêm đối tượng không được thành lập doanh nghiệp
So với Luật Doanh nghiệp 2014 (đang có hiệu lực) thì Luật Doanh nghiệp 2020 đã bổ
sung thêm nhiều đối tượng không được phép thành lập, quản lý doanh nghiệp, gồm:
- Công nhân công an trong các cơ quan, đơn vthuộc Công an nhân dân Việt Nam (trừ
những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để qun lý phần vốn góp của Nhà
ớc tại doanh nghiệp);
- Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
- Tchức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số
lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.
2.2. Bỏ quy định về thông báo mẫu dấu doanh nghiệp trước khi sử dụng
Điều 43 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về con dấu của doanh nghiệp như sau:
- Dấu bao gồm dấu được làm tại cơ sở khắc dấu hoặc dấu dưới hình thức chữ ký số
theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
- Doanh nghiệp quyết định loại dấu, số lượng, hình thức và nội dung dấu của doanh
nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và đơn vị khác của doanh nghiệp.
- Việc quản lý và lưu giữ dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty hoặc quy chế
do doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc đơn vị khác của doanh nghiệp
có dấu ban hành. Doanh nghiệp sử dụng dấu trong các giao dịch theo quy định của
pháp luật.
Như vậy, so với quy định về con dấu tại Luật Doanh nghiệp 2014 thì Luật Doanh nghiệp
2020 đã bỏ quy định Trước khi sử dụng, doanh nghiệp nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu vi
9
quan đăng kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông n quốc gia về đăng
doanh nghiệp”.
2.3. Quy định về hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp từ 01/01/2021
- Người thành lập doanh nghiệp được ký hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt
động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp.
- Trường hợp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp phải
ếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết và các bên phải
thực hiện việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng theo quy định của Bộ lut
Dân sự, trừ trường hợp trong hợp đồng có thỏa thuận khác;
(Hiện hành quy định "Trường hợp doanh nghiệp được thành lập thì doanh nghiệp phải ếp
tục thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết, trừ trường hợp các bên
hợp đồng có thỏa thuận khác").
- Trường hợp doanh nghiệp không được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp,
người ký kết hợp đồng chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng; trường
10
11
12
13
14
15
16
Theo khoản 2 Điều 67 Luật Doanh Nghiệp 2020
“Người nhân danh công ty ký kết hợp đồng, giao dịch phải thông báo cho các thành
viên Hội đồng thành viên, Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan và lợi ích có liên quan
đối với hợp đồng, giao dịch đó; kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc nội dung chủ yếu của giao
dịch dự định ến hành. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định khác thì Hội đồng thành
viên phải quyết định chấp thuận hoặc không chấp thuận hợp đồng, giao dịch trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được thông báo và thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 59 của Luật
này. Thành viên Hội đồng thành viên có liên quan đến các bên trong hợp đồng, giao dịch
không được nh vào việc biểu quyết.
=> Do đó, trong trường hợp này, nếu A với tư cách là giám đốc công ty TNHH ABC nếu muốn
ký kết hợp đồng thì phải xin phép và được chấp thuận của Hội đồng thành viên của Công ty
TNHH ABC.
Theo khoản 3 Điều 59 Luật doanh nghiệp 2020 để được chấp thuận thì cần stán
thành của số thành viên đại diện ít nhất 65% tổng số vốn quyền biểu quyết. Thành viên có liên
quan trong các hợp đồng, giao dịch không được nh vào việc biểu quyết”.
Cụ thể trong trường hợp này thì thành viên liên quan là A sẽ không có quyền biểu quyết, vy
nên số vốn có quyền biểu quyết lúc này là 10 tỷ với B (chiếm 60%) và C (chiếm 40%) và đây điều
lệ cty cũng không quy định khác nên để đạt ít nhất 65% thì phải cần cả B C đồng ý với số
vốn tán thành là 100% thì hợp đồng này sẽ được thông qua.
Ý kiến với sự chấp thuận của Công ty Cổ phần X
Theo điểm a khoản 1 Điều 167 Luật doanh nghiệp năm 2020:
Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận hợp đồng giao dịch nữa
công ty với người liên quan sau: “Cđông, người đại diện theo ủy quyền của cổ đông tức
là tổ chức sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và người có liên quan ca
họ”. Ở đây, vợ A nắm giữ 5% Cổ phần tại công ty X nên vợ A là cổ đông nhưng không đảm bảo
quyn hạn của người đại diện.
=>>> Từ đó, hợp đồng giữa công ty TNHH ABC và công ty cổ phần X có vốn điều lệ 50 tỷ, vợ ông A
nắm giữ 5% cổ phần tại công ty X không cần phải có sự chấp thuận của ĐHĐCĐ/HĐQT của công ty
cổ phần X.
Theo khoản 1 và khoản 4 Điều 148:
1. Nghị quyết về nội dung sau đây được thông qua nếu được số cổ đông đại diện từ
65% tổng số phiếu biểu quyết trở lên của tất cả cổ đông tham dự và biểu quyết tại
lệ
lệ
công
ngành,
doanh;
công
án
hoặc
sản
sản
chính
công
lệ
công
lệ
hoặc
công
lệ
công
ng
ới
ý
văn
lệ
lệ
công

Preview text:

Quang rinh 1 2 3
làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn sang công ty và tài sản hình thành trong quá
trình công ty hoạt động là tài sản của công ty.
1.3. Thành viên của công ty hợp danh ●Thành viên hợp danh
Theo quy định khoản 2 Điều 17 của Luật doanh nghiệp 2020
“Công ty hợp danh phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, thành viên hợp danh phải
là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.
Không thuộc các trường hợp cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp.”
Theo đó có thể thấy thành viên hợp danh là nhân tố quan trọng để thành lập và vận
hành công ty hợp danh theo quy định của pháp luật. Việc thay đổi thành viên hợp danh như
trường hợp họ chết, mất năng lực hành vi dân sự hay rút vốn khỏi công ty sẽ ảnh hưởng rất lớn
đến cơ cấu vốn, hoạt động tổ chức, thậm chí là đến nguy cơ tồn tại chấm dứt của công ty.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp những năm trước đây, thành viên hợp danh phải là
những người “có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp”. Vì các công ty hợp danh thường
được thành lập dựa trên trình độ chuyên môn và danh tiếng, uy tín của các thành viên hợp danh.
Điều này cho thấy, sự liên kết giữa các thành viên trong công ty hợp danh là chặt chẽ, và do vậy
cũng hạn chế số người có thể trở thành thành viên hợp danh của công ty. Luật Doanh nghiệp năm
2020 không quy định về vấn đề này, nhưng để phù hợp với tính chất liên kết về nhân thân, vấn đề
trình độ chuyên môn, uy tín nghề nghiệp… của các thành viên tham gia vẫn là yếu tố quan trọng
khi các thành viên quyết định liên kết thành lập công ty hợp danh.
Bên cạnh đó, thành viên hợp danh đối với các nghĩa vụ công ty là trách nhiệm vô hạn và
liên đới, chủ nợ có quyền yêu cầu bất kỳ thành viên hợp danh nào thanh toán các khoản nợ công
ty đối với chủ nợ. Mặt khác các thành viên hợp danh bằng toàn bộ tài sản của mình chịu trách
nhiệm về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra thành viên hợp danh có quyền được tham gia đóng
góp ý kiến đối với các vấn đề của công ty, đây là một trong nhưng đặc biệt quan trọng đến quá
trình, xây dựng phát triển công mà pháp luật doanh nghiệp ghi nhận, thành viên hợp danh còn
được nhân danh công ty để tiến hành những hoạt động của công ty, điều này cho thấy vai trò và
vị trí của thành viên hợp danh rất được xem trọng và theo đó việc kinh doanh cũng có thể điều phối tốt hơn.
Thành viên hợp danh chấm dứt tư cách thành viên khi: Tự nguyện góp vốn khỏi công ty; Đã
chết, bị Tòa án tuyên bố là mất tích, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi
dân sự; Bị khai trừ khỏi công ty; Các trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định theo quy định
tại khoản 1 Điều 185 Luật doanh nghiệp 2020. 4
Bên cạnh các quy định trên, công ty hợp danh có thể tiếp nhận thêm các thành viên hợp
danh, thành viên hợp danh mới phải cùng chịu trách nhiệm bằng bằng toàn bộ tài sản của mình
đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty, trừ trường hợp thành viên đó và các
thành viên còn lại có thỏa thuận khác theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 186 Luật doanh nghiệp 2020.
Bên cạnh những thuận lợi của thành viên hợp danh trong công ty hợp danh, thì hạn chế
đối với thành viên hợp danh. Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân
hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các
thành viên hợp danh còn lại. Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc
nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty đó để
tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác. Mặt khác, thành viên hợp danh không
được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác
nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại. ●Thành viên góp vốn
Theo quy định tại khoản 3 Điều 17 Luật doanh nghiệp 2020
“Thành viên góp vốn có thể là tổ chức hoặc cá nhân. Mọi tổ chức, cá nhân đều có thể
trở thành, thành viên góp vốn của công ty hợp danh, trừ các trường hợp cấm góp vốn vào doanh nghiệp.”
Thành viên góp vốn chỉ có quyền liên quan trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Thành viên góp vốn mặc dù không có quyền quản lý điều hành công ty hợp danh nhưng họ vẫn có
quyền tham gia họp, thảo luận và biểu quyết tại Hội đồng thành viên về việc sửa đổi, bổ sung điều
lệ công ty, sửa đổi, bổ sung các quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn, về tổ chức lại, giải thể
công ty và nội dung khác của điều lệ công ty có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của thành
viên góp vốn được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 187 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Về nguyên
tắc, trong các trường hợp, công ty có sự tham gia của cả thành viên góp vốn và thành viên góp vốn
được tham gia họp, thảo luận và biểu quyết tại Hội đồng thành viên. Hội đồng thành viên phải bao
gồm toàn thể các thành viên kể cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Mỗi thành viên chỉ
có một phiếu bầu và quyết định của Hội đồng được thông qua bởi ít nhất 3/4 số thành viên hợp
danh nhất trí chấp thuận. Mặc dù được quyền tham gia Hội đồng thành viên, nhưng Luật Doanh
nghiệp năm 2020 lại không cho phép thành viên góp vốn có quyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng
thành viên. Bởi vì, chỉ có thành viên hợp danh mới có quyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành
viên được quy định tại khoản 2 Điều 182 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Đây chính là vấn đề gây ra
sự khó khăn, cản trở cho thành viên góp vốn khi cần đề nghị Hội đồng thành viên họp để giải quyết
những vấn đề quan trọng.
Ngoài ra, thành viên góp vốn có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của họ tại công ty
hợp danh cho người khác. Nếu so với thành viên hợp danh thì thành viên góp vốn thực hiện
quyền hạn này khá đơn giản, dễ dàng và không bị pháp luật đưa ra nhiều hạn chế, ràng buộc 5
như thành viên hợp danh. Thành viên góp vốn còn có quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh
người khác tiến hành kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh của công ty.
1.4. Quy chế pháp lý về vốn của công ty hợp danh
❖Tài sản của công ty hợp danh
Tài sản trong công ty hợp danh bao gồm nhiều loại tài sản khác nhau. Trước hết, đó là tài
sản góp vốn của các thành viên hợp danh, tài sản này phải được chuyển quyền sở hữu cho công
ty để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh chung. Tiếp theo, công ty có thể tạo lập thêm tài
sản mang tên công ty trong quá trình hoạt động, bao gồm tài sản vật chất và tài sản trí tuệ.
Ngoài ra, tài sản thu được từ các hoạt động kinh doanh do thành viên hợp danh thực hiện nhân
danh công ty, hoặc nhân danh cá nhân nhưng liên quan đến ngành nghề kinh doanh đã đăng ký
của công ty, cũng được coi là tài sản của công ty. Cuối cùng, các loại tài sản khác theo quy định
của pháp luật cũng thuộc về công ty hợp danh, đảm bảo cho hoạt động của công ty diễn ra
suôn sẻ và có cơ sở pháp lý.
Theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 178 của Luật Doanh Nghiệp năm 2020, các thành
viên trong công ty hợp danh, bao gồm cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn, đều có
nghĩa vụ phải tuân thủ các cam kết về việc góp vốn đúng và đủ theo thời hạn đã thỏa thuận. Cụ thể:
●Thành viên hợp danh và thành viên góp vốn phải chịu trách nhiệm góp đủ và đúng hạn
số vốn đã cam kết với công ty. Điều này nhằm đảm bảo công ty có đủ nguồn lực tài
chính để vận hành và thực hiện các hoạt động kinh doanh như kế hoạch ban đầu.
●Trường hợp thành viên hợp danh không hoàn thành nghĩa vụ góp vốn đúng hạn, và sự
chậm trễ này dẫn đến thiệt hại cho công ty, thành viên đó sẽ phải chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại cho công ty. Đây là một quy định quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi
của công ty và các thành viên khác, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của thành
viên hợp danh trong việc quản lý và điều hành công ty.
●Đối với thành viên góp vốn, nếu không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết, thì phần
vốn chưa góp sẽ được xem như khoản nợ của thành viên đó đối với công ty. Thành
viên này sẽ phải trả số nợ này cho công ty. Ngoài ra, nếu thành viên góp vốn không
thực hiện nghĩa vụ này, họ có thể bị khai trừ khỏi công ty theo quyết định của Hội
đồng thành viên, nhằm đảm bảo tính công bằng và sự nghiêm túc trong việc thực hiện cam kết.
Tại thời điểm góp đúng và đủ số vốn đã cam kết hoặc tiến hành sang tên quyền sở hữu tài
sản (đối với trường hợp góp vốn bằng tài sản) thì các thành viên góp vốn sẽ được công ty cấp
giấy chứng nhận phần vốn góp. Trong trường hợp giấy chứng nhận bị mất,hư hỏng hoặc bị hủy
hoại…thì được công ty cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp.
❖Chuyển nhượng vốn góp trong công ty hợp danh 6
Theo quy định tại khoản 3 Điều 180 Luật doanh nghiệp 2020:
“Thành viên hợp danh không được chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của
mình tại công ty cho tổ chức, cá nhân khác nếu không được sự chấp thuận của các thành
viên hợp danh còn lại”
Theo quy định trên thì thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc
toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận
của các thành viên hợp danh còn lại.
Trường hợp chuyển nhượng vốn góp của thành viên góp vốn: thành viên góp vốn có
quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác quy định tại điểm
d khoản 1 Điều 187 Luật Doanh nghiệp 2020. Thành viên góp vốn, chuyển nhượng phần vốn
góp có sự tự do và dễ dàng hơn bởi lẽ, thành viên góp vốn là những nhà tài trợ về vốn, giúp
công ty có khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh, thay đổi thành viên góp vốn cũng không
làm ảnh hưởng đến cơ cấu nhân sự hay sự tồn tại cũng như tính đối nhân của nó nhưng sự
tự do này đã bị giới hạn nếu điều lệ công ty có những quy định khác.
Như vậy, qua phân tích bản chất pháp lý của công ty hợp danh theo quy định của pháp luật
hiện hành, có thể khẳng định rằng công ty hợp danh chính là mô hình đặc trưng nhất của công ty
đối nhân. Điều này thể hiện qua các yếu tố như sự tin tưởng lẫn nhau giữa các thành viên, trách
nhiệm vô hạn và liên đới, cũng như vai trò trực tiếp của thành viên hợp danh trong quản lý và vận
hành công ty. Công ty hợp danh dựa trên mối quan hệ cá nhân thay vì chỉ dựa vào vốn góp, tạo nên
sự gắn kết giữa các thành viên và đòi hỏi trách nhiệm cao từ họ. Chính những đặc điểm này đã làm
cho công ty hợp danh trở thành loại hình doanh nghiệp đối nhân tiêu biểu, nơi mà sự tín nhiệm và
trách nhiệm cá nhân được đặt lên hàng đầu.
PHẦN 2: PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG NGHỊ ĐỊNH 01/2021
VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP ĐỂ THẤY ĐƯỢC CHỦ TRƯƠNG MỞ RỘNG QUYỀN TỰ CHỦ CHO
CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC
Để hướng dẫn, quy định chi tiết, đầy đủ hơn một số nội dung được giao tại Luật Doanh
nghiệp năm 2020 và nội dung có liên quan đến đăng ký doanh nghiệp tại văn bản quy phạm pháp
luật khác, đồng thời khắc phục những vướng mắc phát
sinh trong thực tiễn thi hành Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng
ký doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã xây dựng dự thảo Nghị định về đăng ký doanh nghiệp
thay thế Nghị định số 01/2021/NĐ-CP.
Qua phản ánh của địa phương, doanh nghiệp, vẫn còn tồn tại các vướng mắc phát sinh
trong thực tiễn khi thực hiện đăng ký doanh nghiệp như: quy định đối với người đại diện theo
pháp luật của doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp còn lỏng lẻo dẫn đến
tình trạng có một số cá nhân, tổ chức đã lợi dụng sự thông thoáng của pháp luật để thực hiện
các hành vi vi phạm nhằm mục đích trục lợi hoặc trốn tránh trách nhiệm, gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, của Nhà nước, làm méo 7
mó môi trường đầu tư, kinh doanh; chưa có quy định tình trạng pháp lý của chi nhánh, văn
phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp trong
Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, gây ảnh hưởng đến công tác quản lý
chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp do không xác định
trạng thái hoạt động của các chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh trong khi
doanh nghiệp có thể đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp
đã bị giải thể; quy định thời gian trong công tác phối hợp xử lý thu hồi Giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan quản lý thuế chưa thống nhất;
Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Nghị định số 01/2021/NĐ-CP quy định một số thành phần hồ
sơ đăng ký doanh nghiệp bao gồm “nghị quyết, quyết định” của chủ sở hữu công ty, Hội đồng
thành viên, Hội đồng quản trị. Tuy nhiên, cụm từ “nghị quyết, quyết định” được hiểu theo
nhiều cách khác nhau, dẫn tới việc thực thi không thống nhất…
Trên cơ sở đó, dự thảo Nghị định về đăng ký doanh nghiệp gồm 09 chương với 83
điều và 77 biểu mẫu, thay thế Nghị định số 01/2021/NĐ-CP đề xuất một số điểm mới cơ bản như sau:
2.1. Thêm đối tượng không được thành lập doanh nghiệp
So với Luật Doanh nghiệp 2014 (đang có hiệu lực) thì Luật Doanh nghiệp 2020 đã bổ
sung thêm nhiều đối tượng không được phép thành lập, quản lý doanh nghiệp, gồm:
- Công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam (trừ
những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà
nước tại doanh nghiệp);
- Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
- Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số
lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.
2.2. Bỏ quy định về thông báo mẫu dấu doanh nghiệp trước khi sử dụng
Điều 43 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về con dấu của doanh nghiệp như sau:
- Dấu bao gồm dấu được làm tại cơ sở khắc dấu hoặc dấu dưới hình thức chữ ký số
theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
- Doanh nghiệp quyết định loại dấu, số lượng, hình thức và nội dung dấu của doanh
nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và đơn vị khác của doanh nghiệp.
- Việc quản lý và lưu giữ dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty hoặc quy chế
do doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc đơn vị khác của doanh nghiệp
có dấu ban hành. Doanh nghiệp sử dụng dấu trong các giao dịch theo quy định của pháp luật.
Như vậy, so với quy định về con dấu tại Luật Doanh nghiệp 2014 thì Luật Doanh nghiệp
2020 đã bỏ quy định “Trước khi sử dụng, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với 8
cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp”.
2.3. Quy định về hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp từ 01/01/2021
- Người thành lập doanh nghiệp được ký hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt
động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp.
- Trường hợp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp phải
tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết và các bên phải
thực hiện việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng theo quy định của Bộ luật
Dân sự, trừ trường hợp trong hợp đồng có thỏa thuận khác;
(Hiện hành quy định "Trường hợp doanh nghiệp được thành lập thì doanh nghiệp phải tiếp
tục thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết, trừ trường hợp các bên
hợp đồng có thỏa thuận khác").
- Trường hợp doanh nghiệp không được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp,
người ký kết hợp đồng chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng; trường 9 10 11 12 13 14 15
Theo khoản 2 Điều 67 Luật Doanh Nghiệp 2020
“Người nhân danh công ty ký kết hợp đồng, giao dịch phải thông báo cho các thành
viên Hội đồng thành viên, Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan và lợi ích có liên quan
đối với hợp đồng, giao dịch đó; kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc nội dung chủ yếu của giao
dịch dự định tiến hành. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định khác thì Hội đồng thành
viên phải quyết định chấp thuận hoặc không chấp thuận hợp đồng, giao dịch trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được thông báo và thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 59 của Luật
này. Thành viên Hội đồng thành viên có liên quan đến các bên trong hợp đồng, giao dịch
không được tính vào việc biểu quyết.”
=> Do đó, trong trường hợp này, nếu A với tư cách là giám đốc công ty TNHH ABC nếu muốn
ký kết hợp đồng thì phải xin phép và được chấp thuận của Hội đồng thành viên của Công ty TNHH ABC.
Theo khoản 3 Điều 59 Luật doanh nghiệp 2020 để được chấp thuận thì cần “có sự tán
thành của số thành viên đại diện ít nhất 65% tổng số vốn có quyền biểu quyết. Thành viên có liên
quan trong các hợp đồng, giao dịch không được tính vào việc biểu quyết”.
Cụ thể trong trường hợp này thì thành viên liên quan là A sẽ không có quyền biểu quyết, vậy
nên số vốn có quyền biểu quyết lúc này là 10 tỷ với B (chiếm 60%) và C (chiếm 40%) và ở đây điều
lệ cty cũng không có quy định gì khác nên để đạt ít nhất 65% thì phải cần cả B và C đồng ý với số
vốn tán thành là 100% thì hợp đồng này sẽ được thông qua.
●Ý kiến với sự chấp thuận của Công ty Cổ phần X
Theo điểm a khoản 1 Điều 167 Luật doanh nghiệp năm 2020:
Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận hợp đồng và giao dịch nữa
công ty với người có liên quan sau: “Cổ đông, người đại diện theo ủy quyền của cổ đông tức
là tổ chức sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và người có liên quan của
họ”. Ở đây, vợ A nắm giữ 5% Cổ phần tại công ty X nên vợ A là cổ đông nhưng không đảm bảo
quyền hạn của người đại diện.
=>>> Từ đó, hợp đồng giữa công ty TNHH ABC và công ty cổ phần X có vốn điều lệ 50 tỷ, vợ ông A
nắm giữ 5% cổ phần tại công ty X không cần phải có sự chấp thuận của ĐHĐCĐ/HĐQT của công ty cổ phần X.
Theo khoản 1 và khoản 4 Điều 148:
1. Nghị quyết về nội dung sau đây được thông qua nếu được số cổ đông đại diện từ
65% tổng số phiếu biểu quyết trở lên của tất cả cổ đông tham dự và biểu quyết tại 16 lệ lệ công ngành, doanh; công án hoặc sản sản chính công lệ công lệ hoặc công lệ công rường dưới ý văn lệ lệ công