TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN MARKETING DU LỊCH
----- -----
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: MARKETING DU LỊCH
ĐỀ TÀI:
PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MỚI
Lớp học phần : 242_TMKT0511_03
Giảng viên : Hoàng Thị Lan
Nhóm : 05
Hà Nội, tháng 03 năm 2025
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................7
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN.................................................8
1.1 Các khái niệm cơ bản..................................................8
1.1.1 Sản phẩm và sản phẩm du lịch...............................8
1.1.2 Chu kỳ sống của sản phẩm....................................9
1.1.3 Khái niệm phát triển sản phẩm mới......................13
1.1.4 Sự cần thiết phát triển sản phẩm mới...................14
1.2 Quy trình xây dựng sản phẩm mới.............................14
1.2.1 Hình thành và lựa chọn ý tưởng............................14
1.2.2 Soạn thảo và thẩm định dự án.............................15
1.2.3 Sọn thảo chiến lược marketing cho sản phẩm mới.16
1.2.4 Thiết kế sản phẩm mới........................................16
1.2.5 Thử nghiệm trên thị trường..................................16
1.2.6 Thương mại hóa..................................................17
CHƯƠNG 2 : THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MỚI...........18
2.1. Giới thiệu về công ty Aqua Expiditions......................18
2.1.1 Quá trình thiết lập và phát triển.............................18
2.1.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức.............................................21
2.1.3 Bảng kết quả kinh doanh........................................22
2.2 Phát triển sản phẩm mới của công ty.........................26
2.2.1 Hình thành và lựa chọn ý tưởng............................26
2.2.2 Soạn thảo và thẩm định dự án.............................28
2.2.3. Soạn thảo chiến lược marketing cho sản phẩm mới
...................................................................................38
1
2.2.4. Thiết kế sản phẩm mới.......................................43
2.2.6 Thương mại hóa sản phẩm...................................46
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ NHẰM
PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MỚI...............................................49
3.1. Mục tiêu và phương hướng hoạt động kinh doanh của
công ty...........................................................................49
3.1.1 Mục tiêu..............................................................49
3.1.2 Phương hướng hoạt động.......................................52
3.2. Đề xuất một số giải pháp phát triển sản phẩm mới....54
3.2.1. Mô Hình Quản Lý Hiện Đại và Minh Bạch..............54
3.2.2. Đào Tạo Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao...........55
3.2.3. Xúc Tiến Quảng Bá và Thu Hút Đầu Tư.................55
3.2.4. Chế độ lương, thưởng và phúc lợi cho nhân sự
thuyền viên.................................................................56
3.2.5. Chiến Dịch Truyền Thông và Quảng Bá Nghề Nghiệp
Du Thuyền...................................................................56
3.2.6. Tăng cường trải nghiệm cá nhân hóa...................56
3.3 Một số kiến nghị.......................................................57
3.3.1. Kiến nghị đối với Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam. .57
3.3.2. Kiến nghị đối với Ủy ban Nhân dân thành phố Huế,
Đà Nẵng và Hội An.......................................................58
PHẦN KẾT LUẬN................................................................60
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................61
2
DANH SÁCH THÀNH VIÊN
STT Họ và
tên
Mã sinh
viên
Nhiệm
vụ
Đánh giá Điểm
38 Từ Thùy
Linh
22D1701
22
- Nội dung
39 Hà Thành
Long
22D1701
26
- Nội dung
- Thuyết
trình
40
Đồng Thị
Mai
22D1701
40 - Nội dung
41 Nguyễn
Tuấn
Minh
22D1701
40
- Nội dung
- Tổng hợp
word
42 Vũ Thị Hà
My
22D1701
42
-Nội dung
- Thuyết
trình
43 Vũ Giang
Nam
22D1701
46
- Nội dung
-
PowerPoint
44 Lê Hồng
Nghĩa
22D1701
58
- Nội dung
45 Hoàng
Thị Yến
Ngọc
22D1701
61 - Nội dung
46 Đoàn
Quốc
Nhân
22D1701
68
- Nội dung
- Nhóm
trưởng
3
4
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------------------------
BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM
(V/v: Hoàn thành nội dung cho bài thuyết trình môn Marketing du
lịch)
Nhóm: 5
Buổi làm việc nhóm lần thứ: 1
I. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
1. Thời gian: 23.00 p.m ngày 09/03/2025
2. Địa điểm: Google meets
II. THÀNH PHẦN THAM GIA
-Toàn bộ thành viên nhóm 5
III. NỘI DUNG LÀM VIỆC
-Chốt lại các tuyến đường cuối để hoàn thành tour du lịch
-Chốt outline bài tiểu luận
-Phân chia nhiệm vụ và gia hạn thời gian hoàn thành cho các
thành viên
THÀNH VIÊN NHÓM
(Ký và ghi rõ họ tên)
TRƯỞNG NHÓM
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nghĩa Nhân
Lê Hồng Nghĩa Đoàn Quốc Nhân
5
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------------------------
BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM
(V/v: Hoàn thành nội dung cho bài thuyết trình môn Marketing du
lịch)
Nhóm: 5
Buổi làm việc nhóm lần thứ: 2
I. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
1. Thời gian: 11.00 a.m ngày 25/03/2025
2. Địa điểm: Google meets
II. THÀNH PHẦN THAM GIA
-Đoàn Quốc Nhân – 22D170168
-Hà Thành Long – 22D170126
-Hoàng Thị Yến Ngọc – 22D170161
-Lê Hồng Nghĩa – 22D170158
-Vũ Giang Nam -
III. NỘI DUNG LÀM VIỆC
-Đánh giá và hoàn thiện toàn bộ phần 2.2
-Chốt lại giá và toàn bộ kế hoạch chi tiết của tour du lịch
THƯ KÍ
(Ký và ghi rõ họ tên)
TRƯỞNG NHÓM
(Ký và ghi rõ họ tên)
6
Nghĩa Nhân
Lê Hồng Nghĩa Đoàn Quốc Nhân
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------------------------
BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM
(V/v: Hoàn thành nội dung cho bài thuyết trình môn Marketing du
lịch)
Nhóm: 5
Buổi làm việc nhóm lần thứ: 3
I. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
1. Thời gian: 23.00 p.m ngày 15/03/2025
2. Địa điểm: Google meets
II. THÀNH PHẦN THAM GIA
-Toàn bộ thành viên nhóm 7
III. NỘI DUNG LÀM VIỆC
-Điều chỉnh lại các tuyến đường thành từ sông Hương đến vịnh
Đà Nẵng
-Chốt lại các địa điểm và quá trình lên ý tưởng, các bản nháp
draft để cho bài được thống nhất.
THƯ KÍ
(Ký và ghi rõ họ tên)
TRƯỞNG NHÓM
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nghĩa Nhân
7
Lê Hồng Nghĩa Đoàn Quốc Nhân
8
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam đã chứng
kiến sự chuyển mình mạnh mẽ, không chỉ về mặt lượng khách du lịch
mà còn về sự đa dạng của sản phẩm du lịch. Với lợi thế về di sản văn
hóa, lịch sử và thiên nhiên, mỗi địa phương đều có những sản phẩm
du lịch riêng biệt, góp phần tạo nên bức tranh đa sắc cho ngành du
lịch quốc gia.
"The Central Saga" thuộc dự án Aqua Odyssey: The S-land, trên
con tàu Aqua Celeste, mang tinh thần “Rời đất mẹ để đến với biển
khơi bao la, rồi ta lại tìm về đất mẹ.” Chuyến tuần du này kết nối ba
vùng đất giàu bản sắc văn hóa: Huế - Đà Nẵng - Hội An. Xuất phát từ
dòng sông Hương lịch sử của kinh thành Huế, hành trình băng qua
biển Đông hùng vĩ, và kết thúc trên dòng sông Thu Bồn thơ mộng
của phố cổ Hội An.
Tour kéo dài 3 ngày 3 đêm, cho phép du khách thưởng thức
nghệ thuật ca Huế trên sông Hương, chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên
nhiên tại dãy núi Bạch Mã, bãi biển Mỹ Khê, Lăng Cô, bãi Chuối, vịnh
Đà Nẵng, và bán đảo Sơn Trà. Hành trình còn đi qua các khu vực như
cửa biển Thuận An, bến Tòa Khâm, và bến đẹp nhất của Cù Lao. Du
khách cũng sẽ tham gia các hoạt động như chèo thuyền kayak, lặn
biển, và khám phá hệ sinh thái biển phong phú. Bên cạnh đó, tour
sông Hàn sẽ mang đến một góc nhìn khác về Đà Nẵng về đêm với
ánh đèn lung linh và những cây cầu nổi tiếng.
Để phát triển sản phẩm du lịch bền vững, cần hiểu rõ nhu cầu
thị trường, xác định đúng đối tượng khách hàng và xây dựng các
chiến lược marketing hiệu quả. Việc kết hợp hài hòa giữa văn hóa và
thiên nhiên không chỉ nâng cao giá trị trải nghiệm mà còn góp phần
bảo vệ môi trường và phát huy di sản văn hóa.
Qua bài tiểu luận này, chúng tôi hy vọng sẽ làm rõ tầm quan
trọng của việc phát triển sản phẩm du lịch "The Central Saga" trong
9
bối cảnh hiện tại, đồng thời mở ra hướng đi mới cho ngành du lịch
miền Trung, giúp khu vực này trở thành điểm đến văn hóa nghệ
thuật và thiên nhiên độc đáo và ý nghĩa.
10
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Sản phẩm và sản phẩm du lịch
a. Khái niệm sản phẩm
Ngày nay khi nói về sản phẩm người ta không chỉ hình dung ra
nó chỉ ở dạng tồn tại của vật chất cụ thể, mà phải quan niệm nó ở
mức độ rộng lớn hơn nhiều. Khái niệm sản phẩm là phức tạp bởi vì
một sản phẩm chắc chắn có một số đặc trưng vật chất, nhưng cũng
có đặc trưng phi vật chất. Philip Kotler định nghĩa:|
“Sản phẩm là mọi thứ có thể chào bán trên thị trường để chú ý, mua,
sử dụng hay tiêu dùng, có thể thỏa mãn được một mong muốn hay
nhu cầu.”
Từ định nghĩa trên ta thấy sản phẩm ở đây có thể là những hàng
hoá vật chất như món ăn, đồ uống trong khách sạn…; các dịch vụ
như hướng dẫn du lịch, các buổi hòa nhạc trong khách sạn, cắt tóc,
giặt là…; địa điểm như các nơi có danh lam thắng cảnh, tài nguyên
du lịch …; hay ý tưởng như các lời tư vấn, lời khuyên cho du khách…
b. Khái niệm sản phẩm du lịch
Dựa trên khái niệm về du lịch, năm 2017, Luật Du lịch đã đưa ra
một khái niệm về sản phẩm du lịch như sau: “Sản phẩm du lịch là
tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch
để thoả mãn nhu cầu của khách tham quan.” Tuy nhiên, khái niệm
này chưa được coi là hoàn hảo và vẫn còn nhiều thiếu sót. Tổ chức
du lịch thế giới (UNWTO) đã cho rằng: “Sản phẩm du lịch là sự tổng
hợp của 3 nhóm nhân tố cấu thành bao gồm Hệ thống dịch vụ, Quản
lý điều hành, Tài nguyên du lịch, Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật
chất kỹ thuật.” Từ những định nghĩa trên về cơ bản ta có thể hiểu
một cách cụ thể và đơn giản thì sản phẩm du lịch là một dịch vụ
cung cấp các loại hàng hóa cho khách du lịch. Trong đó, sản phẩm
được tạo nên có sự khai thác của yếu tố tự nhiên xã hội và việc sử
11
dụng nguồn lực như lao động, cơ sở vật chất, trang thiết bị... của một
vùng hay một quốc gia.
c. Những nét đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch
Tính vô hình|
Thành phần của sản phẩm du lịch: dịch vụ (80-90% về mặt g
trị) và còn lại là hàng hóa|
Sản phẩm du lịch cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới
dạng vật thể
Vì vậy việc đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch rất khó khăn:
mang tính chủ quan, phụ thuộc vào khách du lịch. Chất lượng sản
phẩm du lịch được xác định dựa vào chênh lệch giữa mức độ kỳ vọng
và mức độ cảm nhận về chất lượng.|
Ví dụ: Khi khách hàng sử dụng dịch vụ lưu trú ở hai khách sạn
tiêu chuẩn 4 sao. Về cơ sở vật chất là như nhau (theo đánh giá quốc
tế) nhưng do một vài yếu tố nhỏ đến từ sự takecare khách hàng của
nhân viên, có thể mang lại cho khách cảm nhận khác nhau.
Tính không dịch chuyển được
Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yếu tố tài
nguyên du lịch. Vậy nên không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có
khách du lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm
du lịch|
Ví dụ: Dịch vụ thưởng thức ca Huế trên sông Hương|
Dịch vụ đi thuyền qua các hang động ở Tràng An|
Thưởng thức ẩm thực trên chợ nổi Cái Răng
—> Đây là nguyên nhân gây khó khăn cho các nhà kinh doanh du
lịch trong
việc tiêu thụ sản phẩm
Tính không tách rời
12
Quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau
về không gian và thời gian. Vậy nên những sản phẩm hữu hình có
tính mau hỏng, những sản phẩm vô hình không thể dự trữ, không thể
cất đi hay lưu kho như các hàng hóa thông thường khác. Điều này
tạo nên khó khăn trong việc ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng.
Tính mùa vụ
Tiêu thụ sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn mà chỉ
tập trung vào những thời gian nhất định trong ngày (đối với sản
phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần (đối với sản phẩm của thể
loại du lịch cuối tuần), trong năm (đối với sản phẩm của 1 số loại
hình du lịch: du lịch biển, du lịch nghỉ núi…)
1.1.2 Chu kỳ sống của sản phẩm
a. Khái niệm của chu kỳ sống
Chu kỳ sống của sản phẩm là khoảng thời gian từ khi sản phẩm
được tung ra thị trường đến khi nó không bán được nữa phải rút khỏi
thị trường.
Từ khái niệm trên, chúng ta thấy rằng các sản phẩm thường có
một đời sống hữu hạn, mức tiêu thụ sản phẩm trải qua những giai
đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn đặt ra những thách thức khác nhau
với người kinh doanh, lợi nhuận có thể tăng hay giảm trong những
giai đoạn khác nhau của chu kỳ sống và mỗi giai đoạn đòi hỏi các
chiến lược Marketing, tài chính, sản xuất, cung ứng, nhân lực khác
nhau.
Nhìn chung mỗi chủng loại, mỗi sản phẩm, mỗi nhãn hiệu có chu
kỳ sống dài ngắn từng giai đoạn khác nhau. Song dạng khái quát
nhất về lý thuyết thì chu kỳ sống của sản phẩm có 4 giai đoạn: (1)
Giai đoạn triển khai, (2) Giai đoạn phát triển, (3) Giai đoạn bão hòa,
(4) Giai đoạn suy thoái.
b. Các giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm
Giai đoạn triển khai
13
Giai đoạn triển khai là thời điểm mà một sản phẩm hoặc dịch vụ
du lịch mới được đưa vào thị trường. Ở giai đoạn này, khách hàng
vẫn chưa biết nhiều về sản phẩm, do đó nhu cầu còn thấp và doanh
thu thường chưa ổn định. Chi phí để phát triển, quảng bá và vận
hành sản phẩm thường rất cao, khiến lợi nhuận chưa đáng kể. Trong
du lịch, sản phẩm có thể là một địa điểm du lịch mới, một khu nghỉ
dưỡng, một tuyến du lịch đặc biệt hoặc một loại hình trải nghiệm độc
đáo mà trước đây chưa có.
Mục tiêu quan trọng nhất trong giai đoạn này là đạt được sự
công nhận rộng rãi và kích thích người tiêu dùng dùng thử sản phẩm.
Các nỗ lực tiếp thị nên nhắm mục tiêu vào đối tượng khách hàng yêu
thích những trải nghiệm độc đáo, mới lạ - những người có nhiều khả
năng mua một sản phẩm mới nhất
Tại giai đoạn này, bạn có thể thực hiện 2 chiến lược sau đây:
Giá hớt váng: Tính giá ban đầu cao và giảm dần (hớt váng) giá
khi thị trường phát triển.
Thâm nhập giá: Thiết lập một mức giá thấp để nhanh chóng gia
nhập thị trường và chiếm thị phần, trước khi tăng giá so với
mức tăng trưởng của thị trường.
Ví dụ, khi một khu du lịch sinh thái mới mở, các doanh nghiệp thường
tổ chức các chương trình ưu đãi, giảm giá hoặc tặng kèm các dịch vụ
miễn phí để kích thích nhu cầu. Đồng thời, họ hợp tác với các KOLs
(người có ảnh hưởng) hoặc travel bloggers để tạo hiệu ứng lan tỏa
trên mạng xã hội.
Giai đoạn phát triển
Sau khi sản phẩm được giới thiệu và bắt đầu có sự chấp nhận từ
thị trường, nó sẽ bước vào giai đoạn phát triển. Lúc này, số lượng
khách hàng tăng lên nhanh chóng, doanh thu cải thiện và lợi nhuận
bắt đầu ổn định. Khi sản phẩm du lịch đã có danh tiếng nhất định,
14
nhiều khách hàng sẽ lựa chọn trải nghiệm dịch vụ mà không cần
nhiều chương trình khuyến mãi như trước.
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của sản phẩm cũng thu
hút các đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là những doanh nghiệp muốn
sao chép hoặc cung cấp sản phẩm tương tự. Đây là lúc doanh nghiệp
phải liên tục cải tiến dịch vụ, mở rộng thị trường và gia tăng giá trị
cho khách hàng. Các chiến lược phổ biến trong giai đoạn này bao
gồm cải thiện chất lượng dịch vụ, mở rộng điểm đến, bổ sung các
trải nghiệm mới và nâng cấp dịch vụ chăm sóc khách hàng.
Ví dụ, một khu du lịch biển sau khi được biết đến rộng rãi có thể
mở thêm các hoạt động như lặn biển, chèo kayak hoặc cung cấp các
tour du lịch kết hợp ẩm thực để làm mới trải nghiệm cho khách hàng.
Ngoài ra, các chương trình khách hàng thân thiết cũng là một chiến
lược hiệu quả để giữ chân khách hàng.
Giai đoạn bão hoà
Sau một thời gian tăng trưởng mạnh mẽ, sản phẩm du lịch sẽ
đạt đến giai đoạn bão hòa, nơi mà tốc độ phát triển chậm lại do thị
trường đã đạt mức tối đa. Số lượng khách hàng mới không còn tăng
nhanh như trước, trong khi các đối thủ cạnh tranh liên tục xuất hiện,
làm cho thị phần của từng doanh nghiệp bị phân chia. Đây là giai
đoạn thử thách đối với các doanh nghiệp, vì nếu không có chiến lược
phù hợp, sản phẩm rất dễ bị tụt hậu hoặc bị thay thế bởi những sản
phẩm mới hấp dẫn hơn.
Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp cần tập trung vào chiến
lược đổi mới sản phẩm để duy trì sức hút trên thị trường. Việc liên
tục cập nhật xu hướng du lịch, bổ sung các dịch vụ mới, hoặc thậm
chí tái định vị thương hiệu có thể giúp kéo dài vòng đời sản phẩm.
Chẳng hạn, một khu nghỉ dưỡng sau nhiều năm hoạt động có thể cần
nâng cấp cơ sở hạ tầng, cải tiến dịch vụ hoặc tổ chức các sự kiện đặc
biệt để thu hút khách hàng quay trở lại.
15
Ngoài ra, các chương trình khách hàng thân thiết và chăm sóc
khách hàng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì lòng
trung thành. Nhiều doanh nghiệp lựa chọn cách tạo ra các gói du lịch
trọn gói, tích hợp nhiều dịch vụ hấp dẫn hoặc tổ chức các chương
trình khuyến mãi dành riêng cho khách hàng cũ để duy trì sự gắn
kết.
Ví dụ, các điểm du lịch nổi tiếng như Đà Lạt, Sa Pa hay Phú Quốc
sau một thời gian dài thu hút khách du lịch đã phải liên tục đổi mới
bằng cách mở thêm các tuyến tham quan mới, phát triển các dịch vụ
nghỉ dưỡng cao cấp hơn hoặc tổ chức các lễ hội văn hóa để giữ chân
khách du lịch.
Giai đoạn suy thoái
Bất kỳ sản phẩm nào cũng có thể đi đến giai đoạn suy thoái, khi
nhu cầu giảm dần và doanh thu bắt đầu sụt giảm. Nguyên nhân có
thể đến từ sự thay đổi trong xu hướng du lịch, sự xuống cấp của sản
phẩm hoặc sự xuất hiện của các điểm đến mới hấp dẫn hơn. Ví dụ,
một khu du lịch từng nổi tiếng có thể mất dần sức hút do hạ tầng
xuống cấp, dịch vụ không còn đáp ứng nhu cầu khách hàng hoặc đơn
giản là xu hướng du lịch đã thay đổi.
Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong ba
chiến lược:
Cải tiến và làm mới sản phẩm: Thay đổi mô hình kinh doanh,
nâng cấp cơ sở hạ tầng, hoặc tạo ra trải nghiệm mới để thu hút
lại khách hàng. Ví dụ, một khu du lịch sinh thái có thể bổ sung
thêm các hoạt động như cắm trại, du lịch cộng đồng hoặc du
lịch trải nghiệm thiên nhiên để phục vụ nhu cầu mới.
Nhắm đến thị trường ngách: Thay vì phục vụ đại chúng, doanh
nghiệp có thể tập trung vào một phân khúc khách hàng cụ thể,
chẳng hạn như du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, du lịch mạo hiểm
hoặc du lịch chăm sóc sức khỏe.
16
Rút lui có chiến lược: Nếu sản phẩm không còn khả năng cạnh
tranh, doanh nghiệp có thể chuyển hướng đầu tư sang các sản
phẩm khác hoặc bán lại dự án cho một đơn vị có tiềm năng
khai thác tốt hơn.
Ví dụ, nhiều khu du lịch cũ ở Việt Nam đã được cải tạo thành các khu
nghỉ dưỡng cao cấp hoặc chuyển đổi thành địa điểm du lịch theo mô
hình mới như glamping (cắm trại sang trọng), du lịch wellness (chăm
sóc sức khỏe) hay farmstay (du lịch nông trại) để phù hợp với xu
hướng hiện đại.
1.1.3 Khái niệm phát triển sản phẩm mới
Phát triển sản phẩm mới là yêu cầu tất yếu khách quan trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Sự cải tiến sản
phẩm là một dãy liên tục, đi từ sản phẩm hiện đại đến một sản phẩm
hoàn toàn mới, chúng có thể qua các giai đoạn (mẫu mã, bao bì) đến
việc cải tiến nhỏ trên các thuộc tính ít quan trọng; cải tiến lớn trên
các thuộc tính quan trọng và cuối cùng là sản phẩm hoàn toàn mới.
Đứng trên góc độ doanh nghiệp để xem xét, người ta chia sản phẩm
mới thành hai loại: sản phẩm mới tương đối và sản phẩm mới tuyệt
đối.
Sản phẩm mới tương đối|
Sản phẩm đầu tiên doanh nghiệp sản xuất và đưa ra thị trường,
nhưng không mới đối với doanh nghiệp khác và đối với thị trường.
Chúng cho phép doanh nghiệp mở rộng dòng sản phẩm cho những
cơ hội kinh doanh mới. Chi phí đề phát triển loại sản phẩm này
thường thấp, nhưng khó định vị sản phẩm trên thị trường vì người
tiêu dùng vẫn có thể thích sản phẩm của đối thủ cạnh tranh hơn.
Sản phẩm mới tuyệt đối:
Đó là sản phẩm mới đối với cả doanh nghiệp và đối với cả thị
trường. Doanh nghiệp giống như "người tiên phong" đi đầu trong việc
sản xuất sản phẩm này. Sản phẩm này ra mắt người tiêu dùng lần
17
đầu tiên. Đây là một quá trình tương đối phức tạp và khó khăn (cả
trong giai đoạn sản xuất và bán hàng). Chi phí dành cho nghiên cứu,
thiết kế, sản xuất thử và thử nghiệm trên thị trường thường rất cao.|
Vậy liệu một sản phẩm có được coi là mới hay không phụ thuộc
vào cách thị trường mục tiêu nhận thức về nó. Nếu người mua cho
rằng một sản phẩm khác đáng kể so với các sản phẩm của đối thủ
cạnh tranh về một số tính chất (hình thức bên ngoài hay chất lượng),
thì cái sản phẩm đó sẽ được coi là một sản phẩm mới.
Ngày nay ở các nước phát triển chỉ có khoảng 10% số sản phẩm
mới là thực sự mới đối với thế giới. Những sản phẩm này có chi phí
và rủi ro rất lớn, vì chúng mới cả đối với doanh nghiệp lẫn thị trường.
Do đó, phần đông các doanh nghiệp thường tập trung cố gắng của
mình vào việc nghiên cứu cải tiến các sản phẩm hiện có thay vì
nghiên cứu phát triển sản phẩm hoàn toàn mới. Ví dụ, hãng Sony
dành 80% hoạt động về sản phẩm mới cho công việc cải tiến các sản
phẩm hiện có của mình.
1.1.4 Sự cần thiết phát triển sản phẩm mới„
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp
luôn ý thức được sự cần thiết và tính ưu việt của việc thường xuyên
thiết kế và phát triển sản phẩm mới vì các lý do sau:
Khi thị trường thay đổi liên tục, nhu cầu của khách hàng ngày
càng đa dạng, doanh nghiệp cần thay đổi sản phẩm cũ để phục
vụ tốt hơn nhu cầu hiện tại hoặc tạo ra sản phẩm mới để đáp
ứng những nhu cầu chưa được thoả mãn.
Đổi mới sản phẩm chính là để giúp doanh nghiệp nắm bắt
hội từ môi trường kinh doanh. Đổi mới sản phẩm hoặc phát
triển sản phẩm mới giúp doanh nghiệp dựa trên tiềm lực về
nguồn lực của doanh nghiệp tạo nên sự khác biệt với đối thủ và
phát huy lợi thế cạnh tranh của mình; giúp doanh nghiệp trở
thành những người đi tiên phong trên thị trường về những sản
phẩm mới.|
18
Ví dụ: Apple là một doanh nghiệp đi tiên phong trong lĩnh vực
thiết kế và phát triển những sản phẩm công nghệ thông tin với kỹ
thuật cảm ứng
Sản phẩm của doanh nghiệp trong giai đoạn bão hòa hoặc suy
thoái là thời điểm quan trọng để doanh nghiệp đổi mới sản
phẩm hoặc phát triển sản phẩm mới để phù hợp với nhu cầu
trên thị trường và nguồn lực của doanh nghiệp.
1.2 Quy trình xây dựng sản phẩm mới
1.2.1 Hình thành và lựa chọn ý tưởng
Hình thành ý tưởng
Việc hình thành ý tưởng phải được thực hiện một cách hệ
thống trên sở xem xét mục tiêu của việc phát triển sản phẩm mới
và thị trường mà doanh nghiệp nhắm vào.|
Nguồn thông tin hình thành lên ý tưởng thể từ ý kiến của
khách hàng qua các bản thăm ý kiến của du khách sau mỗi
chuyến đi hay đã sử dụng các dịch vụ của khách sạn hay các ý kiến
của họ gửi đến qua thư từ góp ý, khiếu nại hay qua các phương tiện
thông tin đại chúng, nguồn thông tin cũng thể từ bộ phận nghiên
cứu phát triển từ các giám đốc các bộ phận trong khách sạn hay
cán bộ phụ trách khác nhau trong doanh nghiệp. Từ những nhân viên
bán hàng, nhân viên phục vụ khách, hướng dẫn viên du lịch, lễ tân…;
từ các nhà khoa học, những người các công trình nghiên cứu từ
các trường đại học, những người nghiên cứu marketing hoặc từ
những thành công hay thất bại của đối thủ cạnh tranh.
Để tạo được nguồn thông tin gtrị thường xuyên, các doanh
nghiệp phải tạo các điều kiện thuận lợi cho việc hình thành cung
cấp ý tưởng như:|
Tạo điều kiện dễ dàng cho việc góp ý như hộp thư góp ý dành cho
nhân viên các đường dây điện thoại, góp ý miễn phí các phiếu thăm
dò dành cho khách hàng.
19

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN MARKETING DU LỊCH ----- ----- 
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: MARKETING DU LỊCH ĐỀ TÀI:
PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MỚI Lớp học phần : 242_TMKT0511_03 Giảng viên : Hoàng Thị Lan Nhóm : 05
Hà Nội, tháng 03 năm 2025 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................7
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN.................................................8
1.1 Các khái niệm cơ bản..................................................8
1.1.1 Sản phẩm và sản phẩm du lịch...............................8
1.1.2 Chu kỳ sống của sản phẩm....................................9
1.1.3 Khái niệm phát triển sản phẩm mới......................13
1.1.4 Sự cần thiết phát triển sản phẩm mới...................14
1.2 Quy trình xây dựng sản phẩm mới.............................14
1.2.1 Hình thành và lựa chọn ý tưởng............................14
1.2.2 Soạn thảo và thẩm định dự án.............................15
1.2.3 Sọn thảo chiến lược marketing cho sản phẩm mới.16
1.2.4 Thiết kế sản phẩm mới........................................16
1.2.5 Thử nghiệm trên thị trường..................................16
1.2.6 Thương mại hóa..................................................17
CHƯƠNG 2 : THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MỚI...........18
2.1. Giới thiệu về công ty Aqua Expiditions......................18
2.1.1 Quá trình thiết lập và phát triển.............................18
2.1.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức.............................................21
2.1.3 Bảng kết quả kinh doanh........................................22
2.2 Phát triển sản phẩm mới của công ty.........................26
2.2.1 Hình thành và lựa chọn ý tưởng............................26
2.2.2 Soạn thảo và thẩm định dự án.............................28
2.2.3. Soạn thảo chiến lược marketing cho sản phẩm mới
...................................................................................38
1
2.2.4. Thiết kế sản phẩm mới.......................................43
2.2.6 Thương mại hóa sản phẩm...................................46
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM
PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MỚI...............................................49

3.1. Mục tiêu và phương hướng hoạt động kinh doanh của
công ty...........................................................................49

3.1.1 Mục tiêu..............................................................49
3.1.2 Phương hướng hoạt động.......................................52
3.2. Đề xuất một số giải pháp phát triển sản phẩm mới....54
3.2.1. Mô Hình Quản Lý Hiện Đại và Minh Bạch..............54
3.2.2. Đào Tạo Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao...........55
3.2.3. Xúc Tiến Quảng Bá và Thu Hút Đầu Tư.................55
3.2.4. Chế độ lương, thưởng và phúc lợi cho nhân sự
thuyền viên.................................................................56

3.2.5. Chiến Dịch Truyền Thông và Quảng Bá Nghề Nghiệp
Du Thuyền...................................................................56

3.2.6. Tăng cường trải nghiệm cá nhân hóa...................56
3.3 Một số kiến nghị.......................................................57
3.3.1. Kiến nghị đối với Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam. .57
3.3.2. Kiến nghị đối với Ủy ban Nhân dân thành phố Huế,
Đà Nẵng và Hội An.......................................................58

PHẦN KẾT LUẬN................................................................60
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................61 2 DANH SÁCH THÀNH VIÊN STT Họ và Mã sinh Nhiệm Đánh giá Điểm tên viên vụ 38 Từ Thùy 22D1701 - Nội dung Linh 22 39 Hà Thành 22D1701 - Nội dung Long 26 - Thuyết trình 40 22D1701 Đồng Thị 40 - Nội dung Mai 41 Nguyễn 22D1701 - Nội dung Tuấn 40 - Tổng hợp Minh word 42 Vũ Thị Hà 22D1701 -Nội dung My 42 - Thuyết trình 43 Vũ Giang 22D1701 - Nội dung Nam 46 - PowerPoint 44 Lê Hồng 22D1701 - Nội dung Nghĩa 58 45 Hoàng 22D1701 61 - Nội dung Thị Yến Ngọc 46 Đoàn 22D1701 - Nội dung Quốc 68 - Nhóm Nhân trưởng 3 4
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------------------------
BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM
(V/v: Hoàn thành nội dung cho bài thuyết trình môn Marketing du lịch) Nhóm: 5
Buổi làm việc nhóm lần thứ: 1
I. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
1. Thời gian: 23.00 p.m ngày 09/03/2025
2. Địa điểm: Google meets
II. THÀNH PHẦN THAM GIA
-Toàn bộ thành viên nhóm 5
III. NỘI DUNG LÀM VIỆC
-Chốt lại các tuyến đường cuối để hoàn thành tour du lịch
-Chốt outline bài tiểu luận
-Phân chia nhiệm vụ và gia hạn thời gian hoàn thành cho các thành viên THÀNH VIÊN NHÓM TRƯỞNG NHÓM
(Ký và ghi rõ họ tên)
(Ký và ghi rõ họ tên) Nghĩa Nhân Lê Hồng Nghĩa Đoàn Quốc Nhân 5
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------------------------
BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM
(V/v: Hoàn thành nội dung cho bài thuyết trình môn Marketing du lịch) Nhóm: 5
Buổi làm việc nhóm lần thứ: 2
I. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
1. Thời gian: 11.00 a.m ngày 25/03/2025
2. Địa điểm: Google meets
II. THÀNH PHẦN THAM GIA
-Đoàn Quốc Nhân – 22D170168 -Hà Thành Long – 22D170126
-Hoàng Thị Yến Ngọc – 22D170161
-Lê Hồng Nghĩa – 22D170158 -Vũ Giang Nam -
III. NỘI DUNG LÀM VIỆC
-Đánh giá và hoàn thiện toàn bộ phần 2.2
-Chốt lại giá và toàn bộ kế hoạch chi tiết của tour du lịch THƯ KÍ TRƯỞNG NHÓM
(Ký và ghi rõ họ tên)
(Ký và ghi rõ họ tên) 6 Nghĩa Nhân Lê Hồng Nghĩa Đoàn Quốc Nhân
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------------------------
BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM
(V/v: Hoàn thành nội dung cho bài thuyết trình môn Marketing du lịch) Nhóm: 5
Buổi làm việc nhóm lần thứ: 3
I. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
1. Thời gian: 23.00 p.m ngày 15/03/2025
2. Địa điểm: Google meets
II. THÀNH PHẦN THAM GIA
-Toàn bộ thành viên nhóm 7
III. NỘI DUNG LÀM VIỆC
-Điều chỉnh lại các tuyến đường thành từ sông Hương đến vịnh Đà Nẵng
-Chốt lại các địa điểm và quá trình lên ý tưởng, các bản nháp
draft để cho bài được thống nhất. THƯ KÍ TRƯỞNG NHÓM
(Ký và ghi rõ họ tên)
(Ký và ghi rõ họ tên) Nghĩa Nhân 7 Lê Hồng Nghĩa Đoàn Quốc Nhân 8 LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam đã chứng
kiến sự chuyển mình mạnh mẽ, không chỉ về mặt lượng khách du lịch
mà còn về sự đa dạng của sản phẩm du lịch. Với lợi thế về di sản văn
hóa, lịch sử và thiên nhiên, mỗi địa phương đều có những sản phẩm
du lịch riêng biệt, góp phần tạo nên bức tranh đa sắc cho ngành du lịch quốc gia.
"The Central Saga" thuộc dự án Aqua Odyssey: The S-land, trên
con tàu Aqua Celeste, mang tinh thần “Rời đất mẹ để đến với biển
khơi bao la, rồi ta lại tìm về đất mẹ.” Chuyến tuần du này kết nối ba
vùng đất giàu bản sắc văn hóa: Huế - Đà Nẵng - Hội An. Xuất phát từ
dòng sông Hương lịch sử của kinh thành Huế, hành trình băng qua
biển Đông hùng vĩ, và kết thúc trên dòng sông Thu Bồn thơ mộng của phố cổ Hội An.
Tour kéo dài 3 ngày 3 đêm, cho phép du khách thưởng thức
nghệ thuật ca Huế trên sông Hương, chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên
nhiên tại dãy núi Bạch Mã, bãi biển Mỹ Khê, Lăng Cô, bãi Chuối, vịnh
Đà Nẵng, và bán đảo Sơn Trà. Hành trình còn đi qua các khu vực như
cửa biển Thuận An, bến Tòa Khâm, và bến đẹp nhất của Cù Lao. Du
khách cũng sẽ tham gia các hoạt động như chèo thuyền kayak, lặn
biển, và khám phá hệ sinh thái biển phong phú. Bên cạnh đó, tour
sông Hàn sẽ mang đến một góc nhìn khác về Đà Nẵng về đêm với
ánh đèn lung linh và những cây cầu nổi tiếng.
Để phát triển sản phẩm du lịch bền vững, cần hiểu rõ nhu cầu
thị trường, xác định đúng đối tượng khách hàng và xây dựng các
chiến lược marketing hiệu quả. Việc kết hợp hài hòa giữa văn hóa và
thiên nhiên không chỉ nâng cao giá trị trải nghiệm mà còn góp phần
bảo vệ môi trường và phát huy di sản văn hóa.
Qua bài tiểu luận này, chúng tôi hy vọng sẽ làm rõ tầm quan
trọng của việc phát triển sản phẩm du lịch "The Central Saga" trong 9
bối cảnh hiện tại, đồng thời mở ra hướng đi mới cho ngành du lịch
miền Trung, giúp khu vực này trở thành điểm đến văn hóa nghệ
thuật và thiên nhiên độc đáo và ý nghĩa. 10
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Sản phẩm và sản phẩm du lịch

a. Khái niệm sản phẩm
Ngày nay khi nói về sản phẩm người ta không chỉ hình dung ra
nó chỉ ở dạng tồn tại của vật chất cụ thể, mà phải quan niệm nó ở
mức độ rộng lớn hơn nhiều. Khái niệm sản phẩm là phức tạp bởi vì
một sản phẩm chắc chắn có một số đặc trưng vật chất, nhưng cũng
có đặc trưng phi vật chất. Philip Kotler định nghĩa:|
“Sản phẩm là mọi thứ có thể chào bán trên thị trường để chú ý, mua,
sử dụng hay tiêu dùng, có thể thỏa mãn được một mong muốn hay nhu cầu.”

Từ định nghĩa trên ta thấy sản phẩm ở đây có thể là những hàng
hoá vật chất như món ăn, đồ uống trong khách sạn…; các dịch vụ
như hướng dẫn du lịch, các buổi hòa nhạc trong khách sạn, cắt tóc,
giặt là…; địa điểm như các nơi có danh lam thắng cảnh, tài nguyên
du lịch …; hay ý tưởng như các lời tư vấn, lời khuyên cho du khách… b.
Khái niệm sản phẩm du lịch
Dựa trên khái niệm về du lịch, năm 2017, Luật Du lịch đã đưa ra
một khái niệm về sản phẩm du lịch như sau: “Sản phẩm du lịch là
tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch
để thoả mãn nhu cầu của khách tham quan.”
Tuy nhiên, khái niệm
này chưa được coi là hoàn hảo và vẫn còn nhiều thiếu sót. Tổ chức
du lịch thế giới (UNWTO) đã cho rằng: “Sản phẩm du lịch là sự tổng
hợp của 3 nhóm nhân tố cấu thành bao gồm Hệ thống dịch vụ, Quản
lý điều hành, Tài nguyên du lịch, Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật
chất kỹ thuật.”
Từ những định nghĩa trên về cơ bản ta có thể hiểu
một cách cụ thể và đơn giản thì sản phẩm du lịch là một dịch vụ
cung cấp các loại hàng hóa cho khách du lịch. Trong đó, sản phẩm
được tạo nên có sự khai thác của yếu tố tự nhiên xã hội và việc sử 11
dụng nguồn lực như lao động, cơ sở vật chất, trang thiết bị... của một vùng hay một quốc gia. c.
Những nét đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch Tính vô hình|
Thành phần của sản phẩm du lịch: dịch vụ (80-90% về mặt giá
trị) và còn lại là hàng hóa|
Sản phẩm du lịch cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể
Vì vậy việc đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch rất khó khăn:
mang tính chủ quan, phụ thuộc vào khách du lịch. Chất lượng sản
phẩm du lịch được xác định dựa vào chênh lệch giữa mức độ kỳ vọng
và mức độ cảm nhận về chất lượng.|
Ví dụ: Khi khách hàng sử dụng dịch vụ lưu trú ở hai khách sạn
tiêu chuẩn 4 sao. Về cơ sở vật chất là như nhau (theo đánh giá quốc
tế) nhưng do một vài yếu tố nhỏ đến từ sự takecare khách hàng của
nhân viên, có thể mang lại cho khách cảm nhận khác nhau.
Tính không dịch chuyển được
Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yếu tố tài
nguyên du lịch. Vậy nên không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có
khách du lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm du lịch|
Ví dụ: Dịch vụ thưởng thức ca Huế trên sông Hương|
Dịch vụ đi thuyền qua các hang động ở Tràng An|
Thưởng thức ẩm thực trên chợ nổi Cái Răng
—> Đây là nguyên nhân gây khó khăn cho các nhà kinh doanh du lịch trong
việc tiêu thụ sản phẩm Tính không tách rời 12
Quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau
về không gian và thời gian. Vậy nên những sản phẩm hữu hình có
tính mau hỏng, những sản phẩm vô hình không thể dự trữ, không thể
cất đi hay lưu kho như các hàng hóa thông thường khác. Điều này
tạo nên khó khăn trong việc ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng. Tính mùa vụ
Tiêu thụ sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn mà chỉ
tập trung vào những thời gian nhất định trong ngày (đối với sản
phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần (đối với sản phẩm của thể
loại du lịch cuối tuần), trong năm (đối với sản phẩm của 1 số loại
hình du lịch: du lịch biển, du lịch nghỉ núi…)
1.1.2 Chu kỳ sống của sản phẩm
a. Khái niệm của chu kỳ sống
Chu kỳ sống của sản phẩm là khoảng thời gian từ khi sản phẩm
được tung ra thị trường đến khi nó không bán được nữa phải rút khỏi thị trường.
Từ khái niệm trên, chúng ta thấy rằng các sản phẩm thường có
một đời sống hữu hạn, mức tiêu thụ sản phẩm trải qua những giai
đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn đặt ra những thách thức khác nhau
với người kinh doanh, lợi nhuận có thể tăng hay giảm trong những
giai đoạn khác nhau của chu kỳ sống và mỗi giai đoạn đòi hỏi các
chiến lược Marketing, tài chính, sản xuất, cung ứng, nhân lực khác nhau.
Nhìn chung mỗi chủng loại, mỗi sản phẩm, mỗi nhãn hiệu có chu
kỳ sống dài ngắn từng giai đoạn khác nhau. Song dạng khái quát
nhất về lý thuyết thì chu kỳ sống của sản phẩm có 4 giai đoạn: (1)
Giai đoạn triển khai, (2) Giai đoạn phát triển, (3) Giai đoạn bão hòa, (4) Giai đoạn suy thoái.
b. Các giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm Giai đoạn triển khai 13
Giai đoạn triển khai là thời điểm mà một sản phẩm hoặc dịch vụ
du lịch mới được đưa vào thị trường. Ở giai đoạn này, khách hàng
vẫn chưa biết nhiều về sản phẩm, do đó nhu cầu còn thấp và doanh
thu thường chưa ổn định. Chi phí để phát triển, quảng bá và vận
hành sản phẩm thường rất cao, khiến lợi nhuận chưa đáng kể. Trong
du lịch, sản phẩm có thể là một địa điểm du lịch mới, một khu nghỉ
dưỡng, một tuyến du lịch đặc biệt hoặc một loại hình trải nghiệm độc
đáo mà trước đây chưa có.
Mục tiêu quan trọng nhất trong giai đoạn này là đạt được sự
công nhận rộng rãi và kích thích người tiêu dùng dùng thử sản phẩm.
Các nỗ lực tiếp thị nên nhắm mục tiêu vào đối tượng khách hàng yêu
thích những trải nghiệm độc đáo, mới lạ - những người có nhiều khả
năng mua một sản phẩm mới nhất
Tại giai đoạn này, bạn có thể thực hiện 2 chiến lược sau đây:
Giá hớt váng: Tính giá ban đầu cao và giảm dần (hớt váng) giá
khi thị trường phát triển.
Thâm nhập giá: Thiết lập một mức giá thấp để nhanh chóng gia
nhập thị trường và chiếm thị phần, trước khi tăng giá so với
mức tăng trưởng của thị trường.
Ví dụ, khi một khu du lịch sinh thái mới mở, các doanh nghiệp thường
tổ chức các chương trình ưu đãi, giảm giá hoặc tặng kèm các dịch vụ
miễn phí để kích thích nhu cầu. Đồng thời, họ hợp tác với các KOLs
(người có ảnh hưởng) hoặc travel bloggers để tạo hiệu ứng lan tỏa trên mạng xã hội. Giai đoạn phát triển
Sau khi sản phẩm được giới thiệu và bắt đầu có sự chấp nhận từ
thị trường, nó sẽ bước vào giai đoạn phát triển. Lúc này, số lượng
khách hàng tăng lên nhanh chóng, doanh thu cải thiện và lợi nhuận
bắt đầu ổn định. Khi sản phẩm du lịch đã có danh tiếng nhất định, 14
nhiều khách hàng sẽ lựa chọn trải nghiệm dịch vụ mà không cần
nhiều chương trình khuyến mãi như trước.
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của sản phẩm cũng thu
hút các đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là những doanh nghiệp muốn
sao chép hoặc cung cấp sản phẩm tương tự. Đây là lúc doanh nghiệp
phải liên tục cải tiến dịch vụ, mở rộng thị trường và gia tăng giá trị
cho khách hàng. Các chiến lược phổ biến trong giai đoạn này bao
gồm cải thiện chất lượng dịch vụ, mở rộng điểm đến, bổ sung các
trải nghiệm mới và nâng cấp dịch vụ chăm sóc khách hàng.
Ví dụ, một khu du lịch biển sau khi được biết đến rộng rãi có thể
mở thêm các hoạt động như lặn biển, chèo kayak hoặc cung cấp các
tour du lịch kết hợp ẩm thực để làm mới trải nghiệm cho khách hàng.
Ngoài ra, các chương trình khách hàng thân thiết cũng là một chiến
lược hiệu quả để giữ chân khách hàng. Giai đoạn bão hoà
Sau một thời gian tăng trưởng mạnh mẽ, sản phẩm du lịch sẽ
đạt đến giai đoạn bão hòa, nơi mà tốc độ phát triển chậm lại do thị
trường đã đạt mức tối đa. Số lượng khách hàng mới không còn tăng
nhanh như trước, trong khi các đối thủ cạnh tranh liên tục xuất hiện,
làm cho thị phần của từng doanh nghiệp bị phân chia. Đây là giai
đoạn thử thách đối với các doanh nghiệp, vì nếu không có chiến lược
phù hợp, sản phẩm rất dễ bị tụt hậu hoặc bị thay thế bởi những sản phẩm mới hấp dẫn hơn.
Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp cần tập trung vào chiến
lược đổi mới sản phẩm để duy trì sức hút trên thị trường. Việc liên
tục cập nhật xu hướng du lịch, bổ sung các dịch vụ mới, hoặc thậm
chí tái định vị thương hiệu có thể giúp kéo dài vòng đời sản phẩm.
Chẳng hạn, một khu nghỉ dưỡng sau nhiều năm hoạt động có thể cần
nâng cấp cơ sở hạ tầng, cải tiến dịch vụ hoặc tổ chức các sự kiện đặc
biệt để thu hút khách hàng quay trở lại. 15
Ngoài ra, các chương trình khách hàng thân thiết và chăm sóc
khách hàng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì lòng
trung thành. Nhiều doanh nghiệp lựa chọn cách tạo ra các gói du lịch
trọn gói, tích hợp nhiều dịch vụ hấp dẫn hoặc tổ chức các chương
trình khuyến mãi dành riêng cho khách hàng cũ để duy trì sự gắn kết.
Ví dụ, các điểm du lịch nổi tiếng như Đà Lạt, Sa Pa hay Phú Quốc
sau một thời gian dài thu hút khách du lịch đã phải liên tục đổi mới
bằng cách mở thêm các tuyến tham quan mới, phát triển các dịch vụ
nghỉ dưỡng cao cấp hơn hoặc tổ chức các lễ hội văn hóa để giữ chân khách du lịch. Giai đoạn suy thoái
Bất kỳ sản phẩm nào cũng có thể đi đến giai đoạn suy thoái, khi
nhu cầu giảm dần và doanh thu bắt đầu sụt giảm. Nguyên nhân có
thể đến từ sự thay đổi trong xu hướng du lịch, sự xuống cấp của sản
phẩm hoặc sự xuất hiện của các điểm đến mới hấp dẫn hơn. Ví dụ,
một khu du lịch từng nổi tiếng có thể mất dần sức hút do hạ tầng
xuống cấp, dịch vụ không còn đáp ứng nhu cầu khách hàng hoặc đơn
giản là xu hướng du lịch đã thay đổi.
Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong ba chiến lược:
Cải tiến và làm mới sản phẩm: Thay đổi mô hình kinh doanh,
nâng cấp cơ sở hạ tầng, hoặc tạo ra trải nghiệm mới để thu hút
lại khách hàng. Ví dụ, một khu du lịch sinh thái có thể bổ sung
thêm các hoạt động như cắm trại, du lịch cộng đồng hoặc du
lịch trải nghiệm thiên nhiên để phục vụ nhu cầu mới.
Nhắm đến thị trường ngách: Thay vì phục vụ đại chúng, doanh
nghiệp có thể tập trung vào một phân khúc khách hàng cụ thể,
chẳng hạn như du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, du lịch mạo hiểm
hoặc du lịch chăm sóc sức khỏe. 16
Rút lui có chiến lược: Nếu sản phẩm không còn khả năng cạnh
tranh, doanh nghiệp có thể chuyển hướng đầu tư sang các sản
phẩm khác hoặc bán lại dự án cho một đơn vị có tiềm năng khai thác tốt hơn.
Ví dụ, nhiều khu du lịch cũ ở Việt Nam đã được cải tạo thành các khu
nghỉ dưỡng cao cấp hoặc chuyển đổi thành địa điểm du lịch theo mô
hình mới như glamping (cắm trại sang trọng), du lịch wellness (chăm
sóc sức khỏe) hay farmstay (du lịch nông trại) để phù hợp với xu hướng hiện đại.
1.1.3 Khái niệm phát triển sản phẩm mới
Phát triển sản phẩm mới là yêu cầu tất yếu khách quan trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Sự cải tiến sản
phẩm là một dãy liên tục, đi từ sản phẩm hiện đại đến một sản phẩm
hoàn toàn mới, chúng có thể qua các giai đoạn (mẫu mã, bao bì) đến
việc cải tiến nhỏ trên các thuộc tính ít quan trọng; cải tiến lớn trên
các thuộc tính quan trọng và cuối cùng là sản phẩm hoàn toàn mới.
Đứng trên góc độ doanh nghiệp để xem xét, người ta chia sản phẩm
mới thành hai loại: sản phẩm mới tương đối và sản phẩm mới tuyệt đối.
Sản phẩm mới tương đối|
Sản phẩm đầu tiên doanh nghiệp sản xuất và đưa ra thị trường,
nhưng không mới đối với doanh nghiệp khác và đối với thị trường.
Chúng cho phép doanh nghiệp mở rộng dòng sản phẩm cho những
cơ hội kinh doanh mới. Chi phí đề phát triển loại sản phẩm này
thường thấp, nhưng khó định vị sản phẩm trên thị trường vì người
tiêu dùng vẫn có thể thích sản phẩm của đối thủ cạnh tranh hơn.
Sản phẩm mới tuyệt đối:
Đó là sản phẩm mới đối với cả doanh nghiệp và đối với cả thị
trường. Doanh nghiệp giống như "người tiên phong" đi đầu trong việc
sản xuất sản phẩm này. Sản phẩm này ra mắt người tiêu dùng lần 17
đầu tiên. Đây là một quá trình tương đối phức tạp và khó khăn (cả
trong giai đoạn sản xuất và bán hàng). Chi phí dành cho nghiên cứu,
thiết kế, sản xuất thử và thử nghiệm trên thị trường thường rất cao.|
Vậy liệu một sản phẩm có được coi là mới hay không phụ thuộc
vào cách thị trường mục tiêu nhận thức về nó. Nếu người mua cho
rằng một sản phẩm khác đáng kể so với các sản phẩm của đối thủ
cạnh tranh về một số tính chất (hình thức bên ngoài hay chất lượng),
thì cái sản phẩm đó sẽ được coi là một sản phẩm mới.
Ngày nay ở các nước phát triển chỉ có khoảng 10% số sản phẩm
mới là thực sự mới đối với thế giới. Những sản phẩm này có chi phí
và rủi ro rất lớn, vì chúng mới cả đối với doanh nghiệp lẫn thị trường.
Do đó, phần đông các doanh nghiệp thường tập trung cố gắng của
mình vào việc nghiên cứu cải tiến các sản phẩm hiện có thay vì
nghiên cứu phát triển sản phẩm hoàn toàn mới. Ví dụ, hãng Sony
dành 80% hoạt động về sản phẩm mới cho công việc cải tiến các sản phẩm hiện có của mình.
1.1.4 Sự cần thiết phát triển sản phẩm mới„
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp
luôn ý thức được sự cần thiết và tính ưu việt của việc thường xuyên
thiết kế và phát triển sản phẩm mới vì các lý do sau:
Khi thị trường thay đổi liên tục, nhu cầu của khách hàng ngày
càng đa dạng, doanh nghiệp cần thay đổi sản phẩm cũ để phục
vụ tốt hơn nhu cầu hiện tại hoặc tạo ra sản phẩm mới để đáp
ứng những nhu cầu chưa được thoả mãn.
Đổi mới sản phẩm chính là để giúp doanh nghiệp nắm bắt cơ
hội từ môi trường kinh doanh. Đổi mới sản phẩm hoặc phát
triển sản phẩm mới giúp doanh nghiệp dựa trên tiềm lực về
nguồn lực của doanh nghiệp tạo nên sự khác biệt với đối thủ và
phát huy lợi thế cạnh tranh của mình; giúp doanh nghiệp trở
thành những người đi tiên phong trên thị trường về những sản phẩm mới.| 18
Ví dụ: Apple là một doanh nghiệp đi tiên phong trong lĩnh vực
thiết kế và phát triển những sản phẩm công nghệ thông tin với kỹ thuật cảm ứng
Sản phẩm của doanh nghiệp trong giai đoạn bão hòa hoặc suy
thoái là thời điểm quan trọng để doanh nghiệp đổi mới sản
phẩm hoặc phát triển sản phẩm mới để phù hợp với nhu cầu
trên thị trường và nguồn lực của doanh nghiệp.
1.2 Quy trình xây dựng sản phẩm mới
1.2.1 Hình thành và lựa chọn ý tưởng
Hình thành ý tưởng
Việc hình thành ý tưởng phải được thực hiện một cách có hệ
thống trên cơ sở xem xét mục tiêu của việc phát triển sản phẩm mới
và thị trường mà doanh nghiệp nhắm vào.|
Nguồn thông tin hình thành lên ý tưởng có thể từ ý kiến của
khách hàng qua các bản thăm dò ý kiến của du khách sau mỗi
chuyến đi hay đã sử dụng các dịch vụ của khách sạn hay các ý kiến
của họ gửi đến qua thư từ góp ý, khiếu nại hay qua các phương tiện
thông tin đại chúng, nguồn thông tin cũng có thể từ bộ phận nghiên
cứu và phát triển từ các giám đốc các bộ phận trong khách sạn hay
cán bộ phụ trách khác nhau trong doanh nghiệp. Từ những nhân viên
bán hàng, nhân viên phục vụ khách, hướng dẫn viên du lịch, lễ tân…;
từ các nhà khoa học, những người có các công trình nghiên cứu từ
các trường đại học, những người nghiên cứu marketing hoặc từ
những thành công hay thất bại của đối thủ cạnh tranh.
Để tạo được nguồn thông tin giá trị và thường xuyên, các doanh
nghiệp phải tạo các điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và cung cấp ý tưởng như:|
Tạo điều kiện dễ dàng cho việc góp ý như hộp thư góp ý dành cho
nhân viên các đường dây điện thoại, góp ý miễn phí các phiếu thăm dò dành cho khách hàng. 19